Thi Ảnh

Văn

Văn

Quà cáp

Bà ơi! Cháu rất yêu bà
Đi đâu bà cũng mua quà về cho…

Trên đây là hai câu thơ của một bài học thuộc lòng trong sách giáo khoa cấp tiểu học, phổ biến rất sâu rộng, hầu hết mọi người đều biết, lâu lắm rồi, mô tả tâm trạng em bé có bà nội, bà ngoại đi đâu, lúc trở về, cũng không quên mua đồng kẹo bột, cái bánh đa, hay mấy quả ổi, quả mận, để vừa bước qua ngưỡng cửa, đã cố đứng cho thẳng cái lưng còng, với lòng sung sướng, vừa cười vừa đưa cho cháu nhỏ, cho cháu nó mừng, nó yêu.

Đó là hình ảnh quen thuộc nơi khung cảnh nhà quê quê nhà, ở đấy trẻ em ít khi biết đến và mơ tưởng các thức bánh trái ngon lành, đắt tiền nơi tỉnh thành, nên quà chỉ là mấy trái chuối củ khoai, bình dân, ăn chơi chơi ngoài bữa cơm, có thì làm liền, không có thì thôi, chẳng sao, vậy mà mỗi lần đang mải mê nô đùa cùng bạn hữu trước ngõ, bỗng cảm thấy một bàn tay quen thuộc nhẹ nhàng đặt lên vai, bàn tay da đã nhăn nheo vì tuổi tác, bàn tay già nua mà mềm mại, bọn trẻ chợt ngước nhìn lên, lập tức biểu lộ ánh mắt reo vui: “Cháu rất yêu bà, bà ơi!”

Chẳng những bà cháu trong gia đình, không phải chỉ ngày xưa mới thế, như một tập tục phổ biến, tới bây giờ ai nấy đều biết, mọi người thân thuộc, bằng hữu, gần xa đối với nhau, tùy theo tuổi tác, tùy theo hoàn cảnh, thường thù tạc tương tự mỗi lúc đến thăm nhau, mỗi lần đi xa về hoặc ngay cả khi không gặp mà nhớ thương nhau cũng vậy.

Cũng vậy, nhằm mục đích biểu lộ tình thân thiết, vào mấy dịp có tin mừng, lễ hội trọng đại, như là thi đậu, Tết Nguyên Đán, Giáng Sinh, đám cưới… chúng ta tặng quà qua lại cho thêm gần gụi, vui vẻ, tưng bừng.

Được tin ngày mai có bạn cũ từ Huế đáp xe lửa vào chơi phải không? “Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ!”. Ôi chao là vui, cũng lâu lắm chừ mới gặp, và còn vui hơn nữa, không chờ đợi, nhưng thật bất ngờ, ngay tại sân ga, khi mới nhìn thấy cố nhân, thấy ngay mấy chiếc nón bài thơ mỏng mảnh dễ thương làm sao, sau đó, về nhà, khách lại còn mở túi hành lý để trịnh trọng lên bàn vài hộp mè xửng, chưa ăn đã cảm được cái vị thơm phức, ngọt lừ. Bạn phương xa tới lễ mễ, ôm đồm vài món sản phẩm địa phương làm quà, nghe gia chủ hân hoan khách sáo trách yêu: “bày vẽ quá”, mà bụng dạ hài lòng, thoải mái, hết cả nỗi mệt nhọc, bụi bậm đường dài.

Ở Hà Nội có món cốm làng Vòng thơm ngon nổi tiếng, thật là đặc biệt, năm nào, cứ vào dịp tết Trung Thu, khoảng tháng 8 âm lịch, thím Giáo bán vải ngoài chợ Đồng Xuân cũng nhớ gửi máy bay vô Sài Gòn vài cân, ủ trong lá sen, gói ghém cẩn thận cho ông anh ruột, dân di cư từ 1954, thưởng thức. Ông anh cư ngụ tại Sài Gòn đã mấy chục năm với nhà cửa, công việc, con cái… như gốc cây cổ thụ, chả muốn nhổ rễ trở về, ở đâu âu đó, ở đâu thì cũng là quê hương.

Còn cái chuyện người bốn phương bây giờ, mỗi lần về thăm cố quận, khi đi thân thuộc ngóng chờ, lúc về gia đình bè bạn mong đợi khiến cho hành lý qua lại bên ni bên tê, ôm đồm, cồng kềnh như kẻ buôn bán hàng xách, chắc chẳng nói ai cũng rõ.

Huế có nón bài thơ, mè xửng, Hà Nội có cốm Vòng… những món đặc sản thổ ngơi nổi tiếng thật quý để làm quà khi di chuyển từ nơi nọ sang nơi kia, nay giả dụ từ bờ Thái Bình Dương làm một chuyến đông du tới gần tượng Nữ Thần Tự Do cách xa cả mấy múi giờ hoặc là bất cứ từ đâu tới đâu, Đông,Tây, Nam, Bắc… thật là lúng túng, chẳng biết kèm theo hành trang ta sẽ mang thứ gì để làm quà cho người sở tại. Phải chăng vì thế mà dân Âu Mỹ đi đâu không thấy họ đặt vấn đề quà cáp, gặp nhau thăm hỏi chuyện trò, kéo nhau đi ăn nhậu rồi có thể sau đó họ còn lấy khách sạn để ở chứ chẳng muốn phiền phức.

Hành sử như thế cả chủ và khách đều thoải mái, không phải bận tâm lo cho nhau, nhưng quả thực, làm vậy, nó thiếu cái tình gần gụi “đêm nằm năm ở”, thiếu cái nợ nần ân nghĩa, qua lại, khiến cho hai bên như còn một khoảng cách, mà phần lớn dân Việt Nam chưa chấp nhận được. Bạn từ xa đến ư? Bổn phận của bạn là phải ăn ở tại nhà tôi bất kể bạn giầu hoặc nghèo, và đấy cũng là nhiệm vụ của tôi dù tôi có cung cấp đủ tiện nghi hay thiếu thốn, nếu không thì làm sao còn nhìn mặt nhau nữa.

Phần nhiều trong chúng ta chẳng chấp nhận sự sòng phẳng quá Âu Tây như thế, đôi khi có cơ hội mình còn tạo dịp để hai bên thêm gần gụi nhau hơn. Một lần cùng đứng bên “dậu mồng tơi” nói chuyện nắng mưa, tôi móc bóp trả ông bạn hàng xóm mấy chục mượn bữa trước, khi dắt nhau đi phố. Bà mẹ các con tôi cằn nhằn, thiếu tiền thì đừng mua sắm, sao lại vay mượn cho phiền phức! Phiềi phức chi đâu! Tôi không đồng ý. Tôi có thể trả check, trả bằng credit card, hoặc là không mua bán, nhưng tôi muốn nhân tiện thì mượn đỡ, có qua có lại, hàng xóm, tối lửa tắt đèn, cứ giữ kẽ thì người ta khi cần cũng cố gắng tự túc, chẳng dám đề nghị với mình điều gì.

Ý nghĩa của quà cáp thực đẹp, nhưng đôi khi cũng bị lạm dụng để mưu cầu lợi danh, theo nguyên tắc “ông mất cái giò, bà thò chai rượu.” thường là giữa cấp dưới đối với quan trên, mục đích của nó, trường hợp này chẳng đẹp chút nào, kẻ cho hẳn biết, người nhận hiểu rành, xin miễn nói tới cặn kẽ, chỉ kể sơ qua một đoạn trong sách Cổ Học Tinh Hoa, tóm tắt đại ý, có gã thuyền chài hý hửng đem biếu quan lớn sở tại, con cá chép tươi rói, mới lưới được từ dưới sông, nhưng quan không nhận, làm hắn buồn bã tiu nghỉu xách cá cáo lui.

Bà lớn ngồi trong rèm thấy vậy, chẳng biết vì tiếc rẻ hay thương kẻ dân đen, hỏi, quan rất thích ăn cá, nhất là cá chép, loài cá ông Táo dùng cưỡi lên trời dịp cuối năm, cá này ít xương, thịt trắng, thơm, chiên ròn thật ngon mà nấu canh chua lại càng tuyệt, vậy sao có người mang cho lại từ chối? Quan trả lời, cũng vì rất thích ăn cá, còn muốn tiếp tục có cá mà ăn nên phải từ chối. Chuyện này rất thâm thúy, nêu gương lành mạnh, đạo đức, có giá trị như một bài học, đáng suy nghĩ nhất là đối với các vị ăn trên ngồi chốc.

Quà cáp nói chung là vật tặng biếu để tỏ lòng quan tâm quý mến. Đôi khi nó rất nhỏ, rất tầm thường như củ khoai, khúc sắn, đôi khi nó rất lớn và hiếm quý như vàng bạc, hột soàn, xe hơi, nhà lầu, nó là vật chất mà ta thường thấy, song nó cũng là tinh thần như tặng nhau một bài thơ, bức vẽ, nhưng chảng hiểu nó có thể là… quà vợ! Trong câu “cơm nhà quà vợ!” chăng?

Cho là nhận. Cho cái vật chất để nhận cái tinh thần, giữa một bên là vật chất, một bên là tinh thần khó so sánh, và có lẽ, đôi khi, những gì nhận lại còn lớn hơn là phần cho.

Chữ “quà” thì dễ hiểu rồi, một mình chữ quà cũng đủ rồi, nhưng sao lại thêm chữ “cáp”, chữ “cáp” nghĩa ra sao, thú thực cũng hơi lúng túng! Tại sao nó lại đi kèm chữ quà! Tầm nguyên tiếng Việt thật khó. Nhân dịp này, nên tìm học rõ ràng. “Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông”. Bèn gõ cửa bằng hữu, vài người còn coi trọng, giữ gìn, nếp sống, tư tưởng chưa xa hẳn với thời buổi cũ, ấy thế mà cũng sau mấy bữa đợi chờ ngong ngóng mới có tiếng chuông điện thoại hồi âm của bạn già Trần Quốc Bảo, ông cựu chủ tịch Văn Bút Miền Đông Hoa Kỳ này tính cẩn thận, rào trước đón sau, đối với anh em lúc nào cũng trân trọng, ông cho biết, với sự dè dặt là chữ cáp nguyên thủy có thể là cấp, như cấp bổng, cấp dưỡng… Rồi về sau người ta đọc trại ra là cáp. Quà và cấp là hai sự việc rất giống nhau, rất gần nhau nên thường đi liền nhau như ăn uống, chợ búa… nghe cũng có lý.

Trong lịch sử văn học Việt Nam có lẽ thi sĩ Tản Đà là người nhận được nhiều quà hơn ai hết, quà có thể là tiền (Năm 1927 ông Diệp Văn Kỳ ở Sài Gòn cho một ngàn “muốn làm gì tùy ý”) Có thể là bao phí tổn cho một cuộc rong chơi (Ông chủ nhà in Đắc Lập Bùi Huy Tín mời vào Huế du Xuân Tân Dậu) nhưng phần lớn là mấy món ăn ngon mà Tản Đà ưa chuộng, hào hứng, luôn luôn khen ngợi, tấm tắc khi được mời thưởng thức “Tối hôm trước cỗ lòng, sáng hôm sau cỗ thịt, ở châu Thanh Sơn, hai bữa cỗ thật có giá trị”. Thi sĩ thờ chủ nghĩa khoái lạc, chữ của Vũ Ngọc Phan, còn kể lể nhiều hơn nữa trong bài “Thú Ăn Chơi”, chẳng hạn: “Tầu qua cửa bể Tourane, người ta đem những rọ hà lên bán thật tươi ngon”. Có người biết vậy bèn đem cho hà, và sau đó ông làm mấy câu thơ cám ơn:

 

Cám Ơn Người Cho Hà.

 

Đương trưa bữa rượu nhà nho

Có anh cầm giấy đem cho rọ hà.

(trích trong Tản-Đà Vận Văn)

 

Tại sao Tản Đà nhận được nhiều quà như thế?

Tản Đà không làm quan để cho mấy người như gã thuyền chài o bế mưu cầu này nọ. Cũng chẳng giầu sang khiến kẻ khác mong nhờ vả mượn vay. Vậy thì tôi xin tạm chấp nhận là vì ông đáng yêu! Yêu gì? Yêu tài, như chính Tản Đà đã giải thích:

Cám ơn hai chữ “Yêu tài”,

Con đường thiên lý còn dài tấc son.

Tản-Đà, Chơi Huế.

Quý vị hảo tâm “yêu tài” hẳn không bao giờ chờ đợi sự đáp lễ. Còn Tản Đà được quà thì chỉ biết cảm ơn thôi chứ cũng chẳng làm gì hơn được, ngoại trừ trường hợp liên hệ với nữ sĩ Song Khê trong chuyện “Rau sắng chùa Hương” sau đây:

Tháng 3 hàng năm là thời gian chùa Hương mở hội, người từ mọi nơi, thiện nam tín nữ, ông già bà lão, tham dự đông như nước chảy, dịp này thi sĩ Tản Đà nhớ tới món rau sắng, một thổ sản ở chùa Hương, nấu canh ăn rất ngon, muốn ăn mà ngại đường xa tốn tiền đò, đành ở nhà dùng dưa khú, cà thâm, mới tâm sự qua mấy câu thơ in trên một tờ báo như sau:

Muốn ăn rau sắng chùa Hương,

Tiền đò ngại tốn con đường ngại xa.

Người đi ta ở lại nhà,

Cái dưa thời khú cái cà thời thâm.

Sau đó câu chuyện còn tiếp tục. Nơi cuốn “Truyện Thế Gian” của Tản Đà, tác giả kể rằng:

“Khoảng tháng 3 năm nay, tôi có tiếp được một gói gửi nhà giây thép cho, ngoài bọc giấy, trong là rau sắng.”

“Không thấy có đề tên người gửi, xem dấu nhà giây thép, chỉ biết là từ Phủ Lý gửi lên. Lại cài phong thư cùng tiếp nhận mở xem chỉ thấy ở mảnh giấy có mấy câu lục bát, tức là lời gửi rau sắng; trên không đề là ở đâu gửi đến, đi vào ngày hôm nào, dưới ký tên như một người đàn bà con gái.”

“Lạ thay! Không biết ai! Nhưng hẳn là “một người tình nhân không quen biết” đây. Nay đã không biết trả lời về đâu mà cảm ơn, vậy nhân “Truyện Thế Gian” Kính xin nói mấy lời cảm tạ dưới bức ngọc thư của ai và xin lục y nguyên văn”

 

Nguyễn Tiên sinh nhã giám,

 

Kính dâng rau sắng chùa Hương,

Đỡ ai tiền tốn, con đường đỡ xa.

Không đi thời gửi lại nhà,

Thay cho dưa khú cùng là cà thâm.

Đỗ Tang Nữ bái tặng.

 

“Gửi lại nhà” có lẽ gói rau sắng đã được gửi tới Tản Đà từ Thư Điếm ở Hàng Gai Hà Nội, nơi ông đang hoạt động lúc bấy giờ, chứ hai người chưa quen biết nhau, sao có địa chỉ nhà riêng được.

Đoạn văn trên trích từ cuốn Tản Đà Vận Văn do người anh ruột của tác giả là ông Nguyễn Mạnh Bổng, chủ nhân nhà xuất bản Hương Sơn ấn hành

(theo sách này thì về sau thi sĩ Tản Đà cũng biết người gửi rau sắng là Song Khê). Và tiếp theo, nơi sách đã dẫn, ngay đó còn có “Mấy lời cảm tạ”.

 

Mấy lời cảm tạ tri âm,

Đồng ban là nghĩa, đồng tâm là tình.

Đường xa rau vẫn còn xanh,

Tấm lòng thơm thảo, bát canh ngọt ngào.

Yêu nhau xa cách càng yêu,

Dẫu rằng xuông nhạt càng nhiều chứa chan.

Nước non khuất nẻo ngư nhàn,

Tạ lòng xin mượn “Thế Gian” đưa tình.

Nguyễn-Khắc-Hiếu bái phục.

 

Câu chuyện “Rau sắng chùa Hương” tới đây cũng chưa chấm dứt, theo cuốn Việt Nam Tinh Hoa của Hương Giang Thái Văn Kiểm thì cho đến năm năm sau, năm 1928, Tản Đà đã được một văn hữu đưa đến thăm Song Khê, chuyện trò khoảng nửa giờ ở Kiến An, nhưng không hề giới thiệu và cũng mãi sau này nữ sĩ mới hay.

Tản Đà được Song Khê gửi biếu rau sắng mà không biết ai. Song Khê có quý khách đến thăm cũng chẳng rõ đó là Tản Đà. Cổ nhân ta xưa kia tuy nghiêm túc, trang nhã, trịnh trọng mà đôi lúc cũng hay bày trò ú tim, ỡm ờ, dí dỏm.

 

Nguyễn Phú Long

 

Đọc Trần Hoài Thư

1. Tôi không nhớ đã đọc những tác phẩm Trần hoài Thư từ bao giờ và ở đâu? Rất có thể trong một lần thắng trận, được đơn vị tưởng thưởng mấy ngày phép, từ núi rừng xứ Thượng về Saigon rong chơi. Tưởng cũng nên nhắc lại Thủ đô dạo ấy, bát phố với các em, trên tay các cậu thường cầm một tạp chí nào đó để làm duyên hay ra cái điều ta đây cũng văn gừng văn nghệ. Với tôi điều này không thể chối cải nhưng điều đáng nói: đi với các em gái hậu phương nhẵn túi, sau đó phải nằm nhà có cái để mà đọc! Nhưng cũng rất có thể trong một lần thua trận ở Bình định, bị thương phải nằm Quân y viện và những năm tháng kế tiếp, giả từ chiến trường, thời điểm có nhiều thì giờ nhất để đọc, suy ngẫm, viết lách và nổi loạn để rồi tiếp tục đi lưu đày Darto lần thứ hai sau hai năm phục vụ tại một đơn vị gần Sài gòn.

Bây giờ được sống trên nước Mỹ. Nếu phải nói lời càm ơn tôi không biết phải cám ơn ai? Mỗi chế độ cầm quyền trên quê hương, tôi đều bỏ ra hai mươi năm để làm thằng dân của họ. Hai mươi năm đầu chiếc lá non bị gặm nhắm trong canh bạc bịp, hai mươi năm sau sâu bọ tiếp tục gặm một nữa chiếc lá còn lại. Còn ở Mỹ thì tuổi 64 tôi vẫn phải làm việc một ngày 12 tiếng để giải quyết nhu cầu như mọi người trong một xã hội Tư bản.

Cái còn lại, xứng đáng để tôi nói lời cám ơn chính là bạn bè, những người cùng khổ trên chiến trường cũng như trong lao tù CS. Trong số những người này phải kể Trần Hoài Thư. Vì rằng theo thời gian, tuổi tác và hoàn cảnh sống, tôi tưởng chừng như đã quên mọi cái nhưng Trần Hoài Thư qua những tác phẩm mới đây, anh nhắc tôi về một vùng đất, một đơn vị nơi đó tôi đã sống và gắn bó với nó hơn một nửa đời lính. Bảy năm trong 2 lần góp mặt nơi chiến trường Tây nguyên và Duyên hải Bình Định mà còn sống cũng là ơn phước! Từ vùng đất bị bỏ quên Darto đến Bình Định, Nha Trang hay Ban Mê Thuột. Những địa danh ở đó chúng tôi cứ phải mất dần những người bạn, những đồng đội trong một chiến trường: “chúng tôi không thể liệng lựu đạn xuống hầm một cách điên cuồng mà phải nạt, phải gào, phải dọa, để đám dân, gồm đàn bà, con nít từ dưới hầm chui lên để họ còn được sống. Chúng tôi không thể đá vào người đàn bà có bầu, dù biết rằng tác giả cái bầu kia là một tên du kích.. Chúng tôi dí nòng súng vào màng tang ông già, bà lão, dọa bắn nhưng không thể bóp cò. Chúng tôi muốn đốt hết nhà, muốn phóng hoả cả làng để trả thù, nhưng chúng tôi cũng đành bất lực. Chúng tôi phải chiến đãu trong sự dằng co của lương tâm và thù hận…” (Đánh giặc ở Binh Định, THT trang 30-31).

Đọc Trần Hoài Thư chúng ta phải công nhận anh viết nhiều và viết không mệt mỏi về bạn bè đồng đội, đặc biệt về những người lính cận kề bên cái sống và nỗi chết. Chẳng những bản thân những người này ngay cả gia đình vợ con họ, đều phải sống trong nhọc nhằn gian khổ và chết chóc nhưng họ vẫn hào hùng trong chiến đấu và giàu lòng nhân đối với mọi người kể cả những người bên kia chiến tuyến. Họ bất bình trước hành động điên rồ của một số người lạnh máu “Đã là xác chết mà người ta lại không chiụ buông tha… người ta mang mười mấy xác chết đặt nằm trước Quận, gọi là ăn mừng chiến thắng… Chiến tranh là vậy… Nhưng ít ra mình còn hơn VC, bởi vì mình có quả tim. Mình còn có tình người. Mình có Chúa có Phật…” (Thế hệ chiến tranh THT trang 122).

 

Đối với Trần Hoài Thư, anh là một nhân chứng, không phải một lần mà nhiều lần và không phải trước một người chết mà một nửa Đại đội, một thế hệ. Anh viết, vì trước biên địa của tử thần bạn bè anh đã nói: “Mày là Nhà văn. Tao là đọc giả của mày. Mày phải sống. Mày nghe rõ chưa. Mày phải sống để mà viết lại… Mày hảy nói cho mọi người biết về những cái chết chó má như thế này… “Cũng vì anh là người sống cho sự thật và chứng nhân của sự thật chứ không phải một chứng gian, anh viết để lột trần cuộc chiến vừa qua, để nói về cái thiện và cái ác chứ không viết để tung hô để tuyên truyền cho bên này hay bên kia. Tôi thích đọc Trần Hoài Thư bởi lẽ đó.

 

2. Tôi nghĩ mỗi dân tộc có một nền văn hoá riêng, mỗi tác giả có một hoàn cảnh sống, cách suy nghĩ và một lối viết đặc thù nên không thể lấy ông Tây bà Đầm nào để làm khuôn vàng thước ngọc phê phán một tác giả hay tác phẩm như các Nhà phê bình vẫn thường làm. Hơn nữa, điều tôi muốn nói “phê bình” không phải là việc làm của tôi; tôi chỉ là một độc giả. Đọc và cảm nhận với Trần Hoài Thư một Nhà thơ, một Nhà văn thuộc thế hệ chiến tranh. Vì thế, tôi nghĩ THT đã nói hộ chúng tôi, bởi vì tuổi trẻ khi này đều có cùng một suy nghĩ: Ở bên này, đời lính là cái nghiệp oan khiên phải trả, bên kia là thúc ép, là tiêu chuẩn là miếng cơm manh áo cho bản thân cho gia đình, không ai còn con đường nào khác để chọn lựa. Cái còn lại duy nhất là tình người, cho dù bên này hay bên kia, dù Bắc hay Nam, dù ý thức hệ có khác.

Trong tập truyện Ban Mê Thuột Ngày Đầu Ngày Cuối, Trần hoài Thư “đi lại” một số truyện viết trước 1975 đăng trên Bách khoa và Văn… Truyện Quán Biên Thùy, tôi nhớ đã đọc ở đâu đó khá lâu được đi lại trong Ra biển gọi thầm. Tôi nghĩ đó là những mẫu chuyện rất thật, rất có giá trị và cũng rất nóng, từ mặt trận gửi về hậu phương, sự mất mát, cái cơ cực, nổi cô đơn của người lính, cái phi lý của chiến tranh… kèm theo một số xác chết của bên này, sự tàn ác dã man của bên kia như một thông điệp cảnh báo về sự tàn bạo của chiến tranh, sự mất mát to lớn của từng gia đình để gửi về Thủ đô hai miền, nơi rất ít người biết sự thật về chiến tranh nhưng ở đó lại là nơi xuất phát những mệnh lệnh, bắt tuổi trẻ chúng tôi moi gan lấy mật, tàn sát lẫn nhau càng nhiều càng tốt.

Một câu hỏi khác được đặt ra khi đọc Trần Hoài Thư, anh là một Nhà văn phản chiến? Chủ quan tôi nghĩ, vấn đề không thể hiểu một cách đơn giản như vậy. Ở một nước Tự do Dân chủ như Mỹ, phong trào phản chiến có thể làm đổ vỡ đường lối chánh sách chiến tranh của Chính phủ. Nhưng VN và các nước, nền Tự do Dân chủ chưa phát triển cao, phản chiến qua các loại hình chỉ có tác dụng nhắc nhở, kềm hảm một phần nào trong giai đoạn Độc tài quân phiệt, chế ngự trên sân khấu chính trường hay lảnh đạo đất nước. Họ tự cho mình cái quyền bắt đục bỏ những đoạn văn, những bài viết kể cả bỏ tù hay ám sát những người và những ai có hại đến chế độ. Tệ trạng này cho đến nay vẫn còn tiếp diễn trên quê hương ta. Phản chiến ở miền Nam trong cuộc chiến vừa qua tuy có nhưng chưa đủ mạnh, tác dụng không đáp ứng với yêu cầu. Có lúc có nơi nó như một loại hình để thư giản tinh thần những người tham chiến, giải toả một phần nào về sự tàn bạo, thảm khốc của chiến tranh như trường hợp nhạc Trịnh Công Sơn. Những người lính trước đây, sau cuộc hành quân trở về, ra phố ngồi nhâm nhi ly cà phê, thấm thía với lời nhạc Trinh Công Sơn nhưng nó là một cái thú không hơn, không phải ai nghe nhạc họ Trịnh đều bỏ ngủ hay buông súng. Ngay trong căn cứ Trung Ương Cục Miền Nam, cơ quan đầu não của những tay khát máu, nướng quân như nướng cầm thú, Quân đội ta còn tịch thu được những Tape nhạc Trịnh công Sơn . Như vậy không thể nói những Nhà văn phản chiến hay nhạc Trinh công Sơn đã làm cho Miền nam bị mất vào 30/4/75.

Trong Quận đội, những người trước đây dù tình nguyện hay động viên, ra trận đánh nhau ai lại không hơn một lần nghĩ đến huy chương, cấp bậc hay chức vụ. Thậm chí có những anh lính nghề, không phải một lần mà nhiều lần tuyên bố với đồng đội, bạn bè: Bây giờ tao là Thiếu úy nhưng tương lai tao sẽ là Tướng! Nói chung những ai đã trải qua Trung đội trưởng đơn vị tác chiến. Có thể do bạn bè, một cái bắt tay khen ngợi của một ông Tướng, một lời khuyến khích của cấp chỉ huy trực tiếp, hay cũng có thể vì cái tên gọi “Chuẩn úy sữa” nên tự lên dây cót làm người hùng của đơn vị. Và cũng có thể để chứng tỏ mình không phải một tên hèn đối với thuộc cấp như trường hợp cái chết của Thiếu úy Minh trong Đánh Giặc Ở Bình Định (THT, trang 123-124), anh lao vào chiến trận như một tên điên khùng. Chính Trần Hoài Thư cũng phải công nhận cái điên khùng đó có diễn ra, nhưng mặt khác “… nhờ nó tôi mới hiểu cái tàn bạo của con người, của chiến tranh, của hận thù, và những tay chỉ biết xúi tuổi trẻ ra chiến trường để chết thế …” (Đại Đội Cũ & Trang Sách Cũ, THT trang 11)

Trần Hoài Thư, sau những năm lăn lộn ngoài chiến trận, anh cũng đã nhận ra: “… từ khi nhận thức được sự thật về chiến tranh, về những người trẻ chúng tôi trong lò lửa, về những giọt nước mắt của người mẹ, người yêu, đứa con, về cái phi lý khi tuổi trẻ hai bên mổ mật mổ tim nhau trong khi những kẻ ở nhà hả hê xúi dục.” (Thế Hệ Chiến Tranh, trang 41). Bởi những lẽ đó, anh là Nhà văn nên anh mong có thì giờ và hoàn cảnh để viết, viết về một cuộc chiến quái lạ và sự tàn bạo của nó để kẻ trong cuộc hay người đời sau đọc và suy ngẩm. Và nếu không ai cho anh cơ hội thì anh tự tạo lấy, còn phản chiến hay không, tôi nghĩ không quan trọng. Trần Hoài Thư vẫn chiến đãu trong cương vị của anh là một Phóng viên chiến trường hay cũng có thể nói, tiếp tục làm Nhân chứng cho đến ngày cuối cùng của chế độ và còn đi tù CS 4 năm để sau đó có thêm dữ kiện viết lách về chiến tranh. Thái độ của Trần Hoài Thư, tôi nghĩ không phải thái độ của một người phản chiến. Cho đến bây giờ trên mặt trận Văn bút anh vẫn đánh kẻ thù không khoan nhượng chỉ vì “họ không tôn trọng sự thực, họ vu khống, bôi bẩn đồng đội bạn bè anh, những người lính Thám kích cho dù anh vẫn biết tâp quán xã hội họ đang sống là phải nói dối để sinh tồn.” (Đại Đội Cũ & Trang Sách Cũ – trang 99). Đó là chưa nói thái độ Trần Hoài Thư sau 30/4/75, những ước mơ của anh trước đây hoàn toàn sụp đổ khi nhận chân sự thật về những người phía bên kia trong cách đối xử với đồng loại cũng như dã tâm của họ sau khi chiến tranh chấm dứt. Chẳng những bất hợp tác anh còn tìm đường ra đi, vì “Tôi đã bị lầm một lần, không thể bị lầm một lẩn thứ hai” (Ra Biển Gọi Thầm – trang 74). Điều này chúng ta đọc thấy đều khắp ở Ra Biển Gọi Thầm, tác phẩm đầu tiên sau 1975 cũng như những tác phẩm sau đó. Có điều anh không vạch ra lằn ranh hay chủ nghĩa nào đúng sai, anh chỉ nói đến những con người, những cây sậy biết đau, sự chiến đãu giữa thiện và ác về những thảm kịch…, anh không phải là một Nhà chính trị, anh chỉ là một Nhà văn nên anh có cách nói và ngôn ngữ riêng của anh.

 

3. Văn học Hải ngoại, có thêm một tác phẩm ra đời để lắp vào cái khoảng trống nền Văn học Dân tộc là điều đáng hoan nghênh, mỗi tác giả có một cách viết riêng cùng là Hoài niệm nhưng mỗi người có những hoài niệm khác nhau. Người hoài niệm một thời oanh liệt đã mất, cảnh gian khổ và thù hằn trong lao tù. Cũng có người lấy cuộc chiến vừa qua làm bối cảnh, viết để đánh bóng mình hơn là nói lên sự thật về cuộc chiến xảy ra trên quê hương. Hoài niệm của Trần Hoài Thư thuộc loại hiếm hoi, trải dài từ Hải ngoại về trong nước, anh nhớ về người cha già, nói đến bạn bè đã mất hay còn sống vất vưởng nơi quê nhà, đặc biệt từng người lính dưới quyền và sau cùng là con đường sắt, là con đò nhỏ là chùm khế ngọt, ở đó người lính (không loại trừ tác giả) sống qua đều lạng quạng với ít nhất một người con gái kể cả những người gọi anh bằng chú! (Hư thực thế nào về tác giả xin đọc THT, tác phẩm và con người của Phạm Văn Nhàn). Cái hấp dẫn truyện THT nhờ đó một phần, phần khác THT, khi nhắc đến Huế anh không quên nói đến Đại Nội, từ Thượng Tứ qua Đông Ba, từ Trương Định về Hàng Đoát, từ Morin về Đập Đá… Đà Nẵng với con sông Hàn và trường Phan Châu Trinh. Qui Nhơn với khu 6, trường Sư phạm. Nha Trang với “Cầu Đá mập mờ những dãy đèn lung linh. Ngoài khơi xa là muôn ngọn đèn câu đêm như thể một dãy kim cương. Đó là Nha Trang của tôi, một Nha Trang mà tôi đã lớn lên bằng mặt trời và sóng biển, cùng những chú còng nhỏ bé …” (Ra biển gọi thầm THT trang 37), lối viết này của anh, nó lợi hại ở chỗ không riêng THT mà chính anh bắt người đọc cũng hoài niệm một cái gì đó của riêng mình, khi những địa danh hay một trận đánh được nhắc đến trong tác phẩm. Như đồi 10 của Tam quan, Đệ đức của Bồng sơn, chợ Huyện, chợ Dinh, Phước lý, Phước hải của Tuy phước. Rồi An lão, Đèo mang, Đèo nhong, Phù ly, Phù cũ… Nó gợi nhớ biết bao, Nha Trang với con đường Độc lập có những trụ điện bình thường chắn lối đi, gây khó chịu cho khách bộ hành. Một đêm nào, trên đường tiển người tình xuôi Nam, dưới ánh sáng nhá nhem của mỗi trụ điện, họ dừng lại và cứ đếm trên đường Độc lập có bao nhiêu trụ điện là bấy nhiêu cái hôn tiển người tình!

 

4. Trong tác phẩm Trần Hoài Thư bàng bạc đó đây hình bóng của những người con gái, những mối tình thật đẹp, thật thơ mộng và lãn mạn nhưng chất ngất đau thươmg như Mỵ và Trọng trong Quán Biên Thùy, như cô gái Ê-đê tên H.Pery và Chàng (?) trong Khi mùa hoa ca phê nở và Ban mê thuột, mùa cỏ may, như Hoàng Mai trong Sõi đá ngậm ngùi, như anh Trung sĩ và người con gái giang hồ tên Phương trong Cơn giông… Mỗi người con gái có riêng một thế đứng trong tim của nhân vật nam nhưng không ai trọn vẹn được một cuộc tình. Một điều rất dể hiểu: Chiến tranh ! Chiến tranh nó đưa đẩy tác giả hay anh chàng Tân và Quỳnh, cô học trò bé bỏng trở thành “Nữ quyết tử” trong một phong trào đãu tranh. Ý thức hệ cũng nảy sinh từ đó, nó như định mệnh áp đặt lên từng số phận của mỗi người. Một lần chia tay không hẹn tại Nhà đợi ở sân bay Huế, em vào Qui Nhơn theo học Sư phạm còn anh xuôi Nam để vào Thủ Đức, mang theo biết bao kỷ niệm và nhung nhớ. Rồi em trở thành cô giáo tập sự ở quận, nơi đơn vị anh trú đóng. Một lần quận lỵ bị địch tấn công, anh nóng lòng giải cứu quận thì ít, giải cứu em thì nhiều. Đồng thời cũng ở đó anh khám phá ra khu vườn xưa đã chết, anh trở thành kẻ si tình, viết tên em trên lá trên hoa, viết lúc trăng treo đầu súng vẫn chưa đủ. Anh viết đầy trong một tác phẩm, trong cả cuộc đời, đến nỗi trong một lần mê sản, anh ôm chầm lấy người Dì từ chùa Sư Nữ, nghe tin anh bị bệnh về thăm mà anh cứ ngỡ người đó là Quỳnh. Yêu, si tình cở này đúng là hết thuốc chữa!

Cho đến cuộc tình giữa Minh và Như Hạ, đôi bạn chơi nhau từ thuở nhỏ đến khi vào Đại học, “chiến tranh làm cho bạn bè kẻ về biển người lên rừng và đau đớn thay Như Hạ cũng theo tiếng gọi từ xa, tất cả đổ vỡ, phân ly” Người con gái có đôi mắt như hai vì sao nhỏ, có tiếng hát hay nhất trường, hay nhất trong đêm lửa trại của Sinh viên Huế ở của biển Thuận An. Không ai ngờ, có một ngày người dân thành phố Huế kể lại, Tết Mău thân người con gái mang tên Như Hạ ấy lạnh lùng tàn bạo, ngồi sau chiếc bàn dài với quyền uy ghê gớm, kết quả là biết bao nhiêu người bị chôn sống dưới tay nàng ở Bãi Dâu. Chưa hết mấy mươi năm sau, “Ở một nơi nào rất xa”, anh chàng Minh chết điếng khi nhìn đôi mắt của một cô bé tên Như Hiền, Du học sinh đến từ VN . Đôi mắt và dóc dáng đó là của một người bên trời cửa Thuận đêm nào, Như Hiền cho biết bây giờ thì Mẹ em sống bằng thuốc ngủ và những lá bùa vì nhìn đâu cũng chỉ thấy oan hồn về đòi mạng, đôi mắt đẹp như hai vì sao nhỏ kia, bây giờ chỉ là hai võng mô đục, không một chút gì sinh khí! “Như Hạ ơi, anh đang thấy lại em, đôi mắt vòi vỉnh anh hái dùm trái ổi, trái khế. Anh thấy lại em, giữa khu vườn rậm đầy bưởi thanh trà và em mang áo ấm đỏ khi Huế vào đông, khi con nước sông Đập Đá chảy cuồn cuộn mang theo những thân củi, khúc cây từ rừng xuống sông Hương… Phải rồi, cứ mỗi năm vào tháng bảy, con hạc lại nhớ quê bay về để anh còn mơ một ngày dẫn em về bãi biển, nhìn lên bầu trời mà tìm lại chiếc đuôi con thiên nga… Nhưng với hai võng mô đục, không một chút gì sinh khí ấy làm sao để anh có thể chỉ lại cho em một vì sao sáng nhất của thời anh yêu em? ” (Ra biển gọi thầm THT, trang 247-248). Viết về chiến tranh kiểu này, người đọc, đọc mãi cũng không thấy chán nhưng hy vọng đây là nàng thơ, nàng văn chứ nàng thật trong cuộc đời e rằng tác giả sẽ gặp nhiều rắc rối về nhiều phía, phía bên này theo lời anh thì được khuyến khích nhưng phía bên kia thì sao? Hy vọng tình yêu một chiều trong các tác phẩm sẽ giảm đi phần nào tai hoạ để Trần Hoài Thư mãi mãi không là Nhà văn với những tác phẩm không có đàn bà!

 

5. Đọc truyện Trần Hoài Thư trước 1975 tuy không được nhiều nhưng cũng đủ để thấy rằng anh nói lên tâm trạng tuổi trẻ miền Nam khi này rất thật vả rất đúng. Cho đến sau 1975 khi anh bắt đầu viết lại, trước và sau cũng chỉ thơ và văn nói về thân phận con người, nổi bơ vơ của tuổi trẻ, những nhọc nhằn gian khổ của người lính, sự mất mát trong chiến tranh hay hoài niệm về tình yêu đã vỗ cánh cũng như tình bạn cách xa. Tuyệt nhiên anh không viết nhiều về những biến cố chính trị như Đão chành, Chỉnh lý, Biểu tình… thậm chí anh từng chứng kiến phong trào Phật giáo đãu tranh, cảnh Bàn thờ xuống đường, anh không đồng ý nhưng cũng chỉ nói thoáng qua trong tác phẩm chứ không lý giải. Ngay tác phẩm đầu tiên xuất bản ở Hải ngoại, Ra biển gọi thầm sau khi đã nhận diện ra những con người phía bên kia, truyện Chi Ming Wang anh cũng chỉ nói lên những ước mơ cùng với người bạn gái về một mô hình lý tưởng cho một đất nước VN và Trung Quốc. Ở một nơi nào rất xa, người đọc còn thấy được thái độ và cung cách đối xử của nhân vật tên Minh, tác giả muốn gửi gấm ở đó thái độ chính trị không ồn ào của chính mình bằng ngôn ngữ riêng. Tóm lại với Trần Hoài Thư, trước và sau cũng chỉ mỗi con đường Văn học Nghệ thuật trong đó không thể thiếu người con gái ở Kinh Nhà Chung, Chi Ming Wang hay Thùy và chị Thi trong Ra Biển Gọi Thầm.

 

Vũ Linh

 

 

Tản mạn… thông ngôn.

Kính tặng Giáo-sư Đàm-Trung-Pháp, Ph.D.
Texas Woman’s University, Dallas.

Ta dùng câu “Thông ngôn” để chỉ việc phiên dịch bằng miệng từ ngôn-ngữ này sang ngôn ngữ khác, giúp cho hai người không sử dụng cùng tiếng nói có thể hiểu nhau. Tức là, muốn thông-ngôn, điều kiện cần là mình phải biết cả hai ngôn ngữ của họ để chuyển nghĩa lời phát-biểu từ bên ni cho bên kia hiểu và ngược lại.

“Phải biết cả hai ngôn ngữ của họ” là nói tổng quát, thực tế chỉ cần am tường một ngoại ngữ, vì kẻ còn lại thường nói chung thứ tiếng với người thông ngôn.

Đôi khi thay vì thông ngôn ta còn nghe “thông dịch”, hàm ý tương-tự như thông ngôn, tuy nhiên thực tế dần dần thấy ít dùng, hơi cũ, ngữ nghĩa không hoàn toàn chính xác, có một số tự điển đã bỏ qua chẳng đề cập tới.

Thông ngôn là một nghề tương đối mới mẻ ở Việt-Nam, lương bổng hậu hỹ, việc làm nhàn-nhã, như chơi, hấp dẫn và được kính trọng. Ai gặp cũng một điều thưa thầy thông-ngôn, hai điều thưa thầy thông-ngôn.

Nhớ chuyện xưa…Thoạt tiên, khi các quan Đại Pháp cực nhọc hy sinh bỏ cuộc sống êm đềm bên dòng sông Seine, bỏ các bà đầm dắt chó rong chơi rải mìn khắp đường phố nơi kinh thành ánh sáng, lặn lội sang đây, đem cái văn-minh Phá-Lăng-Xa khai mở cho đám dân còn ngơ ngác chưa biết tại sao đèn sáng, ngọn chúc xuống đất và nước trong, phun ngược lên trời, họ ưu ái mở nhà máy nấu rượu cung cấp cho ta nhậu lai rai ba sợi, nhưng luôn luôn nghiêm-minh, kỷ luật, chẳng có oong đơ gì cả, họ thẳng tay bỏ tù mọt gông những kẻ nấu rượu lậu.

Vì nhiều công việc bề bộn, dân Giao-Chỉ, cần được bảo ban cách làm đường, cầu cống, lập đồn điền, cạo mủ cao-su… hợp tác, góp sức lao động nên nghề thông ngôn đã xuất hiện theo nhu-cầu.

Từ hồi mới có ông Tây,

Có bơ, có sữa, có thầy thông-ngôn.

Một điều không thể chối cãi, đó là tính cần cù, sự làm việc chu đáo của dân Việt-Nam hầu hết đều đươc cấp chỉ huy tin tưởng, thương mến. Lại nữa, quan trên và kẻ thông ngôn lúc nào cũng như bóng với hình, làm việc kè kè bên nhau, nên sự thương mến còn đậm đà hơn nhiều, có thể nói không ngoa, đôi khi đó chính là một cặp bạn bè thân thiện.

Sách “Sau-Bức-Cấm-Thành-Nhà-Nguyễn” có đề cập tới mẩu chuyện, xin dẫn ra đây để mọi người thấy tình nghĩa giữa thông ngôn và quan trên đậm đà tha thiết tới dường nào.

Trong chuyến công du Huế và Sài Gòn nhiều tháng, phái đoàn quan toàn quyền Paul Doumer mỗi người một ngựa ngất ngưởng trên đường thiên lý, giống như bọn thầy chùa Tam-Tạng đi thỉnh kinh, mỗi lần tới nơi nào, ông không báo trước để địa phương tiếp đón. Trong đoàn tùy tùng có một người Việt làm thông ngôn gọi là Phán Ngọc(chả rõ họ gì.).Khi tới Huế, Paul Doumer đột ngột vào kinh thành để viếng thăm quốc vương An-Nam, làm vua Thành-Thái và các đại thần bật ngửa, lo sợ thất lễ. Nên ngày hôm sau triều đình tổ chức đại yến để tỏ sự cung kính và dành cho toàn quyền danh dự lớn.

Hoàng gia chỉ cho mời các ông hoàng bà chúa, các quan nhất phẩm và lục bộ thượng thơ mà thôi. Danh sách được gửi cho phái đoàn duyệt trước, khi thấy không có tên người bạn đồng hành và cũng là thông ngôn của mình, Paul Doumer hỏi lại, triều đình trả lời, phán Ngọc là dân giả, không phải quan đại thần nhất phẩm, không thể mời được. P. Doumer yêu cầu mãi, triều đình, cực chẳng đã, bắt buộc nhượng bộ vì không thể làm phật lòng toàn-quyền. Toàn quyền là rất lớn, coi cả ba xứ Việt-Mên-Lào cơ mà! bèn tạm phong cho phán Ngọc “Nhất phẩm đại thần hàm” rồi cho ông ta mượn bộ đồ vía của các quan cùng cấp bậc để mặc hôm dự tiệc.

Thuở trước, không kể Pháp Quốc, mình còn tiếp-xúc với nhiều dân nước ngoài, những quốc gia này đến với ta đều có ý tốt cả, họ dậy mình lễ nghĩa, múa hát, trồng trọt, thu gom vàng bạc châu báu đem về nước cất giùm. Ai vậy? Thì ông bạn khổng lồ láng giềng phía Bắc chứ ai! Thế mà lúc đó chả thấy phát sinh nghề thông ngôn lan rộng, chính thức, quy chế như thời Tây thuộc. Nhiều phần có thể vì người An-Nam bấy giờ tuy không rành tiếng Tầu, song nhờ gần gụi, với bốn ngàn năm văn hiến, biết viết chữ nho, nên dù không hiểu, họ nói xập xám, mình đọc là thập tam, mà viết ra thì như nhau do đó ta đã sáng kiến thêm một phương pháp khác để “điêu” với nhau, thực hành hơi lỉnh kỉnh nhưng rõ ràng minh bạch, đó là bút đàm.

Cuộc bút đàm thoạt tiên phải sửa soạn giấy bút, có tràng kỷ chững chạc để ngồi đối diện càng tốt, (nếu không, nằm bò nơi sàn nhà lượm cục than viết dưới “mặt bằng” cũng chẳng sao) đổ chút nước mưa vào nghiên, mài mực… xong đâu đấy, tiền khách hậu chủ, mời tiên sinh viết một câu, tôi đọc và tôi viết câu trả lời, cứ thế tiếp tục. Giống như bây giờ mình chatting trên mạng. Rất minh bạch, giấy trắng mực đen, bút sa gà chết, không thể gian lận, mập mờ, ấm ớ như mẩu chuyện sau đây:

Giáo sư Hứa-Hoành kể, một người dân giả, nguyên là học trò nghèo quê ở Gò-Vấp, nhờ giỏi giang, thông minh, được học bổng du học bên Tây, đậu tú-tài đôi, lúc quy cố hương vừa làm thầy dậy Pháp văn cho các công-chúa và Hoàng-tử trong cung, vừa làm thông ngôn, đó là Diệp-Văn-Cương. Ông Cương cưới cô công chúa Thiên-Niệm, chị ruột vua Dục-Đức thường gọi là Mệ-Kim làm vợ. Trong khi làm thông-ngôn, đầu năm 1888, để chọn người kế-vị, lúc vua Đồng-Khánh quy tiên, vào một buổi họp về việc ấy Diệp-Văn-Cương cố tình dịch sai lạc, mục đích muốn đưa người cháu vợ mình là hoàng tử Bửu-Lân lên ngôi theo ý bà Thiên-Niệm.

Các quan hỏi Khâm-sứ:

- Nay vua Đồng-Khánh mới băng hà, theo ý ngài nên chọn ai lên làm vua?

Diệp-Văn-Cương không dịch đúng nội dung như thế mà lại lắt léo cho quan khâm sứ hiểu theo ý đồ đã tính trước::

- Monsieur le Resident Superieur, Nay vua Đồng Khánh đã mất, Lưỡng Tôn-Cung và cơ-mật đồng ý tôn Bửu-Lân lên làm vua, xin quan khâm-sứ cho biết ý-kiến.

Khâm-Sứ đáp:

- Nếu cơ-mật và Lưỡng tôn-cung (Bà Từ Dũ và bà Học Phi) đồng ý thì tôi cũng tán-thành.

Đến đây, ta thấy câu chuyện đã được Diệp-Văn-Cương xỏ mũi dắt quan khâm-sứ quẹo vào đường khác rồi, sai một ly đi một dặm rồi, sắp xụp hố cả lũ rồi, làm cho thầy thông ngôn thêm phấn khởi, không dịch câu nói của Khâm-Sứ đàng hoàng mà lại giáng một búa, cương ẩu cho các đại-thần nghe để dễ bề kết thúc, như sau:

- Bẩm các quan lớn, ngài khâm-sứ Rheinard đáp: “Theo ý tôi thì chọn hoàng-tử Bửu-Lân là hợp lý hơn cả.”

Thế là toàn thể các vị rường cột nắm vận mệnh quốc-gia cả Tây lẫn ta đã bị phù thủy Diệp-văn-Cương đạo diễn hốt một mẻ trọn gói.

Thế là chỉ ba giờ sau, Hoàng-Tử Bửu-Lân mới 10 tuổi đang chơi đá dế cùng lũ trẻ, đã trở nên vua Thành-Thái dù mẹ ngài, thấy cảnh phế lập, phe đảng, mất kỷ cương trong triều, khóc lóc xin tha cho con bà mà chẳng được.

Nơi bộ Việt-Nam Sử-Lưọc của Trần-Trọng-Kim dĩ-nhiên không có kể việc này, chỉ nói đại khái rằng quan khâm-sứ có ý muốn, nên truyền lập ông Bửu-Lân lên làm vua.

(quyển 2 trang 339.)

Chuyện làm ăn của một số rất ít lưu-manh, nghề nào cũng vậy, lui tới một chặp rồi cũng rơi vào nghi ngờ, mất tin tưởng có thể bị phanh-phui, đổ bể.

Về sau, những vụ quan trọng, các thông ngôn phải qua cuộc lễ tuyên-hứa mới được hành-nghề đó là các thông-ngôn hữu-thệ, thường làm việc cho các vị nguyên thủ, cho tòa-án v…v…

Qua mẩu chuyện trên đây, việc thông ngôn thật là hết sức lợi hại, vì những thầy thông ngôn vô lương tâm còn có thể ỷ vào vị trí của minh, để xuống tay thực hiện trả thù cá nhân không mấy khó khăn.

Lịch sử Việt-Nam cận đại đã chứng minh điều đó. Một hôm, từ tờ mờ sáng, súng nổ chát chúa quanh lũy tre xanh, mấy cụ già run rẩy, rên khừ khừ như trúng phong, chó kêu ẳng ẳng, cụp đuôi phóng chạy tán loạn dưới gầm giường, góc nhà. Thường khi chú cẩu bị nện vài hèo mới kêu như thế, bây giờ đặc biệt hãi quá nó cũng kêu ẳng ẳng như lúc bị thọc tiết thui vàng, nấu nhựa mận.

Dân làng chưa hiểu chuyện gì, con nít khóc ré làm các bà mẹ vội vàng tính vạch yếm ấn vú vào miệng nó cho yên… thì tất cả đã bị lùa ra bãi đất trống trước sân đình tập họp. Không khí ngột ngạt, tuân lệnh tuyệt đối, lặng lẽ, nhanh nhẹn, kỷ luật, loạng quạng ở đây, lúc này, bỏ mạng như chơi, nam đứng một bên, nữ đứng một bên, đông thật là đông, để kiểm soát, thanh lọc.

Giữa đám lính Tây đằng đằng sát khí, những khẩu súng dài có gắn lưỡi lê nhọn hoắt, viên cạp-pò-ràn-xếp chỉ huy, hàng ria mép rậm rì như hai con sâu róm, mang cây Colt 45 với những viên đạn gài chi chít trên chiếc thắt lưng bằng da bò mầu vàng-thổ, đi cạnh thầy thông ngôn đảo qua đảo lại, lạnh lùng. Thầy thông ngôn thì đang làm công việc chỉ điểm, thầy chùm cái bao bố để khỏi ai nhận ra lý lịch, diện mạo, phòng hờ sự oán hận về sau, thầy chỉ tay vào người nào là đời kẻ ấy kể như oong poong phi nổ, một sổ hai chấm!

Nghe nói, trong quân đội, có một vài quan lớn khởi nghiệp như thế. Sau khi ông xếp mắt xanh mũi lõ hết nhiệm-kỳ sửa soạn xuống tầu về Tây, buổi chia tay thầy trò bịn rịn ngồi đối diện, bần thần như tiếc nuối dĩ vãng, nồi thịt thỏ nấu rượu vang để ở giữa, nghi ngút bốc hơi, tỏa mùi thơm hấp dẫn khắp phòng… Lát sau, rượu ngà ngà, để bổ đường nhân nghĩa, ông Tây khuyên thuộc cấp phải lo tương lai, ông đi rồi, cờ-sơ-ra sơ-ra? Nên xin đăng lính cho Pháp. Hắn nghe lời, ghi tên vào trường “Anh-ăn-chi?” (infantry) nhận một lô quần áo toàn mầu cứt ngựa, đôi giầy-xăng-đá cứng và nặng như… đá, để bắt đầu bàì học đi đều bước.

Khổ nỗi mỗi khi huấn-luyện-viên hô “En avant marche!” Hắn lúng túng không biết bắt đầu chân nào trước chân nào sau, khiến cho đám lính bị ùn lại như hình ảnh kẹt xe. Bị đá đít, bợp tai, mẹc-xà-lù mãi cũng như nước đổ lá môn, cuối cùng phải lấy bẹ chuối khô buộc vào một chân cho dễ nhớ. Quân trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu là vậy?

Về sau, bao nhiêu biến cố lịch sử xẩy ra, quân đội thuộc Pháp chuyển qua quân đội quốc-gia, cả triệu người xuống tầu há mồm ra khơi, di-cư từ Bắc vào Nam, rồi truất phế Bảo-Đại, suy tôn Ngô Đình-Diệm, thanh niên cộng hòa mặc đồng phục xanh đi chào cờ sáng thứ hai, xóm làng thanh bình vang tiếng hát “Ai bao năm từng in gót nơi quê người…”, lập ấp chiến lược, đàn áp tôn giáo, rồi từ Đệ-Nhất Cộng Hòa tới Đệ-Nhi Cộng-Hòa, rồi quân đội Củ-Xâm, quân đội Cang-Gu-Ru v…v… nhào vô ăn có, hết đảo-chánh lại chỉnh lý, công bố Hiến Chương Vũng Tầu, sinh viên biểu-tình… Hắn không phải chỉ là chứng nhân giai đoạn lịch sử mà đã ít nhiều, trực tiếp hoặc gián tiếp, tham dự hầu hết những biến cố ấy, những biến cố ấy quá dài, làm mỗi khi nhìn về quá khứ, hắn thường kiêu ngạo chê thuộc cấp là cái thâm niên quân vụ của họ chưa chắc bằng những ngày hắn nằm bệnh viện cộng lại.

Hắn như bị “cuốn theo chiều gió”, mang ba-lô lưu lạc khắp bốn vùng chiến thuật, “gặp thời thế thế thời phải thế” lúc thì trận mạc, lúc bị thượng cấp ghét bỏ vì ăn chia không đều, bèn bị đẩy theo học các khóa quân sự, chỉ huy tham mưu nhạt nhẽo và buồn ngủ, nhưng nhờ thế hắn đã “qua-ly-phai” và chiếm ưu thế trong các cuộc tranh đua thăng thưởng.

Cuối cùng “Anh chưa chết đâu em!”, sống lâu lên lão, lon lá càng ngày càng nặng để một sáng ngủ dậy vào đơn vị bỗng thấy người trưởng ban Ba, cần-mẫn, tận-tụy đang chờ, cười, tươi rói, trình tờ công-điện từ bộ Tổng-Tham-Mưu…. Thế là thầy cựu thông ngôn lại lên chức, lại lên lương, đường hoạn lộ thênh thang… để mai sau, khi hai năm mươi, những tấm mề-đay còn đó, đôi giầy đinh còn đó cùng cái nón sắt… tất cả đã trở thành “kỷ vật cho em”. Những kỷ vật này có thể làm cho một nhà thơ lang thang đang túng đề tài, hay được, chợt nhìn nước chảy mây trôi, lan man nghĩ tới cái ngắn ngủi, phù du của kiếp người, sinh lão bệnh tử, bèn nhả ngọc phun châu thành mấy câu đầy đủ các hình ảnh: Chiến sĩ, gươm đàn, sa trường, đêm trăng, nơi gió cát, da ngưa bọc thây… gói ghém niềm thương tiếc một vì sao “rớt hột.”.

Bản “tướng mạo và quân vụ” của cha bự này như thế cũng chả vinh dự danh giá, ghê gớm gì. Một lực sĩ đấu võ wrestling lúc thượng đài vì nghề nghiệp, câu khán giả, vênh váo chửi bới đối phương, đôi khi thắng, đôi khi bị địch thủ dần cho nhừ tử gần bể mặt, chuyện đời năm ăn năm thua, riết rồi cũng chán. Bỗng một hôm thấy không khí bầu bán hào hứng với cờ quạt, máy phóng thanh, những vận động viên đội mũ quả dưa của chú Sam… bèn bỏ nghề đấm đá, nhào ra ứng cử và trở nên kẻ đứng đầu một tiểu bang nhiệm kỳ bốn năm. Bốn năm nơi xứ Bắc lạnh lùng, tuyết phủ, hàng ngàn vạn cảnh hồ nước mênh mông, bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông cây cỏ hữu tình… ngài thống đốc làm được gì? Chắc cũng không nổi bật, nên tới 2002 ngài bị kẻ khác giành mất chiếc ghế uy quyền, thơm như múi mít, đẩy lùi cuộc sống trở về lặng lẽ, tối tăm, y như “thằng bé âm thầm đi vào xóm nhỏ!”

Ngài cựu thống-đốc bây giờ ở đâu? Bến Hải hay Cà-Mâu? Ôi! bức tranh vân cẩu. Lên voi xuống chó. Lão-Tử viết “Danh khả danh phi thường danh”. Trong thiên hạ nào dễ mấy ai!

Xin tiếp tục chuyện thông ngôn cho trọn ý. Không phải sự hợp-tác giữa hai chủng-tộc, hay nói cho đúng là giữa hai cá nhân của hai chủng-tộc, là nhất thiết phải cần thông-ngôn. Hồi đó mấy tên lính viễn chinh xa nhà, khi thảnh thơi, ngóng trời, nhìn cụm mây trắng lững lờ, bồi hồi tưởng lại, chẳng biết con bé tóc vàng hàng xóm, con bé mặc váy ngắn hớ hênh, mang vớ trắng cao tới đầu gối hay thơ thẩn một mình dưới cội ô-liu trước nhà bây giờ ra sao, lòng nhớ quê hương bời bời thì cũng y chang người di tản lúc đầu vậy. “Anh Phải Sống”. Mặt khác cô me Tây lảng vảng đâu đó cũng phải sống. Thế là “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ” hai bên, dù chẳng cùng ngôn ngữ, bèn ráp vô, khắng khít như thỏi sắt và cục nam châm, nương tựa nhau cho bớt sầu đời.

Chẳng cùng ngôn ngữ thì nhằm nhò gì, họ biết phải làm chi và phải đối xử với nhau thế nào chứ! Công thức “Ông mất cái giò, bà thò chai rượu” có tính cách quốc tế, đem áp dụng lúc nào cũng hữu hiệu. Họ có hai vòng tay đầy sức sống. Hai vòng tay ấy chả phải chỉ để ôm nhau thật chặt, ngạt thở, tỏ dấu yêu đương mà còn dùng nói chuyện, rồi bập bẹ vài tiếng, rồi cố gắng ghép hai chữ lại, nửa Pháp nửa Việt cho Pháp Việt đề huề.

Cũng tình tứ, mùi mẫn quá cỡ thợ mộc ấy chứ lỵ! Một hôm cuối tuần, mới sáng tinh mơ, trên tấm thân-thể-bừng-bừng còn khoác chiếc áo ngủ mỏng dính, dài thượt, chị vợ đã thoăn thoắt làm điểm tâm cho chồng ăn, vừa bưng đĩa trứng vừa lẩm bẩm một mình, như hát, như reo “Ẻn pa cúc cù cu… cu, ẻn săng tê cúc cúc, Y-ê ẻn đon-nê một cục, ô-dua-đuy ốt si một cục, ốp la ốp lết, măng dê ngon ra phết.”. Ăn xong, theo đúng chương trình nỉ non to nhỏ từ đêm hôm qua, hai vợ chồng còn thắng bộ, dắt tay dạo chơi sở thú, đến khu chuồng cọp cô me Tây mừng rỡ kéo tay người lính xa quê hương, vừa chỉ vừa nói líu lo: “Me sừ! me sừ! lúy gầm, lúy gừ, lúy com lơ bớp, lúy pa lơ bớp, lúy tý ti dôn, lúy tý ti noa, lúy măng dê cả moa, lúy măng dê cả toa, Ô la la!”

Chàng lính viễn chinh nghe vậy gật gù, mỉm cười, ngây ngô, sung sướng, song, thử hỏi, người trai trẻ đang ngụp lặn trong hạnh phúc ấy có hay biết gì không nhỉ? Tôi chẳng rõ. Thú thực viết đến đây tôi chỉ e là quý vị độc giả kính mến có hiểu giùm chăng mấy câu nói của cô me Tây đang cơn hào hứng! Tuy nhiên, ví dù, nếu không hiểu cũng đừng kêu tôi nhé! Thay vì kêu tôi, xin gõ cửa tìm hỏi ông Bảo-Trần, tác giả tập thơ Đối Diện Niềm Vui xuất bản năm 1998.

Ngoài đường ban tối, tối thui,

Ông đang “Đối Diện Niềm Vui” trong nhà.

Chả là vì ổng và tôi cư ngụ cùng thành phố. Mấy bữa mò tới thăm ổng, tôi không thích theo lối mới, gọi điện thoại trước. Có gì quan trọng đâu. Cứ phom phom lái xe Ô-tô đến nơi, bấm chuông, đi vắng thì về, cửa mở thì vô, sau khi xoa hai bàn tay vào nhau, cười cầu tài, lúm khúm, biểu diễn mầu mè chiếu lệ:

- Xin lỗi, kẻ phàm phu tục tử này thật đáng trách, đến mà không thông báo, chẳng hay tiên sinh có bận việc gì chăng?

Ổng không trả lời, nắm vội lấy tay tôi kéo tuột vào nhà, cho tôi uống cà-phê “3 in 1”, ăn đậu phọng rang, mọi thứ đều sẵn trên bàn cùng phích nước xôi, vui vẻ, thân tình. Cái màn tiếp đãi khách khứa self service này rất tiện, không cần tiểu đồng, hầu thiếp phục vụ lỉnh kỉnh. (lấy đâu ra tiểu đồng, hầu thiếp bây giờ. Trẻ con đi học, coi TV. Phụ nữ đi làm, đi shopping) và có lần ổng đã kể tôi nghe mẩu chuyện cười thế đấy!

Phạm-Quỳnh viết: “Người An-Nam cái gì cũng cười”. Mẩu chuyện trên đây lại buồn cười! Thế thì mình cứ cười vui cho thoải mái. No star where (Không sao đâu). Tuy nhiên, mặt khác, những câu nói buồn cười này chưa hẳn đã thật, biết đâu chẳng là hư cấu, mà dù giả hay thật, chắc chắn nó không có gì đáng khinh cả, vậy xin đừng nghĩ tới lời phê phán khắt khe, miệt thị của ít người: “Tiếng Tây bồi”

Từ sau năm 1975, có rất nhiều người Việt bỗng nhiên bỏ cửa bỏ nhà sang sinh sống ở Hoa-kỳ. Tôi nói bỗng nhiên vì cuộc ra đi không dự trù trước. Có ông cụ búi tóc củ hành cặp nách cái ô (Mà người phương Tây đặt tên Ầm-bà-là, Đồng bào miền Nam kêu cái dù. Hồi xưa cái ô này được gọi ô máy, theo ông Tú Xương nó chính là cái ô Tây: “Hôm qua anh đến chơi đây, giầy dôn anh diện ô Tây anh cầm”), nói với mấy người đồng hương ngay khi bước xuống sân bay: “Chẳng hiểu tại sao tôi ở đây!”. Một bà già đi một mình, may mắn được ông lão người địa phương “pông so” rước về, chủ nhật nào cũng đưa nhau tới nhà thờ. Đồng hương hỏi “Sao kiếm ngay được ông chồng tốt vậy?” Bà già trả lời “Thì có biết chi đâu! Ổng bảo gì mình cũng gật đầu nói “yes” nên mới ra cơ sự!”

Không kể ít người bị love sick, rất nhiều kẻ bị home sick, chưa biết tiếng Anh, bao nhiêu chán nản, bao nhiêu trường hợp, đôi khi cũng gây ra vô số chuyện tức cười về ngôn ngữ vì đâu phải lúc nào cũng có thông ngôn, nhưng được cái, hiếm khi nghe ai phê phán “tiếng Mỹ bồi!” và hẳn tiếng Mỹ bồi cũng có lúc buồn cười lắm, xin miễn kể chỉ vì hầu hết mọi dân đồng cảnh ngộ đều kinh nghiệm, trải qua, chả ít thì nhiều.

Sau hơn ba chục năm bọn di-tản-buồn chúng tôi, cư ngụ ở Mỹ, bây giờ lại sẩy ra vấn đề mới trong cộng đồng, cũng nan giải: Người mình mà không nói rành tiếng nước ta. Tôi có thằng cháu không chịu cắt tóc ở tiệm có người Việt đứng cầm tông-đơ, lý do giản dị, không ngờ, “nó cứ hỏi hoài bằng tiếng Việt-Nam cháu không biết nói làm sao”. Nếu còn chẳng tin, cứ nghe một số ít các ca-sĩ giới thiệu trước khi hát là đủ. “ Cam ta quy vi. Em xin trinh bay bai Muoi nam tinh cu…” chẳng cần bỏ dấu gì cả y như anh dân-vệ ở Sa-Đéc, gốc Cao-Miên, bắt thằng nhỏ ăn trộm gà, hỏi “Ăn tôm để cua đâu?” (Ăn trộm để của ở đâu?) mà cụ Vương-Hồng-Sển có kể trong sách.

Thực ra thì mấy danh-ca (Không phải đánh cá) choai choai này đã là Mỹ cả rồi, họ sinh trưởng ở Mỹ mà! Hình dáng là Việt-Nam nhưng nói năng, suy nghĩ, ăn ở y chang như người bản xứ. “Hồn Trương Ba da hàng thịt”. Khả năng biểu diễn tiếng Việt như thế còn là may! Thành ra quan niệm của ông bà, ước ao con cái phải lấy vợ lấy chồng người Việt trở nên lỗi thời cái một. Mà Việt hay Mỹ nay có khác chi! Có khi Mỹ lại ngon lành. Kén chọn, nếu bậc cha mẹ có diễm phúc được kén chọn, thì đôi khi cũng chỉ hài lòng tới ngày đám cưới thôi!

Bây giờ, vấn đề chủng tộc chẳng còn mang ý nghĩa quốc gia nữa. Một đội bóng đá của dân Gô-Loa thấp thoáng vài cầu thủ da đen là bình thường, tương tự, trong kỳ Thế vận Hội Olympic 2008 ở Bắc-Kinh, ta thấy một vận động viên tranh giải bóng bàn đại diện cho Hoa-Kỳ là một á-mụi 100 phần 100, đứng trước mũi các vị con thiên tử: tiu, xoáy, vớt, múc, đập, rơ-ve… đua tranh tận tình, tỉnh queo… no star where!

Nhưng vấn đề ngôn từ, nói chung, vẫn là quan trọng, rất quan trọng. Ưu tiên tôi nghĩ, nên luôn luôn hãnh diện, đề cao, phổ biến và trau dồi tiếng mẹ đẻ. “Tiếng ta còn, nước ta còn”. Mặt khác, càng biết nhiều ngoại ngữ càng tốt, ít nhất đỡ hiểu lầm, đỡ phải thông ngôn mỗi khi tiếp cận.

Người Tầu ở Chợ-Lớn phần đông biết nói rành tiếng Việt, chẳng trở ngại về sinh-ngữ, khi lấy vợ Việt, vẫn muốn vợ mình học thêm tiếng Trung-Hoa vì còn những trường hợp cần thiết như tiếp xúc các bậc trưởng lão họ hàng. Khổ nỗi, khi lấy nhau rồi, vì gia đình, con cái, công việc, đàn-bà đôi khi làm biếng chuyện học-hành, nhất là lại thấy chả cần thiết. Ngộ ái lị, lị ái ngộ lược dzồi. Nên nếu chồng có nhỏ nhẹ trách yêu thì thường “ngoan cố” trả lời đại khái, bằng một câu nhõng-nhẹo cũng đáng yêu:

“Từ ngày lấy nhau,

Nị cứ bảo chẳng chịu học chữ gì,

Thế sao ngộ lại biết

Cái “pán-xì” là củ khoai lang!”

 

Nguyễn Phú Long

 

 

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013