Văn

Mắc Cạn - Nguyễn Đức Nhơn

ve dep binh di 010

Gần một tháng nay, chiều nào ông cũng ra ngồi trên chiếc sạp nhỏ kê ở gốc me sau nhà. Ông ngồi bất động. Nét mặt buồn vời vợi. Đôi mắt đăm đăm nhìn về hướng núi Ông, cho đến khi những đám mây đen trên đỉnh núi tan hết ông mới lủi thủi trở vào nhà. Nơi ông ở là một vùng nước trời nằm về phía tây tỉnh lộ 8. Những năm gần đây thường xẩy ra hạn hán, mất mùa. Con suối sau nhà, nguồn nước duy nhất có thể dùng để cứu những thửa ruộng của ông cũng đã khô cạn, chỉ còn đọng lại những vũng nước đã ngả màu vàng sậm. Những con cá lòng tong mắc cạn ngoi ngóp trên mặt nước trông thật thảm hại. Đám bắp trồng ở miếng đất trước nhà, nguồn hy vọng duy nhất giúp gia đình ông giải quyết lương thực cho đến ngày giáp hột cũng quíu cờ héo rụi. Ngày ra tù, ông đưa vợ con từ vùng kinh tế mới trở về sinh sống ở cái làng nhỏ bé này, vì đây là quê quán ông, nơi mà chính quyền bắt buộc ông phải cư ngụ trong thời gian còn “quản chế”. Trong số những người bà con thân thuộc, cũng có người muốn giúp ông nhưng một phần vì ái ngại, không muốn thân cận với một người tù “cải tạo” mới về. Một phần vì chính gia đình họ cũng đang lâm vào hoàn cảnh khốn khó bởi những năm hạn hán mất mùa. Trước những khó khăn chồng chất không còn lối thoát, ông phải thực hiện một quyết định táo bạo là đùm túm cả gia đình chạy vào Long Khánh, nhưng cuộc “di dân” bất thành vì bị bức tường “hộ khẩu” chắn ngang, đành dội ngược trở về với hai bàn tay trắng. Để rồi từ đó, chiều chiều ông lại ra ngồi dưới gốc me ngó về hướng núi Ông. Những đám mây đen chợt tụ chợt tan như một trò chơi trêu người quái ác. Loài người tàn nhẫn với ông. Thiên nhiên cũng tàn nhẫn với ông…

Nhà ông cách thị xã Phan Thiết không xa, chỉ hơn 6 cây số, nên ông thường đạp xe đạp xuống thăm mấy người bạn tù đang sống trong cái thị trấn nhỏ bé, buồn hiu này. Trong số bạn ông, có những người rất thiết tha với tình nghĩa bạn bè. Nhưng cũng có những người thì lại thờ ơ lãng đạm cho dù ông chưa hề mở miệng nhờ cậy họ bất cứ một điều gì. Từ đó ông thường làm bạn với núi rừng. Ông theo những người trong làng lên núi phụ họ đốn củi hầm than (như một hình thức vần công) để nhờ họ chở về, khi thì năm bảy cây tre, khi thì vài ba bó củi. Cũng may, trong lúc sống dở chết dở thì một người cháu ruột ở Sài Gòn giúp ông một số tiền đủ để mua hai con bò và một chiếc xe bánh cây cũ kỹ. Từ đó ông thường lên núi một mình với một xị rượu, một ít gạo và vài ba con cá khô. Cuộc sống đơn điệu buồn chán ấy tiếp tục hành hạ ông sau những năm tù nghiệt ngã.

Chỗ ông ở cách núi Ông khá xa nên thường bắt đầu những chuyến đi vào lúc xế chiều, khi mà ngọn gió mùa đông bắc từ biển đông thổi vào mạnh nhất, dấy lên một vùng khói bụi mịt mù. Nhà thơ Huỳnh Hữu Võ tả cảnh này chỉ bằng một câu thơ mà mỗi lần đọc lên ông cảm thấy buồn da diết “…tháng giêng gió thổi mù như khói…”.

Chiếc xe thong dong lăn bánh dưới ánh nắng chiều chói chang gay gắt. Ông ngồi tựa vào hông xe, ung dung thoải mái như một khách nhàn du, mặc cho hai con bò già an phận kéo chiếc xe qua từng thước đường như một nghĩa vụ thiêng liêng mà loài người đã áp đặt lên nó từ cái thời xa lắc xa lơ nào đó. Hai bên đường lác đác năm ba căn nhà lợp tôn cửa đóng kín mít. Những con bò thả rong, đi lang thang trên cánh đồng còn trơ gốc rạ. Ngọn gió mùa đông bắc mang theo mùi khói đốt đồng quét vào người ông rát rạt. Nhìn cảnh vật xác xơ nơi đồng khô cỏ cháy dưới ánh nắng chiều chói chang khiến ông nhớ lại căn nhà nhỏ bé ấm cúng của ông bây giờ đã lột vào tay kẻ khác. Trong thời gian đi lính, dù số lương ít ỏi, vợ chồng ông cũng dành dụm tạo được một căn nhà nằm trong thị xã, tuy nhỏ bé nhưng cũng xây gạch đàng hoàng. Trước nhà cũng có những chậu hoa mai hoa sứ. Mỗi lần nghỉ phép ông thường dắt mấy đứa con ra sân đùa giỡn. Đùng một cái, ngôi nhà tự nhiên đổi chủ. Khi ở tù về, mỗi lần ngang qua căn nhà, đứng ngoài đường nhìn vào, ông cảm thấy xót xa đau đớn nhưng rồi cũng đành ôm mối hận lòng lủi thủi bỏ đi. Rồi ngày tháng qua mau. Rồi niềm đau vơi dần. Nhưng cái cảnh nghèo khó vẫn bám sát theo ông, đè nặng lên người ông, khiến ông như một con cá lòng tong mắc cạn, thả nổi cuộc đời, mặc cho định mệnh đẩy đưa…

Càng vào sâu. Địa hình càng phức tạp. Đường núi chông chênh quanh co khúc khỉu. Hai con bò già hì hục kéo chiếc xe qua từng thước đường gập ghềnh sỏi đá dẫn vào chân núi.

Rừng ngàn năm vẫn buồn.
Chôn sâu niềm u uẩn.
Người ngàn năm vẫn còn
Đi trong vòng lẩn quẩn…
                                            nđn

Ông đọc lầm thầm trong miệng mấy câu thơ mới làm rồi cầm xị rượu lên mở nắp. Mùi rượu mía bốc lên hăng hắc khiến ông nhớ quá cái mùi hennessy mà trong đời lính tráng ông đã nhiều lần thưởng thức qua. Ông thở dài sườn sượt, đưa mắt ngó về phương tây. Những đám mây tụ về đỉnh núi bàng bạc mông lung. Cánh rừng cũng trở nên yên ả mơ màng sau một ngày gió mùa lồng lộng thổi. Một vài chiếc lá vàng nhạt lững lờ rơi xuống đầu xe. Một tiếng hú đơn điệu phát ra từ một hóc hiểm nào đó của núi rừng. Ông nghiêng tai lắng nghe, bất chợt nhớ lại lúc còn trẻ ông đã từng đọc qua tác phẩm The forest call của Jack London. “Tiếng gọi của rừng thẳm” là tiếng gọi gì vậy nhỉ? Ông quên mất nội dung câu chuyện. Có thể là tiếng gọi của một con sói. Cũng ó thể là tiếng gọi của một gã tiều phu… Quả thật ông không còn nhớ được gì, nhưng ông quả quyết đó là tiếng gọi của núi rừng, tiếng gọi vọng đi từ núi rừng!…

Tiếng hú im bặt. Núi rừng cũng trở nên lạnh lùng khó hiểu. Chiếc xe vẫn lầm lủi vượt qua những triền núi cheo leo, bánh xe nghiến lên những phiến đá lồi lõm tạo ra một thứ âm thanh cộc cằn khô khốc. Ông vẫn ung dung tự tại ngồi tựa vào hông xe như một vị hoàng đế đang chễm chệ trên chiếc ngai vàng… (!)

Mặt trời ngã xuống thật nhanh. Bóng tối tràn về bao trùm vạn vật. Bóng tối luôn là thủ phạm gây ra muôn vàn hiểm nguy bất trắc. Cái vẻ hiền hòa an phận của núi rừng phút chốc cũng trở nên hung hiểm dị thường. Ông điều khiển hai con bò rẽ vào một láng trống nằm cạnh một con sông nhỏ với dòng chảy hiền hòa trong mùa nước cạn. Cho bò uống nước xong, ông nhặt một mớ củi khô nhóm lửa nấu cháo. Ông đổ nửa chén gạo vào cái soong nhỏ với hai chén nước rồi bắc lên cái bếp dã chiến kê bằng ba cục đá. Tiếng sôi ùng ục từ soong cháo phát ra nghe buồn đứt ruột. Ông bê soong cháo trút hết vào cái tô rồi gắp hai con cá bỏ vào. Mùi cháo và mùi cá khô nướng quyện vào nhau bốc lên thơm phức. Ông nhai ngấu nghiến cái đầu cá rồi từ từ để cho chất mặn, chất béo, chất ngọt thắm vào đầu lưỡi như một vị đế vương đang thưởng thức một món sơn hào hải vị gì đó. Bữa ăn tối của ông là vậy! Một chút lương hồ lỏng bỏng trút vào cái bao tử rổng tếch chẳng thấm thía vào đâu. Ông thu dọn bát đũa bỏ vào bao cát rồi chui vào gầm xe.

Nằm co ro trên tấm nylon với một cảm giác cồn cào khó chịu, giấc ngủ khó lòng tìm đến với ông. Ngủ không được, ông lại chui ra ngồi bên đống lửa. Đêm càng về khuya, núi rừng càng lộ ra cái vẻ hung hiểm kỳ bí của nó. Một vài tiếng kêu rời rạc của một con chim ăn đêm vọng lại từ khu rừng bên cạnh làm ông thấm buồn. Ông lại lan man nghĩ ngợi về thân phận con người. Mới ngày nào còn là một học sinh với bao niềm ước mơ, hy vọng. Mới ngày nào còn là một sinh viên sỹ quan với bộ quân phục ủi hồ láng bóng đi bên cạnh người yêu trên đường phố Sài Gòn. Mới ngày nào còn quấn quýt bên vợ con trong ngôi nhà thân yêu vào những ngày nghỉ phép. Rồi giờ đây một mình ngồi giữa núi rừng thâm u trùng điệp, bóng tối vây quanh. Nỗi cô đơn lại hiện về phủ kín hồn ông…

Mặt trời đã lên cao. Những giọt nắng quái ác xuyên qua cành lá đậu lên tấm thân gầy gò héo hắt của ông. Một con chim đứng nhìn dáo dác rồi bay vút vào khu rừng phía trước. Một con sóc chuyền nhanh qua trước mặt. Một chiếc lá còn xanh nhẹ nhàng rơi xuống nằm trơ vơ trên đám lá khô. Nhịp sống quanh ông diễn ra đơn điệu đến rợn người. Ông dụi tắt điếu thuốc rồi uể oải đứng lên tiếp tục đi tìm những khúc củi nằm rải rác trong khu rừng giữa trưa hừng hực nóng. Mồ hôi trên lưng áo bà ba đen của ông bị sức nóng hong khô tạo thành những vết loang lỗ trắng đen trông giống như một bức tranh trừu tượng.

Loay hoay cả ngày với những khúc củi oằn vai khiến ông cảm thấy toàn thân rời rã. Màn đêm núi rừng buông xuống thật nhanh. Ông ngồi vắt vẻo trên chiếc xe chở đầy than củi xuyên qua những khu rừng chồi nối tiếp nhau trải dài hàng chục cây số dẫn về ngôi làng bé nhỏ của ông, nơi có những vũng nước ngả màu và những con cá lòng tong mắc cạn…

Nguyễn Đức Nhơn

Núi Rừng Quê Tôi - Nguyễn Đức Nhơn

ngocbich03

Chiều ngồi trên đỉnh Đèo Bay
Ngó về Phan Thiết lòng ray rức buồn
(nđn)

1. Đỉnh Đèo Bay

Không biết cái tên “Đỉnh Đèo Bay” có từ bao giờ, nhưng tôi biết chắc nó không thể có trước năm 1975, vì lúc đó cây gỗ còn nhiều, ít ai lên đến nơi này. Đây là đỉnh cao nhất trên cụm núi phụ nằm về phía đông dãy Trường Sơn. Dân làm rừng chỉ có những người bạo gan mới dám lên nơi này. Tôi không gan dạ gì, nhưng có chút liều lĩnh nên cũng từng mò lên tới đây. Ngày đầu tiên đặt chân lên Đỉnh Đèo Bay, đứng trên một mô đá nhô cao, đưa mắt nhìn về biển đông, tự nhiên tôi cảm thấy thương quê hương mình quá đỗi.

“Trông lên núi ngả đầu chào
Trông ra ngoài biển, biển nào cũng sâu!”
                                                             (Khuyết danh)

Hai câu thơ này không biết của ai và cũng không biết đọc nó ở đâu, nhưng khi đứng trên Đỉnh Đèo Bay, tự nhiên tôi chợt nhớ ra và nhớ mãi đến bây giờ. Đứng trên Đỉnh Đèo Bay nhìn về hướng Tây là núi rừng trùng điệp, nhìn về hướng Đông là biển cả bao la. Ngày xưa ông Thái Thượng Lão Quân vẽ ra bản Thạnh Thế Hồng Đồ để phân chia Trời Đất, chắc ông ta có một chút cảm hứng nào đó để “phết” lên quê tôi những nét đẹp lạ lùng.

Trải tấm nylon trên phiến đá bằng phẳng. Một xị rượu, vài con cá khô. Quá đủ. Thật tình quá đủ, tôi cảm thấy như vậy. Và, chính nhờ cái đạm bạc này mà tôi mới thấy hết được cái đẹp đơn sơ, giản dị của núi rừng quê tôi; Cái đẹp vừa uy nghi, kỳ bí vừa phảng phất một chút đa tình, nên thơ, lãng mạn.

Ngồi trên Đỉnh Đèo Bay, hớp một ngụm rượu, khà lên một tiếng thật kêu rồi đưa mắt nhìn ra tám hướng, thả hồn đi khắp bốn phương mới thấy hết cái thú vị của đời người.

Chiều ở đây thật buồn
Mây đùn quanh tám hướng
Thung lũng dày sương mù
Tôi ngồi nghe gió hú

Lão tiều phu đốn rừng
Nghe đau từng nhát búa
Có con chim lạc đàn
Xoải cánh chiều qua núi

Rừng ngàn năm vẫn buồn
Chôn sâu niềm u uẩn
Người ngàn năm vẫn còn
Đi trong vòng lẩn quẩn

Rừng ngàn năm còn đó
Tôi trăm năm còn đây
Rừng lắc lay theo gió
Tôi nhìn mưa thu bay

Mưa thì thầm trên lá
Tôi thì thầm với ai!?

(Thơ NĐN)

Từ làng tôi, dân làm rừng đi lên núi Ông (1) bằng nhiều ngã khác nhau. Tất cả những ngã đường này đều phải băng qua con đường sắt xuyên Việt, đoạn từ ga Mường Mán đến ga Ma Lâm. Mỗi giao điểm của lối mòn xe bò và con đường sắt đều được giới khai thác lâm sản đặt cho mỗi nơi một cái tên nghe rất là “địa phương”: Đồi mồi bàu lon, đồi mồi bàu đá, đầu mồi giếng cỏ v.v… Đầu mồi (2) là nơi xe bò bắt buộc phải đi qua. Thời chiến tranh Việt – Pháp, lính Tây thường phục kích ở các nơi này và gây chết chóc rất nhiều người. Đoạn đường sắt này, hai đầu nối liền với Mường Mán và Ma Lâm, lập thành một khu vực địa dư mà thời chiến tranh được mệnh danh là “chiến trường tam giác”. Sau khi ra tù, tôi trở về sinh sống ở một ngôi làng nhỏ nằm trong khu vực này. Ngoài việc làm cho hợp tác xã nông nghiệp, tôi thường lên rừng đốt củi, hầm than để kiếm sống. Tôi chọn lộ trình “đồi mồi giếng cỏ” để qua con đường sắt. Khi ấy tôi dành dụm được một ít tiền, sắm đươc một chiếc xe bò bánh sắt (3) và, cứ mỗi tuần tôi cùng thằng con trai tý tẹo của tôi lên núi một lần.

Thong dong một chiếc xe bò
Nhạc khua lóc cóc giữa bờ truông sâu
Ngoảnh nhìn phận số ta đâu
Bóng hình xưa đã nhạt vào xa xăm
Ở đâu còn một chỗ nằm
Cho người thua cuộc về thăm núi này!…

(Thơ Trần Yên Thảo)

2. Đèo Vòng Xoay

Trên lộ trình đến Đèo Vòng Xoay, đường núi cheo leo, xe bò bắt buộc phải qua một vài địa thế vô cùng hiểm trở, thường xẩy ra những tai nạn chết người.

“Không đi thì đói thì nghèo
Mà đi thì sợ cái Đèo Vòng Xoay”

Hai câu lục bát dân gian này không biết có từ lúc nào, nhưng cái Đèo Vòng Xoay thì đã có từ lâu đời. Nếu cái tên “Đỉnh Đèo Bay” gợi lên một cảm giác chơi vơi trên một đỉnh núi cao chót vót, thì cái tên “Đèo Vòng Xoay” lại cho ta một cảm giác quay mòng mòng như con vụ. Thực ra thì cũng không đến nỗi như vậy. Đèo Vòng Xoay chỉ là một khúc quanh rất ngặt, nhưng khổ nỗi là khúc quanh này lại nằm giữa hai bờ con sông hẹp nhưng rất sâu. Khi chiếc xe lao xuống dốc, người đánh xe không thể điều khiển được hai con bò. Mà trời sanh cũng ngộ, hai con vật tự nó cũng biết phải làm thế nào để bảo đảm an toàn cho chiếc xe (!). Khi gần tới đáy sông thì có một gôn đá lớn nằm chắn ngang. Chao ơi! nếu đâm đầu vào đó thì… “tía tôi cũng lìa!”. Nhưng an tâm, chỉ vài phút sau người đánh xe sẽ tỉnh hồn, kịp điều khiển hai con bò quay một vòng rất ư là đẹp mắt. Khi qua được bờ bên kia, người đánh xe cảm thấy mình vừa thoát qua một tai nạn ! Hú hồn…

3. Đèo Thằng Cuội

Qua khỏi Đèo Vòng Xoay một đỗi thì tới “Đèo Thằng Cuội”. Cái đèo này mới thật “ê ám”. Chiếc xe qua khúc đèo này, gần như chỉ lăn có một bánh, còn cái bánh kia thì nhảy “cà tưng, cà tưng” trên những phiến đá lồi lõm như người ta nhảy đầm (!). Chiếc xe nghiêng hẳn về một bên. Người ngồi trên xe lại thêm một phen “thả hồn theo mây gió”. Tại sao lại có cái tên “Đèo Thằng Cuội” nhỉ? Ông Sáu Lầu, người cao tuổi nhất trong làng kể lại:
- Chú Tám à! Cạn hết cái chén đó đi rồi tôi sẽ kể cho chú nghe.
- Dạ được.
- Thực ra, chuyện này tôi cũng nghe tía tôi kể lại, còn sự thật thế nào thì tôi cũng không rõ.
Ông Sáu ngừng lại vài giây, nhấm thêm một ngụm rượu, khà ra một tiếng rồi kể tiếp.
- Nghe nói hồi mới khai thông khúc đèo này, chiếc xe đầu tiên qua đèo bị lật đè chết một người. Người ta không rõ danh tánh người xấu số. Chỉ biết người này dùng sức phụ đỡ chiếc xe cho khỏi lật nên bị chiếc xe đè chết. Những người dùng sức chống đỡ một vật nặng, giúp cho một việc gì đó, người làng mình gọi là “cuội”. Nên vì vậy mà mới có cái tên “Đèo Thằng Cuội” đó chú Tám.
- Thưa bác, còn tại sao mỗi chiếc xe qua đây đều phải ném vào cái mô đất một nhánh cây hay một hòn đá vậy bác?
- Ừ, chuyện này kể ra cũng lạ. Nghe nói sau cái tai nạn đó, đêm đêm thằng Cuội hiện về bảo là ai đi ngang qua đèo phải ném vào mô đất một vật gì đó, coi như vun bồi cho ngôi mộ, nếu không thì lần sau ngang qua đây sẽ bị lật xe. Chuyện đó hư thực thế nào thì không ai rõ, nhưng mọi người đều có một ý nghĩ giống nhau “thà tin có còn hơn không!” và, vì vậy mà cái mô đất mỗi ngày một cao thêm.

4. Râm Tiếng

Qua khỏi đường sắt một đoạn thì phải chui vào một khu rừng dày đặc, dài chừng vài ba cây số. Ban đêm đi vào khu rừng này, người đánh xe không thể nào quan sát được mọi vật chung quanh, nên chỉ nhịp roi “chừng chừng” vào lưng bò, để tự nó theo lối mòn mà đi. Đây cũng là một kinh nghiệm của những người đánh xe. Vì quá rậm rạp, nên nhiều loại thú dữ thường trú ẩn trong khu rừng này, nhất là cọp. Ban đêm chúng thường ra đường chận xe. Chúng dọa trâu bò nhảy tán loạn, người trên xe không may bị té xuống đất là chúng vồ đi ngay. Cũng tại khu rừng này có một con cọp hung tợn vô cùng. Người hay súc vật không may gặp phải nó là vô phương sống sót. Người ta đặt cho nó một cái tên nghe cũng giang hồ hảo hán lắm: “cọp ba dấu”. Nghe nói, một đêm nọ, con cọp này phóng đại vào chiếc xe, chân trước thọc vào bánh xe để kéo lại, không may bị bánh xe nghiền nát, nên từ đó nó chỉ còn ba chân. Người làm rừng thường hay quan sát dấu chân cọp để biết chừng mà tránh, nên mới phát hiện ra con cọp ba dấu này. Nghe nói từ ngày mất một chân, con cọp lại càng hung dữ hơn. Nó “hoành hành bá đạo” ở khu rừng này, nên vì vậy mà khu rừng đâm ra nổi tiếng, rồi dần dà người ta lượt bỏ đi một vài chữ trong cụm từ “khu rừng nổi tiếng” để đặt luôn cho nó cái tên là “Râm Tiếng”.
Một điểm đặc biệt nữa là khu rừng này có một loài chim mà trong tác phẩm “Đất Rừng Phương Nam”, Đoàn Giỏi gọi là “chim lệnh” (4). Loài chim này có một giọng kêu nghe the thé giống như tiếng trẻ con khóc. Ban đêm mà nghe tiếng kêu của nó, ắt có người “són” ra quần. Đặc biệt hơn nữa là loài chim này thường “ở chung với cọp” bởi vì cọp là loài ăn thịt sống, nên thịt thối ở kẻ răng làm cho nó đau nhức. Chim lệnh biết “khai thác” nhược điểm này, nó cà rà theo cọp để mổ thịt thối ăn. Đang khi răng bị ngứa nhức khó chịu vô cùng mà có kẻ chịu khó “xỉa răng” giùm thì làm sao mà không biết ơn cho được! Vì vậy mà vô hình trung cọp và chim lệnh trở thành đôi bạn thân, sát cánh bên nhau, nương tựa nhau mà sống (!). Thiên nhiên quả thật có nhiều điều kỳ diệu. Có lẽ người làm rừng mộc mạc không hiểu gì về khoa học tự nhiên, cho chim lệnh là một loài chim linh, muốn giúp người, nên bám sát theo cọp để lên tiếng báo động kịp thời cho người lẩn tránh. Vì vậy người làm rừng mới truyền kinh nghiệm cho nhau bằng một câu nói mà mới nghe qua giống như một câu châm ngôn nhật tụng: “Nơi nào chim lệnh kêu, nơi đó có cọp!”

5. Giếng Tiên

Đến Giếng Tiên thì phải đi bằng một ngã khác, thực ra tôi rất ít đến nơi này, vì không thuận đường. Câu chuyện dưới đây, tôi cũng chỉ nghe người ta kể lại, không biết đúng sai và cũng không biết còn có câu chuyện nào nữa nói về cái huyền thoại “Giếng Tiên” hay không?. Hai chữ “Giếng Tiên” gợi lên cho người đọc một hình ảnh nên thơ thoát tục. Thực ra nó cũng chỉ là một khu rừng bình thường, chỉ khác một điểm là ở đây có một giếng nước rất trong, nhúng tay vào người ta có cảm giác như đang ngâm bàn tay trong nước đá.
Người ta thường lên núi đốn củi, hầm than vào mùa nắng, nên nước uống là một vấn đề vô cùng phiền toái cho người làm rừng. Thường thì người ta phải mang nước theo để xử dụng, nếu rủi ro bị đổ thì chỉ còn cách quay trở về. Cái nắng nóng hừng hực của núi rừng giữa trưa mà xối lên người một ca nước “Giếng Tiên” lạnh ngắt thì cho dù người phàm cũng biến thành tiên. Tôi có nghe lõm bõm một câu chuyện thần bí về khu rừng này:
Ngày xưa, có một lão tiều phu đầu tóc bạc phơ, mùa nắng thường hay lảng vảng ở khu rừng Giếng Tiên. Người ta không biết ông ở đâu và cũng không biết ông làm gì. Không ai tới gần ông được. Ông thường ẩn hiện, thấp thoáng trong rừng như một bóng ma. Một hôm có một cô gái làm rừng bị ngất xỉu vì cơ thể thiếu nước, ông già xuất hiện mang cô gái vào một hốc núi rồi hú vang một tiếng. Cô gái giật mình tỉnh lại, nhìn chung quanh không thấy ai, nhưng phát hiện ngay bên chỗ mình nằm là một cái giếng nước trong. Cô gái vì quá khát, nên múc nước lên uống mà không e dè chút nào. Không ngờ vừa uống xong, cô gái thấy toàn thân lạnh như băng và rùng mình một cái, biến thành một nàng tiên xinh đẹp bay bỗng lên trời.
Nghe tiếng hú kỳ lạ, có một người tiều phu tò mò lần theo vách núi đến nơi thì phát hiện ra nơi này có một bộ quần áo của phái nữ. Người tiều phu tò mò mở ra xem thì thấy trong túi có một bức tượng hình thù quái dị, lớn bằng nắm tay. Người làng biết được chuyện, bèn rủ nhau lên xây một bức tượng cao chừng ba thước, hình dáng giống như bức tượng trong túi áo. Bức tượng đó lâu ngày biến thành một hòn đá thiên nhiên, trông từa tựa như một cố gái đang đứng dựa vào vách núi. Hòn đá đó ngày nay vẫn còn. Truyền thuyết còn cho rằng ông lão kỳ bí ở rừng Giếng Tiên chính là vị thần năm xưa được Thượng Đế sai gánh hai hòn núi từ Bắc vào Nam. Khi bay ngang qua Phan Thiết, không may bị đứt dây, nên hai hòn núi rớt xuống nằm ngay bên cạnh quốc lộ 1 ở hai đầu Nam – Bắc thị xã Phan Thiết (5). Có người còn nói hai hòn núi này là hai ông “tà”, cho nên người xưa mới đặt tên là “Tà Dôn” và “Tà Cú”. Hai ông tà này rất ác ôn, “đì” dân Phan Thiết ngóc đầu không nổi, nên chẳng có ai được làm Vua hoăc làm Tổng Thống (!). Còn ông thần gánh hai hòn núi thì bị Thương đế giáng xuống làm “Giám đốc sở kiểm lâm” canh gác hai ông “Tà”. Ông thần này thích “chạy nhảy lung tung” hết rừng này tới núi nọ và cứ mỗi năm đến mùa nắng nóng thì mò lên Giếng Tiên để tắm. Nghe sao kể vậy, còn đúng sai thế nào thì thật tình tôi đây cũng “bù”.

6. Đồng Cá Sấu

Qua khỏi Râm Tiếng chừng một đỗi, có một ngã rẽ về bên phải. Đi thêm vài cây số nữa thì đến một cánh đồng hoang nằm gọn lỏn giữa một khu rừng già mênh mông. Giữa cánh đồng có một đầm nước sâu. Người làm rừng gọi cánh đồng này là “Đồng Cá Sấu”. Địa danh thường thường được người ta dựa vào một biểu tượng nào đó để đặt ra. Đồng cá sấu cũng vậy, vì ngay trên mé rừng dọc theo cánh đồng có một hòn đá nổi, hình thù giống hệt một con cá sấu đang nằm. Chiều dài khoảng chừng ba thước, bề ngang khoảng năm tấc. Trên lưng có một vết sẹo dài vắt chéo từ chân trái ở trước đến chân phải phía sau. Ngoài ra bên hông còn có ba dấu chân lõm sâu vào khoảng một lóng tay. Trong một buổi trà dư tửu hậu, tôi nghe người ta kể rằng, khi xưa có một gã nông phu đang cày ruộng, bất chợt có một con cá sấu thật lớn bò đến. Người nông phu này dùng roi cày và đôi chân giết chết con sấu. Con sấu nằm đó lâu năm, biến thành hòn đá với vết tích còn hằn rõ trên lưng. Chuyện thật đấy. Nếu độc giả nào không tin, chịu khó “bao” tôi về Việt Nam một chuyến, tôi bảo đảm sẽ đưa đến tận nơi để xem cho biết (!).

Núi rừng quê tôi còn nhiều chuyện để kể lắm. Nhưng già rồi trí nhớ không còn như xưa, nên nhớ đâu kể đó vài chuyện cho vui, và cũng xin nói rõ đây không phải là một tài liệu biên khảo.

Nguyễn Đức Nhơn
———
(1) Núi Ông nằm phía tây thành phố Phan Thiết,
trong hệ thống dãy Trường Sơn.
(2) Đầu mồi là giao điểm của lối mòn xe bò và con
đường sắt.
(3) Bánh gỗ bọc niền sắt.
(4) Có người nói ngoài Bắc gọi là “chim linh”, còn
ở quê tôi thì gọi là “chim chuông”.
(5) Núi Tà Dôn nằm phía bắc, cách Phan Thiết
chừng vài chục cây số. Núi Tà Cú nằm phía
nam, cách Phan Thiết chừng 30 chục cây số.

Chữ Quốc Ngữ Và Hội Chứng Nhảy Cừu - Thiếu Khanh

Alexander de Rhodes                                                                                

Những con cừu chỉ hành động theo con đầu đàn. Thấy con đầu đàn nhảy lên ở chỗ nào thì khi đi đến chỗ đó chúng cũng nhảy lên mà không cần biết tại sao. Nhiều người Việt viết sai tiếng Việt với cùng “hội chứng” như thế.
Trừ những người vì hoàn cảnh xã hội nhất định, không được học hành nhiều, ít chữ nghĩa, nên vô tình họ viết sai chính tả tiếng Việt, bài viết này, đề cập thói quen của những người có học hành, thậm chí những trí thức khoa bảng đã hồn nhiên và cố ý viết sai tiếng Việt – như những con cừu nhảy lên ở chỗ con đầu đàn đã nhảy trước đó.

Đùi heo xông khói Đi-ôu-cơ Đùi heo xông khói Đi-ôu-cơ
Trong một chuyến đi xuyên Việt từ Sài Gòn ra Hà Nội, theo chương trình định trước, con rể tôi lái xe, từ Nha Trang ra sẽ chạy lên Đèo Cả để được ngắm phong cảnh hùng vĩ của một trong những con đèo “trên núi dưới biển” đẹp một cách “hữu tình” này và ngắm bãi biểnbãi biễn Đại Lãnh . Thế nhưng khi gần tới đèo thì trời cũng sắp tối. Vì hầu hết xe cộ đều chạy qua Hầm chui Đèo Cả vừa an toàn và nhanh chóng, nên đường đèo rất vắng. Nghe nói xe chạy lẻ loi lên đèo ban đêm rất dễ bị “kẻ xấu” trấn lột hoặc xin đểu. Xin đều cũng là một dạng trấn lột, hay cướp. Thế nên chúng tôi chạy vào hAầm chui Đèo Cả.
Trước khi vào tới Hầm Đèo Cả chúng tôi phải qua một trạm thu phí. Nhìn những chữ lớn HAM DEO CA phía trên trạm BOT này tôi bật cười nhớ lại câu chuyện một người bạn đã kể trước đó.
Anh bạn người Trung di cư vào Sài Gòn sống từ thời chiến tranh. Bạn vừa đón vợ chồng người anh ruột cùng với đứa con trai 14 tuổi của họ từ Mỹ về thăm. Sau đó họ đi du lịch ra Huế bằng xe đò. Khi xe dừng lại ở trạm thu phí này để mua vé qua trạm, cháu bé 14 tuổi sinh ở Mỹ, không biết tiếng Việt, nói với ba cháu bằng tiếng Anh: “Người Việt viết sai ngữ pháp tiếng Anh ba nhỉ?”
“Con thấy họ viết sai ở đâu?” người cha hỏi.
Cậu bé chỉ 3 chữ HAM DEO CA nói: “Đáng lẽ phải viết DEO CA HAM mới đúng.” (cậu phát âm là “Đi-ôu-cơ ham”) do cậu tưởng ba chữ ấy quảng cáo món... Đùi heo xông khói hiệu Đi-ôu-cơ, vì trong tiếng Mỹ, Ham là đùi heo, hoặc thịt đùi heo được ướp muối hay xông khói.
Sau khi được ba cậu giải thích đó là chữ Việt, chớ không phải chữ Mỹ, có nghĩa là Hầm chui qua Đèo Cả, cậu tỏ ra hiểu biết và lẫm bẫm với vẻ thích thú: American ham is Vietnamese tunnel! (Thịt đùi heo xông khói ở Mỹ là hầm chui ở Việt Nam)

(Hình do con gái Nina chụp từ trong xe)

Vỡ đê
Trong cuốn Chơi Chữ (Nam Chi Tùng Thư xb(?) Sài Gòn, 1960) của cụ Lãng Nhân, kể một câu chuyện xảy ra dưới thời Pháp thuộc, vào khoảng đầu thế kỷ 20. Lúc bấy giờ nền giáo dục và thi cử của ta còn dùng chữ Hán. Một nho sinh từ nhà quê lên Hà Nội trọ học để đi thi mong kiếm một chức quan. Một hôm chàng nhận được dây thép từ nhà đánh lên. Thời bấy giờ việc gởi một điện tín người ta nói là “đánh giây thép.”
Phải có một biến cố gì lớn lắm người dân quê mới phải dùng đến cách “đánh dây thép” để thông tin nhanh. Và để tiết kiệm tiền, người ta phải viết thông tin rất cô đọng, càng ít chữ càng tốt.
Mở tờ giấy điện tin đọc thấy vỏn vẹn 2 chữ “Vo de” mặt chàng nho sinh biến sắc rồi tái ngắt. Chàng run rẩy suýt ngã quỵ. “Vo de” là vỡ đê. Thời bấy giờ vỡ đê là chuyện sinh tử, cả một tai họa giáng xuống làng xóm như cảnh Thủy điện xả nước theo lũ ngày nay, tất cả người và vật chìm trong nước lũ, người chết, nhà cửa tài sản trôi theo dòng nước cuồn cuộn, ruộng đồng chìm ngập trong nước, hoa màu mất trắng.
Hình dung tai họa kinh hoàng như thế đã xảy ra ở quê nhà, chàng nho sinh vội vã gác lại việc học, tất tả về quê. Nhưng về đến nơi chàng thấy làng mạc vẫn yên ổn, cảnh vật vẫn thanh bình, chàng nhẹ nhõm trong lòng nhưng vẫn hoang mang. Chỉ khi về đến nhà chàng mới vỡ lẽ: Vợ chàng vừa sinh con trai đầu lòng, một chuyện vui vẻ tốt lành khiến cả gia đình mừng rỡ, đánh giây thép lên Hà Nội cho chàng biết tin vui. Tuy đang còn đi học, đa số (hoặc hầu hết) các vị học trò lúc bấy giờ đều đã trưởng thành và đã có vợ con. Và 2 chữ “vo de” trong cái điện tín chỉ có nghĩa là... vợ đẻ!


(Hình trên mạng) (Hình trên mạng)
Chữ Quốc ngữ đội mũ mang giầy
Trong một bài viết, “Sao lại nói chữ Quốc ngữ Việt Nam ‘rất nực cười’?” đăng trên trang mạng Nghiên Cứu Quốc Tế, tiến sĩ Nguyễn Hải Hoành dẫn lời một học giả rất nổi tiếng của Trung quốc hiện đại là “Quý Tiễn Lâm (季羡林 Ji Xian-lin, 1911-2009), người được dư luận chính thống nước này tôn vinh là “Quốc học đại sư”, “Học giới Thái đẩu” (Siêu sao trong giới học thuật), “Quốc bảo” (Báu vật của nước nhà)” vân vân, viết rằng “chữ viết của người Việt Nam sau khi được La tinh hóa, đầu đội mũ, chân đi giầy, rất nực cười,” (越 南 文 字 拼 音 化 之 后,头戴帽子,脚穿鞋子,很滑稽. [Việt Nam văn tự bính âm hóa chi hậu, đầu đái mạo tử, cước xuyên hài tử, ngận hoạt kê] )
Ts Nguyễn Hải Hoành nhận thấy cái ông “đại sư” “quốc bảo” của Tàu nói năng hồ đồ và chứng tỏ chẳng biết gì cả về chữ quốc ngữ của người Việt. Dù vậy, hình tượng “đội mũ mang giầy” mà Quý Tiễn Lâm gán cho chữ quốc ngữ của chúng ta, cũng ngộ nghĩnh đó chớ. “Mũ” và “giầy” theo con mắt Quý Tiễn Lâm chính là các dấu phụ nguyên âm (diacritical marks). và dấu giọng (accent marks) chúng ta “gắn” vào chữ viết của mình.
Chuyện là như vầy: Những ngày đầu tiên đặt chân đến Việt Nam (xứ Đàng Trong), các giáo sĩ truyền đạo Thiên Chúa Tây phương đã rất ngỡ ngàng khi tiếp xúc với tiếng nói của người bản xứ: Lúc bấy giờ họ chưa có khái niệm gì về các ngôn ngữ Nam Á (Austroasiatic languages) và họ nghe một thứ ngôn ngữ không những hoàn toàn xa lạ với ngôn ngữ mẹ đẻ của họ, mà còn không giống chút gì với các ngôn ngữ trong hệ Ấn Âu quen thuộc của người phương Tây. Giáo sĩ Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes), tác giả quyển từ điển “Dictionarium Annamiticum, lusitanum, et latinum,” thường được gọi là “Từ điển Việt – Bồ - La,” đã từng viết: “Riêng tôi xin thú nhận rằng, khi vừa tới Đàng Trong nghe người Việt nói chuyện với nhau, nhất là giữa nữ giới, tôi có cảm tưởng như mình nghe chim hót và tôi đâm thất vọng vì nghĩ rằng không bao giờ có thể học được tiếng Việt.” [... ]“Linh mục Joseph Tissanier ở Đàng Ngoài từ 1658 - 1663 cũng ghi lại như sau: Tôi xin thú nhận rằng lúc đầu tiếng Việt làm tôi phát sợ, vì thấy nó khác với các ngôn ngữ Âu châu quá, nên hầu như tôi thất vọng trong việc học tiếng này.” .
Giáo sĩ Đắc Lộ kể mấy ví dụ về sự khó khăn phân biệt âm và thanh của tiếng Việt trong tai người phương Tây. “Một hôm Lm bạn với Đắc Lộ muốn bảo người giúp việc đi chợ mua cá. Khi người giúp việc ở chợ về bảo cho ông hay là đã mua như ý Lm muốn. Ông liền xuống nhà bếp coi xem đã mua loại cá nào, thì ông bỡ ngỡ vì người đi chợ mua một thúng đầy cà. Lm biết ngay vì [ông] đã đọc trại tiếng cá thành cà, nên ông xin lỗi người giúp việc. Một Lm khác bảo người nhà đi chém tre , Đoàn trẻ em [người Việt] trong nhà Lm nghe vậy sợ quá, bỏ chạy tán loạn. Thì ra ông phát âm lầm là chém trẻ, nên làm cho đoàn trẻ em khiếp sợ. Phải giải thích mãi trẻ em mới yên tâm trở về nhà với Linh mục.”
Những ký hiệu ghi âm tiếng nói của người Việt để phân biệt ca, cá, và cà, phân biệt tre và trẻ, cũng như phân biệt ham và hầm, vợ đẻ và vỡ đê... chính là cái mà ông “Quốc học đại sư” Quý Tiễn Lâm của Tàu gọi là tiếng Việt “đầu đội mũ, chân đi giầy!”

Alexandre de Rhodes (Hình trên mạng) Hình bìa Tự điển Việt – Bồ - La (Hình trên mạng)

Đội mũ mang giầy: chuyện không đơn giản.
Cái ông “siêu sao học thuật” (Học giới Thái đẩu) của Tàu này không hề... rê đuốc vào chân mình, chỉ nói lấy được. Trong bài viết dẫn trên, Ts Nguyễn Hải Hoành cho biết: “Tiếng phổ thông TQ có 4 thanh điệu, vì thế chữ Latin trong phương án Hán ngữ Pinyin do Nhà nước TQ ban hành sử dụng từ năm 1958 cũng phải kèm theo 4 dấu giọng, ví dụ [lī], [lí], [lǐ], [lì], ngoài ra các phụ âm kép như zh, ch, sh có thể viết tắt là ẑ, ĉ, ŝ. Như vậy chữ Hán ngữ Pinyin (Bính âm) cũng “đội mũ,” vì sao cụ Quý Tiễn Lâm lại chỉ chê chữ Quốc ngữ Việt Nam “rất nực cười”?”
Ts Nguyễn Hải Hoành nhắc lại lời học giả Hồ Thích từ 100 năm trước “phán” về chữ quốc ngữ của người Việt: “Chữ viết Việt Nam hiện nay xem ra giống như chữ Pháp bị nước mưa xối tan ra, giống như phiên bản Latin của chữ hình vuông, vừa không thanh thoát cũng chẳng mỹ quan.” Hồ Thích cho rằng chữ quốc ngữ của người Việt Nam vửa không giống chữ Hán, không giống chữ Nôm (đã đành!) lại không giống chữ Pháp, mà cũng không giống cả chữ La tinh, “nghĩa là không đâu vào đâu, chẳng ra cái giống gì.” . Lời phán ấy có lẽ khiến một số nhà nho Việt Nam thủ cựu bài bác chữ Quốc ngữ thời đó khoái lắm.
Xem ra các tay học phiệt Tàu không biết gì về chữ quốc ngữ của Việt Nam, chỉ phán bừa vì họ rất hậm hực về việc Việt Nam “thoát Trung” thành công về mặt văn tự. Với thứ chữ viết La tinh hóa này chỉ trong khoảng 60 - 70 năm người Việt Nam đã hoàn toàn thoát ra khỏi hệ thống văn tự Hán, điều mà người Nhật và người Hàn đã không làm được, dù họ cũng sáng tạo được văn tự riêng cho mình.
Tiếng Việt có 6 thanh (Phù bình thanh – không dấu, Phù khứ thanh –dấu sắc, Phù thượng thanh – dấu ngã, Trầm bình thanh – dấu huyền, Trầm thượng thanh – dấu hỏi, và Trầm nhập thanh – dấu nặng), nên phải dùng 5 ký hiệu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng để phân biệt thanh điệu. Tiếng Trung quốc (chỉ có 4 thanh: âm bình thanh, dương bình thanh, thướng thanh, và khứ thanh) không có thanh “trầm nhập” như tiếng Việt nên chữ “bính âm” (pinyin) của họ không mang dấu “nặng”, tức là họ có đội mũ mà không mang giầy, giống như anh chàng nhà quê đội mão mà không mang hia, hoặc như Táo quân mặc áo mà không mặc quần chớ gì mà cười tiếng Việt!
Mặt khác, một chữ tiếng Việt dài nhất, chữ “nghiêng” chỉ gồm 7 ký tự, trong khi một chữ Hán thường có đến hàng chục nét “vẽ” rất rối rắm, khó học, khó nhớ. Ví dụ chữ “Hối” 匯 trong (Hối đoái - 匯兌 ) có 13 nét; chữ “Tê” 虀 (một món dưa chua) có 23 nét; chữ “Thô” 麤 (thô sơ) có 33 nét. Một chữ có âm đọc là [piang], là tên gọi 1 loại mỳ sợi đặc sản của tỉnh Phúc Kiến, có đến... 54 nét! Đó là một trong những lý do khiến người Trung quốc muốn La tinh hóa chữ viết của họ cho dễ học dễ viết. Chuyện không dễ chút nào. Vậy mà họ lại chê chữ quốc ngữ của người Việt “đội mũ mang giầy”!
Việt Nam là một trong số 124 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới dùng hệ chữ viết La tinh, và là một trong số rất ít các quốc gia châu Á dùng loại chữ viết này. Với hệ thống chữ viết quốc gia bằng chữ cái La tinh, người ta có thể học một ngoại ngữ có tính phổ biến quốc tế như tiếng Anh, tiếng Pháp... và tiếp xúc thẳng với mạng Internet rất thuận tiện mà không phải học thêm một hệ thống chữ viết nào khác. Người Tàu với hơn 1,3 tỷ dân, cũng muốn dân họ có được sự thuận tiện đó để dễ thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Họ đã nhiều lần nỗ lực La tinh hóa chữ viết, nhưng không thành công. Rốt cuộc người Tàu đã phải tuyên bố bỏ cuộc. Họ có thể dùng chữ pinyin như một giải pháp phụ để phiên âm cho từng mặt chữ Hán, giúp người học / đọc đọc được từng chữ ô vuông đó chớ không thể dùng nó thay cho chữ Hán để viết lách gì được, trong khi người Việt đã hoàn toàn bỏ hẳn chữ Hán, và phát triển chữ quốc ngữ hoàn chỉnh đến mức có thể diễn đạt mọi lãnh vực tri thức – tư tưởng, văn học, và khoa học, mỹ thuật... một cách phong phú và chính xác.
Việc các học giả Trung quốc chê bai chữ quốc ngữ của người Việt gợi mình nhớ chuyện chùm nho còn xanh của con... cáo!
Chữ Hán 54 nét dưới đây, do Tiến sĩ Nguyễn Hải Hoành phát hiện, là tên gọi 1 loại mỳ sợi đặc sản của tỉnh Phúc Kiến.

Người Việt nói như hát
Tiếng Việt có 6 thanh điệu nên chữ quốc ngữ phải dùng 5 ký hiệu (trừ một thanh không dấu) sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng tương ứng. Nhưng các dấu thanh này không phải tự nhiên mà có. Các nhà truyền giáo thuộc Dòng Tên La Mã sáng tạo chữ quốc ngữ vốn là người Bồ Đào Nha. Họ dùng các kỳ tự La tinh trong bảng chữ cái Bồ Đào Nha để ghi âm tiếng Việt. Nhưng bảng chữ cái Bồ Đào Nha, cũng như nhiều bảng chữ cái của các ngôn ngữ Tây phương dùng chữ La tinh khác, không có dấu giọng hay dấu thanh điệu. Vì vậy những chữ Việt sơ khai được viết liền nhau như ngôn ngữ đa âm của phương Tây và không có dấu, ví dụ:
Sinoa, Sinuua (Xứ Hóa/tức Thuận Hóa),
Cacham, Cacciam (Ca Chàm/tức Kẻ Chàm hay Thanh Chiêm),
Unsai (ông sãi),
Ungue, (ông nghè),
Oundelin (ông đề lĩnh),
Nuocman (Nước Mặn),
Ainam (Hải Nam),
Quanghia, Quamnguya (Quảng Nghĩa),
Quignhin (Qui Nhơn),
Bafu (Bà Phủ/tức vợ quan phủ)...
v.v...

Giáo sĩ Đắc Lộ đã nói tiếng Việt nghe líu lo như tiếng chim, hoặc người Việt nói như hát. Ngay đến người Tàu vốn rất tự phụ với tiếng Hán của họ và miệt thị các ngôn ngữ khác, nhưng vẫn nhận tiếng Việt như tiếng chim hót. Có giai thoại kể ông Mạc Đĩnh Chi đi sứ bên Tàu, bị một viên quan Tàu ra một vế đối:
“Quých thiệt chi đầu đàm Lỗ luận: Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri.” Nghĩa là Miệng lưỡi chim chích trên đầu cành bàn sách Luận ngữ: ‘Biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, đó mới là biết.’
Ông Mạc Đĩnh Chi đối lại: “Oa âm trì thượng độc Chu thư: lạc dữ thiểu nhạc lạc, lạc dữ chúng nhạc lạc, thục lạc?” (Tiếng ếch nhái đọc sách nhà Chu trên bờ ao: vui nhạc với ít người, vui với nhạc nhiều người, đằng nào vui hơn?”
Vì đối phương trích sách Luận ngữ của Khổng tử dùng các âm “tri chi tri chi” để diễu tiếng Việt như tiếng chim hót, nên ông Mạc Đĩnh Chi trích sách Mạnh tử, với những âm “lạc nhạc lạc nhạc” để chê tiếng Tàu như tiếng ếch nhái.

Nếu tiếng Việt mà viết bằng phẳng thiếu dấu giọng trầm bổng lên xuống thì đâu còn ra tiếng chim nữa. Các nhà truyền giáo đã phải mượn một số ký hiệu trong bảng chữ cái Hy Lạp cổ để ghi âm các thanh, và dần dần tách riêng từng từ theo tính đơn âm của tiếng Việt.

Nhưng như thế chưa đủ. Tiếng Việt là một ngôn ngữ không những giàu thanh điệu (tiếng Việt có 6 thanh, trong khi tiếng Hán chỉ có 4 thanh thôi) mà còn có tính chất độc đáo: sự biến đổi độ dài ngắn cao thấp của âm thanh cũng làm cho từ biến đổi, và theo đó ý nghĩa cũng biến đổi hẳn. Đó là điều các ngôn ngữ khác không có. Trong tiếng Anh, chẳng hạn, ý nghĩa của từ là cố định; thay đổi ngữ điệu chỉ làm thay đổi ý người nói, chớ không thay đổi nghĩa của từ.
Ví dụ câu nói thông thường và phổ biến “I love you” - Tôi yêu em. Ngữ điệu của câu nói có thể được diễn đạt theo một trong 3 cách:
1. Khi nói nhấn mạnh vào từ đầu, “I” : “I love you” hàm ý: Tôi yêu em. Chính tôi đây yêu em, chớ không phải nó. Nó chỉ nói xạo thôi. Tôi mới chính là người yêu em.
2. Nhấn mạnh vào từ thứ nhì, LOVE: “I LOVE you” hàm ý: Tôi yêu em mà. Tôi thực sự yêu em, chớ tôi đâu có hận ghét gì em.
3. Nhấn mạnh vào từ cuối, YOU: “I love YOU” hàm ý: Tôi yêu em. Tôi yêu chỉ mình em thôi. Cô bé kia tôi không quan tâm.
Trong cả 3 trường hợp, ý nghĩa của ba từ “I love you” vẫn là ‘Tôi yêu em’, chỉ có ý người nói đổi khác.

Tiếng Việt thì không như thế. Sự thay đổi thanh điệu sẽ làm thay đổi ý nghĩa của từ. Ví dụ một câu nói gồm các từ: “Bà Ba bả bỏ bã bà Bá.” (Bà Ba bả bỏ thuốc độc cho bà Bá.)
Nếu bỏ hết các dấu thanh điệu, các chữ còn lại, trừ từ “bỏ,” chỉ là một âm “ba”
Ba Ba ba (bỏ) ba ba Ba: không có nghĩa gì hết.

Về mặt nguyên âm cũng vậy, Đối với người Việt, An là An, và Ăn là Ăn – hai từ khác nhau. Khi viết ra, chúng khác nhau về chữ và khác nhau về nghĩa. Đối với tai của nhà ngôn ngữ học, hai từ đó chỉ là một mà do nguyên âm chính của nó được phát âm dài ngắn khác nhau, Các nhà truyền giáo dòng Tên sáng tạo chữ viết cho tiếng Việt là những nhà ngôn ngữ học lỗi lạc. Họ nhận ra nguyên âm chính của từ thứ nhì (Ăn) chỉ là nguyên âm A được phát âm ngắn. Tức là chỉ thay đổi độ dài ngắn, ngậm hay mở của nguyên âm, ta có ngay một từ khác, mang nghĩa khác.

Thế là họ tìm cách đánh dấu âm A ngắn này bằng một hình trăng khuyết nhỏ trên đầu chữ A. Đó là chữ Ă. Tương tự như thế, các vị thừa sai Thiên Chúa giáo ấy đã sáng tạo ra các chữ nguyên âm a, ă, â, e, ê, o, ô, ơ, u, và ư cho một hệ thống chữ viết mới cho người Việt mà sau này sẽ được gọi là chữ Quốc ngữ - thứ chữ chúng ta đang dùng ngày nay. Đây là một công cụ tuyệt vời ghi âm tiếng Việt chính xác 100 phần trăm: tiếng nói thế nào được viết ra như thế. Và viết thế nào được đọc đúng như thế.

Công cụ tuyệt vời này trong một thời gian dài từ giữa thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 19 chỉ được sử dụng trong nội bộ các nhà truyền giáo và con chiên người Việt của các giáo đoàn Công giáo. Ngoài cộng đồng giáo dân Thiên Chúa giáo ra, người Việt trong cả nước vẫn tiếp tục dùng chữ Hán và chữ Nôm trong tất cả các hoạt động tri thức. Triều đình dùng chữ Hán như văn tự chính thức của quốc gia. Giới trí thức bên ngoài triều đình, ngoài việc dùng chữ Hán để sáng tác văn học, còn sử dụng chữ Nôm để ghi âm tiếng nói của dân tộc. Nhưng cả hai thứ chữ viết này rất khó học, khó nhớ. Riêng chữ Nôm được nhiều người cho là khó gấp 5 lần chữ Hán. Phải thật giỏi chữ Hán mới có thể dùng được chữ Nôm. Vì thế số người Việt trong nước mù chữ là rất lớn. Người ta ước lượng đến 90 phần trăm dân số mù chữ.


Cảnh trường thi ngày xưa (Hình trên mạng) Sĩ tử thi Hương (đeo “ống quyển” trước ngực)
(Hình trên mạng)

60 năm phát triển của chữ Quốc ngữ

Sau khi thiết lập nền đô hộ trên đất nước Việt Nam, người Pháp thấy không thể dùng chữ Nho và chữ Nôm trong hệ thống cai trị. Học các thứ chữ này khó quá. Họ quyết định dạy thứ chữ mới theo vần La tinh cho người bản xứ. Thứ chữ do các nhà truyền đạo Thiên Chúa giáo sáng tạo gần với tiếng Pháp hơn. Giới trí thức Nho học bản xứ phản đối kịch liệt thứ chữ mới “do người Tây bày ra” này. Họ muốn giữ lại chữ Nho và chữ Nôm để “duy trì văn hóa dân tộc.”

Tuy vậy, từ năm 1861, người Pháp đã mở trường Thông ngôn tại Sài Gòn, đào tạo một số người biết tiếng Pháp. Họ muốn dùng chữ Pháp thay thế chữ Hán trong giáo dục từ cấp thấp nhất trong làng xã trở lên. Ngày 15/4/1865, tờ Gia Định Báo, tờ báo tiếng Việt đầu tiên, ra đời tại Sài Gòn, sử dụng chữ viết mới gọi là “chữ Tây quốc ngữ.” Ngày 22/2/1869, Phó Đề đốc Marie Gustave Hector Ohier, Thống đốc Nam Kỳ, ký nghị định bắt buộc dùng “chữ quốc ngữ” bằng chữ cái La tinh thay thế chữ Nho trong các công văn của chính quyền ở Nam Kỳ. Từ “Tây” trong “chữ Tây quốc ngữ” được lược bỏ, và “chữ Tây” dành để gọi chữ Pháp-lang-sa. Từ đây, chữ viết mới có tên gọi chính thức là “chữ quốc ngữ.”

Ngày 6/4/1878, Thống đốc Nam Kỳ Lafont ký Nghị định 82 ấn định “Kể từ mồng một Tháng Giêng năm 1882 tất cả văn kiện chánh thức, nghị định, quyết định, lịnh, án tòa, chỉ thị... sẽ viết, ký tên và công bố bằng chữ Quốc ngữ; nhân viên nào không thể viết thơ từ bằng chữ Quốc ngữ sẽ không được bổ nhậm và thăng thưởng trong ngạch phủ, huyện và tổng...”

Từ cái mốc năm 1869 với nghị định đầu tiên của Thống đốc Nam Kỳ Marie Gustave Hector Ohier đến khi cuốn Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tinh Paulus Của ra đời năm 1895 là 26 năm, và tới cuốn Việt Nam Tự Điển của hội Khai Trí Tiến Đức năm 1931 là 60 năm.
Đến lúc này vẫn còn có người đánh giá thấp tiếng Việt. Trong cuốn “Vietnamese Tradition on Trail 1920 – 1945” David G.Marr ghi nhận: “In September 1931, an aging collaborator politician, Ho Duy Kien, during an otherwise routine Cochinchina Colonial Council discussion on primary education, made the mistake of referring to the Vietnamese language as a "patois"similar to those found in Gascogne, Brittany, Normandy, or Provence.” (Vào tháng chín năm 1931, một chính trị gia lão thành hợp tác với Pháp, là Hồ Duy Kiên, trong một cuộc thảo luận của Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ về giáo dục tiểu học đã sai lầm khi nói ngôn ngữ Việt Nam như một thổ ngữ dân tộc tương tự như những thổ ngữ thấy ở các xứ Gascogne, Brittany, Normandy, hay Provence của Pháp.) Nghe nói về sau này, thạc sĩ văn phạm Pháp Phạm Duy Khiêm cũng đã phát biểu (không biết ở đâu và trong dịp nào) rằng tiếng Việt còn mang tính thổ ngữ mường mán, đã khiến dư luận phê phán sôi nổi một dạo.
Nhận xét về hiện tượng đánh giá thấp tiếng Việt này, Tiến sĩ Nguyễn Thiện Giáp viết: “Nhìn chung, những công trình nghiên cứu về tiếng Việt thời thuộc Pháp được viết trên cơ sở lí luận của truyền thống ngôn ngữ học châu Âu, vì thế không tránh khỏi có hiện tượng nhìn tiếng Việt qua lăng kính của các tiếng châu Âu, cụ thể là tiếng Pháp mà sau này có học giả phê phán là có tính mô phỏng, hoặc có người nặng lời gọi là “dĩ Âu vi trung” . (“dĩ Âu vi trung: Lấy châu Âu làm trung tâm.
Một năm sau cuốn Việt Nam Tự điển của hội Khai Trí Tiến Đức là sự ra đời của Tự Lực Văn Đoàn, 1932. Bất chấp những nhận định chủ quan và tiêu cực về tiếng Việt của vài người như thế, trong thời gian 60 năm đó, tiếng Việt đã được đôi cánh thần kỳ của chữ quốc ngữ nâng lên và bay cao rực rỡ. Vào năm 1933, Việt Nam đã có được 155 tờ nhật báo và tạp chí định kỳ. Nếu so với với “con số 3.812 nhật báo ở Đức vào năm 1926, hoặc 100 tờ báo hàng ngày chỉ riêng của thành phố Paris,” thì 155 tờ báo là quá nhỏ bé. Nhưng chỉ mới hơn 60 năm chính thức phổ biến chữ quốc ngữ bắt đầu từ Nam Kỳ và từ khoa thi chữ Hán cuối cùng ở Bắc Kỳ (khoa Ất Mão) năm 1915, và Trung kỳ (khoa Mậu Ngọ) năm 1919, thì con số 155 tờ báo chữ quốc ngữ vào năm 1933 là rất đáng kể.
Ngay trong vụ Hồ Duy Kiên 1931, theo David G. Marr cho biết: “For the next few months, from one end of Vietnam to another, the quoc-ngu press denounced Ho Duy Kien as rootless (mat goc), unpatriotic, and unrepresentative. Writers pointed out that Vietnamese had no less than 17 million speakers,” (Trong vài tháng kế tiếp, trên khắp nước Việt Nam, tất cả các tờ báo quốc ngữ đều tố Hồ Duy Kiên là người mất gốc, không có tinh thần ái quốc, và không đại diện cho nhân dân Việt Nam. Các nhà văn chỉ ra rằng tiếng Việt có không ít hơn 17 triệu người nói.” Dân số Việt Nam lúc bấy giờ vào khoảng 20 triệu. 17 trên 20 là một con số rất lớn. Sau năm 1945, số người Việt Nam đọc được chữ quốc ngữ càng tăng rất nhanh.

Chỗ nhảy của những con cừu

Chữ quốc ngữ của người Việt bản xứ sớm xuất hiện trong các bản tin trên các báo chí tiếng Pháp ở chính quốc và thường xuyên trên báo chí tiếng Pháp tại Việt Nam bấy giờ là thuộc địa của Pháp.

Khi sáng tạo chữ Quốc ngữ, trong nỗ lực ghi âm tiếng Việt chính xác 100 phần trăm, các nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha đã tốn nhiều công sức tạo ra các dấu phụ nguyên âm và dấu thanh điệu cho hệ chữ viết này. Thế nhưng khi xuất hiện trên báo chí tiếng Pháp, tại chính quốc hay tại thuộc địa, những từ tiếng Việt bị lột bỏ hết các dấu, trở nên trần trụi, trông không còn là chữ Việt, mà cũng không giống chữ Pháp hay chữ La Tinh. Tình trạng này là do sự hạn chế về kỹ thuật in typo lúc bấy giờ.

Chữ Pháp không có các dấu thanh điệu và dấu nguyên âm (tuy chúng có dấu sắc, dấu huyền, và dấu mũ trên chữ “e”) Kỹ thuật in typo lúc bấy giờ là đúc từng con chữ rời bằng một hợp kim chì, thiếc, và antimoon. Thợ nhà in sẽ sắp các con chữ thành từng từ vào một “bát chữ” rồi đúc thành “bản kẽm” để đưa lên máy in. Do chữ Pháp không có dấu, và họ không thể vì để in đúng chính tả một vài chữ Việt mà phải đúc cả bộ chữ khác, vả lại, họ không đánh giá cao và không thấy cần tôn trọng chữ viết của dân thuộc địa bản xứ, cho nên các từ tiếng Việt xuất hiện trong các bài báo tiếng Pháp đều không có dấu, “trông không giống ta mà cũng chẳng ra Tây”. Đó là một lỗi kỹ thuật. Các nhà trí thức Tây học bản xứ thời đó biết vậy mà cũng phải đành chịu vậy khi bài viết hoặc sách của họ được in ra bằng tiếng Pháp phải chứa những từ tiếng Việt “bất toàn” nếu không nói là què quặt.
Chính sự hạn chế trong kỹ thuật in ấn này là thủ phạm chính (mà một số người Việt tiếp tay đồng phạm) làm biến đổi không ít các địa danh tiếng Việt trên đất nước mình. Chẳng hạn, làng Hương Bì dưới chân dãy núi Yên Tử thuộc tỉnh Quảng Ninh, được viết không dấu thành Huong Bi. Trong tiếng Pháp, chữ H không được phát âm (H muet: H câm), nên tên làng Hương Bì trở thành Uong Bi, để dần dà thành ra Uông Bí. Tương tự như thế, một địa danh Hồng Hải, biến thành... Hòn Gai!
Khu vực bến Bạch Đằng ở quận Nhất Sài Gòn, nơi đặt trụ sở Ngân hàng Quốc gia Việt Nam và Hội Trường Diên Hồng nơi họp Thượng Viện của VNCH, ngày xưa thuộc làng Láng Thọ. Khi xuất hiện trên sách báo tiếng Pháp, Láng Thọ trở thành Lang Tho. Rồi vì chữ H câm, nên Lang Tho thành Lang To, và được đọc theo âm tiếng Pháp là “Lăng Tô.” Trong sách Sài Gòn Năm Xưa cụ Vương Hồng Sển có nhắc đến cái thú chiều chiều đi dạo mát Lăng Tô của dân thượng lưu Sài Gòn xưa.
Chữ Việt không dấu trên báo chí tiếng Pháp thoạt đầu là do hạn chế và thiếu sót kỹ thuật khách quan. Nhưng sự khiếm khuyết này cứ được lập đi lập lại thường xuyên lâu ngày, khiến người ta (giới trí thức tân học người Việt) tưởng đó là điều đương nhiên phải là như thế. Từ đó, hễ phải viết một từ tiếng Việt trong một văn bản tiếng nước ngoài, người ta hồn nhiên tự tước bỏ hết các dấu phụ khỏi chữ viết của dân tộc mình. Họ là những người trí thức cả đó. Nhưng họ không hiểu rằng khi bị mất hết dấu, chữ đó không còn là chữ Việt nữa, nó trở nên vô nghĩa hoặc ý nghĩa không xác định hay khác xa với nghĩa gốc của nó. Người ta không biết “Ham” là chữ “hầm” tiếng Việt, hay một chữ tiếng Anh với nghĩa... thịt đùi heo xông khói; không rõ “vo de” là vợ đẻ hay vỡ đê; “nghi ngoi” là nghỉ ngơi hay nghĩ ngợi; không thể phân biệt Nguyễn Du, tác giả truyện Kiều, hay Nguyễn Dữ, tác giả sách Truyền Kỳ Mạn Lục. Không những người bình thường không hiểu những chữ “không phải Tây mà cũng chẳng còn ta” ấy, mà ngay cả những người có học nhưng kém tri thức có khi cũng không hiểu nó là cái gì. Chẳng hạn, một tác giả (dịch giả?) của một bài viết trên tờ tạp chí Heritage của hãng Hàng Không Việt Nam số Tết Canh Dần 2010 đã dịch ba chữ Việt không dấu Gia Dinh Bao thành… Family News! (Tin tức Gia đình!)
Gia Định Báo, tờ báo tiếng Việt đầu tiên của Việt Nam mà tên của nó có đầy đủ dấu rõ ràng ngay trên trang nhất, đã bị người viết tước bỏ hết dấu đi và trở thành... tờ Tin tức Gia đinh!
Ngày nay kỹ thuật in ấn đã tiến một bước dài thần kỳ như đi đôi hia ngàn dậm. Mỗi người, nếu có nhu cầu, đều có thể sắm cho mình nguyên một... nhà máy in, đặt ngay trên bàn làm việc. Với hàng chục font chữ đủ loại, kể cả ngoài hệ chữ viết La tinh, và khoảng 14 “bảng mã” ( “bộ gõ” chữ Việt có dấu) từ VISCII (VIetnamese Standard Code for Information Interchange), TCVN3 với các font chữ .VnTime, VNSouthernH; VNI (Vietnam-International), BK HCM, Vietware, VIQR, vân vân, đến Unicode, người ta có thể dễ dàng gõ chữ Việt với đầy đủ dấu. Thế nhưng, như những con cừu nhảy cẩng ở chỗ con đầu đàn đã nhảy, người ta vẫn tiếp tục gõ chữ Việt không dấu trong các văn bản tiếng nước ngoài!
Trong một cuốn sách nghiên cứu âm nhạc viết bằng tiếng Anh của các tác giả người Việt xuất bản trong nước, trong đó những từ tiếng Việt được viết không dấu như thế này:
“We used traditional technical terms still used by popular artists such as the ngon nhan, ngon chun, ngon nhun… A tendency has appeared among the young instrumentalists and teachers of the dan bau to use a more explicative language for example, by calling the second technique (ngon chun), the descending flexional technique (nhan luyen xuong)”
Viết bằng tiếng nước ngoài hẳn là để cho người nước ngoài đọc. Nhưng họ cũng phải viết chữ Việt có đầy đủ dấu thì độc giả người nước ngoài mới có thể đọc và hiểu đúng tiếng Việt chớ. Tôi đọc không hiểu những chữ Việt không dấu đó. Người nước ngoài hiểu được không? Thậm chí, trên các danh thiếp, một mặt người ta in tên mình với đầy đủ dấu nghiêm túc, nhưng mặt bên kia người ta tự loại bỏ hết dấu đi, cái tên như thể bị lột truồng. Họ không muốn người ta gọi đúng tên mình sao? Tên mỗi người là một điệu nhạc êm ái thân thương nhất với chính người đó. Xuyên tạc tên của ai là một sự xúc phạm không hề nhỏ. Vậy mà mình tự xúc phạm mình. Những cái tên không mũ không giầy đó vô tình khiến người ta có cảm giác mình tự ti (ông bà chỉ cần gọi tên tôi lơ lớ như vầy được rồi!) chưa nói những cái tên trần trụi như thế dễ gợi người ta nghĩ đến những từ không đẹp. Có lần tôi gặp một cái danh thiếp mang cái tên ba chữ : Ta Tham Du. Như đã nói, chữ Việt không có dấu thực sự là vô nghĩa.
Sở dĩ con cừu đầu dàn nhảy lên vì chỗ đó có khúc cây ngán chân nó. Người ta đã dẹp bỏ khúc cây trở ngại đó rồi, mà những con cừu đi sau tới đó cũng nhảy lên. Hãy bước tử tế đi. Nhảy ở chỗ không có gì ngán chân mình thì... điên quá!


Gia Định Báo thành... Tin tức gia đình! Chữ in đúc rời (Hình Google)

Khay chữ trong nhà in (Hình Google) Bản kẽm đã lên khuôn (trên máy in) (Hình Google)

Thiếu Khanh
Đọc thêm: Thiếu Khanh, Should We Anglicize Our Mother Tongue?

(http://www.art2all.net/tho/tho_tk/ShouldWeAnglicizeOurMotherTongue.htm)

 Anh Dai Nam Quac Am Tu Vi 1 Anh hand lettering la gi9 Bìa quyển Tự điển An Nam Bồ Đào Nha Latin của giáo sĩ Đắc Lộ được in ở La Mã năm 1651 giadinhbao

Một bài thơ của Phạm Nhã Dự - Thiếu Khanh

anhdc 150909 hotruoi 1

Sáng nay (2/3/2018) nhà thơ, nhà biên khảo Ngô Nguyên Nghiễm hẹn đi cà phê để anh trao cho tôi tập thơ Ở PHƯƠNG ĐÔNG CÓ MỘT VẦNG TRĂNG của nhà thơ Phạm Nhã Dự gởi tặng.

Phạm Nhã Dự (1945 - sống ở Hoa Kỳ) hiện đang ở Việt Nam. Từ chỗ tôi tới nhà Dự gần hơn từ nhà hai đứa tới nhà Ngô Nguyên Nghiễm ở mãi quận 8 Sài Gòn, nhưng tôi và Nghiễm gặp nhau dễ hơn tôi gặp Dự. Phạm Nhã Dự tổ chức ra mắt tập thơ vào ngày Mồng 2 Tết vừa rồi khi tôi đang ở Hà Nội trên đường “phượt” xuyên Việt. Sau Tết, tôi trở về Sài Gòn, Dự còn đang dong ruỗi với bạn bè ở đâu tận miền Tây sông nước.

Phạm Nhã Dự đã có tên tuổi trên văn đàn miền Nam (VNCH) từ những năm 60 của thế kỷ trước, từng cùng cố nhà thơ Tô Đình Sự chủ trương tờ tạp chí Thế Đứng, và có tên trong Ban Biên tập Nguyệt san Bộ Binh Thủ Đức. Là cựu sĩ quan QL VNCH, Phạm Nhã Dự sang Hoa Kỳ định cư theo diện HO từ 1993.

Nhận được tập thơ của Dự, tôi lật tìm đọc ngay bài thơ “Buổi Chiều Ở Nghĩa Trang Cà Đú” của anh mà tôi đã thích thú khi được vài người bạn đọc cho nghe từ trước. Đây là một trong nhũng bài thơ “kỳ lạ” (nếu có những bài thơ kỳ lạ khác thuộc loại này) trong nền văn học Việt Nam: Bài thơ có nhiều tiếng chửi thề. (Nhà thơ, nhà biên khảo kiêm dịch giả Trung văn Trần Yên Thảo nói: “Tới những năm sau 1975, khi có dịp đọc bài “Buổi Chiều ở Nghĩa Trang Cà Đú” tôi mới thực sự bị sét đánh!”)

Trong cuộc sống quanh ta hẳn là có nhiều lúc, nhiều kẻ chửi thề. Đó thường là những kẻ lỗ mãng, ít học; lời chửi thề của họ chỉ mang tính tục tỉu thô bỉ khó nghe. Nhưng không chỉ những kẻ lỗ mãng ít học mới chửi thề, chửi tục. Trong số các nhà nho xưa có kẻ cũng nói tục viết tục không kém. Trong tập san “Tết Cả Việt Nam & Lịch sử báo Xuân Nam Kỳ (Vietnamese Lunar New Year Festival & A History of Springtime Magazine in Cochinchina) của Đại học Hồng Bàng ấn hành vào đầu năm 2000, ở đầu trang 98 có in một bức tranh mộc bản vẽ hai ngôi nhà với cảnh người sinh hoạt. Trên vách ngôi nhà bên phải, bên cạnh một hình tam giác có chấm ở giữa, chung quang có... râu tua tủa, tượng hình... cái yoni, là hai dòng chữ Nôm viết theo hàng dọc mà phiên âm ra là: “Đéo mẹ cha đứa nào ở trong nhà này.”(!)

Nên biết, muốn đọc và viết được chữ Nôm người ta phải rất giỏi chữ Hán. Chỉ có các nhà nho “giỏi giang” mới viết ra được hai dòng chữ đó!

Những từ chửi thề, chửi tục không chỉ xuất hiện trong các graffiti, như bức vẽ trên, từ rất lâu, chuyện chửi và chửi thề đã tìm được “chỗ ngồi” trong văn học Việt Nam. Nhà văn Nguyễn Công Hoan đã đưa vào tác phẩm “Bước Đường Cùng” của ông một bài “chửi mất gà” rất... kinh điển, và nhà văn Nam Cao cũng cho Chí Phèo chửi cả làng Vũ Đại. Nhưng đó chỉ là hành động (?) chửi chung chung, không cụ thể, tức không có những lời thông tục có tính taboo, tục tỉu, như chửi thề.

Trong cuộc sống hiện đại, đôi lúc người ta phát hiện mình lâm vào một tình huống mà phản ứng thích hợp nhất chỉ có thể là... chửi thề. Văn nhân thi sĩ cũng chửi thề. Các nhà nho của ta xưa thường là những người đạo mạo nghiêm túc, đọc sách thánh hiền, nói lời thanh tao nho nhã, nhưng cũng đã có người viết tục nói bậy như thấy ở trên. Trong “Đoạn Trường Tân Thanh,” Nguyễn Du chỉ chửi đến... “chém cha” là hết. “Chém cha cái số má đào...” Nhưng đôi khi trước những tình huống đặc biệt nào đó trong cuộc sống các vị ấy cũng buột miệng chửi thề... tục hơn. Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân kháng chiến chống Pháp bất kể lệnh giải giới của triều đình. Ông bị người Pháp bắt và hành hình. Ông hiên ngang nhận cái chết một cách lẫm liệt, nhưng uất ức vì có mấy kẻ tiểu nhân ngu xuẩn cười ông là kẻ “phản thần” vì ông không tuân lệnh vua đầu hàng giặc. Trong bài thơ khẩu chiếm trước lúc chết, ông đã buột miệng chửi thề:

“Thắng bại doanh hư trời khiến chịu
Phản thần! Đéo mẹ đứa cười ông.”

Hoặc trong một đôi câu đối của một nhà nho vô danh gán cho Cao Bá Quát làm trước khi ông bị xử tử tại pháp trường:

“Ba hồi trống giục đù cha kiếp
Một nhát gươm đưa đéo mẹ đời!”

(Thật ra sách Đại Nam Thực lục Chính biên ghi Cao Bá Quát bị viên suất đội Đinh thế Quang của quân triều đình bắn chết trong một trận đánh.)

Biết vậy rồi, đọc bài thơ “Buổi Chiều ở Nghĩa Trang Cà Đú” của Phạm Nhã Dự chúng ta sẽ không những không cảm thấy sự tục tỉu khó chịu của tiếng chửi thề, mà còn có thể đồng cảm với tác giả. Tiếng chửi thề trong bài thơ truyền sang người đọc cảm giác uất ức và chết điếng người của tác giả trước cái chết của người bạn thân, một sự mất mát quá lớn lao và tuyệt đối, không gì cứu vãn được. Qua đó, người đọc cảm nhận niềm đau của vợ con người bạn quà cố của nhà thơ, và cảm thông với sự đau đớn trong lòng tác giả.

Coi bài thơ độc đáo này như một “tuyên ngôn” mở ra một dòng thơ mới phản ánh chính xác tâm trạng đau đớn, giận dữ, uất ức đi gần đến nổi loạn... của một lớp người trẻ sống trong giai đoạn khốc liệt của Chiến tranh Việt Nam, có quá lời không?

Cám ơn nhà thơ Phạm Nhã Dự, và nhà thơ Ngô Nguyên Nghiễm.

*

Phạm Nhã Dự

BUỔI CHIỀU Ở NGHĨA TRANG CÀ ĐÚ
*Gởi linh hồn mày, Tô Đình Sự.

Trở lại Phan Rang lần này nữa
Thăm mày không biết ngắn hay lâu
Thăm mày, đù má mày đã chết
Hay chi nắm cỏ mọc xanh mồ

Chiều nay sao gió nhiều mày nhỉ
Gió nổi trong tao đến lạnh mình
Đù má, nhang mày sao chẳng cháy
Đốt mãi que diêm đến cạn cùng

Bên kia dãy núi trơ thân chó
Cỏ dưới chân tao lại sụt sùi
Mẹ kiếp vợ mày đang khóc mướt
Con mày, trời hỡi, nó cười vui.

Còn tao, tao chẳng cười chẳng khóc
Chẳng ngậm ngùi chi lũ kiếp người
Đù má, tao chửi thề đây Sự
Chửi suốt trăm năm, chửi hết đời

Bây giờ mày đã nằm yên phận
Còn vợ, bào thai, ba đứa con
Đù má, một đời làm thi sĩ
Chẳng đủ cho con lấy một đồng

Tụi mình dăm đứa đời lang bạt
Sống chẳng ra chi, chẳng bận lòng
Việc nước việc đời đem dẹp hết
Uống rượu quanh năm đếch ngại ngùng

Mày nhớ đêm tàn trên xa lộ
Thằng Chương đem xế lái quanh trời
Đù má, cũng còn cười khi sắp chết
Ngỡ rằng mình hái được hoa mơ!

Thằng Chương nay đã nằm biên giới
Mày ở nơi đây biết được gì
Rượu chắc đã thèm, môi đã tím
Hơi nồng theo gió núi bay đi

Chẳng khóc được mày mà nước mắt tao rơi
Bạn bè dăm đứa chết dần vơi
Đụt núi mà tìm quên tri kỷ
Còn thôi nấm mộ phủ quanh người.

Tao trở lại đây đường dịu vợi
Đốt nén hương tàn hát biệt ly
Thăm mày, đù má, lòng buốt xót
Ngó trời chỉ biết chửi thề thôi!

Thôi hãy ngủ yên thằng chó chết
Tao về đây... Vui với cỏ cây
Nếu nhớ tìm tao nơi thôn nhỏ
Rượu với lang thang vẫn ngất trời.

Phan Rang, 1971.
(Ở Phương Đông Có Một Vầng Trăng, thơ Phạm Nhã Dự, trang 84)
(https://www.facebook.com/thieukhanh/posts/10208620519430516?pnref=story )

Thiếu Khanh

Vòng Ký Ức Tháng Ba - Phan Trang Hy

Hang Chau

Hải bặm môi, trở mình. Mấy hôm nay trở trời, nằm trên giường nệm, anh vẫn thấy ê ẩm cả người. Vết thương ngày nào, giờ, tái phát. Nhưng anh gắng gượng. Anh phải cố sức để vẽ cho xong bức tranh về đồng đội anh ngày nào, về một thời đã ám ảnh anh trong từng hơi thở, trong từng mảng màu, nét cọ mà anh thao thức.
Anh khó nhọc chống cùi ngồi dậy. Miệng khô khốc. Anh nuốt nước bọt. Chỉ có sự rát đau ở họng. Anh đưa miệng ngậm chiếc ống nhựa, hút nước ở ly.
Uống nước xong, anh lại định thần, gắng hít thở thật mạnh. Tựa lưng vào chiếc gối, anh nhìn bức tranh còn dang dở. Hình ảnh đồng đội của anh lại hiện về.
Nhớ lại ngày ấy, anh cùng đồng đội xây dựng đảo. Chiến dịch CQ88 được phát. Nhận lệnh là đi. Chỉ có trái tim vì biển, vì đảo. Không phải là những câu khẩu hiệu tuyên truyền mà chính là mệnh lệnh của trái tim, của tình yêu biển đảo đã đưa anh cùng đồng đội đến với Gạc Ma.
Nhìn bức tranh, anh như thấy từng người. Này là Quân, lính trẻ nhất đơn vị, thích nghe anh nói chuyện về những cô gái ở làng biển quê Quảng Nam. Này là Nhơn, người lúc nào cũng thích ca bài chòi. Cựa một tí là ca. Dù chẳng có hơi xuống giọng xề. Thế nhưng, mỗi lần rảnh là ca. Anh em trong đơn vị thích cái tính xuề xòa của Nhơn nên cũng thích luôn những lời ca dân dã ấy. Này là anh Phương, chỉ huy, coi anh em như ruột thịt. Còn biết bao nhiêu người nữa. Họ trong tranh như cười động viên anh vượt qua cơn đau.
Nhìn tranh, anh nhớ lại ngày ấy...
Trời hửng sáng. Biển vẫn trong xanh. Cả đơn vị đang ra sức xây dựng đảo. Yên bình trên từng lời bông đùa của đồng đội. Yên bình trên từng con sóng. Hải như nghe được lời của Nhơn ca: “Đảo này là của chúng ta. Ngàn năm ta giữ nước nhà Việt Nam...”. Tiếng vỗ tay vang lên. Chưa kịp cười đùa cho thỏa thích, Hải bỗng nghe tiếng loa. Lởn vởn tàu của giặc. Chúng bắt loa gọi đơn vị anh rời đảo. Nhưng lời của bọn giặc chẳng là cái quái gì. Cả đơn vị phớt lờ lời của giặc. Anh em được lệnh của anh Phương: “Phải bình tĩnh. Đảo là của ta, ta quyết giữ. Chúng ta giữ đảo là giữ đất Mẹ Việt Nam. Quyết không rời đảo!”. Lúc ấy, Hải như thấy tất cả đều có tâm niệm: “Quyết không rời đảo!”. Bọn giặc tìm cách khủng bố tinh thần của anh em. Rồi bất thần, bọn chúng xả súng về phía đơn vị anh.
Hải không ngờ tình thế như vậy. Chỉ tiếng súng nổ. Và đạn bay... Chợt tiếng của Phương vang lên: “Tất cả nắm chặt tay nhau, kết thành vòng tròn. Quyết tâm bảo vệ đảo, bảo vệ cờ Tổ quốc!”. Đó cũng là mệnh lệnh của trái tim. Trong làn đạn của giặc, Hải và đồng đội siết tay thật chặt, kết thành vòng tròn, giữ cờ Tổ quốc. Lá cờ ngạo nghễ giữa biển trời. Giặc vẫn xả súng. Hải một tay nắm tay Nhơn, một tay nắm tay Quân. Và cứ thế vòng tròn vẫn vững trước đạn thù. Bỗng, Nhơn á lên một tiếng. Giọng Nhơn đứt quãng. Máu Nhơn! Nhơn bỏ tay Hải, quỵ xuống: “Anh Hải!... Hãy… trả thù… cho… em!”. Đạn giặc trước mặt, sau lưng, bên phải, bên trái… Đạn giặc bao vây đồng đội anh. Rồi, Quân cũng bị trúng đạn. Quân ngã trên người Hải, giọng phều phào: “Anh đưa… em… về quê… nghe!... Nói… với Mẹ… là em… em… nhớ Mẹ… lắm!... Còn chuyện… mấy đứa… con gái… làng chài quê anh...,… em xin… nói lời… vĩnh… biệt… với họ… Mẹ!... ”. Quân hy sinh trên tay anh. Anh chưa kịp nói lời nào thì lại nghe tiếng gào to. Đó là tiếng Phương. Tiếng của Phương hòa trong tiếng sóng: “Thà hy sinh, chứ không chịu mất đảo”. Đạn giặc bắn không ngừng. Hải thấy hai tay mình như có ai chém.
Hai tay của Hải không còn. Trước mắt anh sừng sững lá cờ Tổ quốc cùng đồng đội. Mắt anh vẽ một khoảng không. Biển. Đảo. Đồng đội. Cờ Tổ quốc!...
*
* *
Hải được giải đặc biệt về Biển đảo Quê hương, nhiều phóng viên đã đến tìm hiểu về cuộc đời anh. Bấy lâu nay, có ai biết đến Hải Trường Sa là ai đâu. Nhưng giờ đã khác. Bút danh Hải Trường Sa khẳng định với công chúng về tài năng hội họa.
Tôi được Hội Văn học Nghệ thuật thành phố gửi giấy mời tham dự buổi khai mạc và trao giải thưởng. Vì bận việc đột xuất, nên tôi đến trễ. Chỉ được xem tranh là chính. May mắn cho tôi là được thưởng thức một số tranh dự thi đoạt giải cùng với một số tranh khác của những họa sĩ nổi tiếng trong nước.
Sau khi xem từng bức tranh, tôi giành thời gian bên bức tranh đạt giải đặc biệt. Trước mắt tôi là bức tranh mang tên “Vòng ký ức Tháng Ba”. Và điều làm tôi ngạc nhiên là, bên cạnh bức tranh, một người không còn hai bàn tay. Đó chính là Hải Trường Sa, tác giả bức tranh ấy. Một số phóng viên đang phỏng vấn anh. Anh chỉ cười. Đứng cạnh Hải, tôi nghe anh trả lời:
- Có gì đâu! Tôi không vẽ là tôi còn nợ với chính tôi. Tôi chỉ là người lính giữ đảo năm nào, giờ là như thế này đây - Anh cười và đưa hai cánh tay cụt - Cũng may cho tôi là chất lính một thời trong tôi giúp tôi vẽ. Còn đời tư tôi, xin các bạn thông cảm, tôi không muốn nói về mình. Chỉ thế thôi!
Nghe những gì anh trả lời, không hiểu anh ta khiêm tốn hay kiêu. Nhưng rồi, nhìn nụ cười hiền với tiếng nói đặc sệt chất giọng Quảng Nam, cùng với ánh mắt sáng tự tin, tôi tin lời anh nói.
Và rồi, người xem tranh cũng bớt dần. Tôi đến làm quen Hải. Tôi tự giới thiệu về mình, là thầy giáo, nhà văn, thích xem tranh vẽ. Hải nhìn tôi cười. Và đưa cái cùi chỏ đụng vào bàn tay tôi lắc lắc.
Từ đó trở đi, chúng tôi thành bạn của nhau. Những khi rảnh, tôi thường đến thăm Hải. Hoặc trao đổi qua facebook. Càng ngày chúng tôi càng thân nhau. Biết tính Hải không muốn nói về mình, nhưng tôi cũng hỏi chuyện riêng tư của Hải. Vì thân, mà đã là bạn thân cần gì phải dấu nhau điều gì, nên rồi Hải cũng tình thật kể cho tôi nghe.
- Cậu biết không, hồi thanh niên, mình thích vẽ lắm. Nhìn những tranh của Bùi Xuân Phái, Tô Ngọc Vân, rồi đến Đinh Cường, Bửu Chí, Rừng… là mình mê tít. Mình có một tập ảnh chụp lại các bức tranh mình thích. Nhìn những bức tranh ấy, nhiều lần, mình tưởng tượng các sắc màu trong các tranh ấy như muốn nói với mình: “Bạn cứ tin vào khả năng và tình yêu của chính mình thì mới có thể vẽ những tranh đẹp được”. Mình tin lời sắc màu nói với mình. Từ đó, ngoài chuyện học, mình lại lao vào việc mày mò, tìm hiểu về hội họa. Nào là cách tìm chủ đề, tìm bố cục, cách pha màu… Thú thật, mình thích vẽ từ nhỏ, lại có chút năng khiếu, nên mình vỡ lẽ ra là mình có thể vẽ những gì mình thích, những gì in đậm dấu ấn trong lòng mình.
Hải nói như trút hết tâm trạng của mình. Tôi cầm cùi tay Hải, xoa xoa, nói:
- Hèn gì! Phần thưởng cậu nhận xứng đáng với công sức của cậu.
Hải kẹp ly nước lên uống. Rồi để xuống bàn. Tôi nhìn căn phòng xinh xắn, đầy những tranh. Có bức đã hoàn thành. Có bức chưa xong. Bên cạnh giá vẽ nào là những hộp sơn, lọ màu… Đủ cả. Tất cả đều gọn gàng. Nhìn căn phòng một hồi, Tôi khen:
- Họa sĩ như cậu có khác! Nghiêm túc dữ.
Hải nhìn tôi cười:
- Sao cậu lại nói thế? Tại cái tính mình giờ nó thế. Quen rồi. Để mọi thứ lộn xộn, ngổn ngang, mình không chịu được. Cũng tại chất lính một thời tạo cho mình cái tính ấy. Thật ra, khi còn trẻ, trước khi vào lính mình cũng a-ma-tơ lắm.
- Hồi trẻ, cậu nghệ sĩ lắm thì phải? Kể cho tôi nghe cậu tập như thế nào mà được như rứa?
Hải cười to, tiếng vang như sóng biển:
- Ừ, thanh niên đa phần là thế mà cậu. Bộ cậu không có à? Nhưng giờ, như cậu thấy đó, mình phải tự nghiêm túc với chính mình mà. Cũng nhờ làm lính đó.
Như được dịp kể cho tôi nghe, Hải cho biết những năm tháng ở quân trường, anh phải tự điều chỉnh ghê lắm. Chớ thằng con trai nào không có chút máu nghệ sĩ? Cái máu ấy tạo ra những biểu hiện để gọi là chút tài tử, chút chịu chơi. Hải nói rằng con trai mười tám, đôi mươi có tính như con chim trống rướn cổ hót phô bày bản lĩnh trước lỗ tai của những chim mái; như gà trống, rướn cổ gáy, phô diễn khả năng trước sự cương trứng của gà mái; như công trống xòe sự rực rỡ, phơi sắc màu tình yêu trước ánh mắt của chim mái. Hải cũng tâm sự, hồi chưa vào lính, anh thường thức khuya, đàn hát như khoe cho hàng xóm biết tài của mình, hoặc để bọn con gái chú ý. Có lẽ, hầu như đàn ông trai trẻ đều có một thời như vậy! Nhưng rồi, khi vào lính, dù tính đàn ông con trai vẫn thế, nhưng sống có quy củ hơn. Ăn có giờ, học có giờ, tập có giờ. Chệch giờ giấc là bị kỷ luật ngay. Không một hai gì cả. Còn quần áo, mùng mền, chiếu gối đâu vào đó. Ngay ngắn, sạch sẽ, ngăn nắp. Giường nào cũng như thế, cũng răm rắp.
- Còn bức tranh được giải vừa rồi, cậu vẽ khi nào? Do đâu?
- Khi nào à? Mình chỉ nhớ là mình nhớ biển, nhớ con sóng ở Trường Sa. Không biết làm gì để đỡ nhớ, mình lên mạng tìm những bài hát về biển đảo, về tháng Ba. Tình cờ mình xem một video về trận Hải chiến ở Gạc Ma. Xem mà mắt mình rưng rưng. Như có ai bóp tim mình. Như ai đó làm mình nghẹt thở. Vòng tròn ấy cứ ám ảnh mình từ đó!
- À, ra vậy!
Từ khi đạt giải, mỗi lần Thành phố có triển lãm tranh về chủ quyền biển đảo, Hải đều được mời gửi bức tranh đạt giải tham dự. Và lần nào cũng vậy, tôi tìm cách dàn xếp công việc, thời gian để chở Hải đến phòng triển lãm. Như mọi lần, tôi cùng Hải đứng trước tranh ngắm nghía. Hải nói như thấy Nhơn, Quân, anh Phương cùng đồng đội hiện về. Còn tôi, lần này, như thấy trong tranh, trước mắt mình, hiện lên là vòng lửa bất diệt, vòng của sự sinh tồn của đất nước, vòng của sự sinh sôi, nảy nở lòng yêu nước, vòng của sự kết đoàn toàn dân tộc. Trước mắt tôi là các chiến sĩ – những chàng trai nước Việt – nắm tay nhau làm cột mốc. Những gương mặt ánh lên lòng tự hào, sẵn sàng hy sinh vì biển đảo. Tôi như nghe đủ giọng nói của mọi miền Tổ quốc. Giọng Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, giọng Khánh Hòa, Quảng Nam… Bắc, Trung, Nam có cả. Tôi như nghe họ hát. Tiếng hát của họ hòa vào sóng biển vang mãi ngàn năm cho con cháu Việt Nam biết một thời bi tráng của dân tộc.
Đứng trước bức tranh “Vòng ký ức Tháng Ba” là mọi người và tôi. Nhìn sâu vào trong tranh, tôi nghe từ tiếng vọng từ bức tranh: “Thà hy sinh, chứ không chịu mất đảo!”.

Tháng 02-2016
Phan Trang Hy

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013