Thi Ảnh

Văn

Văn

Chim...* Hoàng Thị Thang Nga

Chi Sa Xuống Đất
 
Năm tôi vào lớp đệ tam, cũng là lúc anh hai vừa thụ huấn xong khóa học bay ở Mỹ về. Bạn mới còn bỡ ngỡ chưa quen, bạn cũ tản mác các phân ban khác, chỉ có tôi và nhỏ Liên “văn hay chữ tốt” theo ban C, ôm ấp mộng làm… zăn sĩ. Nhỏ này “chế” thơ tình rất hay, dù nó chưa có mảnh tình nào… vắt vai.
Khi biết tôi có ông anh là Pilot, “cọng giá” của tôi vươn cao hẳn. Mấy đứa bạn vừa quen bỗng trở nên thân thiết lạ lùng. Chiều nào tan trường về tôi cũng được rủ đi ăn hàng vặt ở mấy xe gỏi khô bò, chúng nó thay phiên nhau đãi đằng, chưa kể lúc ngồi trong lớp ăn vụng me dốt me ngào, cóc ổi nhai mỏi miệng. Tôi biết tỏng ý đồ của chúng, trong mắt… tai mũi họng của tụi nó bây giờ chỉ có “ngài” Pilot nhà tôi là sáng giá. Mấy anh chàng Võ Trường Toản quần xanh áo trắng làm sao cân sức được với chiếc áo bay của Pilot, nên đành ngậm ngùi hát: “anh có theo hàng trăm cây số, em vẫn không thèm quen anh đó….”
Ăn “chùa” mãi cũng kỳ. Vả lại tôi phân vân không biết chọn đứa nào trong cái đám quỷ cô nương nhí nhố này để… gá nghĩa cho anh hai, nên đành tiếc rẻ từ chối bớt những “cuộc vui”. Chỉ giữ lại một nhỏ Liên làm “thân chủ”, dù sao nó cũng là bạn lâu năm từ hồi đệ nhất cấp, lại hiền lành nhu mì, sau này có “tiến thân” làm… chị dâu của tôi cũng được, đỡ lo anh hai vớ phải một bà chằng đem về áp đảo con em, vì thế tôi lên kế hoạch “gài” nó cho chàng anh.
Anh tôi lọt vô được Không Quân vì chiều cao thuyết phục và sức khoẻ tràn trề chứ diện mạo chàng hơi… xí, nói tế nhị hơn là không đẹp trai mấy, khác xa lời đồn thổi về huyền thoại KQ :”không đẹp trai, không phải Pilot”.
Chàng hiền lành và còn hơi “cù lần lửa”, dù đã được mấy bậc niên trưởng tận tình chỉ vẽ cho nhiều chiêu bay bướm, nhưng xem ra không cải thiện được phong cách chàng là mấy. Vậy mà bạn tôi, nhỏ Liên xinh xắn, thùy mị, mảnh mai và… thấp thấp đúng model “người em bé nhỏ”, say tình chàng quá Trời!… Từ sau ngày gặp gỡ anh, mồm nó lúc nào cũng lẩm bẩm bài “Tuyết Trắng” như thầy pháp niệm chú. Mặt mày ngơ ngẩn như người mất tiền, cố… rặn mấy vần thơ. Nó còn siêng năng chăm chỉ học nữ công, (lúc trước nó thường rủ tôi coupe giờ này) tập thêu thùa. Nó thêu đôi chim liền cánh, đôi trái tim lồng vào nhau, đôi bông hồng đỏ thắm, chờ cơ hội tặng chàng anh hai. Tôi thương cảm quá, hỏi một câu… lãng xẹt:
- Ảnh… có gì đâu mà bà khoái dữ dzậy?
Nó cười lỏn lẻn.
- Tui thích cái… tướng mặc đồ bay của ảnh và giọng… Bắc kỳ ngọt lịm.
Trời mẹ ơi!!!… Tôi ngạc nhiên quá đỗi. Tôi cũng là “cô em Bắc kỳ nho nhỏ” đây, sao không thấy ai khen tôi có giọng “ngọt lịm”???
Chờ anh “dù” về nhà, tôi phỏng vấn chàng.
- Anh hai thấy bạn em thế nào?
Chàng ngơ ngác.
- Thấy gì… bạn nào?
Tôi thất vọng.
- Chời ơi!… nhỏ Liên hôm bữa anh gặp đó, anh thấy nó thế nào?
Chàng ngớ ngẩn.
- Anh… có thấy gì đâu, bạn em bị gì à?
Tới phiên tôi ngớ ngẩn.
- Anh không thấy gì thật sao!? Anh không thích nó à!? Anh không muốn có người yêu à!?
Tôi hỏi một hơi “anh… không à” làm chàng càng… không hiểu.
- Sao em hỏi nhiều thế, bạn em thì mắc gì tới anh?
Nhỏ Liên không lọt được vô mắt anh tôi. Chàng anh “cù lần lửa” vậy mà quá lạnh lung, tim cứng như cục sắt!
Chờ đợi khá lâu, không thấy tôi đem lại tin tức tốt lành hay một cuộc hẹn hò nào. Nó chán nản quay sang làm “em gái hậu phương”, viết thư cho các anh “thiên thần” mũ đỏ, “cọp biển” mũ xanh, mũ nâu ngoài tiền tuyến, không thèm mơ tưởng đến chàng Pilot nhà tôi nữa.
 
Ngày “giải phóng” anh đang ôm chiếc trực thăng, có thể vù một mạch đến Thái Lan, nhưng không nỡ bỏ mẹ và tôi, nên đành ở lại. Mẹ bắt anh trốn ở vùng biển Phước Tỉnh, nơi có người quen làm dân chài, để mặc cho mẹ đối phó với “bộ đội giải phóng” dai dẳng hạch hỏi: thằng giặc lái trốn đâu rồi?
Nhờ diện mạo hơi xấu, đen nên anh sống lẫn với dân ngư phủ an toàn và có cơ may vượt biên bình an tới đảo Bi đông. Tại đây anh bất ngờ gặp lại Liên, nó mừng rỡ nhận ra anh, anh cũng vui mừng không kém, vì bơ vơ nơi xứ lạ đất người, tâm trạng hoang mang chao đảo. Liên trở thành người thân, vì là bạn của em gái mình.
Gần gũi hằng ngày khiến hai người yêu nhau thắm thiết và làm đám cưới ngay trên đảo. Mẹ và tôi vui mừng khôn xiết, từ nay nơi xứ lạ, anh tôi có người thương yêu sớm hôm cận kề chăm sóc. Quả là trời già nên mắt kém. Rõ ràng hai ngườì có tên trong sổ nhân duyên, lần trước chắc “cụ” quên đeo kiếng nên không thấy, suýt chút nữa làm lỡ làng mối duyên tốt lành này.
Sau gần chục năm định cư ở Mỹ, anh lãnh mẹ tôi sang. Tôi ở lại vì kẹt chồng con. Những cuộc điện đàm viễn lien với mẹ, thỉnh thoảng nghe tiếng mẹ thở dài. Tôi băn khoăn hỏi:
- Mẹ ở bển có vui không?
Mẹ ngập ngừng.
- Vui …vui mà cũng… buồn, anh con… nể vợ quá.
- Nể là sao mẹ?
Mẹ nói nhanh.
- Nể là… nể, thôi con đừng hỏi nhiều.
Tôi hời hợt mau quên nên không nhớ đến chuyện này nữa!
Thời gian lại trôi qua mấy chục năm. Vợ chồng anh không một lần về thăm VN. Tôi có đứa con gái lớn lấy chồng Việt kiều, may mắn ở cùng tiểu bang với anh, khi vừa có điều kiện, nó vội bảo lãnh tôi ngay. Tôi muốn ở gần nhà anh để “chạy qua chạy lại” cho vui và gần mẹ. Ngày đầu tiên gặp lại con bạn cũ mà cũng là chị dâu, sau ba mươi mấy năm cách biệt, tôi bị choáng…
Ôi thời gian!!!... Thời gian là liều thuốc nhiệm mầu chữa lành những vết thương lòng đau đớn, nhưng cũng là liều cực độc hủy diệt tàn bạo dung nhan, vóc dáng con người. Bạn tôi ngày xưa xinh xắn, nhỏ bé, yêu kiều là vậy. Nay trở thành một bà béo bệu bạo! Ngồi thừ trên sofa với nét mặt lạnh tanh, nhìn nó tôi ngán ăn… mỡ suốt đời.
Thời gian và hoàn cảnh làm thay đổi mọi thứ. Ngày xưa tôi với nó thân thiết như chị em ruột, chia nhau từng viên xí muội, miếng ổi chát, miếng cóc chua, kể lể với nhau những mẩu tâm sự vụn vặt ngây ngô thời mới lớn, vậy mà bây giờ nó nhìn tôi như người xa lạ. Cám ơn trời! nếu không bị kẹt lại ở nước VN nghèo đói khốn khổ mấy chục năm, chắc giờ này tôi cũng to “bành trướng đế quốc Mỹ” và tâm hồn lạnh lẽo như nó.
 
Vì ở gần, hay chạy qua nhà anh, tôi mới hiểu được tiếng thở dài và câu nói ngập ngừng của mẹ ngày trước. Không biết từ lúc nào, bạn tôi đã tân dụng cái ưu thế “lady first” của nước Mỹ văn minh, yêu chuộng phụ nữ. Từ một người con gái dịu dàng thùy mị, nó thay đổi thành một “lady” lắm mồm, riết róng. Mọi việc trong ngoài, một mình nó quyết định, anh tôi chỉ là người thừa hành, kiêm nội trợ, chờ lệnh sai phái. Anh đã trở thành một người hoàn toàn khác.
Ngày xưa anh tuy hơi “cù lần” nhưng cũng có phong độ nam nhi. Oai hùng liệng cánh trên những trận địa, làm quân thù khiếp hãi. Bạn bè đồng đội thương mến vì tính hiền và nụ cười luôn nở trên môi. Bây giờ nụ cười trở nên hiếm hoi trên khuôn mặt đăm chiêu nhẫn nhục. Anh chiụ đựng sự càm ràm ca cẩm của vợ riết thành quen. Nó xéo xắt anh vì cái tội nó… mập, rồi ghen tuông vu vơ với những người không mập như nó. Có lần tôi ái ngại hỏi:
- Chị cứ than mập hoài mà sao không chịu khó tập thể dục? (không biết từ lúc nào tôi lễ phép gọi nó bằng chị)
Liền bị nó lườm cho một cái dài ngoằng.
- Dào ơi !… cô khéo vẽ chuyện, tôi làm gì có thì giờ mà tập với chả… họp.
- Chị cứ để thân hình… tròn trịa thế này, rồi cuối tuần lại đi chơi với bạn, mặc kệ anh ở nhà một mình, không sợ ảnh có… người khác sao?
Nó nhìn tôi như nhìn sinh vật lạ, cười rung mấy thớ thịt dưới cằm.
- Xời… cô cứ đùa? Cho kẹo lão cũng không dám.
- Sao chị tự tin thế?
Nó cao giọng ngạo nghễ.
- Chị… mày có tình báo khắp nơi, lão hó hé là chết ngay.
Tôi phục nó sát đất, phục luôn cả nước Mỹ nữa. Nước Mỹ giỏi thật, đào luyện được những người phụ nữ VN ngày xưa hiền lành dịu dàng, giờ trở nên “thần thông quảng đại, hô phong hoán vũ” như ngày nay.
Những lúc cuối tuần rảnh rỗi, anh tha thẩn ra vườn chăm sóc, cắt tỉa mấy khóm hoa, nhổ mấy cây cỏ dại, ngắm vài con chim bay lên cành xào xạc, lượm nhặt những chiếc ly nhựa, ống hút, giấy kẹo mà vợ con, bà cháu xả ra bừa bãi. Cặm cụi cần mẫn. Hình như những lúc đó tôi mới thấy anh vui, nét mặt tươi, thỉnh thoảng cười mỉm một mình, nụ cười không bao giờ thấy ở trong nhà, bên cạnh nó. Tôi thắc mắc quá, tra gạn.
- Anh có gì vui mà cười một mình vậy?
Anh chối phắt.
- Đâu có gì.
- Mình chỉ có hai anh em với nhau mà anh không tin em sao, nói cho em nghe với.
- À… à, anh coi sách báo, đọc truyện ngắn truyện dài, có những chuyện vui vui, nhớ lại buồn cười thôi mà.
Tôi không tin, nhưng không tra gạn nữa, hỏi một điều để mãi trong lòng, lâu nay chưa có dịp:
- Em thấy nó quát nạt, ăn hiếp anh quá trời mà sao anh không nói gì?
- Anh nhịn cho rồi, khỏi ầm nhà, có nói cũng không lại bả !
Tôi xót xa.
- Anh sống vậy không thấy buồn sao?
Giọng anh chùng xuống, buông xuôi.
- Buồn hay vui cũng vậy thôi, rồi cũng qua ngày.
Tôi đau nhói trong lòng, tiếp tục khai thác tâm tư ông anh thân yêu.
- Có bao giờ anh nghĩ đến chuyện… ly dị không?
Anh khẽ lắc đầu.
- Không em ạ… âu cũng là số phận! Với lại anh quen rồi, cũng chẳng có gì ghê gớm lắm.
Một lần nữa tôi lăn ra đất phục ông anh, như đã từng phục chị dâu. Lại cũng câu nói: Ôi!!! nuớc Mỹ giỏi quá, tôi luyện được những chàng trai kiêu hùng, một thời tung mây lướt gió, oai phong oai dũng ngày xưa, trở nên những ông chồng nhẫn nhục, cam chịu ngày nay.
Không Quân có khẩu hiệu: không bỏ bạn bè…
Bây giờ có thêm vế sau: không care vợ… dữ.
 
Hoàng Thị Thanh Nga

Những...* Hồ Trường An

Những Phiến Mỏng Của Hạnh Phúc
 
Quân có hai bà chị họ cùng chung một họ, cùng chung một ông sơ bên nội, nhưng khác bà sơ. Ông cố Hai của chàng là con bà vợ lớn. Còn ông cố ruột và ba cố Tư của chàng là con bà vợ nhỏ. Ông cố Hai tức là ông cố ruột của hai nguời chị họ đó. Tuy thế, gia tộc của Quân cùng quây quần trong cái Xóm Cầu Kè thuộc làng Long Đức Đông theo kiểu tứ đại đồng thôn  chứ không như các đại gia tộc quý phái bên Tàu sống theo kiểu tứ đại đồng đường.
Ông thân sinh của hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh là cháu đích tôn của ông cố Hai, còn cha của Quân là cháu đích tôn của ông cố ruột của chàng mà hai chị gọi là ông cố Ba. Cho nên cha của hai chị và cha của Quân phải trông nom ngôi nhà hương hỏa của ông nội mình. Hai ngôi nhà ấy ở gần nhau, kiểu kiến trúc giống nhau, cách nhau một cái lạch nuớc viền những khóm ô-rô, những cụm bình bát xanh tươi, có chiếc cầu tre bắc qua. Đó là kiểu nhà ba gian hai chái, sân lót gạch tàu đỏ tím như ruột trái du đủ xiêm. Hai nhà chỉ có khác nhau chăng ở chỗ ở giữa sân trước của cha của Quân có bày hòn non bộ, còn nhà bác Hai Chức (thân sinh của hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh) có trồng trong bồn giữa sân một cây chuối kiểng thật to, tàu lá xếp hình rẽ quạt.
Dưới hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh có người em trai tên Khiết, nhỏ hơn Quân một tuổi, một nhâ vật lu mờ nhạt nhẽo nhất trong giới họ hàng cùng một thế hệ với Quân. Trên Quân là chị Hương Khuê, mặt lẳng ngầm, hễ mỗi khi chị cười là cặp mắt chị tít lại, rồi đưa đẩy tròng mắt ướt lóng lánh. Vừa mới 16 tuổi, chị bị anh Cẩn, thứ nam của ông bà Bang Biện Trọng dụ dỗ mang thai. Túng thế, ba má Quân điều đình vói ông bà Bang Biện Trọng gả chị luôn cho tên tiểu tặc dâm bôn kia. Chị Hương Khuê phải về chợ Ngã Tư, cách tỉnh Vĩnh Long 4 cây số để làm dâu cho ông bà điền chủ miệt vườn kia. Tuy ba má gả trôi được cô con gái thuồng luồng hổ mang kia, nhưng Quân hầu như không nghe ba má nhắc nhở tới chị Hương Khuê. Thỉnh thoảng chị có về thăm nhà, nhưng chưa bao giờ ở chơi trọn ngày; lúc đến và lúc đi, lúc nào chị cũng lặng lẽ như một cái bóng. Họa hoằn lắm, ba má Quân mới đi thăm chị, nhưng không bao giờ ở chơi với ông bà thông gia của mình một ngày.
Tuổi hoa niên của Quân bắt đầu từ ăm 1938. Lúc đó đất nước nằm trong tình trạng khủng hoảng kinh tế. Hàng hóa nhập cảng rất nhiều mà dân chúng không có tiền mua. Bên trời Âu, ngọn lửa Đệ nhị Thế Chiến vừa mới ngún cháy. Chị Băng Thanh và chị Tuyết Anh đang học trường Áo Tím bị bác Hai Chức gọi về quê. Bác gái an ủi:
-- Con gái đâu cần học nhiều. Hai đứa bây học tới năm thứ ba ban Thành Chung như vầy  cũng đủ văn minh tân tiến rồi. Bây về đây nên lo trau giồi công dung ngôn hạnh thì thiếu gì trai trẻ con nhà tử tế quanh vùng nầy nhờ cha mẹ tụi nó cầm trầu cầm cau cuới bây về làm vợ.
Thuở đó, Quân mới ngồi lớp Đệ nhất niên ban Thành Chung trường Cao tiểu Cần Thơ (Collège de Cần Thơ). Vào dịp bãi trường, chàng ôm rương tráp về quê nhà nghỉ mát suốt hai tháng hè. Nhân dịp nầy, chàng mới có dịp gần gũi và khắng khít với hai chị hơn. Còn Khiết vì không trúng tuyển vào trường Lycée Pétrus Ký nên anh phải học trường Tư thục Huỳnh Khương Ninh ở Sài Gòn. Bác Hai Chức trai thừa biết con mình học hành không mấy sáng dạ, chưa chắc theo đuổi hết chương trình ban Thành Chung.
Chị Tuyết Anh ngắm nghía Quân:
-- Chị không ngờ chỉ trong vòng một năm mà  em đã có lưng dài vai rộng như thế nầy. Em tuy lớn hơn Khiết một tuổi mà cao lớn hơn Khiết nhiều, lại còn cứng cáp vững vàng nữa.
Quân nhìn trân trối hai cô chị họ. Về nhan sắc, chẳng có chị nào vượt mức trung bình. Nhưng chị Băng Thanh không chịu xấu; mặt mũi chị không có  nét thô, chị lại còn trắng da dài tóc nữa. Nhưng những chi tiết trên khuôn mặt chị thiếu nét hài hòa, vẻ mặt chị lại cau có khó chịu như nét mặt kẻ mang bịnh táo bón kinh niên. Chỉ nhìn chị thoáng qua, người đối diện như bị một sức đẩy tuy nhẹ nhàng nhưng dứt khoát. Chị có vóc mình mảnh khảnh, vai mỏng, mông nhỏ. Nhưng mà quỉ ơi, đôi mắt chị có tròng đen quá nhỏ vì bị tròng trắng húng hiếp, lấn át. Đã vậy chị lại hay trừng hay trợn nên trông chị dữ tợn và hậm hực, bất an.
Còn chị Tuyết Anh có màu da hơi ngăm đen, cặp mắt hơi trố, hàm răng hơi vẫu. Những chi tiết đó tuy không kéo chị lên hàng ngũ mỹ nhân, nhưng cũng không thể dìm chị xuống hàng chị em, dì cháu, mẹ con bà Chung Vô Diệm được. Nhưng chị có nhiều cử chỉ quá trớn, ưa nguýt háy, nhúng trề, õng ẹo, véo von. Nghiệt một nỗi, những biểu lộ tình cảm tô đậm sắc thái ấy quá trơ trẽn, được diễn tả bằng giọng khàn đặc, nhưng cố tình làm ra âm sắc hổn hển, nũng nịu một cách gượng ép. Cũng như chị Băng Thanh, chị không chịu xấu để người xung quanh thương hại. Chị thừa biết mình không đẹp, nhưng muớn lôi kéo sự chú ý của kẻ khác nên chị tạo những cử chỉ và ngôn ngữ...  quá đặc biệt. Tuy nhiên, chị tính sai vì những cái giả tạo đó chỉ làm người đối diện nhột nhạt tê tê như phải nghe tiếng vót tre vót nứa.
Vừa gặp Quân, chị Băng Thanh không ba hoa vồn vả như chị Tuyết Anh đâu. Chị lãnh đạm nhìn Quân. Cặp mắt chị dù không trừng không trợn, nhưng lại dội lên xương sống chàng một gáo nước lạnh cóng. Chị cười gằn:
--Sung sướng quá! Con trai thì được gia đình cho ăn học tới nơi tói chốn. Chỉ có bọn gái tụi nầy dẫu có học hành xuất sắc cho thế mấy cũng bị gia đình, gia tộc dìm tài, nhốt kín cái óc thông minh họ, bức tử con đường tiến thân của họ trong xã hội.
Chị ngoe nguẩy vào căn bếp. Một lát sau, chị bưng ra ba chén tào hủ màu ngà non trộn bánh lọt xanh màu ngọc thạch được chan xâm xấp lớp nước đường màu ngọc mã não và nước cốt dừa trắng như sữa. Chị ân cần:
-- Em hãy ăn món nầy với tụi chị cho vui. Chốc nữa em ăn cơm luôn ở đây.
Hôm nay, chị  cóđi xuống ông thợ đóng đáy mua được con cá bông lau để nấu canh chua dưa măng và một mớ tôm càng để tẩm bột chiên giòn.
Thật tình Quân không sao hiểu tâm lý và cách cư xử của cô thiếu nữ tuy chưa làm gái già mà trở nên kỳ quặc nầy. Chàng sang đây thăm hai cô chị họ của mình là cốt mượn mấy cuốn tiểu thuyết của nhóm Tự Lực Văn Đoàn về đọc giết thời giờ. Cây phượng vỹ ngoài cổng đã thịnh phóng hoa đỏ rực như gấm đại hồng. Giàn thiên lý trong sân kết những chùm hoa bích lục tươi nõn. Những ngày bãi trường xán lạn hãy còn dài. Vắng những cuộc phiếm du, vắng mấy cuốn văn chương thấm mát hơi sương lãng mạn và vắng một bóng hồng để mơ ước thì đối với chàng mùa hè trở nên vô vị một cách đáng ghét. Chàng đã có một bóng hồng là cô Thu Cảnh, con của thầy Hương hào Trần Sĩ Hiệp. Chàng cũng có mấy quyển tiểu thuyết thuộc tủ sách Phổ Thông Bán Nguyệt San được sắp xếp ngăn nắp trên kệ sách, nhưng xem thét thành nhàm. Chàng đã nghĩ đến toàn bộ tiểu thuyết của các tác giả trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn mà hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh đã chắt chiu sưu tầm từ bao năm qua.
Vào thập niên 30, một cô gái thuộc bậc trung lưu cấp cao, học tới bậc Trung học dù hơi kém bóng sắc, nhưng được gia sản cha mẹ và một ít chữ nghĩa đấp điếm cũng đủ làm cho nhân diện và vóc dáng đương sự được đánh bóng mượt mà hẳn lên. Nhưng dung nhan hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh lại không tụt xuống dưới mức trung bình bao nhiêu. Họ lại rành nữ công, biết thêu Tây lẫn thêu Tàu, và biết làm nhiều loại bánh xưa lẫn bánh nay. Bởi thế, cũng có vài nơi điền chủ khá giả cậy mai mối đến nhà bác Hai Chức để hỏi cưới hai chị cho con trai họ.
Mỗi khi đi ra chợ tỉnh, hai chị vẫn mặc áo dài màu tím. Không hẳn đó chỉ là hai màu áo kỷ niệm thời nữ sinh thơ mộng đối với hai chị đâu. Hai chị mặc áo tím cốt để ngầm khoe với những kẻ quen biết cùng hàng xóm láng giềng rằng hai chị là kẻ tân học trong khi các cô thiếu nữ nhà giàu khác trong làng, trong xóm đâu có thể leo lên bậc Trung học như họ.
Hai chị khéo bày những cảnh để trai gái trong vùng chiêm ngưỡng. Bác Hai Chức có cất cái nhà mát gie ra ra dòng rạch chảy trước nhà. Chiều chiều, gặp thời tiết tạnh ráo, hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh mặc áo bà ba bằng lụa Hà Đông, quần sa teng tuyết nhung đen, đem sách ra nhà mát để đọc hoặc đem kim chỉ ra thêu thùa. Những ngưòi trong xóm mỗi khi chèo ghe hoặc bơi xuồng ngang qua nhà mát đều có thể trông thấy cảnh nhị kiều hóng mát như thế. Nhà mát cất theo lối thủy tạ, hình lục giác, mái lợp ngói ống, lan can bao quanh sơn son. Bác Hai Chức biết đủ cách sống phong lưu tao nhã. Mỗi năm vào xuân thu nhị kỳ, bác được hai cuốn catalogues tên là  Fayettes và hai cuốn catalogues tên là Au Bon Marché từ bên Pháp gởi qua để bác có thể gởi mua hàng hóa và vật dụng sản xuất bên  Pháp như chén dĩa, đèn măng-sông , đồng hồ treo trên vách, rèm màn dệt đăng-ten  cùng nồi niêu, soong chảo bằng nhôm hay bằng đồng... Bởi đó, nhà bác có nhiều món cổ ngoạn bằng sứ Limoges hay các món ly cốc, bình hoa bằng pha lê sản xuất vùng Vosges. Riêng hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh có thể mua những món tơ lụa do người Pháp chế tạo để may mặc.
Quân vốn có tình lý đồng cân từ bẩm sinh. Từ thuở hoa niên đến tuổi thanh xuân, chàng chỉ mơ mộng lai rai, chơi đàn qua quít, yêu đương sơ sịa, si tình phơn phớt để cuộc sống thêm đôi chút hương vị đậm đà, để ý tình thêm dịu ngọt. Chàng không để tâm trí mình lún sâu vào bất cứ công việc gì ngoài việc học hành. Chàng cũng không mơn man một lý tuởng nào hoặc một mục đích thuộc về tinh thần nào để khỏi bị mắc kẹt mà không thể tháo gở dễ dàng, không thể rút ra trơn tru. Cho nên khi trò chuyện tương đắc với hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh rồi, tự dưng chàng có linh cảm rằng đây là hai kẻ đam mê nồng nhiệt, sống chết với cái ảo tưởng mà họ lầm cho là cái lý tưởng. Cái ảo tưởng đó sẽ biến họ thành kẻ cuồng tín, nếu không nguy hiểm thì cũng dở hơi.
 Hai chị rất say mê nhân vật Dũng trong quyển Đôi Bạn  của Nhất Linh và hình ảnh chàng trai tóc lộng ơi bời gió bốn phương  trong bài thơ Giây Phút Chạnh Lòng  của Thế Lữ. Những ngày nhàn rỗi ở quê nhà càng làm cho hai chị ngóng đắm đuối về một phương trời xa xăm có cái lý tưởng phụng sự tổ quốc treo lủng lẳng như một thứ trái cấm. Ôi, thứ trái cấm ấy từ vài năm qua  đã quyến rũ óc phiêu lưu của lớp người trẻ chuộng lý tưởn.
Chị BăngThanh than thở:
-- Cuộc sống ở đây đều đặn quá, Quân à. Chị phải làm một cái gì mới được.
Chỉ nghĩ tới ngày tháng dồn đống trước mặt mà chị bắt rùng mình.
Chị Tuyết Anh đồng ý:
-- Ừ, chẳng lẽ chúng mình hết lo cơm sáng tới lo cơm chiều, thỉnh thoảng
làm một tảng bánh để làm quà đám giỗ cho hàng xóm hay sao? Chẳng lẽ cuộc đời chúng mình chịu đóng khung cứng ngắc nơi đây, chịu ngưng đọng như nước ao tù hay sao?
Quân cười thông cảm:
-- Nghe nói hai chị giỏi Quốc văn. Tại sao hai chị không làm thơ hay viết
văn xuôi cho vui?
Ô, lạ chưa! Cặp mắt của hai chị sáng háo hức chưa từng có! Thuở đó phụ nữ miền Nam viết văn và làm thơ chỉ có bà Mộng Tuyết (vợ nhà thơ Đông Hồ) và bà  Quỳnh Hoa (tên thật là Mai Huỳnh Hoa, vợ nhà cách mạng Phan văn Hùm). Trên nữa có bà Sương Nguyệt Ánh (con gái cụ Đồ Chiểu và cũng là bà ngoại bà Quỳnh Hoa) giỏi thi ca, khi sáng lập tạp san Nữ Giới Chung thì nổi tiếng như cồn. Ngay ở tỉnh Vĩnh Long đã có nhà thơ nữ Trần Ngọc Làu và ở tỉnh Sa Đéc có nữ sĩ Trần Kim Phụng đều nổi tiếng về thơ cảm hoài và thơ ái quốc.
Quân không ngờ lời đề nghị vu vơ của chàng cũng đủ làm niềm hứng khởi đã bèo nhèo héo úa của hai cô gái đợi chồng kia bỗng tươi biếc rườm rà ngay. Trước đó, chị Băng Thanh có một tập giấy bìa cứng vẽ đầy những hình kiểu bông thêu. Còn chị Tuyết Anh cũng có tập bìa cứng để chị ghi chép cách làm các món ăn cổ truyền... Bây giờ chị Băng Thanh sắm thêm một tập bìa cứng khác để làm tập nhật ký lẫn tập ghi chép những thiên đoản văn và tùy bút của mình. Còn chị Tuyết Anh cũng sắm môt tập bìa cứng thứ hai để chép những bài thơ do chị sáng tác. Tạp văn xuôi của chị Băng Thanh có cái bìa được phất giấy nổi vân màu hồng đan tức là màu đỏ pha màu xám trân châu. Còn tập văn vần của chị Tuyết Anh màu lam thạch tức là màu xanh pha xám nổi những chấm sao kim nhũ lấp lánh. Chị Băng Thanh dùng mực xanh để chép lại những điều ghi từng ngày có biến cố đáng kể và những đoạn văn cảm hứng đẹp như thơ trên tờ giấy nháp, bởi thế  nên cách trình bày trang nhật ký rất sạch sẽ và ngoạn mục. Còn chị Tuyết Anh cũng làm thơ trên các trang giấy nháp trước khi chép vào tập thơ bằng mực tím tươi và bằng lối chữ nắn nót.
Mùa hè chỉ mỏng bớt có hai tuần. Giữa lúc Quân trút bao tâm cơ vào cuộc ve vãn Thu Cảnh thì hai chị miệt mài sáng tác lai láng như nước sông mùa mưa. Họ không còn thấy ngày tháng mênh mông cuốn hút họ vào cái trống rổng bát ngát đến rợn ngợp và chới với nữa. Dù viết văn xuôi hay sáng tác văn vần, hai chị đều theo chủ trương văn dĩ tải đạo, chứ không ghi chép niềm rung động trữ tình nào, không để  cho một thoáng gió lãng mạn mong manh  nào lọt vào câu văn hay câu thơ của họ. Chị Băng Thanh sưu tầm thi ca các nhà ái quốc cận đại như Nguyễn Đình Chiểu, Phan văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và của nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục vào một tập giấy thứ ba của mình đuợc Quân vẽ hình hai bà Trưng cuỡi voi ở bìa. Chị Tuyêt Anh dùng màu huyết dụ tô lên hàng chữ kẻ trên vuông giấy bristol có màu trắng bóng như men sứ:
Phấn son tô điểm sơn hà
Làm cho rõ mặt đàn bà nước Nam.
Quân ráo riết ve vãn Thu Cảnh khi về quê nghỉ hè đuợc hai tuần. Thu Cảnh bình thản đón nhân tình yêu của anh bạn hàng xóm, không vồ vập nồng nàn mà cũng chẳng uể oải thờ ơ. Nhưng trong đáy mắt cô, một ánh xán lạn ngời ngời chiếu ra làm sắc mặt cô rạng rỡ, làm nụ cười cô càng đậm đà hẳn lên. Thu Cảnh ngây thơ, hiền dịu, hơi ngu ngơ, nhưng vẻ mặt thật trong sáng và thật phiêu hốt. Cô vô tư đến độ như một mẫu người nguyên sơ, cho nên có kẻ bảo cô hơi ngu đần. Nhưng chính ở cái ngây ngô thánh thiện của cô làm cho tâm hồn Quân rạng ngời một thu ánh sáng lạ lẫm, làm cho trái tim chàng ấm áp với một ý tình khó diễn tả mỗi khi chàng trò chuyện và tiếp xúc với cô.
Thu Cảnh sớm mồ côi cha. Gia sản của thầy Hương hào Trần Sĩ Hiệp khánh kiệt vì sự bê tha trụy lạc của thầy. May mà thầy còn chừa lại cho hai mẹ con cô mười mẫu ruộng, một mẫu vườn và nếp nhà một gian hai chái để hai mẹ con cô sống đấp đổi qua ngày. Dạo gần đây, thím Huơng hào Hiệp gọi cô em gái góa chồng của mình về ở chung.. Đó là cô Lan Chi, tuổi vừa ba mươi, có một đứa con gái lên năm. Hai chị em bày ra việc làm bánh xếp và bánh xùng đem bán ở chợ Cầu Lầu. Thu Cảnh vừa đỗ bằng sơ học rồi ở nhà phụ giúp dì cô xay bột để làm bánh. Ngoài ra cô còn lo việc bếp núc và quét dọn từ nhà trong tới ngõ ngoài.
Thu Cảnh rất được lòng hai chị Băng Tâm và Tuyết Anh. Nụ cười hơi ngơ ngác và nét mặt hơi khờ khạo của cô luôn hóa giải những nỗi sần sượng và gút mắc trong lòng những kẻ xung quanh trong đó có hai người chị họ của Quân. Cô yêu mến tất cả mọi người, nhưng không tỏ vẻ bám víu tha thiết với bất cứ ai. Cô hay giúp đỡ mọi người bằng tấm lòng tận tụy hiếm có. Cô không đua đòi, không so sánh mình với bất cứ ai. Cô sử dụng triệt để những vật gì đã nắm bắt trong tay và không bao giờ ao ước nhũng gì của kẻ khác.
Gia đình thím Hương hào Hiệp ăn uống thanh đạm, có khi cả tháng ròng họ mới ăn được thịt heo. Họa hoằn lắm họ mới mổ gà mổ vịt. Có lần Quân đến thăm Thu Cảnh vào lúc thím Hương hào Hiệp và mẹ con cô Lan Chi đi ăn giỗ ở cuối làng Long Thanh. Thu Cảnh mua một mớ cá mồng gà lụn vun tuy không ươn, nhưng không còn tươi lắm. Nhưng cô biết cách ngâm cá vào nước lạnh pha muối để cá tươi hơn và cứng mình lại. Cô nấu cơm bằng gạo nàng quớt thô tháp và không đuợc trắng lắm trong cái om đất nhỏ. Cá không được kho bằng nước mắm ngon mà chỉ kho bằng tương hột. Vậy mà cơm vẫn dẻo bùi, cá kho vẫn thấm tháp ngon lành với gia vị nêm nếm vừa vặn. Đặc biệt nhất là rổ rau hoang dại gồm rau dừa, rau nhút, rau đắng biển, rau mác xanh tươi mòng mọng để chấm vào nước cá kho và vào mắm nêm dầm tỏi ớt.
Hôm đó Quân được Thu Cảnh mời dùng cơm. Món ăn tuy thanh đạm, nhưng vì lạ miệng nên chàng ăn ngon lành; nhất là khi chàng ngắm niềm vui an phận rạng chiếu trên khuôn mặt của Thu Cảnh. Chắc chắn cô thiếu nữ dễ thuơng nầy hoàn toàn hạnh phúc với hoàn cảnh hiện tại. Cô không chỉ chấp nhận nó bằng sự lạc quan hồn nhien đâu, mà cô còn nếm tất cả mật ngọt kỳ diệu ẩn trong đời sống nữa. Cô tận hưởng món ăn trong miệng nhai như tiếp nhận một ân sủng, không ngẩng cổ lên cao để cầu xin Thuợng Đế thêm một hồng ân nào khác nữa.
Thu Cảnh ăn chay mỗi tháng 10 ngày. Gặp hôm hết tương, chao, tào hủ, mì căn, cô hái rau giền, rau muống, đọt lang và đọt mì  đem luộc để chấm muối ớt vắt chanh. Vậy mà cô vẫn ăn uống ngon lành, mắt lóng lánh một niềm vui kỳ diệu, trở nên đẹp khó tả. Thỉnh thoảng hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh có làm bánh xèo và đúc bánh khọt thường kêu Thu Cảnh qua ăn. Cô trầm trồ suýt soa từng thứ bánh, ăn bánh một cách thống khoái hả hê để rồi sau đó cô không hề nhắc nhở tới nó và ao ước đuợc ăn lại. Ở cô, Quân có cảm tưởng rằng cô chỉ nắm bắt cái gì đang xảy đến, không hề nhìn quãng đời sau lưng hay mường tượng những gì sẽ đến. Cô sống ngoan ngoãn, đơn giản và hạnh phúc như con chim tu hú phải véo von khi gió xuân về, con cá phải tung tăng bơi lội, con ve phải ca hát vào mùa hè nắng ấm, không thể khác hơn.
Mùa hạ, cây ô-môi bên lạch nước trổ bông màu hồng đào ửng ánh tim tím, những cây sung nằm vắt qua ao trổ những chùm trái tròn trĩnh dễ thương. Thu Cảnh ngỏ ý với Quân:
-- Ở đây vui quá, anh Quân à. Em yêu mọi nơi trong cuộc đất xóm mình. Em
thấy cái gì cũng ngồ ngộ dễ thuơng, thấy ai cũng có nhiều cái đáng mến. Chẳng hạn như cây sung nầy, những khóm sen trong ao kia. Lại còn những cây dương, cây sao cao vút ở cuối xóm nữa. Và anh có thấy mấy phiến đá ong ở bên cạnh ao bắt đầu đóng rêu xanh biếc và cả tảng đá xanh nằm dưới gốc cây da xà buông rể thướt tha từ cành to nhánh nhỏ không anh? Cái gì cũng làm em thích ngắm tới ngắm lui. Em yêu thích mọi thứ vừa kể mà không hiểu tại sao mình yêu thích. Mà hiểu để làm gì, hả anh? Nếu mình yêu thứ gì thì hãy ngắm nó, không cần nó phải thuộc về mình. Nhưng mà nầy anh, hồi xưa chỗ tảng đá xanh là chỗ của những cái hỏa lò bể, những đồ gốm bể. Sau đó, má em dẹp hết để đặt tảng đá xanh mà má cho rằng đó là Ông Tà mà má phải thờ phụng để ông ta ban phước cho mình. Lúc đầu, em cảm thấy buồn buồn tiêng tiếc những món đồ bể đã từng quen thuôc với cặp mắt em, với tâm tình em. Nhưng tiếc những cái gì mà mình không thể lấy lại để làm chi? Cho nên sau đó, mỗi khi ngắm nghía tảng đá xanh kia thét rồi em cảm thấy nó gần gũi mình, và em cũng thích nó như đã từng thích những món đồ bể kia. Thì ra, nó dần dần quen thuộc với em từ lúc nào mà em cũng không hay.
Lúc Thu Cảnh nói, cặp mắt cô đẹp dễ sợ, sắc mặt tươi nhuận và xán lạn dị kỳ như thu hút mọi cái đẹp chung quanh. Giọng cô mỏng và thanh. Cô là mẫu người tuy không quá trái ngược với hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh, nhưng có vô số điểm khác với họ. Quân tuy không hiểu những gì Thu Cảnh nói, nhưng khi nhìn nụ cười âu yếm của cô cùng sắc mặt thần tiên phiêu dật của cô, chàng biết rằng nơi nội giới bao la thăm thẳm của cô có một niềm thân ái thật mầu nhiệm, trong mát  làm chàng có cảm tưởng như  đuợc tuới tẩm  bằng dòng sương ngọt trong tịnh bình của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Chàng thừa hiểu rằng về vấn đề nội tâm tràn ngập ánh sáng tâm linh kia, làm sao Thu Cảnh diễn tả trọn vẹn và minh mạch những điều cô cảm nhận. Nhưng cô cần phải nói với Quân vì cô tin cậy Quân. Và vì chỉ ở Quân thôi, cô có thể gửi gấm thông điệp nội tâm của cô.
Rồi mùa hè năm 1942, hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh hẹn hò cùng lũ bạn đồng tâm đồng chí đến suối Lồ - để cắm trại, để nghe nhóm Lưu Hữu Phước, Mai văn Bộ và Huỳnh văn Tiểng diễn thuyết về vận hội mới của thanh niên trước cao trào giành lại chủ quyền cho dân tộc. Khi về tới nhà, tinh thần hai chị bừng bừng phấn khởi và họ sẵn sàng nhập vào đại cuộc để giai phóng dân tộc ra khỏi ách nô lệ của bọn Thực dân Pháp. Họ được thầy lục sự Thông bên chợ tỉnh dạy hát những bài cổ súy lòng yêu nước của Lưu Hữu Phước như Thanh Niên Hành Khúc, Lên Đàng, Xếp Bút Nghiên, Hội Nghị Diên Hồng, Chi Lăng, Bạch Đằng Giang, Khúc Khải Hoàn...
Về sau, Quân không lấy làm lạ, khi Việt Minh lên nắm chánh quyền, hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh gia nhập vào Phong Trào Thanh Niên Tiền Phong một cách hăng hái. Chị Băng Thanh giữ chứ Chủ tịch Hội Phụ Nữ Tiền Phong, còn chị Tuyết Anh không mấy hài lòng khi được cấp trên giao cho chức Phó chủ tịch. Nhưng chừng một tuần lễ sau, chị vận động để nắm chức Chủ tịch Hội Hồng Thập Tự. Hai hội này ở ngoài chợ tỉnh. Hai chị có quen tên Bảy Việt giữ chức Trưỏng ban Quốc Gia Tự Vệ Cuộc cũng ở ngoài tỉnh, nên vận động với y ta để đẩy anh Khiết vào ngành đó với chức vụ truởng toán. Ghê thay, ngành Quốc Gia Tự Vệ Cuộc bắt bớ, thủ tiêu hoặc xử tử  quá nhiều, quá bừa bãi những người địa chủ, những kẻ mà họ nghi làm tay sai cho Thực dân Pháp. Cứ cách vài ngày là có Tòa Án Nhân Dân đem ra đấu tố và hành quyết những kẻ mà họ bắt giam. Khiết bị khủng hoảng tinh thần trở nên điên khùng, ngày tối cứ tìm góc tối, nói lẩm bẩm một mình.
Chẳng bao lâu, Việt Minh đổi danh xưng Thanh Niên Tiền Phong thành lực lượng Nông Công Dân Cứu Quốc Đoàn. Hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh hăng hái xé lá cờ Thanh Niên Tiền Phong với nền vàng ngôi sao đỏ để treo lá cờ nền đỏ ngôi sao vàng và lá cờ nền đỏ nổi hình búa liềm vàng trên mái nhà.
Ít lâu, Pháp tái chiếm Nam Kỳ, chính phủ Việt Minh do Trần văn Giàu cầm đầu dời bản doanh về Vĩnh Long. Thế tái chiếm mau như chẻ tre. Cuối cùng lực lượng Việt Minh phải rút vào bưng biền. Chị Băng Thanh và Tuyết Anh rút vào Cái Ngang, thuộc huyện Tam Bình và thuộc Khu 8 do Việt Minh chiếm đóng. Bác Hai Chức  lại bị bọn Phòng Nhì (Phòng Tình Báo) của Pháp cho đòi lên thẩm vấn, bị đòn nhừ tử, may có người em vợ của bác có quen với tên quan ba  (đại úy) phó trưởng phòng can thiệp nên bác được phóng thích. Anh Khiết vẫn dở điên dở khùng, dở tỉnh dở mê. Cha của Quân vẫn bám riết mảnh đất nhà. Lính tập có xây đồn bót ở vàm rạch Cầu Kè đổ ra sông Long Hồ. Quân sau khi thi đậu bằng Thành Chung được dạy học ở trường nam tiểu học (thuở đó gọi là Ecole des Garçons) ở ngoài tỉnh, gần Đất thánh An Nam. Chàng không dám ở vùng nửa chợ nửa quê, tuy không mấy xa phố thị như các xóm Thiềng Đức, Bánh Phồng và Cầu Kè. Chàng mướn một căn phố ở dãy phố bà Thông Vịnh, gần  Đất thánh Tây. Cho nên ít khi Quân gặp Thu Cảnh. Mối tình của cả hai chỉ là mối tình phơn phớt như lớp phấn tuyết nhung phủ mượt mà trên lá môn ngọt, lá sen. Chưa bao giờ họ hôn nhau; họ chỉ quàng tay ôm eo lẫn nhau. Thu Cảnh vẫn ở xóm Cảu Kè. Dù cả hai chỉ cách nhau 3 cây số và cách chiếc cầu sắt lót ván bắc qua sông Long Hồ, chẳng có xa xăm dịu vợi chi mấy, nhưng chuyện xa mặt cách lòng làm sao tránh khỏi?
Quân cưới Kim Mai, con gái ông bà trưởng tòa Trần Hòa Phong ở chợ Tân Ngãi. Hôm nhóm họ, Thu Cảnh có qua bên nhà ba má Quân để phụ chị Hương Khuê cùng các bà các cô họ hàng chòm xóm bên đàng trai dọn cỗ. Lúc nào cô cũng tươi cười hồn nhiên. Gặp Quân, cô khen:
-- Em có gặp chi Kim Mai vài lần. Chị ấy đẹp, ăn nói mềm mỏng, dễ thương
quá, anh Quân à.
Nụ cười của Thu Cảnh mới thần tiên làm sao! Đó không phải là nụ cười an phận, mà là nụ cười vui sướng thật sự, hồn nhiện thật sự, không một bóng mây mặc cảm nào thoáng qua, không một chút mỉa mai chua chát nào làm vẩn đục.
Không hiểu chị Tuyết Anh luồn lỏi cách nào mà xin được cái giấy thông hành do nhà việc của làng Long Châu cấp cho để tung hoành trong chức vụ công tác thành (túc là công tác giao liên ở ngoài thị thành để cung cấp tin tức cho chiến khu). Có điều khác hơn bọn công tác thành khác vốn không có giấy thông hành nên chị ngang nhiên chường mặt ở thành phố, còn họ phải lẩn lút ở các xó xỉnh, hẻm hóc trong các xóm lao động, không có bọn lính kín (tức là bọn mật thám của Tây) hay bọn lính tập lai vãng rình rập. Trong khi những tên công tác thành khác lui tới thường xuyên ở các điểm nóng (les points chauds) trong đó có các vùng xôi đậu để móc nối dân chúng cho công tác dân vận thì chị Tuyết Anh công khai về nhà, công khai đi ra chợ tỉnh, công khai đi  xe đò qua các đồn bót được xây cất trên các tuyến đường bộ, hay công khai quá giang các ghe chở hàng hóa trên những sông rạch.
Chị Băng Thanh làm việc tại Quân Y Viện  với chức vụ viện truởng  ở Giáp Nước, cách chợ Tam Bình 8 cây số. Đó là một túp nhà lá gồm một căn hai chái giữa vùng lau sậy trùng điệp. Chính chị Tuyết Anh điều động toán liên lạc viên và toán công tác thành chở thuốc men, dụng cụ y khoa cùng những thức bồi dưỡng như sữa hộp, lương khô cho các thương bịnh binh của phe kháng chiến.
Về sau, trong các vùng bị Việt Minh chiếm đóng nổi lên phong trào cấy nhau do nhà bác học Liên-xô tên là Filatov sáng chế ra. Mảnh nhau được cắt từng mụn nhỏ, được ướp lạnh để sớ nhau tiết ra chất bổ dưỡng. Các y sĩ chỉ cần tiêm thuốc tê vào bắp thịt bịnh nhân, xẻ một vạch nhỏ để nhét mụn nhau vào. Mụn nhau cấy vào thịt kia sẽ đem vào cơ thể đương sự một nguồn dinh dưỡng phong phú.
Quân y viện do chị Băng Thanh trông nom có sắm đưọc cái tủ lanh, tuy chạy bằng dầu lửa mà cũng có nước đá như những cái tủ lạnh chạy bằng điện ở ngoài thành phố. Do đó, chị tha hồ tìm nhau của các sản phụ quanh vùng để ướp chất dinh dưỡng.
Dù sợi giây gia tộc có thiêng liêng mầu nhiệm cách mấy, nhưng Quân không thích thăm viếng chị Tuyết Anh hay trao đổi thư từ với chị Băng Thanh. Họ quá sốt sắng cảnh tỉnh Quân nên bỏ nghề mô phạm trong chế độ Thực dân để đi theo phe kháng chiến chống Pháp. Bởi đó, chàng không muốn liên lạc với họ vì chàng sao đành đập vỡ nồi cơm nuôi sống cái tiểu gia đình của chàng? Họ còn muốn đào tạo Quân trở thành một người trai thời đại mới trong chủ nghĩa đại đồng của Cộng Sản nên họ chì chiết thói cầu an của Quân , đay nghiến cho vỡ tan cơn u mê chịu ách nô lệ của Quân. Và dần dà  họ trở thành những kẻ xa lạ với Quân.
Chị Tuyết Anh  nhiếc móc:
-- Bọn phong kiến cùng bọn Thực dân Pháp và bọn Đế quốc Mỹ thường nhồi
sọ quốc dân mình bằng lối giáo dục củng cố chế độ bóc lột của chúng. Coi bộ em mê man lú lậm cái cặn bã của thứ chế độ ăn cướp, phi nhân ấy tới óc não và tủy xuơng rồi.
 Chị Băng Thanh thường gửi thư bằng cách trao tay cho cậu em họ mà chị âu yếm tặng cho cái hổn danh thập phần kiều diễm là tên bồi bếp của Thực dân. Thư  thuờng lập đi lập lại những câu ý mòn khuôn cũ như:
-- Chị muốn xây dựng em thành mẫu người mới, lành mạnh hơn. Thời thế
thay đổi không ngừng nghỉ. Cuộc tiến bộ sẽ loại bỏ những kẻ có óc vong nô, tinh thần chủ bại... Vận hội mới đã đến rồi, chúng ta chỉ cần chuẩn bị tinh thần để tham gia, nhập cuộc và đóng góp mà thôi.
Bởi có tinh thần cải tiến quá cao, bởi sự vụt chạt với vận tốc mạnh bạo cho nên hai chị cào xướt tơi tả tự ái nhiều người mà họ muốn canh tân cải tiến. Trong vòng họ hàng, trong giới quen biết, chẳng mấy ai ưa hai chị. Có kẻ dám công khai đả kích  hai chị lếu láo, dở hơi, khật khùng.Thu Cảnh lúc nào cũng lắng tai nghe hai chị dạy dỗ, nghe rồi thì bỏ qua. Mà dẫu cô có hưởng ứng lời xây dựng của hai chị thì không bao giờ cô tán dương hai chị, cũng không hề đem những gì mình nghe để xây dựng lại kẻ khác. Cô thường tháp tùng chị Tuyết Anh đi Giáp Nước để thăm chị Băng Thanh.
Tuy nhiên, hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh có một vài tông đồ hết lòng chiêm ngưõng và ái kính hai chị. Đó là Kim Mai, vợ của Quân và Kim Liên, người chị kế của Kim Mai. Anh Thiện Thành, chồng của chị Kim Liên đã đi theo phe kháng chiến, sau khi anh học sinh Trần văn Ơn bỏ mạng trong cuộc biểu tình chống chế độ Thực dân. Hiện giờ anh ta hoạt động ở vùng U Minh Thượng, gần miền Cực Nam của dải đất Nam Kỳ. Vùng nầy hoàn toàn do Việt Minh chiếm đóng và kiểm soát.
Chị Kim Liên nói xóc óc Quân:
-- Giặc tới nhà, đàn bà còn phải đánh. Vậy mà có nhiều anh chàng tuy có
lưng dài vai ộng, nhưng vẫn trùm chăn ngủ kỹ giữa lúc bao người cùng kê vai gánh việc nước non. Bởi họ mê  bơ, sữa, cacao  và chocolat  của tụi Thực dân Pháp nên đành giả điếc trước tiếng gọi của tổ quốc nhân dân. Vậy mà coi được hay sao?
 Kim Mai liếc xéo chồng rồi cười gượng gạo, đỡ lời cho chồng:
--Trượng phu của em vẫn đóng tiền nguyệt liễm đều đều cho Quân Y Viện do chị Băng Thanh điều hành đó chứ. Anh  ấy còn mua thuốc men và các dụng cụ băng bó thương tích để gửi vào trong ấy đều đều. Chồng em cũng muốn đáp lời sông núi, hưởng ứng cao trào dân tộc như anh Thành. Ngặt một nỗi, anh ấy là con một của ba má chồng em. Anh ấy đâu thể bỏ nhà theo bước anh Thành được.
Chị Kim Liên đã có hai đứa con gái với chồng. Chị mang thai ở U Minh Thượng, gần ngày lâm bồn mới chịu về nhà cha mẹ. Đẻ con xong, chị giao con cho mẹ mình và vú em rồi tìm cách đi U Minh Thượng để hú hí với chồng. Bà Trưởng tòa Phong thường than thở với ba má của Quân:
-- Con Hai Kim Liên đi thăm thằng chồng nó thường lắm. Lần thăm nào
cũng dài lâu, từ chuối trồng cho tới chuối trổ, nó mới chịu về nhà vợ chồng tôi. Lần đi, nó mang theo nào cà phê, sữa hộp, cacao, bơ lạt, bơ mặn, cá hộp, hầm dĩ, khô cá sưởu... Lần về, nó mang theo cái bầu lớn cỡ trái mít nghệ. Hễ đẻ đái vừa cứng cáp xong, nó giao con cho tôi rồi sắm sửa món ngon vật lạ để đi U Minh Thượng, nạp mạng cho chồng nó. Mỗi lần mang bầu về, nó cũng mang theo lời ăn tiếng nói nghe lạ hoắc: nào là chủ nghĩa, chế độ, phong trào, nào là vận hội mới, trường kỳ kháng chiến, chống ngoại xâm...  Quỷ thần thiên địa ơi, mấy ông soạn tuồng  trong gánh Hoa Sen chưa chắc có nhiều chữ nghĩa như nó. Mà cũng lạ, mỗi khi véo von những chữ nghĩa kỳ cục đó, mặt nó hừng hực lửa giận như mấy cô đào võ trên sân khấu Phụng Hảo, Nam Phi, coi tức cười lắm chị sui a.
Kim Mai chỉ quanh quẩn ở tỉnh nhà, họa hoằn lắm mới qua xóm Cầu Kè thăm viếng cha mẹ chồng. Nhưng qua chị Tuyết Anh và chị Kim Liên, nàng biết đủ chuyện ở Khu 8 và ở Khu 9. Mỗi ngày, Quân mua ba tờ nhật báo. Kim Mai thích đọc truyện đăng từng kỳ của Ngọc Sơn, Thanh Thủy, Nguyễn Ngọc Mẫn, Duơng Hà, bà Tùng Long... Nhưng nàng cũng ghé mắt ở những bài viết về thời cuộc, những mục tin chiến sự. Nhưng nàng không tin tưởng nhưng tin thắng lợi của phe Liên Hiệp Pháp. Theo nàng, tin trên báo đời nào chịu ghi trung thực tin thảm bại của phe nầy đâu. Cho nên nàng thường thỏ thẻ thuật cho chồng nghe những tin do bọn công tác thành trong số có chị Tuyết Anh hoặc tin do chị Kim Liên hóng chuyện cung cấp. Nhưng dù vậy, Kim Mai vẫn thích cùng chị Tuyết Anh và chị Kim Liên nghiền ngãm tin tức đăng trên báo rồi diễn tả và phổ biến với bạn bè và chòm xóm theo sự đoán mò, đoán ẩu, đoán vô căn cứ của họ. Có đêm, vì bị kích thích quá độ, nàng đang nằm cạnh chồng vụt ngồi phắt dậy, mái tóc xỏa rũ rượi, mắt tóe lửa, trông nàng giống mụ Chín điên ở ngoài bến đò. Nàng gằn giọng:
-- Để rồi anh coi, tên đầu sỏ Thực dân Pháp sẽ đại bại. Các mặt trận Cao
Bằng, Lạng Sơn, Na San, Sầm Nứa  đã tỉa rụng mấy danh tướng cùng mấy danh tá thiện chiến của bọn chúng rồi. Chẳng bao lâu, căn cứ Điện Biên Phủ  sẻ bị phe Việt Minh chúng mình bứng đi một cách  trơn tru dễ dàng như húp cháo lõng.
Mỗi tháng Kim Mai chỉ dùng 20 đồng đóng nguyệt liễm cho Quân Y Viện.
Nàng có cảm tuởng mình tích cực đóng góp vào đại cuộc bằng nửa cuộc đời, nửa thân thế của mình. Mỗi lần đóng nguyệt liễm như thế, nàng bắt chồng phải ngồi nghe nàng chửi bọn Thực dân Pháp và nghe nàng công kích thói hưởng thụ xa hoa của dân thành phố. Quân chỉ biết ừ ào cho vợ vui lòng. Kim Mai tuy chửi kẻ xâm chiếm quê hương tổ quốc (sic) thật hăng, nhưng nàng vẫn thích may mặc quần áo bằng tơ lụa nhập cảng từ bên Pháp, thích trang điểm bằng son phấn và nước hoa được chế tạo bên Pháp. Chị Kim Liên cũng thế. Chị thường trầm trồ cô em của mình:
-- Eo ơi, em mặc chiéc áo dài bằng mousseline màu thiên thanh điểm bông
trắng nầy thì các cô thiếu nữ tỉnh mình trở nên mờ lu bóng sắc, hiu hắt dung nhan ngay. Con nầy lại còn tô son Roses Camélias chói bóng nữa! Càn khôn vũ trụ ơi, nó dám xài nước hoa Chanel số 5 nữa. Chết hết các hảo hán anh hùng còn gì !
Kim Mai cười ngượng ngùng. Nàng chống chế để bao che cái tật đỏm dáng se sua của mình:
-- Có phải em thích ăn diện sặc sỡ đâu. Ngặt vì em đứng bán hàng ở tiệm
bazar của ba má tụi mình, nếu em ăn mặc quá đơn sơ, trang điểm lôi thôi thì khách hàng đương thèm tới tiệm.
Và nàng vẫn tiếp tục chửi Pháp một cách hăng hái, vẫn tiếp tục mua bơ, sữa, nước chấm, thực phẩm đóng hộp từ bên Pháp nhập cảng qua... Hễ thấy ai chiên cá chẻm, cá chim, cá thu, nàng cười nụ thật dễ thương:    
-- Cá chẻm chiên rưới tương hột, cá chim chiên và cá thu chiên sốt cà sao
bằng phết bơ Bretel lên ba món cá chiên nầy có nổi hương nổi vị hơn không? Một bà nội trợ sành ăn không bao giờ dùng nước mắm pha giấm ớt để dùng làm nước chấm cho loại cá chiên phết bơ Bretel mà phải dùng Maggi mới đúng điệu. Khi ăn mì, tôi không hề dùng xì dầu mà phải dùng Viandox mới hợp khẩu vị của tôi. Thật tình, ba má tôi bạc phước mới sanh một cô con gái kén ăn như tôi.
Giữa lúc phe phụ nữ trong vòng gia tộc của Quân và trong vòng thông gia của cha mẹ Quân đang xao xuyến bồn chồn trước thời cuộc thì Thu Cảnh ung dung sống bên mẹ cô và dì cô. Cô hay đau yếu, nhưng hễ khi bịnh vừa rút lui thì cô cần mẫn lo việc nhà, lo việc trồng trọt, đầu tắt mặt tối. Vậy mà cô vẫn nở một nụ cười ngây ngô, hạnh phúc, đầy nhiệt tình, âu yếm. Mỗi khi về Cầu Kè thăm nhà, Quân thuờng đến bờ rào cuối vườn để ngắm Thu Cảnh cuốc đất đánh vồng. Cô miệt mài làm việc, áo xống ướt đẫm mồ hôi, nhưng vẻ mặt vẫn tươi rạng dưới vành nón lá rộng. Từ khi thím Hương hào Hiệp bị bịnh lớn tim, chính Thu Cảnh phải cáng đáng việc làm vườn.
Công việc liên lạc và công việc công tác thành của chị Tuyết Anh bị bại lộ. Bác Hai Chức và cha của Quân phải chạy chọt ở nhiều nơi thân cận với chính quyền địa phương để chị khỏi bị đưa ra tòa, khỏi bị giam giữ.
Nhờ quen biết với các đấng tai to mặt bự trong quân đội Liên Hiệp Pháp và trong chánh quyền địa phương nên bác Hai Chức cứu được con gái khỏi bị đòn bọng và khỏi bị tù đày. Chị Tuyết Anh về nhà với thân thể gầy khô gầy héo, với tâm thần hoảng hốt. Đêm đêm, chị thường bị ác mộng quấy nhiễu. Chị ở luôn Cầu Kè, không vào Khu 8 nữa.
Thu Cảnh đi Giáp Nước thăm chị Băng Thanh. Rủi thay, trong một cuộc ruồng bố của bọn lính thuộc lực lượng cảm tử quân ( le commando), cô bị tên đội (trung sĩ) người Pháp hãm hiếp đến độ bất tỉnh. Hắn để cô nằm bên cạnh bàu nước có những cây điên điển hoa vàng viền quanh, có những dây rau nhút nằm vắt dài trên mặt nước. Chiều tối, chị Băng Thanh mới dám từ đám lá dừa nước chui ra đem Thu Cảnh ra ngoài vàm rạch Giáp Nước, đổ từng muỗng sữa vào miệng cô, hơ lửa và xoa bóp thân thể cô để cứu sống cô.
Thu Cảnh lần hồi bình phục, vẫn giữ cảm giác ê ẩm ở hạ bộ trong một thời gian dài. Từ đó hễ ai nói tục, nói trây về chuyện giao hợp là cô tái mặt, bỏ đi chỗ khác. Tuy nhiên, cô vẫn cười ngây ngô, vẫn giữ sắc mặt trong ngọc sáng gương, vẫn không hề giấu diếm tai nạn thảm khốc của mình. Rồi Thu Cảnh có thai. Thím Hương hào Hiệp và cô Ba Lan Chi khuyên cô nên đi phá thai để mai sau cô còn có cơ hội lấy chồng. Thu Cảnh tươi cười bảo:
-- Con sợ chuyện vợ chồng lắm. Con không phá thai đâu. Bộ má và dì
không sợ mất con khi gả con cho một kẻ ở phương xa hay sao? Rồi một khi biết được chuyện bất hạnh của con, anh ta sẽ đối xử với con thế nào đây?
Thu Cảnh vui vẻ đón đứa con lai, vui vẻ cưng yêu hoạn dưỡng con. Rảnh rang, cô qua nhà bác Hai Chức để săn sóc anh Khiết. Anh vẫn tìm góc tối để lầm bầm lảm nhảm một mình.
Sau hiệp Định Genève, chị Băng Thanh được lịnh xuống Năm Căn, địa điểm tập kết để  đưa bọn Việt Minh ra Bắc, có tàu Ba-lan chở họ tận bến Hải Phòng. Nhưng không hiểu sao chị lẩn trốn để được ở lại. Nhờ Quân giúp đỡ trong việc xin giấy tờ để hợp thức hóa  trở thành công dân miền Nam nên chị có thẻ kiểm tra dưới chính thể Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Chị ghi tên vào lớp đào tạo cô đỡ hương thôn tại Bệnh Viện Vĩnh Long. Khóa học kéo dài một năm, để rồi sau khi mãn khóa, chị có thể hành nghề tại các vùng ngoại ô và vùng phụ cận tỉnh nhà. Chị Tuyết Anh học cách tiêm thuốc và nghiền ngẫm mấy cuốn sách viết về cách trị các bịnh thông thuờng để hành nghề y tá lậu song song với nghề tiêm thuốc theo toa bác sĩ. Hai chị còn hành nghề cấy nhau nên kiếm được nhiều tiền. Quân được nghe Kim Mai bảo mỗi chị chỉ trong vòng bốn năm mà sắm được 20 lạng vàng, một đôi hoa tai nạm hai viên kim cương cỡ 5 ly rưỡi, ánh nước trắng tím.
Bỗng dưng cả hai đổ đốn ăn diện thật diêm dúa, rườm rà. Dường như tự bấy lâu, họ cố tình đè nén sự ưa thích ăn mặc điểm trang để đi làm việc nước. Nhưng chuyện nước non vẫn chưa ngã ngũ ra sao khi chính phủ Ngô Đình Diệm từ chối cuộc Tổng Tuyển Cử sau hai năm đất nước bị chia đôi. Chuyện nước non thống nhất đem lại vinh quang cho hai chị trở nên xa xôi mơ hồ trong khi cái sở thích chung của phụ nữ là được tô hồng chuốc lục để trở thành đối tượng quyến rũ đối với phái mạnh vụt trổi dậy bất ngờ ở họ. Những cơn thèm khát đàn ông, những ý nghĩ báo thù thuở sống vì nước vì dân mà phải chịu ăn mặc sồi vải, phải lánh xa son phấn,  nước hoa, nữ trang làm họ hơn lúc nào hết trở nên ham sống cho chính bản thân mình, thúc đẩy họ phải tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình. Họ cần phải bận bịu việc chăm sóc dung nhan để khỏi quên mình vẫn còn là phụ nữ, để được đàn ông mơ ước thèm thuồng, để  được sống theo cái bản năng mà Tạo Hóa dành riêng cho giống cái.
Hai chị vẫn tiếp tục nói xấu chính phủ quốc gia ở miền Nam, vẫn thóa mạ chủ nghĩa tư bản của Đế Quốc Mỹ (sic), nhưng vẫn không quên nhung gấm, phấn son, kim cương, ngọc thạch... Nhưng mà, tuổi xuân của họ đã trôi qua mất tự bao giờ. Gái không con thì vẫn chưa già theo số tuổi. Nhưng vì không chồng, không tình nhân, nên họ không được hưởng sự trao đổi tình cảm và nhục cảm với người khác phái để tìm gặp những giây phút mê ly nồng nàn thắm đượm. Như thế làm sao họ tươi mát, nuột nà được? Với thân xác không được tưới tẩm ân sủng của người yêu, với tâm tình táo bón, cả hai trình bày với người xung quanh một tấm chân dung chát ngầm và vẻ mặt cau có bất an.
Bao năm gối đất nằm sương ở chốn bưng biền, chị Băng Thanh mang chứng phong thấp. Chị lại còn mang chứng đau gan, hậu quả của chứng sốt rét kinh niên dù chứng sốt rét kia đã  được trị tuyệt nọc đi nữa. Còn chị Tuyết Anh trước đó vì bị đòn bọng khảo tra nên cũng nay ốm mai đau với những chứng bịnh khó hiểu.
Vợ chồng bác Hai Chức lần lượt qua đời. Anh Khiết vẫn còn điên dại. Nhưng tuy điên mà anh rất hiền, không hò hét chửi rủa ai bao giờ. Hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh vẫn săn sóc anh chu đáo. Còn Thu Cảnh đôi khi còn dắc anh đi tiêu, đi tiểu, lại còn can đảm  tắm gội cho anh, giặt rũ quần áo cho anh mỗi khi anh lỡ phóng uế trong quần.
Nhưng một hôm nọ, anh Khiết có vẻ bừng tỉnh cơn điên. Anh đòi hai chị mua cho anh một tập giấy dầy. Suốt 3 tuần lễ, anh cứ ghi ghi chép chép lăng nhăng lít nhít hết cả quyển vở bằng lối chữ rối rắm. Những bài viết thường đệm thêm những câu văn bí hiểm với những ngôn từ không có trong tự điển, trong các thổ ngữ, trong các tiếng lóng. Quyển vở vừa ghi chép ý tưởng của kẻ có vẻ vừa tỉnh cơn điên xong, thì anh từ trần, sắc mặt đẹp và trong sáng như sắc mặt thiên hần, nụ cười thập phần phiêu dật. Trong lúc phe phụ nữ gồm hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh, thêm hai chị Hương Khuê và Kim Liên cùng với Kim Mai xúm lại quanh giuờng anh than khóc kể lể thì Thu Cảnh nấu nước hương nhu  để cùng Quân tắm gội thi hài của anh, mặc quần áo đẹp cho anh, vẻ mặt cô hồng hào tươi nhuận như thường lệ. Cô khuyên mọi người:
-- Em rất vui lòng. Anh Khiết chết một cách sung sướng! Các chị nên mừng
cho anh ấy mới phải.
Vậy là ngôi nhà từ đường của ông Cố Hai thuộc về hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh. Đêm đêm, hai chị mở tập giấy của anh Khiết ra đọc, đoán mò từng câu văn. Rốt cuộc, họ tưởng chừng đó là những cái thai đề hay những bài sấm ký. Anh Khiết khi còn tỉnh táo và lành manh thì rất lu mờ nhạt nhẽo. Cơn điên loạn vùi anh trong bóng tối huyền bí, tạo cho anh nhiều huyền hoại lý thú. Bởi đó họ hàng và láng giềng cứ đoán già đoán non, cho rằng anh bị ma dựa quỷ ám hoặc bị hồ ly tinh hớp hồn. Và rồi cái chết cùng tập di cảo của anh dệt thêm cho những thiên huyền thoại ấy nhiều đường chỉ rùng rợn, thêu thêm những bông hoa quái đản, kích thích óc tưởng tượng những người quen biết.
Căn nhà rộng với hai cô gái già. Xế xế, gặp lúc nhàn rỗi, họ nhìn bóng nắng vàng úa ngả dài qua sân, lắng tiếng gió xao xuyến ở ngoài vườn và trên cây hoàng lan, trên cây bằng lăng, ngọc lan, mộc lan bên hè. Mặt họ buồn bã, lãnh đạm. Nhưng mỗi khi nhận một thiệp cưới trong giới quen biết, mặt họ vụt trở nên thách thức, ngạo mạn một cách khó hiểu.
Rồi có tin đồn chị Băng Thanh dan díu với chú Chệt Xương Ký có chành lúa ở ngoài Càu Dài, túc là ở vàm sông Long Hồ đổ ra sông Cổ Chiên; ông ta vốn góa vợ từ  2 năm qua. Lại có tin đồn chị Tuyết Anh tằng tịu với thầy Hương thân Mẹo. Hư thực vốn mờ mờ nhân ảnh nên Quân không dám tin lời đồn đãi. Chàng vẫn thấy ngôi nhà từ đường của ông Cố Hai lạnh tanh, vẫn thấy hai chị luôn xéo xắt cay cú như tự xưa giờ... Rõ ràng họ không hạnh phúc. Chị Băng Thanh lại có cặp mắt ác độc: nhìn bất cứ cô gái nào, chị cũng thấy họ nếu không đĩ lộ thì cũng đĩ ngầm. Chị chì chiết:
-- Coi có được không chớ! Con Bạch Lựu hễ thấy bóng dáng đàn ông là nó
bắt đầu chỉnh đốn bộ điệu : giọng nó đang ong óng điếc tai điềc đít bỗng êm dịu lạ kỳ. Khi nói chuyện là nó ưa chớp lia chớp lịa cặp mắt. Nó lại còn làm ra dáng điệu khép nép nữa chớ. Cái đoan trang thùy mị giả tạo đó vốn là thối thân tánh đĩ ngầm, chớ còn gì nữa ? Còn con Ngọc Nga hễ mỗi khi bạn trai của anh nó tới viếng nhà là nó thấp thoáng ra vào, ỏn a ỏn ẻn chọc bọn họ cười, rồi thết đãi trà bánh cho họ ăn ngập mặt lút mày. Con nầy thuộc hạng đĩ lộ, lẳng sao mà lẳng nhức lẳng nhối, không hề che giấu cái thói muốn chồng thèm trai của nó.
Còn chị Tuyết Anh hễ gặp anh chàng nào ở ngoài chợ hay ở dọc đường dọc sá mà chịu tiếp chuyện với chị hay ngó chị chăm chú là chị đổ hô đương sự si mê chị. Chị véo von :
-- Quỉ ơi, hôm qua, tôi vừa mặc áo nhung tím bước ra khỏi cổng thì gặp thầy
ký Đằng. Sum la vạn tượng ơi, thầy ta ngó tôi một cách khờ khạo đờ đẫn... khiếp lắm, hãi lắm, bà con ơi! Thấy cặp mắt gian tà dịch vật của đương sự, tôi rét lắm, run lắm! Trước khi mau chân bước đi, tôi thấy rõ ràng thầy ta thất vọng, không sao che giấu được. Còn thầy giáo Bính, mười lần đủ chục, khi y ta gặp tôi là cặp mắt y ta lộn thinh như mắt cá uơn. Bởi y ta quá si mê ngốc nghếch tôi nên miệng lưỡi y ta tê liệt, không nói được câu nào. Trông cũng tội ! Bởi không thương yêu  say đắm y ta nên tôi không thèm an ủi khuyên lơn y ta đó thôi.
Cũng có vài lần, Quân gặp chú Chệt Xương Ký hoặc thầy Hương thân Mẹo tại nhà hai chị. Chệt Xương Ký hiền lành, phúc hậu. Còn thầy Hương thân Mẹo thì lực lưỡng, khôi ngô. Vậy thì lời đồn đãi về chuyện tình cảm riêng tư của hai chị không hẳn là vô căn cứ. Nhưng cớ sao gương mặt hai chị vẫn nghiêm khắc, cái nhìn của họ vẫn lãnh đạm, nụ cười của họ vẫn gượng gạo? Càng lớn tuổi, họ càng khó tánh hơn, càng chăm sóc nhà cửa sạch bóng như lau như ly. Một cọng rác là kẻ thù của họ. Một hột bụi là kẻ nghịch của họ. Không có tôi tớ nào ở với họ lâu. Không ai có thể làm gì vừa lòng họ.
Chị Băng Thanh và chị Tuyết Anh rất yêu thương Thu Cảnh, thường giúp đỡ cô. Ngoài thuốc thang, tiền bạc, họ còn săn sóc cô mỗi khi cô đau yếu vì dù sao họ cũng biết cách trị liệu hơn dì Ba Lan Chi. Thu Cảnh hễ mỗi khi gặp cơn trái gió trở trời là ngã bịnh. Thân cô càng mỏng, vai cô càng gầy, nhưng cô can đảm gánh vác việc mưu sinh phụ giúp dì Ba Lan Chi như gánh vác cả hệ lụy bằng một thái độ dũng cảm, bằng một quan niệm khắc kỷ tuyệt vời với nụ cuồi thanh thản bất tuyệt mỗi khi cô tiếp xúc với bất cứ ai. Đó có phải chăng là thái độ đối phó hiếm có của cô trước cái ác quả mà cô đã tạo cái ác nghiêp từ hồi iền kiếp và cô chỉ có cách là phải trả cho sạch nghiệp trong kiếp nầy?
Trong cuộc nội chiến Quốc Cộng,  hai đứa con trai của Quân đã bỏ mình trên chiến truờng An Lộc, trong mùa hè đỏ lửa, năm 1972. Kim Mai trở nên ngốc ngếch  khờ dại vì hai nhát búa định mệnh thảm khốc giáng xuống đời mình một cách thô bạo. Chính Thu Cảnh săn sóc nàng như săn sóc một đứa trẻ. Cô khuyên lơn an ủi nàng, nhưng đầu óc và thần kinh nàng trở nên tê liệt rồi. Năm sau, Kim Mai từ trần.
Trước ngày miền Nam rơi vào tay Cộng Sản một tháng, Quân chết vì binh hoại huyết. Trong những ngày nằm chờ chết, không hiểu sao chàng nghĩ rất nhiều về hai người chị họ của mình? Và về Thu Cảnh nữa. Cuộc đời về sau của hai chị vẫn là một chuỗi buồn thảm, hết thất vọng nầy sang thất vọng khác. Hai chị đi làm lịch sử, nhưng không có tài khua động lịch sử. Lý tưởng không giúp họ tạo được một danh vọng lẫy lừng nên họ đâm ra dở hơi. Chiến tranh giữa Pháp và Việt Minh kết liễu, một trang đời của họ bị lật qua. Tuổi xuân của họ đã mất. Họ không tìm được ý trung nhân, không được làm vợ và làm mẹ đúng theo hoài bão của đa số phụ nữ.
Và Thu Cảnh đó, ai biết được cô nghĩ gì, có nhân sinh quan ra sao ? Nhưng tại sao cô vẫn giữ được nụ  cười trước sau như một ? Tuy tự hỏi, nhưng Quân không cần câu trả lời, không cần câu giải thích. Do một trực giác kỳ diệu, Quân tin rằng Thu Cảnh luôn luôn hạnh phúc. Mà thật vậy, dù cô có sức khỏe mong manh, dù cô phải chật vật kiếm sống, nhưng lúc nào vẻ ngây ngô hồn nhiên cùng thần thái phiêu hốt thoát tục của cô cũng đem lại cho người xung quanh một một niềm an lạc tươi mát chưa từng có.
Thím Hương hào Hiệp qua đời. Cô Ba Lan Chi vẫn bán bánh xếp bánh xùng như cũ. Con Lan Hương, ái nữ của cô đã ngồi lớp Đệ nhất A trường Tóng Phước Hiệp và thi đậu Tú Tài I. Vào ngày 28 tháng 4 năm 1975, nó theo người tình Trung Úy Hải Quân di tản qua đảo Guam. Ít lâu, nó cùng chồng bảo lãnh mẹ qua Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ O.D.P. Thằng Âu, con  trai của Thu Cảnh học chưa hết phần Trung học Đệ nhất cấp thì quốc nạn xảy đến. Nhưng nó cố gắng chạy giấy tờ theo diện con lai, rồi cũng được cùng mẹ sang định cư bên Pháp. Song đó là  hai chuyện về sau, bắt đầu sang thập niên 80.
Trước đó, chị Băng Thanh cho Thu Cảnh mượn tiền mua tiểu thuyết về cho mướn. Nhưng hễ rảnh rang là Thu Cảnh chăm bón mảnh vườn nhà. Đó không chỉ là chuyện để cô kiếm hoa lợi, mà là thú giải trí của cô. Từ bẩm sinh, cô yêu cây cỏ cùng thiên nhiên Tạo vật. Đã bao phen cô bị bịnh thập tử nhất sinh, nhưng cô không chết. Cô vẫn sống để gửi cho người xung quanh và cho cuộc đời nụ cười bát ngát niềm lạc quan và sáng ngời ý nghĩa âu yếm, thanh thản của mình. Cô có thể cuốc đất đánh vồng, săn sóc vòi dưa dây mướp trong lúc cô đang hâm hấp sốt. Vừa khi cơn bịnh trên đà rút lui, dù tay chân còn yếu ớt, cô vẫn ra vườn để khơi ngòi, tháo nước đọng tràn lênh láng khỏi vũng ra ngoài dòng rạch, để cứu mấy cây đu đủ khỏi chết vì úng thủy. Cây ăn trái và rau dưa do cô châm bón đều sum suê thịnh mậu. Thằng Âu do mẹ hoạn dưỡng chu đáo nên có lưng dài vai rộng, thể chất cường tráng, lành mạnh. Nó đẹp trai, ăn nói có duyên, lại chăm học, và không bao giờ giấu diếm cái căn nguyên éo le của mình cùng cái thảm kịch đen tối của  mẹ mình.
Nghề cấy nhau chỉ tồn tại 4 năm đầu trong chế độ Đệ nhất Cộng Hòa. Từ năm 1956, những kẻ tin tưởng phương pháp dưỡng sinh kỳ quặc đó lơi dần và âm thầm xa lánh hẳn.. Nhưng hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh vẫn không đầu hàng cảnh ngộ. Họ mướn bằng cấp của một mụ dược sĩ ở Cầu Bà Điều để mở nhà thuốc Tây ở bên hông chợ tỉnh. Họ vẫn làm ra tiền. Họ cũng có bạn trai để giải sầu cô độc. Chú Chệt Xương Ký tâm sự với Quân:
-- Cô Hai tuy không lược lẹp, nhưng ngộ thương cổ lắm lớ. Hễ cổ chịu là ngộ
cưới cổ liền lớ. Không piết tại xao cổ dùng dằng dục dặc không chịu lấy chồng Chệt lớ. Chệt như ngộ cũng có ăn học tới pực Kao Chung (Cao Trung), cũng piết cưng dợ lắm chớ. Chồng Chệt piết cưng dợ, có cơ xở mần ăn thi pảnh cũng như chồng Duyệt Nàm (Việt Nam) lớ.
Thấy Hương thân Mẹo buồn bã bảo Quân :
-- Tuy tôi lớn hơn cô Ba 9 tuổi, lại không giàu, nhưng tôi có cơ sở làm ăn,
có lợt tức hằng tháng. Bởi cô ấy là kẻ tân học, còn tôi chỉ là một cựu hương chức trong ban hội tề hồi trào Tây thì kể như dân đàng cựu rồi. Cho nên cô Ba không chịu làm vợ tôi, mà lại chọn  cách sống già nhân ngãi non vợ chồng với tôi để khỏi hổ mày thẹn mặt với họ hàng lối xóm.
Rõ ràng hai chị không hạnh phúc trong tình yêu vì hạnh phúc ấy không ở chỗ hai chị ngước lên cao mà ở chỗ hai chị phải cúi xuống để tầm nhìn được xuyên vào nơi sáng suốt và thấu đáo hơn. Cho nên chữ phúc  không hề hiện hữu suốt chiều dài của cuộc đời họ.
Về sau, chị Băng Thanh có thêm nghề xem chỉ tay, chị Tuyết Anh có thêm nghề bói bài Tarrot. Họ làm chơi mà ăn thật. Tiền bạc đối với họ sao mà dễ kiếm. Còn một tấm chồng tân học và hào hùng như chàng Dũng trong quyển Đoạn Tuyệt của Nhất Linh chắc hai chị chỉ tìm được ở kiếp lai sinh nếu kiếp nầy nếu hai chị tu kỹ.
Sáng nào, hai chị cũng thuật cho nhau nghe những cơn chiêm bao trong đêm qua của mình, rồi mở cuốn Đoán Điềm Giải Mộng  ra nghiên cứu. Họ thường đi chùa Bảy Phủ ở Cầu Đào (thờ Đức Quan Thánh Đế Quân), chùa Minh Hương ở Cầu Dài (thờ Đức Thiên Hậu) để xin xâm. Họ không mấy tin tưởng nghề xem chỉ tay và nghề bói bài của mình. Đôi khi họ ngồi xe thổ mộ lên Cầu Cái Cam để cầu đồng cốt, để biết việc tương lai gần cũng như việc tương lai xa.
Càng về già, hai chị càng thích là nũng với cuộc đời. Mỗi khi Quân tới thăm, chị Băng Thanh thế nào cũng có thêm vài chứng bịnh mới để kể cho chàng nghe. Nếu Quân tỏ vẻ quan tâm săn sóc tới chị, dù bằng lời nói phất phơ đi nữa cũng đủ làm cho gương mặt chị hoan hỉ rạng ngời. Và chị thết đãi cho chàng cơm gà cá gỏi hay bánh trái ngon lành.
Còn chị Tuyết Anh có tật tự kỷ ám thị kỳ quặc. Hễ ai nói tới bịnh gì thì chị có cảm tưởng cơ thể mình ngầm chứa mầm mống của chứng bịnh ấy. Hễ nghe nói tới bịnh lao phổi, chị có cảm tưởng ngực mình nặng trìu trịu, phổi mình đang rách te tua, mình sẽ ho rách cổ họng và sắp thổ huyết dầm dề chứ không chơi. Hễ nghe ai nhắc tới những người cùi là chị có cảm tưởng da thịt mình vừa đau vừa ngứa ngáy, sắp nứt nẻ để nước vàng và máu độc chảy ra lai láng.
Trên giường chờ chết, Quân ngẫm nghĩ rất nhiều về cuộc sống của những kẻ xung quanh. Chẳng ai mà chẳng có nỗi khổ tâm riêng. Nhưng đối với cái khổ, người đời có một trong hai thái độ tương phản qua Thu Cảnh cùng qua hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh. Chàng mường tượng lại nụ cười của Thu Cảnh. Và khi khép rèm mi lại, chàng thấy từ nụ cười của cô, một nguồn ánh sáng trong mát chiếu lên khuôn mặt cau có hậm hực của hai bà chị họ mình. Lòng chàng vụt êm ả và sảng khoái lạ thường. Chàng như thấy dưới nguồn chiếu rọi ở nụ cười Thu Cảnh, vẻ đau khổ và bất an của hai chị phai dần để trở hành khuôn mặt xán lạn dịu hiền chưa từng có. Rồi trên khuôn mặt hai chị, nụ cười tươi tắn và thoải mái nở rộng để hòa nhập vào nụ cười thần tiên của Thu Cảnh.
Quân chết đi, thất khiếu chàng xuất huyết dầm dề. Nhưng mà lạ chưa, trên khuôn mặt khắc khổ của chàng, nét mỉm cười đẹp tuyệt vời như ghi dấu ấn giấc ngủ thiên thu của chàng đầy những cơn chiêm bao lộng lẫy.
 
Hồ Trường An

Về Quê * Trần Văn Lương

Về Quê
 
Hôm đó là ngày thứ năm. Phải, ngày thứ năm cuối cùng của tháng 11, ngày lễ Tạ Ơn của nước Mỹ. Tôi không phải đi làm, suốt cả ngày hết ăn rồi lại nằm, hết nằm rồi lại xem Ti Vi, cố gắng tận hưởng những giờ phút nghỉ ngơi hiếm hoi ở cái đất nước văn minh cơ khí này. Chợt nhìn đồng hồ thấy đã gần 5 giờ chiều, tôi vội vàng đi thay quần áo để ra bờ biển làm thủ tục chạy bộ hàng ngày. Cách đây mấy tháng, từ lúc bà xã tôi tình cờ phát giác ra cái vòng số hai của tôi càng lúc càng lớn ra và tôi càng lúc càng có triển vọng đoạt giải nhất cuộc thi lực sĩ "bụng nở ngực thon", thì bà ấy, ngoài việc cấm tôi ăn các đồ béo, lại còn âu yếm ra lệnh cho tôi mỗi ngày: sau khi từ sở làm về, phải ra bờ biển gần nhà chạy bộ ít ra là 4 dặm để tiêu đi bớt mỡ. Tôi kính cẩn tuân lời (các cụ dạy rằng: "Có 3 loại tội bất hiếu, không tuân lời vợ là tội lớn nhất". Tôi xin chép lại nguyên văn chữ Hán để quý vị tiện đường tham khảo: "Bất hiếu hữu tam, bất tuân thê lệnh vi đại"). Và từ đó, bất kể nắng mưa sáng tối, cứ vào khoảng 5 giờ chiều là những người đi dạo tại bờ biển Newport Beach lại thấy một anh chàng Việt nam ỳ à ỳ ạch bê cái thùng nước lèo của mình từ Newport Pier tới Balboa Pier và trở lại. Đoạn đường chiến binh dài đúng 4 dặm!
Bà xã tôi thấy tôi bước ra cửa bèn nhẹ nhàng bảo:
- Hôm nay là ngày Lễ Tạ Ơn, em cho phép anh nghỉ ở nhà một bữa.
Tiếc công mặc quần áo và thoáng thấy mấy rổ đồ giặt mới lấy từ máy sấy ra chưa kịp gấp, tôi vội vàng vừa đi vừa bảo:
- Thôi em ạ, thể dục phải chuyên cần mới có kết quả. Nghỉ được một ngày thì sẽ nghỉ mãi. Anh ra chạy chừng một tiếng sẽ về ngay.
Bà xã tôi dặn với theo:
- Anh ráng về sớm để ăn cơm với các con.
Tôi hấp tấp gật đầu và dong xe đi ra bờ biển.
Thực tình trong bụng hôm nay tôi cũng muốn ở nhà cho khoẻ, nhưng không hiểu có một mãnh lực nào thôi thúc tôi phải cương quyết đi cho bằng được. Chả lẽ... vì bà cụ chăng ? Không có lý! Tôi vừa lái xe vừa thắc mắc mà không tìm ra câu trả lời. Có một điều gì đó mà sau này tôi mới hiểu được.
Vừa đặt chân xuống bờ biển, tôi đã thấy ngay bóng bà cụ đổ dài trên bãi cát sát chân trạm cấp cứu số 13. Trạm cấp cứu này nằm giữa đoạn đường chay bộ của tôi. Tôi thở phào nhẹ nhõm, lòng bỗng thấy mừng thầm mà không hiểu tại sao. À, thế là hôm nay bà cụ cũng ra hóng gió.
Không biết bà cụ đã bắt đầu mỗi chiều ra ngồi ở chỗ đó từ ngày tháng nào. Tôi chỉ biết là kể từ lúc tôi thực hiện chương trình thể dục bất đắc dĩ này thì tôi đã thấy cụ ngồi đó rồi. Mỗi ngày cụ đều đến trước tôi, và khi tôi ra về thì cụ vẫn còn ngồi đó.
Đó là một bà cụ Á châu vào khoảng trên dưới 80 tuổi mà tôi nghĩ là người Việt nam. Tôi chỉ đoán thế dựa trên cách ăn mặc của cụ vì chưa bao giờ tôi được cụ mở miệng ban cho một câu, hoặc nhìn một cái. Mỗi ngày lúc chạy ngang qua cụ tôi đều nhìn cụ gật đầu chào, mong có cơ hội làm quen, vì nhìn cụ, tôi lại liên tưởng đến mẹ tôi cũng cỡ tuổi như cụ đang còn ở tại quê nhà. Đáp lại, cụ chỉ lạnh lùng khẽ gật đầu, mắt vẫn đăm đăm nhìn ra xa như muốn tìm kiếm cái gì bên kia bờ Thái Bình Dương. Cái gật đầu thật là nhẹ, phải để ý lắm mới thấy được. Và cũng chưa bao giờ tôi chạm được ánh mắt cụ. Cặp mắt buồn xa xôi dưới vầng trán nhăn nheo luôn luôn hướng ra khơi. Nhiều lúc tôi muốn tìm cách gợi chuyện với cụ nhưng cuối cùng lại thôi vì tôn trọng sự kín đáo của cụ. Mối liên hệ giữa tôi và cụ chỉ có thế, giới hạn trong hai cái gật đầu trong lần đi và trong lần về. Nghi thức xã giao này được lặp đi lặp lại mỗi ngày trong mấy tháng trời qua.
Hôm nay cũng thế, khi đến gần cụ tôi lại nhìn cụ cúi đầu chào, hai chân vẫn tiếp tục chạy.
- Chào cậu!
Tôi nghe như bị điện giật, hai chân khựng lại. Tôi vội quay nhìn cụ và ấp a ấp úng:
- Kính chào cụ. Cụ là người Việt nam? Cụ nhìn tôi khe khẽ gật đầu, nét mặt vẫn lạnh lùng không lộ chút tình cảm nào. Nhưng khi cụ nhìn tôi, tôi thoáng thấy trong ánh mắt cụ ẩn hiện một chút hóm hỉnh như có vẻ giễu cợt sự ngây ngô của tôi: người ta đã nói "Chào cậu" mà mình lại còn hỏi "Cụ là người Việt nam?"
Tôi lúng túng tần ngần chưa biết phải làm gì thì cụ đã bảo:
- Cậu ngồi xuống đây mình nói chuyện một chút. Hôm nay tôi có ý đợi cậu.
Tôi rón rén ngồi xuống cát, cách xa cụ độ một sải tay. Tôi đi từ ngạc nhiên này qua ngạc nhiên khác, không biết bà cụ đợi tôi có chuyện gì.
Như hiểu ý tôi, cụ ôn tồn bảo, giọng nói đã bớt đi một tí lạnh lùng:
- Cậu ngạc nhiên lắm phải không? Cậu ngạc nhiên là phải vì điều này hơi đột ngột đối với cậu. Tôi muốn gặp cậu chiều nay để từ giã cậu và cám ơn cậu đã chào hỏi tôi trong mấy tháng qua. Hôm nay là ngày cuối tôi ra đây. Mai tôi về quê.
Tôi nghĩ thầm trong bụng, bà cụ có vẻ nhà quê nhưng lại thông minh đáo để và nhận xét người hết sức sâu sắc. Bây giờ mới có dịp quan sát kỹ cụ, tôi bỗng thấy nét mặt cụ có vẻ quen quen, nhưng không nhớ ra là đã thấy cụ ở đâu trước khi gặp cụ nơi bờ biển này. Tôi vội vàng hỏi:
- Cụ về Việt nam?
Tôi lại hỏi một câu ngớ ngẩn nữa. Cụ chậm rãi gật gù , mắt không thèm nhìn tôi:
- Vâng, về quê... về Việt nam... về làng... về Hải Dương... Cậu có biết Hải Dương ở đâu không nhỉ?
Và không đợi tôi trả lời, cụ nói tiếp:
- Hải Dương là quê của tôi đấy. Ngày mai người con cả của tôi sẽ đưa tôi về đấy. Tôi xa quê từ năm 54, bây giờ mới có dịp về. À, cậu trông thấy tôi quen quen phải không ? Bà cụ của vợ cậu lúc còn sống thường hay đi chùa với tôi và tôi nhớ hình như có thấy cậu đôi lần lúc cậu lên chùa đón cụ ... Ông nhà tôi ngày xưa làm Tuần phủ nên mọi người đều gọi tôi là cụ Tuần, mãi rồi tôi quên hẳn tên thật của mình.
À ra thế. Cụ Tuần. Hèn gì thấy mặt bà cụ quen quen. Và tôi cũng nhớ ra lúc còn sống, mẹ vợ tôi cũng có nhắc đến tên các bà bạn đi chùa của cụ, trong đó hình như có tên cụ Tuần. Tôi bỗng thấy hơi gờm bà cụ. Sao cụ biết tôi thắc mắc như thế mà trả lời? Tôi bèn đưa đẩy:
- Thảo nào mà cháu thấy cụ quen quen. Hóa ra cụ là bạn của mẹ cháu. Thế thì mình là người nhà cả.
Cụ cười nhẹ:
- Chính vì thế mà tôi muốn gặp cậu hôm nay để nói chuyện lần cuối và từ biệt cậu, kẻo mai kia cậu lại thắc mắc không biết cái bà cụ mặt mày lạnh lùng khó đăm đăm kia đi đâu mất rồi.
Tôi đỏ mặt, không ngờ bà cụ lại nói đúng ý nghĩ của tôi. Quả thật trước kia, sau mỗi lần chào cụ và chỉ nhận được một cái gật đầu như gió thoảng của cụ, tôi hay lẩm bẩm trong bụng: sao mặt mày bà cụ lại lạnh lùng khó đăm đăm thế!
Cụ nhìn tôi tiếp tục:
- Tôi theo thằng con cả qua đây năm 75, tính đến nay đã được 20 năm. Ngày mai là lần đầu tiên tôi về quê. Và tôi sẽ ở luôn bên Việt nam, không qua đây nữa. Ấy, cậu đừng hỏi tại sao. Lá rụng về cội. Người già nào cũng muốn được chôn xác ở quê cha đất tổ. Tôi đã muốn về từ mấy năm trước cơ, nhưng vì công việc làm ăn kỳ này con trai tôi mới đưa tôi về được. Muộn còn hơn không ...
Rồi cụ thao thao kể cho tôi nghe về gia đình cụ, về cụ ông, về cậu con trai, về đời sống của cụ tại Hoa kỳ, về việc cụ mỗi chiều ra bờ biển vọng về phía bên kia bờ đại dương để nhớ tới quê nhà ... Trong câu chuyện, hình như cụ đoán trước được các câu hỏi tôi định đặt ra và cụ đã trả lời trước khi tôi kịp mở miệng. Thành ra trong suốt hơn một tiếng đồng hồ tôi không chen vào được một chữ.
Cụ bỗng chép miệng, thở dài và bảo:
- Thôi trời tối rồi, cậu về nhà đi, vợ con cậu đang chờ cơm. Câu chuyện tôi định kể cho cậu hôm nay chỉ có thế. Chúc cậu ở lại Mỹ mạnh giỏi, mai tôi về quê. Cậu về trước đi. Tôi nán lại thêm một tí rồi sẽ về sau.
Tôi ngỏ ý muốn đưa cụ về nhà nhưng cụ từ chối. Tôi đứng dậy từ giã cụ, miệng lí nhí nói ít lời cầu chúc cho cụ thượng lộ bình an. Nhìn thấy vẻ bùi ngùi lưu luyến của tôi, cụ cười bảo:
- Cậu đừng buồn vì nghĩ rằng sẽ không bao giờ gặp lại nhau . Mọi sự trên đời đều không có gì đi ra ngoài chữ "duyên". Nếu còn có duyên với nhau thì cậu sẽ có dịp gặp lại tôi, e rằng lúc đó cậu lại không thích.
Cụ đưa tay khoát vẫy tôi đi. Không dám nói gì hơn, tôi nhìn cụ lần cuối và từ từ quay đi về hướng đậu xe, lòng cảm thấy hơi bùi ngùi khi phải chia tay với cụ.
Và kể từ lúc đó, chẳng bao giờ tôi thấy lại bà cụ nữa trong những lần chạy bộ của tôi. Hy vọng cụ sung sướng ở quê nhà.
 
---o0o---
 
Một năm sau, cũng vào dịp lễ Tạ Ơn, một người Việt nam mới vào làm chung hãng với tôi có nhã ý mời các đồng nghiệp người Việt trong sở tới nhà để chung vui nhân dịp sinh nhật 16 tuổi đứa con gái đầu lòng của anh. Bà xã tôi vì bận việc nên tôi được phép đi dự tiệc một mình.
Vì tới đúng giờ nên tôi là người khách đầu tiên. Chủ nhà niềm nở đưa tôi vào phòng khách nhâm nhi tí rượu trong khi chờ đợi các vị khách Việt khác điều chỉnh đồng hồ của họ. Căn phòng khách được trang hoàng một cách đơn giản nhưng rất lịch sự và tươm tất. Thoáng ngửi thấy mùi hương, tôi quay nhìn về phía cuối phòng và choáng váng khi thấy bức ảnh trên bàn thờ ẩn hiện sau làn khói mỏng của nén hương. Tôi sững sờ vì rõ ràng đó là hình bà cụ tôi gặp ngoài bờ biển. Vẫn khuôn mặt "lạnh lùng khó đăm đăm" đó, vẫn cái nhìn xa vắng pha lẫn một tí giễu cợt đó, không thể nào sai được. Tôi vội hỏi anh Phong, người chủ nhà:
- Có phải đó là hình của cụ Tuần không?
Anh Phong gật đầu:
- Vâng, đó là hình của mẹ tôi, ở chùa người ta hay gọi cụ là cụ Tuần, vì ngày xưa ông cụ của tôi làm Tuần phủ. Sao anh lại biết mẹ tôi?
Tôi vội vàng nói chữa:
- Tôi biết cụ vì ngày xưa cụ cùng đi chùa với bà cụ mẹ vợ tôi.
- À ra thế! Thì ra mình là người nhà cả, anh hân hoan gật gù.
Tôi chết điếng trong lòng, không ngờ mới gặp nhau năm trước mà cụ đã mất rồi. Tôi lắp bắp:
- Cụ mất lúc nào vậy anh Phong?
- Cũng được hơn 5 năm rồi đó anh.
Câu trả lời của người chủ nhà làm tóc tai tôi muốn dựng đứng hết cả lên. Tôi lặp lại như một cái máy:
- 5 năm . . .
Không để ý đến vẻ khác lạ của tôi, người chủ nhà kể tiếp:
- Phải, mẹ tôi mất cách đây cũng đã hơn 5 năm, mà mãi đến năm ngoái sau ngày Lễ Tạ Ơn tôi mới có dịp đem tro của cụ về an táng tại quê nhà ở Hải Dương, đáp ứng được nguyện vọng cuối cùng của cụ.
Tôi tái người nhớ lại lần nói chuyện giữa tôi và cụ đã xảy ra vào đúng ngày lễ Tạ Ơn năm ngoái, một ngày trước khi con trai cụ đưa tro cụ về Việt nam.
Chúng tôi hai người im lặng giây lát như để tưởng niệm người quá cố. Chủ nhà chầm chậm ngước mắt nhìn về phía bàn thờ. Và lần này thì đến phiên anh ngạc nhiên hốt hoảng. Anh lẩm bẩm:
- Quái lạ, ai thay bức hình đấy nhỉ ?
Tôi quay đầu lại nhìn bức hình và cũng ngạc nhiên không kém. Rõ ràng là ít phút trước đây nét mặt người trong hình lạnh lùng nghiêm nghị, môi mím chặt thế mà bây giờ trong hình bà cụ đang cười tươi, để lộ gần nguyên hàm răng đen bóng, hai con mắt lá răm hiện đầy vẻ tinh nghịch.
Người chủ nhà hướng về phía vợ đang lui cui trong nhà bếp hỏi lớn:
- Em ơi, có phải em thay hình của mẹ trên bàn thờ không ?
Người vợ lên tiếng nói vọng ra trong khi vẫn tiếp tục làm đồ ăn:
- Em đâu biết hình ảnh gì đâu. Anh là người giữ các bức ảnh mà.
Người chồng hừ nhỏ một tiếng trong cổ, nét mặt đầy vẻ bối rối băn khoăn. Khi mắt anh chạm phải tia nhìn dọ hỏi của tôi, anh vội giải thích:
- Anh biết không, khi mẹ tôi mất, chúng tôi có phóng lớn và làm khung hai bức ảnh của cụ vì lúc đó phân vân không biết chọn bức nào để thờ. Một bức có hình cụ tươi cười như anh đang thấy đây, và bức kia thì mặt cụ nghiêm trang không cười. Sau khi cả gia đình hội ý với nhau, chúng tôi chọn bức không cười để đặt trên bàn thờ và cất bức kia vào tủ. Tôi là người phụ trách bàn thờ và giữ hai bức ảnh vì tôi là con cả. Tôi nhớ là chỉ có chưng bức hình không cười lên bàn thờ mà thôi. Không hiểu tại sao hôm nay lại biến thành bức hình này như thế.
Tôi vội nhìn lên bàn thờ và quan sát kỹ lại bức ảnh. Không biết tôi có tưởng tượng hay không nhưng rõ ràng tôi thấy trong ánh mắt của cụ hiện lên một vẻ tinh nghịch hân hoan đượm nét ngây thơ của trẻ con pha lẫn một chút dịu dàng từ ái của lòng mẹ. Tôi định lẩm bẩm trách thầm cụ trong lòng rằng cụ đã bảo với tôi năm ngoái là cụ về quê thế mà giờ này cụ còn ở đây nghịch phá. Nhưng ý định trách móc vội tan biến ngay khi tôi chợt nhớ lại lời nói cuối cùng của cụ với tôi về chữ "duyên" : "Mọi sự trên đời đều không có gì đi ra ngoài chữ "duyên". Nếu còn có duyên với nhau thì cậu sẽ có dịp gặp lại tôi, e rằng lúc đó cậu lại không thích". Tôi vội vã nói thầm lời xin lỗi cụ. Trong khi đó, người chủ nhà vẫn lộ vẻ thắc mắc bất an.
- Anh Phong này ....
Tôi buột miệng định kể cho anh chủ nhà biết sự tao ngộ ly kỳ giữa tôi và bà cụ của anh, nhưng vội nín bặt khi thoáng thấy ánh mắt can ngăn của bà cụ trong bức hình.
- Gì thế anh? người chủ nhà vội hỏi.
Tôi bèn tìm lời khỏa lấp:
- Tôi nghĩ là có thể một lúc nào đó anh đã thay bức hình và quên bẵng đi. Với tuổi tác bọn mình bây giờ, làm trước quên sau là chuyện thường.
Người chủ nhà lịch sự gật đầu đồng ý, nhưng có vẻ không tin tưởng lắm vào lời giải thích.
Những người khách Việt giữ đúng truyền thống giờ cao su đang lục tục kéo đến, và chúng tôi đành bỏ dở câu chuyện để đi chào đón mọi người. Lợi dụng lúc đông người lu bu, tôi chuẩn bị chuồn êm sau khi đã nhờ một người bạn chuyển lời cáo lỗi của tôi tới chủ nhà, viện cớ là bỗng dưng tôi không thấy khỏe. Quả thật là tôi bắt đầu cảm thấy rờn rợn mỗi khi nhìn lên bàn thờ và chạm phải ánh mắt tinh nghịch của người trong ảnh. Không dám nhìn thẳng vào bức ảnh, tôi thầm nói lời từ biệt với cụ và lẳng lặng lách mình ra cổng. Không ngoái cổ nhìn lại, tôi cắm đầu rảo bước như bay đến chỗ đậu xe. Trong tiếng gió thoảng của một chiều cuối thu, mường tượng như có ai nói khẽ vào tai tôi hai tiếng: "Chào cậu".
 
Trần Văn Lương

Bên Này...* Mh. Hoài Linh Phương

Bên Này Trời Tây,
Mùa Thu Nhìn Lại Bóng Mình
 
Mùa bắt đầu bằng những đêm xào xạc gió. Tôi nằm nghe tiếng lá bên thềm như lời ca nào xưa cũ, dấu yêu. Tôi cố ru tôi cho hồn mình đừng khóc. Nhưng nước mắt ở đâu đã chực chờ nghẹn ứ, mặn môi.
Phải không Khôi An, Oác Hương có phải đâu là con búp bê biết khóc, biết cười, một cái đồng hồ tic-tac chạy theo guồng máy xứ người không bao giờ ngưng nghỉ. Cái máy đâu biết buồn những khi trời nổi gió, đâu biết đau trong nỗi chia biệt, lìa tan. Ngày xưa anh nói, không biết bao giờ Oác Hương mới bước ra được khỏi cái tháp ngà của mình. Phải chi bây giờ anh trở về, để thấy Oác Hương đã đi hia ngàn dặm.
Không có anh đã phải vững chải một mình, chống chọi với bão táp trùng dương. Đã bao năm như thế rồi. Em không biết nữa. Quên tuổi tên mình, để tập làm một con người khác, sống bằng những ân tình vay mượn qua mau.
Tôi khép kín lòng mình, sống xa lạ với thế giới bên ngoài, tưởng như mình không còn ai thân thuộc. Không có chút xẻ chia. Không có bếp lửa hồng trong đêm Giao-Thừa, quây quần ngồi chờ năm mới. Chị Như Nguyện cười cười bảo tôi : “ Cô nhỏ này chẳng những khép cửa, mà còn đóng cửa, lock cả bên trong lẫn bên ngoài. “ Một lời nói đùa vui, nhưng bỗng làm tim tôi đau nhói.
Nếu thực sự tôi làm được như những điều chị Như Nguyện cợt đùa, thì chiều nay tôi đã không khóc lặng khi nghe tin Wagner không còn bên tôi nữa, và sắp sửa rời xa tôi. Chút niềm vui nhỏ nhoi còn lại sau cùng sau những cơn địa chấn kinh hoàng, giờ cũng lặng lẽ ra đi. Sao tôi chưa tập được cho lòng mình băng sơn, lạnh giá. Tôi yêu quý Wagner như với một người thầy, cái điểm tựa vững vàng mang hình ảnh một người cha, một người anh đã bao trùm đời sống tôi trong những ngày quay về với sách vở. Hình như bên Wagner, tôi không bao giờ buồn được. Hơn nữa cái tế nhị, sâu sắc của Wagner luôn dõi theo trong từng tiếng tôi cười, trong từng lời tôi khan trầm, đục giọng. Vì là coach của tôi, Wagner luôn khuyến khích những khi tôi thất chí, nản lòng bởi con đường tôi đi đâu phải lúc nào cũng đầy hoa thơm cỏ lạ.
Wagner ngoéo tay tôi. Nhất định Wagner sẽ khao tôi một chầu Ishiban trong ngày tôi tốt nghiệp, và Wagner luôn mong mỏi để nhìn thấy ngày này. Tôi có một background, tương lai đang chờ tôi phía trước.
Những lúc đón tôi đi học, hay đưa tôi đến sở làm, ngồi trên xe Wagner, tôi thường yên lặng. ( Theo quy định, mỗi người coach phải làm việc ít nhất với sinh viên của mình mỗi tuần một giờ. Có những lúc bận, Wagner phải sắp xếp giờ giấc sao cho thuận lợi cả hai bên, nên việc đưa đón sinh viên là một việc rất bình thường của những người huấn luyện.) Wagner hay hỏi tôi đang nghĩ gì vậy, chọc cho tôi cười, và trêu ghẹo ... hay là “ thi sĩ “ đang làm thơ. Đôi khi tôi đã quên hẳn Wagner là một người Mỹ, hoàn toàn khác hẳn với tôi trong quan niệm, trong cách nhìn cuộc sống. Chẳng qua, vì Wagner đã hiểu tôi hơn bất cứ người Việt Nam nào mà tôi tưởng chừng họ thực sự đã chia xẻ cùng tôi. Tôi đã kể cho Wagner nghe về Khôi An, về một cánh chim đại bàng đã gãy, về những mộng ước đầu đời tôi đã cất dấu trong một ngăn khuất nhất riêng tư. Một mình mình biết. Một mình mình hay. Tưởng như thế sẽ mãi mãi trôi đi, nhưng hôm nay vẫn còn có người nghe cho con Oác Hương bước ra khỏi cái vỏ của mình ngậm ngùi, kể lể.
Và tôi đã tự hỏi ta yêu người, hay ta yêu ta một thuở bên người. Chỉ biết không còn ai mong chờ một người đã mất dấu 25 năm. Một chặng đường dài, cho tuổi hồng tôi héo úa. Một đoạn đời qua, còn ai nhìn lại bao giờ? Nhưng tôi vẫn hoài hoài quay đầu ngoái lại. Những giấc mơ kín đầy môi mắt yêu thương, hương thuốc Bastos xanh thơm nồng, quyến luyến cho tôi tưởng như một đời chồng vợ với Khôi An. Mộng ước nhỏ nhoi, nhưng làm sao lớn quá, đã ra ngoài và khuất hẳn một tầm tay. Wagner ngạc nhiên khi nghe tôi nhắc về một chuyện tình buồn như cổ tích, nhưng giọng tôi trầm trầm như chuyện mới hôm qua. Rất gần và rất mới. Rất xa và rất hôm nay. Môn học Empowerment hình như vẫn không nhồi nhét được trong đầu. Tôi vẫn còn những xúc động bàng hoàng, không thể chế ngự mình để dễ lãng quên, thay đổi cách nghĩ, cách nhìn giống y như một người Mỹ.
* hai.
Quán ăn nằm ở đường Lexington, được trang trí theo lối kiến trúc cổ của Pháp. Tôi đến nơi này lần đầu tiên cách đây 5 năm. Lúc đó tôi như một con sâu còn nằm trong ổ kén. Quà thưởng Noel của tôi là một phiếu tặng ăn tối trị giá một trăm đồng, từ nơi tôi làm việc……………...  Ngày tháng ấy, hồn tôi như một trang giấy mới. Rất trong lành, và rất đổi ngây ngô. Trở lại trường làm cô sinh viên nhỏ, những giờ học đầu đời ở xứ người vụng dại và thật dễ thương. Sau trường là Loring Park, tôi thường ngồi dựa vào gốc thông trên đồi cỏ mịn , nhìn những con thiên nga lội nước quanh hồ vào những ngày không có lớp. Hay nằm trên lá vàng, thở nhẹ trong cỏ ướt hương hoa. Pho tượng đồng đen của người nghệ sĩ kéo đàn violin với khuôn mặt trầm tư, chìm xuống, vẫn theo đuổi tôi trong những bước lang thang xạc xào dưới chân lá vàng quấn quít. Eâm đềm và thơ mộng. Như gió. Như mây. Nhẹ như sương mai và thơm tho như quả ngọt đầu mùa………….. .
Và tôi đã đến đó .. với Toàn. Những ngọn nến lung linh không soi sáng đủ mặt người. Mừng sinh nhật tháng giêng của tôi chỉ có hai người. Tĩnh lặng nhưng đầm ấm. Bây giờ trở lại nơi đây theo lời mời của Wagner – thầy tôi, để ông chúc Tết Việt Nam, tôi vẫn còn mang theo cảm giác hạnh phúc vô ngần về một nơi bình yên chim hót.
Chúng tôi uống rượu chát đỏ. Tôi ngập ngừng giây lát, vì bất chợt nhìn thấy bức tranh “ Rừng Thu “, gợi nhớ năm tháng nào tôi bé bỏng bên cạnh Khôi An, cho tôi cuống quít mắt môi một trời kỷ niệm. Mười sáu tuổi, chân rón rén những chiều hẹn hò, những ngày mưa, sáng nắng. Một thuở yêu người thánh thiện, hồn nhiên. Khu vườn Continental trong mát như thạch vào buổi sớm mai. Mùi hương hoa cau thơm nồng ngan ngát. Tiếng muỗng khuấy café của Khôi An nghe lanh canh cho ly café tôi đậm đà tình nhớ. Wagner hỏi tôi sao không nghĩ đến việc có một người nào đó cho riêng mình. Tôi cười trong mắt ướt. Không phải dễ để tìm được một Mr. Right, một người khuấy được những ly café xưa. Wagner ngạc nhiên sao tôi còn sống với kỷ niệm nhiều quá, khi thực tế của ngày tháng Mỹ kỷ niệm làm sao giúp được tôi giải quyết những khó khăn của đời cơm áo, trong những khổ lụy, xót xa, khi thiếu một người xẻ chia, vỗ về, an ủi.
Ở một góc nào đó, Cung vẫn còn vô vọng chờ tôi bên trời Tây Bắc. Ở nơi làm việc, Peter vẫn yêu tôi lặng lẽ như đã thầm lặng tự bao giờ. Tôi không tin người Mỹ có thể ấp ủ mãi một tình yêu câm nín. Cuối cùng thì Peter cũng đã bày tỏ khi nghe tôi quyết định rời bỏ công việc của mình. Những bông hoa tulip vàng từ tay Peter mùa đông lạnh giá vẫn không làm nên định mệnh. Tôi vẫn là con Oác Hương mong manh, gầy guộc của Khôi An, của người lính đã dám vượt ngục để tìm đường sống trong cái chết vì những lằn đạn của kẻ thù săn bắt, đuổi theo. Tôi không biết Khôi An chết ngày nào, tháng mấy, chỉ nghe bạn bè Khôi An kể ở Suối Máu, và anh là một trong những người tù trốn trại đầu tiên sau hai năm bị giam cầm. Và bởi vì tôi không thấy, tôi không chịu tin Khôi An đã chết. Anh vẫn còn sống trong tôi, và anh sẽ trở về. Chắc chắn như vậy. Tôi vẫn còn mơ thấy anh trong giấc ngủ, những giấc mơ thật đẹp và thật hiền, như tình tôi ngày xưa trẻ dại, như anh yêu tôi bằng nỗi nhớ của giòng sông quê hương mà anh đã rời bỏ từ một thuở ấu thơ. Anh mong ước tôi là một nơi chốn trở về của anh bình yên một đời, suốt kiếp. Hay có phải những ước ao đó đã trở thành một lời nguyền để tôi trở thành đá sỏi ngu ngơ, không còn xúc động được ở những mối tình sau, để giữ tôi lại là của riêng anh cho linh hồn anh có một chỗ để trở về nương náu. Tôi cũng không dám nghĩ tôi sống cô quạnh nghĩa là tôi chung thủy với anh. Nhưng có lẽ một điều thật nhất, những gì tôi cần, không thể nào tìm thấy nữa ở những bước chân qua, ở những cuộc vui chỉ là thoáng chốc, ở những môi cười dịu ngọt, điêu ngoa………………..
Tôi không phủ nhận bên những ngôn từ gọi mời giả trá, tôi vẫn còn những bến đời vắng im, lặng lẽ chờ tôi, chờ con tàu tôi quay lại. Nhưng tình yêu có phải là một cái gì không thể tự nói với mình: “ Ừ, thôi cũng được! “, mà phải là những xúc động đích thực của trái tim.
Làm sao tôi quên được, Cung đã riêng dành cho tôi một thứ tình yêu từ một thời tuổi ngọc, với những mơ mộng ngất trời. Cung luôn nhắc nhở trong những trang thư: “ Anh sẽ đưa em về Dalat, và mình sẽ sống một đời bình yên ở đó, với nông trại, với nương khoai.. Và Oác Hương, em sẽ bỏ hết thơ văn, bỏ hết những rong chơi của một thời con gái. Bên anh, hạnh phúc nhỏ nhoi nhưng có thật. Vì em yêu thành phố sương mù ấy, nếu ta cưới nhau, anh muốn gió lạnh và thông ngàn sẽ là những sợi chỉ hồng giam giữ chân em để chỉ còn lại những đứa con mắt trong ngời sáng….. “
Cung miên man trong mơ ước, nhưng Cung quên hẳn một điều tôi thân với Cung bằng một thứ tình học trò ăn chưa no, lo chưa tới. Lí lắc, nghịch ngợm như một tên bạn trai, chứ không phải là một người tình nhỏ. Nếu tuần trước, Cung rủ tôi đi nghe Lệ Thu hát “ Mùa thu chết “ ở Ritz của Jo Marcel thì sau đó lãnh tiền thưởng của ông cụ tôi, tôi ới Cung: “ Oác Hương sẽ bao anh đi coi “ Tuổi Đôi Mươi “ – phim Nhật, có Reiko Dan dễ thương mắt cười trong nón ở Hồng Bàng, chịu không?
Cung lắc đầu: “ Để dành tiền mà ghé ô mai me Bích Lan ở Tân Định, không thì lại ngủ gục trong giờ “ Luật Hiến Pháp “ của thầy M.”
Ngày tháng đó, quanh tôi có biết bao nhiêu bạn bè thân thiết, và có cả Khôi An nồng ấm, yêu thương. Tôi kể tỉnh bơ cho Khôi An nghe tôi đi ciné và nghe nhạc với Cung bằng giọng rất đổi hồn nhiên. Rất cao ngạo và đầy bản lĩnh, Khôi An dặn dò tôi: “ Thằng bé nào yêu em, hôm nào em dắt nó lại thử cho anh coi, nếu anh thấy nó yêu em chân thật là anh gật đầu liền. Và em, muốn đi với bất cứ ai phải hỏi anh, anh sẽ đưa em đi đến tận đó, rồi anh về. Nhớ không? “ . Tôi suy nghĩ một hồi rồi gật đầu.
Và khi tôi nhận ra được Khôi An là bóng mát che rợp kín đời tôi, là lúc chúng tôi sắp sửa mất nhau. .. Khi tôi biết đợi chờ, là đã đến lúc đứa con gái bỗng dưng thành góa phụ, để năm tháng trôi qua lụi tàn đời thiếu nữ..
* ba.
Wagner đi rồi! Nhắn lại cho tôi một mail, nhớ check mailbox.
Cầm lá thư viết bằng tay của Wagner, tôi quay lưng bỏ chạy. Văn phòng làm việc của Wagner trống lốc. Bàn trơ bên ghế ngồi. Lẳng phong lan không còn nữa. Quyển lịch Việt Nam “ Một thời áo trắng “  tôi cho, Wagner ân cần treo trên tường bên cạnh tấm tranh sơn mài  “Mưa đêm “ cũng đã theo người ở tận chốn trời xa. “Không phải dễ để nói lời từ biệt với tôi, bởi tôi – người sinh viên Việt Nam đã cho Wagner những cảm tình sâu đậm. Wagner học được ở tôi là tấm lòng tình nghĩa, là tận tụy, thủy chung của người châu Á.. Hãy giữ tất cả những thứ đó với tôi để làm hành trang trong cuộc đời. “
Lá thư rơi khỏi tay tôi, bay nhòa trong gió..
Mùa thu còn dài quá, mà nỗi buồn không phải dễ để nguôi ngoai. Từ một sự quỵ ngã nào, anh Nguyên đã dìu tôi đứng dậy, tôi đã bắt đầu bước đi được để tiếp tục nhìn lại bóng mình sau những năm tháng ngủ vùi trong cơn ác mộng của văn chương. Những hệ lụy mà mỗi khi nghĩ về vẫn không sao cầm được những giòng nước mắt. Cái vẹn toàn đầy ắp của anh Nguyên đã cho tôi thật nhiều ái ngại. Bởi anh đã cho tôi những gì hơn cả lòng tôi mong mỏi. Bởi tôi bây giờ, như con chim bị đạn, luôn luôn bàng hoàng sợ hãi trước những lằn tên, không muốn bước theo dấu mòn của một vết xe đã đổ.  Nhưng anh Nguyên vẫn xác quyết với tôi: “ Anh là một con người xã hội, anh luôn chia xẻ những âu lo với tất cả mọi người.”
Tôi cũng mong như vậy. Tôi không có gì đặc biệt, anh không dành gì cho tôi một sự khác biệt nào hơn những người anh đã biết, đã quen, để tôi và anh không có một ngày phải nói với nhau những điều cay đắng, không phải nhìn nhau xa lạ, hận thù như tôi đã có với anh Kha.
Tôi tự dỗ dành mình đừng khóc nữa trong chiều lộng gió, trong hương thu buồn trời ẩm đục mù sương. Những cơn mưa muộn màng hình như vẫn còn về ngang đâu đó..
Nửa khuya, khi tôi rời công việc, bên ngoài như thác lũ. Cơn trốt từ Saint Cloud vần vũ kéo sang. Tôi đẩy cửa bước ra, tiếng của Aimee gọi vói theo: “ Oác Hương đừng về, nguy hiểm lắm! “
Nhưng mà không kịp nữa. Sức gió thổi thốc, sức nước quất vào mặt như những ngọn roi, và mưa gió đã cuốn tôi đi, đã xô tôi ngã, đã cuốn tôi trôi về một bờ bến nào. Có phải bờ bến đó có Khôi An chờ tôi mòn mỏi, có Bố tôi mở rộng vòng tay chờ đợi đứa con xa..
Trả hết cho người những oan khiên, nghiệp chướng. Trả cả những yêu thương đã biến thành thù hận vì dối gian, lừa bịp cho nhau...
Tôi nhẹ tênh bay trong môi cười vụt tắt, trong cỏi người lận đận, long đong. Cho tôi về, về với quê hương tôi – một nơi tôi vẫn hằng mong một ngày nhìn thấy lại………….. …..
 
Mh. Hoài Linh Phương

Dư Âm * Hồ Thụy Mỹ Hạnh

Dư Âm
 
Tôi mở rộng cánh cửa, ánh nắng yếu ớt của một buổi chiều sắp tàn hắt qua thềm, người thanh niên vừa gõ cửa đứng trước tôi. Tôi biết đó là người hàng xóm trọ ở căn nhà đối diện nhà tôi. Dù con hẻm cách chừng chục mét nhưng tôi chưa bao giờ trò chuyện, thậm chí là chưa chào hỏi xã giao.
Trong tay anh ta cầm một thứ gì đó như tấm bìa cứng hoặc một tấm hình, tôi gật đầu chào vừa đưa mắt dò hỏi. Anh ta ngập ngừng:
- Đây là một việc có thể làm cô không hài lòng nhưng tôi đã trót thực hiện, chỉ có điều tôi nên giao nó cho cô hơn là tôi giữ, nếu cô vui lòng thì xin hãy xem đây là một quà tặng…
Anh ta vừa nói vừa chìa ra một bức tranh, tôi liếc nhanh, một khung cửa sổ với một người con gái có mái tóc dài buông xõa trên vai và hoa, và lá.
Tranh vẽ bằng bút chì, tôi nghĩ thế và hiểu ngay đó là tôi dù chỉ giống nhất mái tóc và cặp kính cận .Hơi bất ngờ, tôi tròn mắt hỏi:
- Anh đã vẽ tôi ư? Lúc nào vậy?
Anh ta mỉm cười:
- Những buổi chiều, khi tôi tình cờ trông thấy…
 
Một cảm giác thú vị len vào tôi. Tuy nhiên tôi thấy bối rối chưa biết xử trí ra sao? Nếu là một thứ tặng vật nào khác từ một người mà cả cái tên tôi còn chưa biết thì chắc chắn rằng tôi không nhận, nhưng đây lại là chân dung của tôi, nếu không nhận có nghĩa là muốn anh ta phải giữ. Tôi còn đang phân vân thì bức tranh đã được đặt vào tay, tôi chưa kịp nói lời cám ơn cho phải phép, anh ta đã quay bước, một người ít lời, tôi nghĩ thế
 
Từ hôm đó cánh cửa nhà tôi luôn khép lại và tôi cũng ngại đứng bên cửa sổ ngóng nhìn trời đất như thói quen. Anh ta ít nhiều đã gây cho tôi sự chú ý. Giờ thì tôi biết anh ta làm việc gì, làm ở đâu, đi , về khoảng mấy giờ và cả cái tên Thụy dịu dàng như tên con gái.
Sau lần mang tranh tặng tôi, anh ta không hề có biểu hiện gì tỏ ra muốn tìm cách làm quen với tôi. Căn phòng “bên ấy” cũng thường xuyên khép cửa.Tôi và anh ta lại không tình cờ gặp nhau ở đâu cả, nên sự xa lạ vẫn như lúc ban đầu. Còn bức tranh anh ta vẽ cùng với những suy đoán trước đây của tôi, được tôi cất vào một góc suy nghĩ chờ lãng quên.
Và khi tôi không còn quan tâm đến người hàng xóm ấy nữa thì có một đêm tôi thức giấc vào giữa khuya. Trong không gian yên tĩnh, tiếng guitar từ đâu văng vẳng vọng đến bên tôi, tiếng đàn quyện vào tiếng hát trầm ấm, cô đơn và lời ca buồn đến se lòng. Tôi bật dậy lắng nghe, chuổi âm thanh mơ hồ như không thực kéo tôi đi về phía cửa sổ, tôi mở hé cửa nhìn ra ngoài, dưới hiên nhà đối diện có một người đang ngồi đàn trong bóng tối, tôi không biết đó là ai vì trong căn nhà ấy có mấy người cùng trọ. Tiếng đàn và giọng hát trầm ấm kia như có ma lực cuốn hút tôi.
“… Thôi xin ơn đời trong cơn mê này gọi mùa thu tới, tôi đưa em về chân em bước nhẹ trời buồn gió cao , đời xin có nhau dài cho mãi sau…”
Tiếng đàn và sự cô quạnh của đêm khuya dễ gây cho người ta nỗi buồn và cảm giác đó truyền vào tôi rất nhanh . Ai đàn vậy nhỉ? Tôi mở tung cánh cửa ra, ánh sáng trong phòng hắt ra thềm. Tiếng đàn lẫn tiếng hát chợt im bặt. Tôi như tỉnh trước hành động vô thức của mình, nên lại vội vàng đóng sập cửa. Trở lại giường nằm, tôi rủa mình vô duyên.
 
Mặt trời hừng lên bên kia đồi, bầy chim sẻ ríu rít, rộn ràng trên mái ngói. Buổi sáng mùa thu trời đầy mây trắng, một ngày sẽ lạnh hơn mọi ngày. Những chiếc lá rụng bay đầy trước sân hôm nay được tôi quan tâm hơn bằng những nhát chổi chậm chạp, thật khó giải thích tại sao tôi chờ đợi, tiếng đàn lúc khuya vẫn như văng vẳng bên tai, tôi cảm thấy hồi hộp trước cái giờ mà tôi biết căn nhà đối diện sẽ mở cửa, và…
- Uyên
Tiếng gọi khẽ như sợ người được gọi nghe thấy, dù có ý chờ đợi cuộc gặp gỡ này song tôi không khỏi giật mình.
Thụy đang tiến về phía tôi, dáng đi của anh trầm tỉnh, lẳng lặng. Tôi hơi ngẩn ra, nghĩ mãi để tìm một câu nói mở đầu sao cho thật tự nhiên, nhưng Thụy đã lên tiếng trước.
- Có phải hồi đêm tiếng đàn của tôi đã phá giấc ngủ của Uyên?
Tôi ngạc nhiên hỏi lại:
- Là anh đàn ư?
- Vâng! Và tôi đang tự hỏi tại sao cửa sổ nhà Uyên hồi đêm chợt mở ra rồi đóng sập lại đầy vẻ bực dọc?
Tôi nở nụ cười thân thiện:
- Anh đã hiểu nhầm, thật ra bài hát của Trịnh Công Sơn hay quá, chỉ tiếc rằng tôi không được nghe hết…
Thụy thở phào:
- Vậy mà tôi cứ tưởng…
- Anh tưởng tôi là một người không biết thưởng thức một giai điệu hay như thế ư?
- Tôi không nghĩ như vậy, nhưng được biết Uyên không khó chịu vì điều ấy thì tôi yên tâm rồi
Tôi biện minh:
- Tôi đã vụng về trong hành động, cử chỉ của mình, thật ra tôi mở cửa vì muốn tiếng đàn kia vọng sang rõ hơn và cũng muốn biết ai đàn… bên ấy! Anh biết không tôi rất “mê’’ bài Hạ trắng…
Lần đầu tiên tôi nhìn thấy nụ cười của Thụy, anh lộ vẻ vui, dường như ở con người này mọi nỗi niềm biểu lộ nhiều qua ánh mắt hơn là lời nói.
***
Thụy mang đến tặng tôi bài Hạ trắng chép tay, những dòng nhạc kẽ cẩn thận và nét chữ nắn nót bằng mực tím, có minh họa một cô gái tóc dài đứng trên đồi thông, tà áo bay hứng đầy hoa nắng và ở mặt ngoài có trích ghi dòng chữ “Áo em bây giờ mờ xa nẻo mây, gọi tên em mãi suốt cơn mê này…”
Từ đó những khi nghe tiếng đàn của Thụy ngân lên, tôi bèn mở hờ cửa sổ tỏ một tín hiệu lặng lẽ rằng tôi đang lắng nghe. Ở “bên kia” bài Hạ Trắng được dạo lên nhiều lần, tiếng đàn trầm và luôn luôn tôi có cảm giác Thụy đang buồn.
Về mối quan hệ của Thụy và tôi, tôi thật sự khó hiểu, không biết Thụy nghĩ sao về tôi, vì có lúc anh tỏ ra quan tâm, thân thiện với tôi, lại có lúc anh như muốn lánh tôi và thật lạnh lùng. Phần tôi cũng tự chất vấn mình, đó chỉ là một sự ngưỡng mộ trước một người có nhiều biệt tài, hoặc có hơn thế thì đó là một thứ tình cảm chưa thể đặt tên bây giờ , vì xét cho cùng tiếng đàn tiếng đàn của Thụy gần gũi với tôi hơn là anh.
Nhưng bỗng nhiên tiếng Guitar không còn cất lên trong nhiều đêm, tôi chợt thấy trống vắng. Bản tính e dè không cho tôi sang “ bên ấy” xem Thụy ra sao. Căn nhà đối diện vẫn còn những người ở cùng Thụy ra vào, chỉ vắng anh. Một tuần, rồi một tháng vẫn biền biệt. Như vậy là Thụy đã đi khỏi đây, vậy mà anh không hề nói với tôi một lời từ biệt. Tôi tự nhủ “một người vô tâm , nên quên đi là hơn!”
 
Tôi sẽ không còn bận tâm và nhớ về Thụy như một ám ảnh nếu tôi đừng biết thêm một điều gì nữa về anh . Một thời gian không lâu sau đó, tôi tình cờ gặp người bạn trọ chung nhà với Thụy, tôi không nén được lời trách cứ về việc Thụy chuyển đi mà tôi không hay biết. Người bạn ấy mới tiết lộ câu chuyện mà tôi cho rằng họ đã cố tình giấu kín. Trước khi đến đây Thụy đã lập gia đình, nhưng đó là một cuộc hôn nhân không hoàn hảo, cô gái ấy không có lỗi gì nhưng hoàn toàn không phù hợp với tính cách của anh, không hạnh phúc. Với đời quân nhân đây đó Thụy luôn xa nhà. Rồi do yêu cầu của công tác Thụy đã đến đây, không ngờ nơi dừng chân này trái tim anh đã rung động trước một người con gái nhưng ý thức việc anh đã có gia đình, Thụy phải giấu kín tình cảm của mình.
 
Tình yêu là một thứ không thể hỏi tại sao khi nó đến với người này thì lại dịu dàng, êm ả mà với người khác lại nghiệt ngã, trắc trở . Thụy đã trải qua những ngày mà tâm tư luôn nặng nề, u uẩn. Và trong một đợt tăng cường cho một đơn vị tác chiến Thuỵ đã hăng hái lên đường, cũng để không vướng vào một lầm lỗi mà anh chắc mình sẽ không tránh được, đó là khi tình yêu của anh sẽ không còn là mối tình đơn phương. Thụy ra đi khi trái tim anh đã hằn sâu một một ánh mắt, một dáng hình và hơn cả là người con gái ấy có một sự đồng cảm với tâm hồn anh. Nhưng Thụy đã không bao giờ trở về được nữa, anh mãi mãi nằm lại nơi chiến trường…
Tôi lặng đi, bàng hoàng trước một cảm giác như có một cái gì đó quí giá vừa rơi khỏi tay mình và đã tan, đã vỡ….
 
Đã nhiều năm trôi qua, khuôn mặt Thụy không còn rõ nét trong trí nhớ của tôi, nhưng mỗi khi bất chợt nghe đâu đó vang lên giai điệu của bài Hạ Trắng thì trong tâm hồn tôi lại gợi lên một sự tiếc nhớ rưng rưng . Mãi mãi tôi không quên được một hình ảnh đẹp mà Trịnh Công Sơn đã vẽ lên bằng lời nhạc, và Thụy là người tô điểm, đặt nó vào trái tim tôi.
 
Hồ Thụy Mỹ Hạnh

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013