Thi Ảnh

Đàm Trung Pháp

Dùng Kiến Thức... - Đàm Trung Pháp

Dùng Kiến Thức Tâm Lý Ngữ Học Hiện Đại
Để Lý Giải Thứ Tiếng Anh "Bất Thường"
Của Tôi Khi Mới Qua Mỹ Du Học
 

Mùa hè 1959 đã mang lại cho tôi một niềm vui rất lớn, khi tôi được chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và cơ quan viện trợ Mỹ USAID cấp cho một học bổng mang danh đầy kỳ vọng là LEADERSHIP SCHOLARSHIP để du học tại Mỹ, sau khi tôi đậu tú tài toàn phần ban văn chương với hạng danh dự và đạt điểm cao trong kỳ thi tuyển học bổng toàn quốc do USAID tổ chức bằng tiếng Anh.

Trẻ tuổi, lạc quan và đầy tự tin, tôi nghĩ mình sẽ thuận buồm xuôi gió với tiếng Anh khi qua Mỹ. Nhưng tôi lầm to, vì con thuyền tiếng Anh của tôi đã không đủ chuẩn bị để ra khơi! Không thể đổ lỗi cho ai cả, vì sự thực là tôi và các thầy dạy Anh văn của tôi thuở đó chỉ là là nạn nhân của thời cuộc mà thôi. Tiếng Anh lúc đó còn quá mới mẻ với người Việt, cho nên chính các thầy còn bị khó khăn với cách phát âm cũng như sự lưu loát trong tiếng Anh. Hơn nữa, phương pháp dạy của các thầy quá lưu tâm đến từ chương, khiến cho các hoạt động trong lớp chỉ chú trọng đến các quy luật văn phạm và khả năng dịch thuật từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại. Đó cũng là cách thức các thầy của tôi học tiếng Anh trước khi ra hành nghề. Mấy năm về sau, khi chuyên về ngữ học áp dụng tại Georgetown University, tôi mới được biết lối dạy của các thầy tôi dạo đó có danh xưng uy nghi là PHƯƠNG PHÁP VĂN PHẠM – DỊCH THUẬT (Grammar-Translation Method)! Và bộ giáo khoa viết bằng tiếng Pháp mang tên L’ANGLAIS VIVANT (Tiếng Anh Sống) của tác giả Carpentier-Fialip do nhà sách Hachette xuất bản tại Paris, với hai ấn bản màu xanh da trời (édition bleue) và màu vàng xám (édition beige), quả thực là lý tưởng cho lối dạy và học thuở ấy. Tiếng Anh như vậy, tuy được gọi là SỐNG theo tên bộ sách, thực sự được dạy như một ngôn ngữ đã CHẾT rồi. Nhờ phương pháp này, khi xong trung học, tôi có khả năng dịch (qua văn viết thôi) từ tiếng Anh sang tiếng Việt và từ tiếng Việt sang tiếng Anh, bằng một thứ tiếng Anh đúng văn phạm và không sai chính tả. Tôi chẳng nói ngoa đâu, ở cái tuổi non nớt ấy, qua những bài học văn phạm tiếng Anh đã học thuộc lòng như cháo, tôi đã có thể đưa ra định nghĩa, trình bầy công thức cấu trúc, và cung cấp thí dụ chính xác thế nào là thời FUTURE PERFECT PROGRESSIVE trong tiếng Anh, như một cái máy vậy. Kỳ dị thay, đó là một thời mà chính những người Anh, người Mỹ chính cống chỉ họa hoằn sử dụng, như trong câu BY THIS TIME NEXT MONTH, WE WILL HAVE BEEN LIVING IN AMERICA FOR TWO WEEKS chẳng hạn. Đây là một thời trong tiếng Anh mà tiếng Việt của tôi khó lòng diễn tả nổi, vậy mà tôi vẫn thuộc lòng mới lạ chứ! Qua lăng kính của khoa tâm lý ngữ học (psycholinguistics) ngày nay thì lúc ấy tôi, vô hình chung, đã sử dụng tối đa cơ phận mang tên THE MONITOR là cơ phận thứ ba trong ba cơ phận (processors) chính yếu giúp trí tuệ chinh phục ngôn ngữ mà Stephen Krashen (1982) đã đề bạt để kiến giải ý niệm THE LANGUAGE ORGAN trong não bộ do Noam Chomsky (1965) đề xướng. Cơ phận MONITOR đã giúp tôi HỌC (to learn) một cách tỉnh táo (consciously) những luật lệ văn phạm, những từ ngữ tiếng Anh, nhưng đã không giúp tôi THỦ ĐẮC (to acquire) được sự lưu loát trong việc sử dụng tiếng Anh. Tôi đã không bao giờ có cơ hội được dùng cơ phận thứ hai mang tên THE ORGANIZER là cơ phận có trách nhiệm giúp học viên chinh phục sự lưu loát một cách thản nhiên (incidentally), như thể khi chúng ta thủ đắc sự trôi chảy trong tiếng mẹ đẻ. Sự kiện không may này là lý do chính tại sao tiếng Anh của tôi hồi đó khá bất thường! Còn cơ phận thứ nhất mang tên THE AFFECTIVE FILTER có nhiệm vụ đứng gác cửa cho cơ quan ngôn ngữ và ấn định mức học hỏi nhiều hay ít căn cứ vào mức độ thúc đẩy (motivation level) của học viên thì đã cho tôi mức độ thúc đẩy tối đa rồi. Cái cơ phận cảm xúc vô cùng bén nhậy này biết rõ tôi mê say ngoại ngữ cho nên đã hết lòng hợp tác với tôi.

Sau một vài buổi huấn luyện qua loa về văn hóa Mỹ tại Sở Thông Tin Hoa Kỳ tại Saigon, tôi lên đường du học lúc 18 tuổi. Khi tới Honolulu, tôi được rời máy bay vài chục phút, đi bộ trong terminal của phi trường cho dãn gân dãn cốt. Chưa chi mà đã nhớ nhà đến muốn khóc! Và lần đầu tiên nghe những người xung quanh mình nói toàn tiếng Mỹ, tôi cảm thấy hồi hộp, bất an và lo lắng.

Vài bữa sau, tôi đã có mặt tại trường để kịp theo học khóa mùa thu. Miami là một đại học có campus đẹp như mơ tại tiểu bang Ohio, nhưng tôi cảm thấy mình như một khách lạ lạc lõng trong thiên đường. Tôi bất chợt khám phá ra sự thật phũ phàng là TIẾNG ANH NÓI (spoken English) của người Mỹ bản xứ và TIẾNG ANH VIẾT(written English), vốn là ngón sở trường của tôi, khác nhau một trời một vực. Tôi cũng thấy những bài đàm thoại giữa hai cá nhân A và B mà tôi đã học thuộc lòng, phòng khi hữu sự, hoàn toàn vô ích, vì làm gì có người Mỹ nào đã cùng học thuộc lòng những bài đàm thoại ấy để nói chuyện với tôi đâu!

Tôi quê đến nỗi không biết cách đối đáp ra sao mỗi khi các sinh viên Mỹ nói HI với tôi. Chắc hẳn họ nghĩ là tôi không thân thiện hoặc câm hoặc điếc. Họ đâu có biết cho rằng tôi chưa hề được dạy là HI cũng là một lời chào hỏi như HELLO vậy. Vì không biết người Mỹ thường nói BLESS YOU khi ai đó gần họ nhảy mũi (sneeze), tôi câm như hến mỗi khi anh bạn Mỹ cùng phòng của tôi nhảy mũi ồn ào. Tôi cũng có lần ngẩn tò te ra vì không hiểu câu hỏi nhanh như gió của anh ta, nghe ra như thể JEETJET? Về sau mới biết câu ấy chính là DID YOU EAT YET? phát âm thật nhanh, khiến cho các âm vị (phonemes) trong mấy chữ đó bị rút ngắn và dính chặt vào với nhau! Dùng thuật ngữ của Jim Cummins (1979) thì ở thời điểm ấy, TIẾNG ANH HỘI THOẠI (basic interpersonal communicative skills, gọi tắt là BICS) của tôi dở lắm, và TIẾNG ANH HÀN LÂM (cognitive academic language proficiency, gọi tắt là CALP) của tôi cũng cần phải thăng tiến gấp gáp mới mong cạnh tranh nổi với các sinh viên bản xứ, vì tôi đã lựa văn chương Anh làm môn học chính (major). Theo các cuộc nghiên cứu liên tiếp nhiều năm của Cummins tại Gia Nã Đại thì các học trò ESL phải luyện tập khoảng 2 năm mới đạt được mức BICS khá, và từ 5 đến 7 năm mới may ra bắt kịp mức CALP của người bản xứ!

Như đa số các học trò Á châu khác, tôi là một người học bằng mắt (a visual learner), và do đó dùng hình thức viết (spelling) của chữ làm kim chỉ nam phát âm chữ đó. Tai hại thay, lối phát âm kiểu này khiến tôi phát âm trật một số chữ Anh, như WEDNESDAY(thành ra 3 âm tiết: wed-nes-day), OFTEN (phát âm cả mẫu tự “t”), ARKANSAS (vần với Kansas). Riêng nhóm mẫu tự -OUGH thực dễ sợ vì nó có nhiều lối phát âm khác nhau; tôi đã phải vô cùng cẩn trọng và định thần mỗi khi phát âm các chữ BOUGH, COUGH, HICCOUGH, TOUGH, THOUGH, THROUGH! Những điều quá dễ cho người Mỹ bản xứ phát âm lại là những thử thách cho tôi, chẳng hạn sự khác biệt tế nhị giữa âm [i] trong chữ IT và âm [iy] trong chữ EAT hoặc giữa âm [u] trong chữ LOOK và âm [uw] trong chữ LUKE. Tôi còn nhớ mỗi lần phát âm chữ SHEETvà chữ BEACH là tôi ngại lắm vì nếu không cẩn thận chúng có thể bị nghe lộn thành hai chữ rất tục trong tiếng Mỹ! Cũng vì thiếu cơ hội thực tập phát âm tiếng Anh một cách nghiêm túc, tôi ưa mắc lỗi để trật dấu giọng chính (primary stress) trong một chữ đa âm tiết (multisyllabic word), chẳng hạn thay vì nhấn mạnh âm tiết đầu tiên của chữ MELANCHOLY tôi từng nhấn mạnh âm tiết thứ hai một cách sai lầm. Nguy hại hơn, nhấn mạnh sai chỗ có thể vô tình biến chữ này thành chữ khác; chẳng hạn, chữ INVALID có hai cách phát âm: nếu nhấn mạnh âm tiết đầu tiên, chữ đó là một danh từ có nghĩa là một phế nhân (có thể đã hy sinh một phần thân thể cho đất nước); nếu nhấn mạnh âm tiết thứ hai, chữ đó là một tính từ có nghĩa là vô giá trị. Vị phế nhân sẽ buồn biết mấy nếu bị người đời phát âm trật khiến danh từ đáng kính kia trở thành một tính từ chẳng đẹp chút nào!

Trong lãnh vực cú pháp (syntax) và cách chọn từ (diction), tiếng Mỹ của tôi trong thời gian đầu ở đại học là thứ tiếng Mỹ bất thường. Nó già nua (archaic), hoa mỹ (flowery), trang trọng (formal), bất tự nhiên (unnatural), bất chính cống (unauthentic), và do đó chẳng giống tiếng Mỹ nói (spoken American English) hiện đại chút nào! Nó là sản phẩm của khả năng dịch thuật của tôi cộng với những từ ngữ cổ lỗ xĩ và văn phạm cao cấp không mảy may phù hợp với tiếng Mỹ hiện đại mà tôi phải làm quen và mau chóng chinh phục.

Thứ tiếng Anh bất thường của tôi lúc ấy, nay ngó lại qua lăng kính tâm lý ngữ học của Ken Goodman (1986), thuộc loại PHÁT MINH CÁ NHÂN (personal invention) chưa bao giờ được điều chỉnh bởi QUY ƯỚC XÃ HỘI (social convention) tức là lối nói tiếng Anh chính cống của người bản xứ. Anh bạn cùng phòng của tôi mang tên Dick Welday là một người rất thân thiện và vui nhộn. Sau vài câu chuyện trong ngày đầu chúng tôi mới gặp nhau, Dick nheo mắt nói với tôi đại khái: TIẾNG ANH CỦA BẠN NGỘ LẮM ĐẤY, NHƯNG TÔI CŨNG HIỂU BẠN. Chiều hôm đó, Dick dẫn vài người bạn Mỹ khác đến chơi với tôi. Chắc hẳn anh ta đã nói với họ về thứ tiếng Anh lạ đời của tôi và muốn cho họ đích thân nghe tôi nói thứ tiếng ấy. Sau khi giới thiệu họ với tôi, Dick khai mào: PHAP, TELL US ABOUT THE WEATHER IN VIETNAM WHEN YOU LEFT A FEW DAYS AGO. Dùng khả năng dịch thuật tôn trọng cú pháp tuyệt đối và những từ ngữ hoa mỹ cổ kính, tôi chậm rãi trả lời: MY FRIENDS, WHEN I TOOK LEAVE OF MY BELOVED FATHERLAND, SITUATED NEAR THE EQUATOR, THE WEATHER WAS SCORCHINGLY HOT. Họ lộ vẻ ngạc nhiên và cười tủm tỉm với lối nói tiếng Anh lạ lùng của tôi. Rồi Dick chêm thêm: ISN’T HIS ENGLISH INTERESTING? Bối rối, tôi hỏi Dick: HOW WOULD YOU EXPRESS WHAT I JUST SAID? Anh trả lời gọn lỏn: WHEN YOU LEFT VIETNAM, IT WAS HOT LIKE HELL! Tôi nghe câu ấy khoái tai quá, và đã học ngay được hai điều quan trọng– đó là hãy dùng LEAVE thay cho TAKE LEAVE OF và dùng thành ngữ táo bạo LIKE HELL để biểu diễn mức độ cao. Toàn là những điều hữu ích quá xá mà tôi chưa hề biết đến bao giờ! Nỗ lực giải tỏa (unlearn) tiếng Anh cũ để sẵn sàng học lại (relearn) của tôi khởi đầu từ lúc ấy.

Những tuần lễ đầu tiên tại Miami University thực đầy thử thách cho tôi. Nhớ nhà và thèm cơm Việt Nam quá chừng! Bỗng nhiên tôi cũng thấy màu da, màu tóc, chiều cao, trọng lượng, và giọng nói của tôi đều không giống người bản xứ. Như một con cá văng ra khỏi nước, tôi không biết tương lai học vấn của mình sẽ ra sao nữa. Dùng thuật ngữ giáo dục ngày nay thì lúc đó tôi là nạn nhân của CULTURE SHOCK (xung đột văn hóa), tức là giai đoạn khốn khổ nhất của cái gọi là ACCULTURATION (tiến trình cố gắng hòa hợp với hoàn cảnh mới). Trong gọng kìm của xung đột văn hóa thì việc học hành khó khăn hơn, theo các chuyên gia giáo dục ngày nay. Tôi chưa quen nghe tiếng Mỹ của các giáo sư cho nên việc tôi ghi chép lời giảng của các thầy là một thử thách lớn. Mỗi khi các thầy viết lên bảng điều gì là tôi vui mừng chép lấy chép để vào một cuốn vở. Sự thảm bại của bài luận văn đầu tiên của tôi là một bài học để đời, nhắc nhở tôi ĐỪNG BAO GIỜ BẤT CẨN VỚI CÁCH CHẤM CÂU TIẾNG MỸ! Bài luận văn ấy tôi đã viết rất kỹ về mọi phương diện, trừ phương diện chấm câu theo tiêu chuẩn Mỹ. Khi thấy điểm D bằng mực đỏ trên bài viết, tôi thất kinh, vội hỏi ông thầy tại sao tôi bị điểm kém này. Ông nói tôi phải cẩn thận tối đa với cách chấm câu và khuyên tôi nên ôn tập nhiều trong lãnh vực này. Rồi ông lấy ngón tay chỉ vào những chỗ tôi mắc lỗi lạm dụng dấu phết (comma splices) khiến cho nhiều đoạn trong bài luận trở thành những câu không ngừng chạy (run-on sentences). Những lỗi này, ông nhấn mạnh, không được phép xuất hiện trong tiếng Anh bậc đại học. Thuốc đắng giã tật, tôi vội bỏ ra vài buổi chiều ngồi học thuộc lòng tất cả các quy luật chấm câu tiếng Mỹ.

Một vấn đề nữa rất lớn với tôi là người Mỹ sử dụng nhiều đặc ngữ (idioms) mà ý nghĩa không thể đoán được trong ngôn ngữ hàng ngày. Tôi có khuynh hướng đoán ý nghĩa của các đặc ngữ ấy theo nghĩa đen (literally), và thường đoán sai, vì làm sao mà tôi có thể hiểu BREAK A LEG lại có thể là lời chúc GOOD LUCK hoặc KICK THE BUCKET là cách nói lóng cho động từ DIE? Có lần tôi tới thăm một cô bạn học người Mỹ mà tôi rất mến vào một buổi sáng chủ nhật tại ký túc xá của nàng, nhưng chẳng thông báo trước gì cả. Lisa từ trên lầu xuống gặp tôi tại phòng khách, có vẻ không vui và trông không hấp dẫn như mọi ngày tại lớp học. Chưa kịp trang điểm, nàng xanh xao vàng vọt quá. Nàng nghiêm nghị nói với tôi: PHAP, I WISH YOU HAD GIVEN ME A RING BEFORE YOU STOPPED BY THIS MORNING. Vì tôi tưởng nàng muốn đốt giai đoạn mối tình đang chớm nở giữa chúng tôi, tôi ngây thơ đáp lại: LISA, WE ARE BOTH ONLY 18, WHY SHOULD WE GET ENGAGED AT SUCH A YOUNG AGE? Biết tôi đã hiểu lầm câu nói của nàng, Lisa bật cười và giải thích: DON’T BE SILLY! WHAT I MEANT WAS SIMPLY THAT YOU SHOULD HAVE TELEPHONED ME BEFORE YOU CAME TO SEE ME THIS MORNING. Ngượng ngùng quá cỡ, tôi xin lỗi đã hiểu lầm nàng chỉ vì tiếng Anh của tôi chưa đi đến đâu, cũng như đã không điện thoại cho nàng trước khi ghé thăm. Lisa là một ân nhân của tôi vì nàng đã làm mẫu cho tôi rất nhiều về cách sử dụng COLLOQUIAL AMERICAN ENGLISH và cũng kiên nhẫn giải thích cho tôi nhiều điều về văn hóa Mỹ như thế nào là VALENTINE’S DAY, thế nào là HOMECOMING QUEEN, thế nào là BLIND DATE, vân vân. Những cái kiến thức bối cảnh (schemata) đó về văn hóa Mỹ thực là quan trọng cho tôi mà trước đó tôi chẳng mảy may hay biết! Ngày nay, các giáo chức dạy Anh ngữ cho người ngoại quốc đều được nhắc nhở kỹ càng về tầm quan trọng của SCHEMA THEORY, theo đó sự hiểu biết (comprehension) là do sự liên hợp (integration) của kiến thức mới với một mạng lưới kiến thức cũ (a network of prior knowledge) của học viên. Tôi nợ Lisa một ân huệ lớn về kiến thức văn hóa Mỹ. Lại dùng kiến thức tâm lý ngữ học hiện đại, qua những câu chuyện trên trời dưới đất giữa nàng và tôi ngày này qua ngày nọ, tôi đã chuyển dần cái PERSONAL INVENTION về tiếng Mỹ của tôi sang phía SOCIAL CONVENTION mà cô bạn gái Lisa duyên dáng là một đại diện vô cùng khả ái.

Đàm Trung Pháp

Đình Bao Nhiêu Ngói, Thương Mình Bấy Nhiêu - Đàm Trung Pháp

                                *Ví von trong thi ca
 
Tài liệu giáo khoa tại các quốc gia sử dụng tiếng Anh phân biệt hai phương cách ví von trong ngôn ngữ. Cách thứ nhất là sự ví von gián tiếp giữa hai yếu tố qua môi giới của các chữ hoặc nhóm chữ dùng để so sánh như  like, as, than, seem, similar to. Cách ví von gián tiếp này được mệnh danh là simile (ví von). Cách thứ hai so sánh trực tiếp, không cần môi giới chi cả, mang tên là metaphor (ẩn dụ). Theo các định nghĩa này, câu thơ dưới đây của Robert Burns là một ví von:
O my love’s like a red, red rose!
Ôi, người yêu tôi như một bông hồng thật đỏ!
Trong khi đó, hai câu thơ sau đây của Sir Walter Raleigh là một ẩn dụ:
 
But love is a durable flame
In the mind ever burning.
Nhưng tình yêu là lửa lâu dài
Trong tâm tư luôn luôn bừng cháy.
 
Trong phạm vi nhỏ hẹp của bài này, tôi xin chia xẻ với quý bạn đọc một số mô thức để thể hiện ví von trong thi ca của vài ngôn ngữ khác nhau.  Đề tài ẩn dụ sẽ được trình bầy trong một bài viết khác.
Thông thường, sự ví von được coi như một lượng giá tương đương giữa yếu tố được đề cập đến (A) và yếu tố ví von (B), theo mô thức A ngang B. Nhưng cũng có những ví von dựa trên các mô thức A hơn B, A kém B, hoặc A hơn tất cả.
Mô thức căn bản A ngang B phổ cập nhất, như thấy trong câu ca dao lục bát “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi / Như đứng đống lửa, như ngồi đống than” mà trong đó câu lục là yếu tố A và câu bát là yếu tố B với hai ví von.
Lý Bạch mở đầu bài “Xuân Tứ” bằng cách ví von mầu cỏ yên khi mùa xuân về như tơ xanh:
 
Yên thảo như bích ti.
Cỏ yên như tơ xanh.
 
Trong bài thơ vẽ lên một mùa xuân diễm lệ đang dừng gót trên một mặt hồ tại đất Hàng Châu, Bạch Cư Dị mở đầu bằng cách so sánh mùa xuân với một bức tranh:
 
Hồ thượng xuân lai tự họa đồ.
Xuân về trên hồ tựa bức tranh.
Heinrich Heine ví von nét yêu kiều của một bông hoa biết nói với một bông hoa thật như thế này:
 
Du bist wie eine Blume
So hold und schoen und rein.
Em trông như một đóa hoa
Ôi bao duyên dáng, mặn mà, băng trinh.
 
Nữ nhạc sĩ Consuelo Velázquez, tác giả bài ca “Bésame mucho” nóng bỏng, đã mạnh bạo đề nghị người bạn trai hãy hôn nàng như thể đêm nay là lần cuối cùng họ hôn nhau trong đời:
 
Bésame, bésame mucho
como si fuera esta noche la última vez!
Hãy hôn em, hôn em cho đắm đuối
như thể tối nay đêm cuối cuộc đời!
 
Một William Wordsworth đang chán chường thế sự đã ví von sự lãng du cô đơn của mình như một áng mây trời:
 
I wandered lonely as a cloud
That floats on high o’er vales and hills.
Lang thang cô độc như một áng mây trời
Ta lờ lững trên núi đồi cùng thung lũng.
 
Trên đường đi thăm mộ người con gái yêu thương mới qua đời  trong một tai nạn thảm khốc, một Victor Hugo cô đơn, buồn tủi chẳng để ý chi đến ngoại cảnh. Như thầm thì nói chuyện với con dưới mộ, thi hào đã ví  từ nay ngày đối với mình sẽ như đêm tối:
 
Je marcherai, les yeux fixés sur mes pensées,
Sans rien voir au dehors, sans entendre aucun bruit,
Seul, inconnu, le dos courbé, les mains croisées,
Triste, et le jour pour moi sera comme la nuit.
 
Cha sẽ đi, mắt tập trung vào suy nghĩ,
Không nhìn quanh, chẳng nghe ngóng điều chi,
Cô đơn, lạc lõng, lưng cúi, đôi tay khoanh chặt,
Sầu bi, ngày với cha sẽ như đêm tối mất thôi.
 
Để mô tả tiếng đàn Thúy Kiều gẩy cho Kim Trọng nghe sau khi nàng đã cùng chàng thề nguyền, Nguyễn Du giáng xuống một chuỗi ví von đắc địa :
 
Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục như tiếng suối mới sa nửa vời,
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.
 
Để giới thiệu một giai nhân chẳng phải là người trong cõi chúng ta, Đinh Hùng sử dụng một lúc hai ví von tráng lệ cho “Kỳ Nữ”:
 
Em rực rỡ như muôn ngàn hoa sớm,
Em đến đây như đến tự thiên đường.
 
Mô thức A ngang B cũng có thể được thể hiện một cách tân kỳ hơn. Chẳng hạn trong tiếng Việt, nếu A có trạng từ chỉ số lượng “bao nhiêu” thì B có trạng từ chỉ số lượng tương đương “bấy nhiêu” đáp lại, như trong câu ví von dễ thương của một tình yêu nơi thôn quê thuở trước làm ấm lòng người nghe không ít:
 
Qua đình ngả nón trông đình,
Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu!
 
Mô thức A hơn B được thấy rõ rệt khi William Shakespeare so sánh sự yếu đuối  của mình với một giọt lệ đàn bà:
 
I am weaker than a woman’s tear.
Tôi yếu đuối hơn một giọt lệ đàn bà.
 
Một khách tình si nói tiếng Pháp có thể sử dụng cả hai mô thức A hơn B và A kém B để thú nhận điều mỗi ngày gặp người yêu là chàng càng yêu nàng hơn, hơn hôm qua nhưng lại kém ngày mai:
 
Chaque jour je te vois et je t’aime davantage,
beaucoup plus qu’hier mais bien moins que demain.
 
Càng gặp em anh càng yêu hơn nữa,
hơn qua nhiều nhưng kém hẳn ngày mai.
 
Vị thế “độc tôn” trong mô thức ví von A hơn tất cả đã được William Wordsworth sử dụng để đề cao vẻ đẹp của một kiều nữ bí mật: Nàng như một bông đổng thảo bên cạnh tảng đá rêu phong, ít người nhìn thấy. Nhưng nàng đẹp lắm, này nhé:
 
A violet by a mossy stone
half-hidden from the eye
fair as a star, when only one
is shining in the sky.
 
Bông đổng thảo kề bên tảng đá
nửa khuất che cả mắt thế gian
đẹp như sao, khi chỉ một vì
long lanh sáng trên trời cao thẳm.
 
Một lối ví von nữa, có tính cách lan rộng (Homeric simile), được căn cứ vào mô thức A ngang B nhưng rồi chỉ B được phát triển thêm chi tiết. Nguyên Sa đã sử dụng lối ví von này để so sánh đôi mắt của người tình với một vì sao vô cùng đặc biệt:
 
Tôi muốn ví mắt em như một vì sao
chưa có ở trên trời
một vì sao ngủ muộn hơn sao hôm
dậy sớm hơn sao mai
mà lòng tôi vẫn nhìn
chưa bao giờ chớp mắt
như em vẫn nhìn
nụ cười của em
trong mắt tôi!
 
Ngoài những lối ví von hiền lành vừa kể còn có những lối ví von táo bạo hơn trong thi ca. Trong những ví von loại  này,  B là yếu tố táo bạo  gây ra những ấn tượng khó quên cho người đọc, như trong hai thí dụ dưới đây.
Trong một bài thơ lạnh lùng đến rợn người, Keith Douglas đã nói lên cái chết thảm thê của một thiết giáp binh người Đức trong thế chiến thứ hai qua một ví von táo bạo. Trong chiếc chiến xa đã bị phá hủy, người ta tìm thấy tấm hình của người yêu anh ấy. Bên dưới chữ ký trên tấm hình tặng anh, nàng còn nắn nót viết thêm chữ “Vergissmeinnicht” (tên một loài hoa trong tiếng Đức có nghĩa đen là “đừng quên em nhé”) để nhắc nhở người lính trẻ ấy hãy nhớ nàng mãi mãi. Nhưng đây là sự thực phũ phàng:
 
But she would weep to see today
how in his skin the swart flies move;
the dust upon the paper eye,
and the burst stomach like a cave.
 
Nhưng nàng sẽ khóc ngất hôm nay khi thấy
bầy ruồi đen bâu kín da chàng;
bụi phủ đầy trên con mắt giấy,
còn dạ dầy banh như một cái hang.
Bài viết ngừng tại đây với một chuỗi ví von tân kỳ táo bạo, nhưng cũng dễ thương làm sao của Nguyên Sa:
 
Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm
như con mèo ngái ngủ trên tay anh
đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình
để anh giận sao chả là nước biển!
Tài liệu tham khảo
***
Cuddon, J.A. (1991). A dictionary of literary terms and literary theory.  Oxford, England: Basil Blackwell Ltd.
Felleman, H. (1936).  The best loved poems of the American people. New York: Doubleday.
Flores, A. (1998). Spanish poetry.  Mineola, NY: Dover Publications.
Mathieu, G., & Stern, G. (1987).  Introduction to German poetry. New York:  Dover Publications.
Nguyên Sa (2000). Thơ Nguyên Sa toàn tập. Irvine, CA : Đời.
Pompidou, G. (1961). Anthologie de la poésie francaise.  Paris : Librairie Hachette.
Trần Trọng San (1993). Thơ Đường. Scarborough, Canada: Bắc Đẩu.
Sunday, 01 March 2015 17:26
Written by Đàm Trung Pháp
Chân...* Đàm Tr. Pháp
 
"Chân Dung" Của Một Học Viên
Ngoại Ngữ Hữu Hiệu
 
Sau nhiều năm quan sát, ghi nhận và chia xẻ, giới nhà giáo ngôn ngữ chúng tôi đã có thể phác họa ra “chân dung” của một học viên ngoại ngữ hữu hiệu qua một số đặc trưng. Tôi xin giải thích về những đặc trưng đó để quý bạn đọc nào đang học ngoại ngữ tự lượng giá, và nếu thấy mình thiếu hụt thì có thể làm thêm được những gì để có thể thành công hơn trong nỗ lực ấy. Vì chúng ta đang sống tại Hoa Kỳ, tôi xin đưa ra những thí dụ bằng tiếng Anh trong bài viết này.
Dưới đây là “chân dung” của một học viên ngoại ngữ hữu hiệu, qua các đặc trưng được mô tả vắn tắt cùng với các thí dụ liên hệ làm sáng tỏ vấn đề.
Người học viên ấy:
Sẵn sàng đoán ý nghĩa của một chữ mới gặp lần đầu, căn cứ vào ngữ cảnh (context) của chữ mới ấy. Điều này rất hữu lý, vì đâu có phải lúc nào học viên cũng có tự điển trong tay? Khi nghe hoặc đọc một đoạn đề cập đến một “obese man” nặng trên 300 pounds đang thở hổn hển leo cầu thang, thì học viên đoán được ngay ý nghĩa của chữ “obese” phải là “mập phì” rồi. Sau đó khi có thì giờ, người học viên sẽ tra tự điển để phối kiểm ý nghĩa, cách phát âm, cũng như chính tả của chữ “obese”cho chắc ăn.
Luôn luôn tìm kiếm cơ hội đàm thoại với người bản xứ và “coi như pha” những lỗi lầm về phát âm hoặc văn phạm của mình. Đành rằng lối phát âm tiếng Anh lôi thôi lắm, văn phạm cũng phiền hà nữa, nhưng nếu cứ e ngại sợ người Mỹ cười thì chẳng bao giờ dám phát ngôn, chẳng bao giờ nói được tiếng Anh! Không ai có thể chinh phục được một ngoại ngữ mà không phạm lỗi phát âm cũng như lỗi văn phạm nhiều lần trong khi học tập. Sự nhút nhát này rất tai hại, vì nó sẽ cho phép các lỗi ấy ngủ yên và cuối cùng biến chúng thành chai đá (fossilized) vô phương sửa chữa sau này. Người học ngoại ngữ hữu hiệu thường là những cá nhân có tính tình cởi mở, thân thiện, thích nói chuyện, và có cảm tình với ngoại văn, ngoại ngữ nói chung. Họ cũng không bao giờ bị trằn trọc, áy náy suốt đêm vì ban ngày họ đã phạm các lỗi phát âm hoặc văn phạm tiếng Anh!
Tận dụng mọi cơ hội để thực tập các chức năng ngôn ngữ (language functions) đã học được nhưng dùng chưa nhuyễn, trong cả hai lãnh vực nói và viết. Mỗi chức năng ngôn ngữ là một phương tiện để truyền thông và có một cấu trúc và từ vựng đặc thù. Thí dụ như chức năng “tạ lỗi” thường dùng động từ “apologize for” cho cái hành động mà nay mình hối hận, được diễn tả bằng mô thức [having + past participle của động từ đã gây ra hành động đáng tiếc ấy] như trong câu “I apologize for having ignored you at the party last week.” Quả thực, mức thông thạo (proficiency level) về một ngoại ngữ của một cá nhân có thể được đánh giá qua tổng số các chức năng mà người ấy đã thủ đắc được trong ngoại ngữ ấy.
Thực tập cách phát âm những chữ khó sau khi đã nghe người bản xứ, nhất là các chữ chứa đựng những âm vị (phonemes) không có trong tiếng mẹ đẻ của mình (như “think”, “judge”, “church”), hoặc các chữ mà âm tiết nhấn mạnh (stressed syllable) nằm trong vị trí bất thường (như “melancholy” và “industry” đều được nhấn mạnh ở âm tiết đầu tiên). Sự thực tập phát âm này có thể âm thầm, có thể lớn tiếng. Nỗ lực này thực tế lắm, vì người Mỹ thường không hiểu chúng ta khi chúng ta phát âm trật một âm vị trong chữ hoặc nhấn mạnh trật âm tiết trong một chữ.
Lắng nghe lối nói người bản xứ để học hỏi cách phát âm, cách dùng chức năng ngôn ngữ, và nhất là cách dùng những đặc ngữ (idioms) như trong các câu “Mary went through the roof when she heard she had been fired” hoặc “We only see them once in a blue moon.” Vì ý nghĩa của các đặc ngữ “go through the roof” (nổi cơn tam bành) và “once in a blue moon” (năm thì mười họa) rất khó đoán trúng, học viên phải hiểu cho rõ bằng cách lưu ý chúng rồi tra cứu ý nghĩa qua tự điển hoặc nhờ người bản xứ giúp đỡ.
Để ý đến những sắc thái tế nhị của ý nghĩa trong từ vựng và cú pháp. Thí dụ, người Mỹ thường không muốn dùng động từ “die” nghe quá phũ phàng, cho nên họ dùng những chữ thanh lịch hơn như “pass away” hoặc “depart.” Cú pháp cũng cho thấy thái độ của người sử dụng là lịch lãm hay cọc cằn, chẳng hạn như sự khác biệt giữa câu “Would you mind closing the window?” và “Close the window!”
Chú trọng đến hình thức của ngoại ngữ đang học hỏi, nào là viết chữ cho đúng chính tả (spelling), nào là chấm câu (punctuation) cho chỉnh, nào là chia động từ (conjugation) cho phân minh, vân vân. Nỗ lực này đòi hỏi sự chú tâm quan sát, ghi nhận, và thực tập đều đặn, vì tiếng Anh không phải là thứ tiếng dễ viết dựa vào lối “đánh vần” (hai chữ “key” và “quay” cùng phát âm như nhau), vì quy luật chấm câu trong tiếng Anh rất chặt chẽ (nếu không cẩn thận với dấu phết, người viết sẽ phạm vào các “trọng tội” như “comma splices” hoặc “run-on sentences”), và vì tiếng Anh có hàng trăm động từ bất quy tắc (sắp xếp theo mẫu tự từ “arise/arose/arisen” đến “wind/wound/wound”). Đây là lối tiếp thu văn phạm nghiêm chỉnh của một cá nhân học ngoại ngữ hữu hiệu để dẫn đến mức thông thạo hàn lâm (academic proficiency).
Không bứt rứt vì chưa hiểu rõ một cấu trúc nào đó của ngoại ngữ mình đang học hỏi, mà kiên nhẫn chờ đợi trong khi tìm hiểu thêm và chấp nhận đó là một phần tự nhiên của tiến trình học hỏi. Câu “Had John studied harder, he might have passed that tough exam” chắc chắn từng làm nhiều học viên tiếng Anh thắc mắc vì cấu trúc khác thường của nó. Hiển nhiên, cấu trúc này rất cần được tìm hiểu và thủ đắc vì nó diễn tả một sự giả dụ trái với sự thực trong quá khứ, đồng nghĩa với “If John had studied harder, he might have passed that tough exam.” Sự thực là John đã chẳng học chăm hơn tí nào và chàng đã rớt kỳ thi khó khăn đó rồi.
Dùng kiến thức tiếng mẹ đẻ để hiểu thêm về ngoại ngữ đang học. Người Việt chúng ta không may mắn bằng những người nói tiếng Tây Ban Nha khi học tiếng Anh, vì giữa tiếng Việt và tiếng Anh không hề có những chữ cùng gốc (cognates), nhưng cả chục ngàn những chữ cùng gốc đó tồn tại giữa tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha. Vì vậy người Mễ Tây Cơ sẽ hiểu ngay câu tiếng Anh sau đây chứa đựng vài chữ lạ lùng, khó đoán nghĩa cho người Việt chúng ta: “A coward osculated a taciturn damsel.” Trong khi người Việt thấy các chữ “coward, osculated, taciturn, damsel” lạ hoắc thì người Mễ hiểu chúng ngay rồi, vì “coward” cùng gốc với “cobarde” (kẻ hèn nhát), “osculated” cùng gốc với danh từ “ósculo” (nụ hôn), “taciturn” cùng gốc với “taciturna” (lầm lỳ), và “damsel” cùng gốc với “damisela” (thiếu nữ). Về cú pháp, người học viên hữu hiệu sẽ lưu ý tới những nét khác biệt đáng kể giữa ngôn ngữ mẹ đẻ và ngôn ngữ đang học hỏi, qua tiến trình “nâng cao ý thức” (consciousness-raising) để không phạm vào các lỗi lầm do sự “nhiễu nhương” (interference) – tức là không để cú pháp ngôn ngữ mẹ đẻ ảnh hưởng tiêu cực đến cú pháp ngôn ngữ đang học. Chẳng hạn, khi một câu phức tạp tiếng Việt bắt đầu bằng mệnh đề phụ sử dụng một trong các liên từ “vì/tuy/nếu” thì mệnh đề chính thường bắt đầu bằng một trong các “từ quân bình” (balance words) “nên/nhưng/thì” như trong các thí dụ sau đây: (1a) Vì nó kiêu ngạo, nên nó không có bạn. (2a) Tuy họ nghèo, nhưng họ rất hạnh phúc. (3a) Nếu anh yêu tôi, thì anh phải cưới tôi ngay! Nếu vô tình để khía cạnh cú pháp này của tiếng Việt ảnh hưởng lối viết tiếng Anh, chúng ta sẽ viết ra các câu bất cập sau đây: (1b) Because he is arrogant, so he has no friends. (2b) Although they are poor, but they are very happy. (3b) If you love me, then you must marry me at once! Người học viên hữu hiệu sẽ tinh ý dẹp bỏ ngay các “từ quân bình” không cần thiết “so/but/then” trong các câu (1b), (2b), và (3b).
 
Vài Nét Đặc Thù Về
Các Ngôn Ngữ “Giả Cầy”
 
Trong thời Pháp thuộc, một nông dân Việt được mướn để làm vườn trong tư dinh viên công sứ người Pháp tại miền thượng du Bắc kỳ. Một hôm, một con hổ lọt hàng rào vào vườn, đạp nát các luống hoa, rồi lững thững trở về rừng. Buổi chiều khi viên công sứ về nhà, thấy những vết chân khổng lồ trên các luống hoa, ông không hiểu là trâu bò nhà ai đã dám cả gan vào tận tư dinh công sứ phá phách như thế. Người làm vườn giải thích cho chủ rõ là hổ đấy chứ chẳng phải trâu bò nào đâu, “Lúy tí ti dôn, tí ti noa, lúy gầm, lúy gừ, lúy măng-dê me xừ, lúy măng-dê cả moa” (Nó tí ti vàng, tí ti đen, nó gầm, nó gừ, nó xực ông, nó xực cả tôi). Vậy mà ông tây thuộc địa hiểu ngay, rồi há hốc miệng, vung tay lên trời và chỉ nói được hai chữ “Un tigre?”(Một con hổ à?) rồi té xỉu. Người làm vườn phải dìu ông chủ vào nhà và trong bụng mừng lắm, vì ông công sứ đầy quyền uy rõ ràng đã hiểu thứ tiếng Tây “giả cầy” của mình. Đó là thứ tiếng Tây sử dụng cú pháp và lối phát âm Việt, trong đó ngữ vựng của hai ngôn ngữ phứa phừa giao duyên.
Tác giả bài này xin tạm dùng nhóm chữ “ngôn ngữ giả cầy” với giá trị tương đương cho hai từ pidgin và creole trong tiếng Anh. Các loại ngôn ngữ pha trộn và có vẻ kỳ cục này tồn tại nhiều nơi trên thế giới, và là phương tiện truyền thông của đổi chác thương mại, của đời sống đồn điền, và của các cuộc tiếp xúc khác trong đó những người sử dụng ngôn ngữ khác nhau đã cùng nhau thỏa thuận về một tiếng nói mới. Có một sự khác biệt đáng kể giữa pidgin và creole: không ai sử dụng pidgin như một tiếng mẹ đẻ; và khi một pidgin đã trở thành căn cơ, phức tạp hơn, hữu hiệu hơn mà lại có người sử dụng như tiếng mẹ đẻ thì pidgin đó đã thăng hoa thành một creole. Quả thực đã có một số ngôn ngữ giả cầy, tuy đôi khi vẫn mang danh pidgin, nay đã trở thành tiếng mẹ đẻ của nhiều người, điển hình là Tok Pisin ở Papua New Guinea và Hawaiian English ở Hạ uy di.
Đại đa số các pidgins thường không thọ, kể cả tiếng Pháp và tiếng Anh giả cầy thịnh hành trong thời Pháp thuộc và trong cuộc chiến Việt Nam mà người Việt mệnh danh là “Tây bồi” và “Mỹ bồi.” Nhưng cũng có những creoles đã trở thành ngôn ngữ quan trọng, như Haitian French Creole được hơn 4 triệu người sử dụng tại Cộng Hòa Haiti, một thuộc địa cũ của người Pháp; Gullah, với trên 200 ngàn người sử dụng dọc miền duyên hải đông nam Hoa Kỳ, là một ngôn ngữ lấy tiếng Anh làm căn bản, pha trộn với nhiều sắc thái ngôn ngữ Phi châu; và Jamaican Creole English được trên 2 triệu người sử dụng tại Cộng Hòa Jamaica.
Về nguồn gốc chữ pidgin thì không ai dám cả quyết. Có người cho rằng đó là cách người Trung Hoa phát âm chữ business, lại có người cho rằng pidgin phát xuất từ chữ Do thái pidjom (có nghĩa là đổi chác), cũng lại có người cho rằng chữ pidgin và chữ pigeon (có nghĩa là chim bồ câu, thường được huấn luyện để đưa thư) chắc chắn có liên hệ mật thiết! Còn chữ creole thì do chữ crioulo trong tiếng Bồ đào nha (có nghĩa đen là một người da trắng sinh ra và lớn lên tại một thuộc địa) mà ra.
Lúc mới xuất phát, các pidgins chỉ có một công dụng rất hạn chế, như để đổi chác hàng hóa giữa người Tây phương và người bản xứ Phi châu hoặc Á châu. Trong thế kỷ 19, các đồn điền do người Tây phương làm chủ thường có một số nô lệ nói vài ngôn ngữ khác nhau làm việc. Những nô lệ nào cùng nói một thứ tiếng thường bị chủ nhân không cho liên lạc với nhau, e rằng họ có thể cùng dùng ngôn ngữ đó để mưu mô trốn thoát đồn điền hoặc làm phản. Thành ra khi các nô lệ phải nói chuyện với nhau hoặc với chủ nhân, họ phải đồng ý phát minh ra một thứ tiếng nói mới với bản chất giả cầy.
Thoạt đầu, một ngôn ngữ loại này chỉ có một cấu thức giản dị tối đa và một số từ vựng nhỏ nhoi. Các hình dạng để diễn tả số nhiều (như “books” và “houses” trong tiếng Anh), các tiếp vĩ ngữ để phân biệt nam và nữ (như “alumno” có nghĩa là nam sinh và “alumna” có nghĩa là nữ sinh trong tiếng Y pha nho), các bảng chia động từ đều biến mất trong ngôn ngữ giả cầy này. Về từ vựng thì chỉ có từ 50 đến 300 chữ cho nên người nói tiếng này phải vận động tối đa lối nói quanh co, bóng bẩy. Chẳng hạn, khi muốn diễn tả ý nghĩ “Tôi đói bụng” thì tiếng Tok Pisin (do “talk pidgin” mà ra, lấy Anh ngữ làm chủ lực) phát ngôn thành “Bụng thuộc về tôi đi tản bộ dài dài” tức là Belly belong me plenty walk about.
Pidgin là sản phẩm của cả hai phe nói tiếng khác nhau. Trên lý thuyết thì cả hai thứ tiếng đều đóng góp về âm thanh, từ vựng, và yếu tố ngữ pháp. Tuy nhiên, ngôn ngữ có uy tín hơn (thường được coi là “thượng tầng” như tiếng Anh, Pháp, Tây ban nha, Bồ đào nha, Hòa lan) hầu như cung cấp phần lớn từ vựng, và ngôn ngữ kia (thường bị coi là “hạ tầng” như tiếng Tàu, tiếng Tolai, tiếng Hạ uy di, và các tiếng Phi châu) có ảnh hưởng lớn hơn về ngữ pháp. Điển hình là trong Tok Pisin 80% từ vựng là Anh ngữ, và ngữ pháp chịu ảnh hưởng lớn của Tolai là một thổ ngữ quan trọng trong gia đình ngôn ngữ Papuan.
Các pidgins khi trở thành creoles cần phải có chữ viết. Lối viết tốt nhất, theo ý kiến các nghiên cứu gia về ngôn ngữ giả cầy, là theo cách phiên âm với mẫu tự la-tinh (thay vì dùng chính tả quy ước của các ngôn ngữ thượng tầng xuất phát từ Âu châu). Vì vậy mà tiếng Tok Pisin viết “too much” là “tumas” và mouth là “maus,” vì trong ngôn ngữ này âm “ch” và âm “th” đọc lên như âm “s.” Các thí dụ về Tok Pisin trong phần còn lại của bài này đều được viết theo lối phiên âm đó.
Với Anh ngữ đóng vai trò thượng tầng, Tok Pisin là ngôn ngữ chính thức của khoảng 1 triệu người dân nước Papua New Guinea nằm trong Thái bình dương, phía bắc Úc châu. Ngôn ngữ này đã có một ngữ pháp chính thức và một từ vựng dồi dào. Hoàng tế Philip, phu quân của Nữ Hoàng Anh Cát Lợi, đã có lần thử nói Tok Pisin nhưng bị thất bại vì dùng sai ngữ pháp! Khi nghe ông diễn tả “hoàng tế” là “fella belong Mrs. Queen” thì dân chúng Papua New Guinea cười bể bụng vì ngữ pháp Tok Pisin của họ đã bị vi phạm một cách ngoạn mục. Phải nói “man belong kwin” mới đúng là Tok Pisin chính hiệu, vì trong ngôn ngữ này chữ “fella” (đọc và viết là “pela”) không có thể được dùng ở vị trí trong cụm từ của hoàng tế Philip với nghĩa “đàn ông” hoặc “chồng.” Trong khi đó, chữ “pela” (thoát thân từ chữ “fella”) chỉ dùng làm tiếp vĩ ngữ để đánh dấu tính từ hoặc số từ trong Tok Pisin, thí dụ “tupela blakpela pik” có nghĩa là “hai con heo đen” và “yupela” có nghĩa là “các anh.” Đây cũng là dấu hiệu cho thấy Tok Pisin đã trở thành một creole, tiến bộ hơn giai đoạn khởi thủy rất nhiều. Cùng trong tiến trình này, tiếp vĩ ngữ “im” được dùng để biến một tính từ thành động từ, như trong các thí dụ sau đây: “bik” (big, large) + “im” = “bikim” (to enlarge); “nogut” (no good) + “im” = “nogutim” (to spoil). Và sự thu gọn hoặc hoán chuyển vị trí các chữ trong câu cũng cho thấy Tok Pisin hiện đại mỗi ngày một thăng tiến hơn, chẳng hạn “kot bilong ren” (raincoat) = “kotren” hoặc “renkot.”
Nhưng có lẽ cách ghép những chữ căn bản vào với nhau một cách đầy ấn tượng để tạo ra những chữ mới trong Tok Pisin mới thực ngoạn mục, như các thí dụ sau đây: “mausgras” (cỏ mồm) = râu mép; “gras bilong fes” (cỏ mặt) = râu; “gras bilong hed” (cỏ đầu) = tóc; “gras antap ai” (cỏ trên mắt) = lông mày; “gras nogut (cỏ không tốt) = cỏ dạ
Trong cuốn sách mang tên Experiments in Civilization của tác giả H. I. Gogbin, xuất bản tại Luân đôn năm 1939, người đọc được thưởng thức một bài thơ rất cảm động viết bằng tiếng Tok Pisin bởi một nhà thơ khuyết danh, với lời lẽ giản dị bộc trực. Chỉ vì miếng cơm manh áo mà nhà thơ ấy phải bỏ quê nhà ra thành thị làm việc, nhưng trong lòng lúc nào cũng rộn lên một niềm thương nhớ quê xưa, người cũ:
Ples bilong mi i namerwan
Mi laikim im, tasol
Mi tink long papa, mama tu
Mi krai long haus bilong ol
 
Quê tôi hạng nhất trên đời
Tôi yêu nó, có vậy thôi
Tôi nghĩ đến cha và mẹ nữa
Tôi sót thương cho mái nhà chung
 
Mi wok long ples i longwe tru
Mi stap nogut, tasol
Brader, susa tu
Long taim wetim mi
Ol tink mi lus long si
 
Vì miếng ăn tôi xa nhà thực
Mà bỏ làm thì khó, thế thôi
Anh và chị thân yêu tôi nữa
Ngóng tôi về từ bấy lâu nay
Giờ chắc nghĩ tôi chìm sâu đáy biển
 
Nau mi kirap, mi go long ples
Mi nokin lusim mor
Ples bilong mi i namerwan
 
Phút này đây tôi đứng dậy, trở về
Vì không thể cách xa nơi ấy nửa
Quê hương tôi hạng nhất trần gian
 
Mặc dù nhiều người vẫn còn coi nhẹ các loại tiếng giả cầy – người Pháp còn gọi loại ngôn ngữ này ở Phi châu là petit nègre (mọi đen con) vì nó ít từ vựng và dùng ngữ pháp thô sơ như con nít – các loại ngôn ngữ rất đặc thù này đã thành công trong sứ mệnh truyền thông giữa người với người, và đó là mục đích chính của bất cứ một ngôn ngữ nào. Chúng cũng chúng minh hùng hồn được khả năng sáng tạo của bộ óc con người khi nhu cầu truyền thông đòi hỏi. Đã đến lúc chúng ta phải nhìn những ngôn ngữ giả cầy của nhân loại dưới một ánh mắt độ lượng hơn
 
Yêu Em Anh Làm Thơ
(TRƯỜNG HỢP PABLO NERUDA)
 
Nhà thơ kiêm nhà ngoại giao nước Chí Lợi mang bút hiệu Pablo Neruda (1904-1973) đoạt giải Nobel văn chương năm 1971. Tên trên giấy khai sinh của ông là Neftali Ricardo Reyes Basoalto, nhưng từ năm 1946, bút hiệu Pablo Neruda đã được hợp thức hóa thành tên chính thức. Có thể nói Neruda là nhà thơ Nam Mỹ được thế giới biết đến nhiều nhất, và thi tập đầu tay của ông viết  năm 20 tuổi đã bán được trên một triệu cuốn và đã được dịch sang hơn 20 ngôn ngữ từ đó đến nay.
 
Neruda sinh ra trong một gia đình khiêm tốn tại một tỉnh nhỏ miền nam Chí Lợi và bắt đầu làm thơ năm lên 10. Từ năm 1921 ông theo học văn chương Pháp tại Universidad de Chile ở thủ đô Santiago. Năm 1924, mới 20 tuổi đầu, Neruda đã lẫy lừng danh tiếng thế giới sau khi xuất bản thi tập HAI MƯƠI BÀI THƠ TÌNH VÀ MỘT BÀI CA TUYỆT VỌNG (Veinte poemas de amor y una canción desesperada), dựa vào một mối tình tan vỡ đắng cay. Ba năm sau, Neruda được bổ nhiệm làm lãnh sự tại Miến Điện. Những năm sau đó ông được thuyên chuyển đến các nhiệm sở ngoại giao tại các quốc gia khác ở  Á Châu và Aâu Châu và tiếp tục viết cho các chuyên san văn học cũng như báo chí. Neruda gia nhập chính trường, đắc cử vào thượng viện, gia nhập đảng cộng sản, từng bị lưu vong, rồi chán ngán chủ thuyết cộng sản sau khi được biết những tội ác tầy trời xảy ra dưới triều đại Stalin. Làm thơ vẫn là mối đam mê lớn nhất của ông. Thi tập CƠ NGƠI TRÊN TRÁI ĐẤT (Residencia en la tierra) gồm các bài thơ viết từ 1933 đến 1947 nói lên sự suy thoái xã hội cùng sự cô lập cá nhân. Thi tập đồ sộ BÀI CA TỔNG QUÁT (Canto general) gồm 340 bài thơ xuất bản năm 1950 là một thiên anh hùng ca đề cao Mỹ Châu La Tinh. Những năm sau cùng cuộc đời,  danh vọng Neruda lại càng lên cao: Oâng đoạt giải Nobel văn chương năm 1971 và được cử làm đại sứ Chí Lợi tại Paris từ 1970 đến 1972.
 
Pablo Neruda đã yêu và sống với vài người đẹp trong cuộc đời. Sau khi chấm dứt mối tình sóng gió với nàng Josie Bliss người Miến Điện có nhiều máu Hoạn Thư, Neruda vào năm 1930 lập gia đình với Maria Antonieta Hagenaar, một phụ nữ Hòa Lan không biết nói tiếng Tây Ban Nha, và hai người ly thân năm 1936. Sau đó Neruda chung sống với họa sĩ Delia del Carril người xứ Á Căn Đình trong một thời gian khá lâu. Năm 1955 Neruda cưới ca sĩ  Matilde Urrutia, một người cùng quê quán mà ông quen biết từ năm 1946. Matilde trở thành người vợ sau cùng cũng như Nàng Thơ đích thực của Neruda. Nhà thơ thường yêu dấu gọi Matilde là cô gái ngát hương miền Chillán (Chillaneja fragrante) và là nữ hoàng và mệnh phụ của mọi ngày trong tuần, của mọi thời điểm (reina y senora de cada jornada, de cada etapa. Nàng cung cấp  thi hứng ngập trời cho những bài thơ trác tuyệt trong các thi tập  NHỮNG VẦN THƠ NGƯỜI THUYỀN TRƯỞNG (Los versos del capitán) và MỘT TRĂM BÀI  THƠ TÌNH (Cien sonetos de amor).
 
Matilde Urrutia (1912-1976) học âm nhạc từ nhỏ. Theo tài liệu của Fundación Pablo Neruda dựa vào lời thân nhân và bạn bè kể lại thì Matilde là một phụ nữ hấp dẫn, tràn đầy nhựa sống, tóc màu hạt dẻ, rất thông minh lanh lợi, tính tình nồng thắm, chơi dương cầm điệu nghệ, hát hay như chim sơn ca, thích bơi lội và trồng hoa. Nàng gặp Neruda lần đầu tại Aâu Châu năm 1946, và khi hai người tái ngộ năm 1949 tại Mễ Tây Cơ thì nàng nhất quyết bỏ hết mọi chuyện để từ đó luôn sống bên chàng!  Lúc này Neruda đang tỵ nạn chính trị và trên giấy tờ vẫn là chồng của họa sĩ Delia del Carril. Tình yêu tuyệt vời của Matilde đã giúp Neruda vượt khỏi những khó khăn gây ra bởi chính trị cũng như bệnh hoạn. Cặp tình nhân sau đó sống những ngày tháng êm đềm tại Đảo Capri trên Địa Trung Hải. Chính tại đây, Neruda đã viết những bài thơ tình tuyệt vời cho Matilde trong thi tập LOS VERSOS DEL CAPITÁN xuất hiện năm 1952. Cũng trong năm ấy Neruda được phép trở về Chí Lợi. Năm 1959 Neruda cho xuất bản thi tập CIEN SONETOS DE AMOR  cũng để tặng Matilde, người mà thi nhân âu yếm gọi là ánh sáng ban ngày và ban đêm của tôi (mi luz de día y de noche).
 
Trong phạm vi nhỏ hẹp của bài viết này, tôi chỉ xin được chuyển sang tiếng Việt một số bài mà tôi cho là tuyệt đẹp trong thi tập LOS VERSOS DEL CAPITÁN. Thi tập này được Neruda cho phổ biến để ghi khắc thời gian thi nhân đang đắm say trong lưới tình của Matilde, lúc mà quả thực yêu em anh làm thơ! Yêu đến nỗi thi nhân viết cả những lời thơ cho nàng lên trên  khăn lau miệng trong tiệm ăn! Neruda là một người viết thơ tình rực lửa. Những bài thơ chứa chan tình ái này chứa đựng nhiều hình ảnh chân thực và cực kỳ thân mật qua một lối viết khi thì nhẹ nhàng êm ái, lúc thì chất ngất đam mê hoặc bâng quơ hằn học. Trong những bài này, Neruda diễn tả ý thơ một cách rất giản dị, rất bộc trực, và do đó thơ của ông có thể được chuyển ngữ dễ dàng mà không sợ bị mất  đi giá trị nguyên thủy. Mời quý bạn đọc thưởng thức một vài bài thơ tình Pablo Neruda viết cho Nàng Thơ bằng da bằng thịt của ông mang tên Matilde Urrutia mà tôi mạn phép chuyển sang tiếng Việt.
 
NỮ HOÀNG
 
Anh đặt tên em là nữ hoàng.
Có những người cao hơn em.
Có những người băng trinh hơn em.
Có những người yêu kiều hơn em.
Nhưng em là nữ hoàng.
 
Khi em quá bộ ra phố
không ai nhận ra em.
Không ai thấy vương miện của em, không ai
thấy tấm thảm bằng vàng đỏ
trải ra để chân em bước tới,
tấm thảm vô hình.
 
Nhưng khi em xuất hiện
tất cả những giòng sông náo động
trong thân anh, những tiếng chuông
lay chuyển cả bầu trời,
và một bài thánh ca ngập tràn thế giới.
 
Chỉ có em và anh,
em yêu ơi, chỉ có em và anh
lắng nghe bài thánh ca ấy.
 
HAI BÀN CHÂN EM
 
Khi anh không nhìn được mặt em
anh ngó đôi bàn chân em.
 
Đôi bàn chân bằng xương uốn cong,
đôi bàn chân xinh xinh cứng cáp.
 
Anh biết chúng chống đỡ em,
và cả tấm thân em
vươn lên từ chúng.
 
Eo bụng và ngực em,
Đôi núm nhũ hoa mầu tím,
hốc mắt sâu, miệng thơm mùi trái cây,
suối tóc hung hung đỏ,
tháp nhỏ của anh.
 
Nhưng anh yêu đôi bàn chân em
chỉ vì chúng đã lê bước
trên đất và trong gió và trên nước,
cho đến khi chúng kiếm ra anh.
 
TIẾNG EM CƯỜI
 
Nếu em muốn, hãy lấy đi thức ăn,
hãy lấy đi  không khí , nhưng
chớ lấy đi tiếng em cười khỏi anh.
Đừng lấy đi nụ hồng em đã hái,
Những giọt nước long lanh
Vì em vui mà bộc phát.
Cuộc đấu tranh khổ ải, anh trở lại
với  đôi mắt mệt mỏi vì đã
thấy cuộc đời không thể đổi thay,
nhưng tiếng em cười
khi vang lên không trung
đã mở ra cho anh tất cả
những cánh cửa cuộc đời.
 
Em yêu, trong giây phút tối tăm nhất
tiếng em cười hãy cho anh bám víu, và nếu bất chợt
em thấy máu anh nhuộm đỏ con đường,
em hãy cười lên, vì tiếng em cười
sẽ là thanh kiếm mới trong tay anh.
 
Bên cạnh biển trong mùa thu,
tiếng em cười sẽ dâng cao làn sóng bạc đầu,
và trong mùa xuân, em yêu,
anh thèm tiếng em cười
như đóa hoa anh mong đợi,
đóa hồng xanh vang vọng quê hương.
 
Em hãy cười ngạo buổi tối,
ban ngày, ánh trăng, những con đường
ngoằn ngoèo trên đảo,
hãy cười ngạo chàng trai trẻ này đang yêu em,
nhưng khi anh trở lại,
em có thể không cho anh thức ăn,
không khí, ánh sáng, mùa xuân,
nhưng đừng bao giờ lấy đi tiếng em cười
vì thiếu nó anh sẽ chết.
 
VẮNG MẶT
 
Anh đã kịp xa em đâu
mà em đã lại đến với anh, tươi sáng như pha lê,
hoặc run rẩy, lo âu, như thể bị anh gây thương tích,
hoặc choáng ngộp ái ân, như lúc mắt em
khép kín khi nhận lãnh quà tặng cuộc  đời
anh không ngừng mang đến cho em.
 
Em yêu,
chúng mình kiếm ra nhau
trong cơn khát nên đã
uống cạn luôn cả nước và máu,
chúng mình kiếm ra nhau
lúc đói lòng
nên đã cắn nhau như lửa
để lại trong nhau những vết thương.
 
Nhưng hãy đợi anh,
giữ cho anh những ngọt ngào.
Anh cũng sẽ tặng em
một đóa hoa hồng.
 
MÃNH HỔ
 
Anh là mãnh hổ
rình em trong đám lá
rộng như những phiến
kim loại ướt.
Giòng sông trắng nước dâng cao
dưới lớp sương mù. Em đến.
 
Trần truồng em ngụp lặn.
Anh vẫn chờ.
 
Rồi trong một nhảy vọt
bằng lửa, máu, răng,
với móng vuốt anh xé tan
ngực em, háng em.
 
Anh uống máu em, anh bẻ gẫy
chân tay em từng chiếc một.
 
Và anh ở lại nhiều năm
trong rừng để canh chừng
đám xương em, tro em,
bất động, cách biệt khỏi
căm hờn và phẫn nộ,
được những chùm dây leo phủ kín,
bất động trong mưa,
tên lính canh trai đá
một cuộc tình sát hại.
 
MÃI MÃI
 
Đối diện em
anh không ghen tuông.
Hãy đến với một  tên đàn ông
trên vai em,
đến với một trăm tên đàn ông trong tóc em,
đến với một ngàn tên đàn ông giữa ngực và chân em,
đến như một giòng sông
tràn ngập  những tên đàn ông chết đuối
sắp trôi ra biển dữ
bọt trắng phau.
 
Mang tất cả
đến chỗ anh đợi em:
chúng ta sẽ mãi mãi cô đơn,
chúng ta sẽ mãi mãi, em và anh,
cô đơn trên trái đất
để bắt đầu cuộc sống.
 
Đàm Trung Pháp

Dùng Kiến Thức...* Đàm Trung Pháp

Dùng Kiến Thức Tâm Lý Ngữ Học Hiện Đại
Để Lý Giải Thứ Tiếng Anh "Bất Thường"
Của Tôi Khi Mới Qua Mỹ Du Học
 
        Mùa hè 1959 đã mang lại cho tôi một niềm vui rất lớn, khi tôi được chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và cơ quan viện trợ Mỹ USAID cấp cho một học bổng mang danh đầy kỳ vọng là LEADERSHIP SCHOLARSHIP để du học tại Mỹ, sau khi tôi đậu tú tài toàn phần ban văn chương với hạng danh dự và đạt điểm cao trong kỳ thi tuyển học bổng toàn quốc do USAID tổ chức bằng tiếng Anh.
 
       Trẻ tuổi, lạc quan và đầy tự tin, tôi nghĩ mình sẽ thuận buồm xuôi gió với tiếng Anh khi qua Mỹ. Nhưng tôi lầm to, vì con thuyền tiếng Anh của tôi đã không đủ chuẩn bị để ra khơi! Không thể đổ lỗi cho ai cả, vì sự thực là tôi và các thầy dạy Anh văn của tôi thuở đó chỉ là là nạn nhân của thời cuộc mà thôi. Tiếng Anh lúc đó còn quá mới mẻ với người Việt, cho nên chính các thầy còn bị khó khăn với cách phát âm cũng như sự lưu loát trong tiếng Anh. Hơn nữa, phương pháp dạy của các thầy quá lưu tâm đến từ chương, khiến cho các hoạt động trong lớp chỉ chú trọng đến các quy luật văn phạm và khả năng dịch thuật từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại. Đó cũng là cách thức các thầy của tôi học tiếng Anh trước khi ra hành nghề. Mấy năm về sau, khi chuyên về ngữ học áp dụng tại Georgetown University, tôi mới được biết lối dạy của các thầy tôi dạo đó có danh xưng uy nghi là PHƯƠNG PHÁP VĂN PHẠM – DỊCH THUẬT (Grammar-Translation Method)! Và bộ giáo khoa viết bằng tiếng Pháp mang tên L’ANGLAIS VIVANT (Tiếng Anh Sống) của tác giả Carpentier-Fialip do nhà sách Hachette xuất bản tại Paris, với hai ấn bản màu xanh da trời (édition bleue) và màu vàng xám (édition beige), quả thực là lý tưởng cho lối dạy và học thuở ấy. Tiếng Anh như vậy, tuy được gọi là SỐNG theo tên bộ sách, thực sự được dạy như một ngôn ngữ đã CHẾT rồi. Nhờ phương pháp này, khi xong trung học, tôi có khả năng dịch (qua văn viết thôi) từ tiếng Anh sang tiếng Việt và từ tiếng Việt sang tiếng Anh, bằng một thứ tiếng Anh đúng văn phạm và không sai chính tả. Tôi chẳng nói ngoa đâu, ở cái tuổi non nớt ấy, qua những bài học văn phạm tiếng Anh đã học thuộc lòng như cháo, tôi đã có thể đưa ra định nghĩa, trình bầy công thức cấu trúc, và cung cấp thí dụ chính xác thế nào là thời FUTURE PERFECT PROGRESSIVE trong tiếng Anh, như một cái máy vậy. Kỳ dị thay, đó là một thời mà chính những người Anh, người Mỹ chính cống chỉ họa hoằn sử dụng, như trong câu BY THIS TIME NEXT MONTH, WE WILL HAVE BEEN LIVING IN AMERICA FOR TWO WEEKS chẳng hạn. Đây là một thời trong tiếng Anh mà tiếng Việt của tôi khó lòng diễn tả nổi, vậy mà tôi vẫn thuộc lòng mới lạ chứ! Qua lăng kính của khoa tâm lý ngữ học (psycholinguistics) ngày nay thì lúc ấy tôi, vô hình chung, đã sử dụng tối đa cơ phận mang tên THE MONITOR là cơ phận thứ ba trong ba cơ phận (processors) chính yếu giúp trí tuệ chinh phục ngôn ngữ mà Stephen Krashen (1982) đã đề bạt để kiến giải ý niệm THE LANGUAGE ORGAN trong não bộ do Noam Chomsky (1965) đề xướng. Cơ phận MONITOR đã giúp tôi HỌC (to learn) một cách tỉnh táo (consciously) những luật lệ văn phạm, những từ ngữ tiếng Anh, nhưng đã không giúp tôi THỦ ĐẮC (to acquire) được sự lưu loát trong việc sử dụng tiếng Anh. Tôi đã không bao giờ có cơ hội được dùng cơ phận thứ hai mang tên THE ORGANIZER là cơ phận có trách nhiệm giúp học viên chinh phục sự lưu loát một cách thản nhiên (incidentally), như thể khi chúng ta thủ đắc sự trôi chảy trong tiếng mẹ đẻ. Sự kiện không may này là lý do chính tại sao tiếng Anh của tôi hồi đó khá bất thường! Còn cơ phận thứ nhất mang tên THE AFFECTIVE FILTER có nhiệm vụ đứng gác cửa cho cơ quan ngôn ngữ và ấn định mức học hỏi nhiều hay ít căn cứ vào mức độ thúc đẩy (motivation level) của học viên thì đã cho tôi mức độ thúc đẩy tối đa rồi. Cái cơ phận cảm xúc vô cùng bén nhậy này biết rõ tôi mê say ngoại ngữ cho nên đã hết lòng hợp tác với tôi.
 
        Sau một vài buổi huấn luyện qua loa về văn hóa Mỹ tại Sở Thông Tin Hoa Kỳ tại Saigon, tôi lên đường du học lúc 18 tuổi. Khi tới Honolulu, tôi được rời máy bay vài chục phút, đi bộ trong terminal của phi trường cho dãn gân dãn cốt. Chưa chi mà đã nhớ nhà đến muốn khóc! Và lần đầu tiên nghe những người xung quanh mình nói toàn tiếng Mỹ, tôi cảm thấy hồi hộp, bất an và lo lắng.
 
        Vài bữa sau, tôi đã có mặt tại trường để kịp theo học khóa mùa thu. Miami là một đại học có campus đẹp như mơ tại tiểu bang Ohio, nhưng tôi cảm thấy mình như một khách lạ lạc lõng trong thiên đường. Tôi bất chợt khám phá ra sự thật phũ phàng là TIẾNG ANH NÓI (spoken English) của người Mỹ bản xứ và TIẾNG ANH VIẾT(written English), vốn là ngón sở trường của tôi, khác nhau một trời một vực. Tôi cũng thấy những bài đàm thoại giữa hai cá nhân A và B mà tôi đã học thuộc lòng, phòng khi hữu sự, hoàn toàn vô ích, vì làm gì có người Mỹ nào đã cùng học thuộc lòng những bài đàm thoại ấy để nói chuyện với tôi đâu!
 
        Tôi quê đến nỗi không biết cách đối đáp ra sao mỗi khi các sinh viên Mỹ nói HI với tôi. Chắc hẳn họ nghĩ là tôi không thân thiện hoặc câm hoặc điếc. Họ đâu có biết cho rằng tôi chưa hề được dạy là HI cũng là một lời chào hỏi như HELLO vậy. Vì không biết người Mỹ thường nói BLESS YOU khi ai đó gần họ nhảy mũi (sneeze), tôi câm như hến mỗi khi anh bạn Mỹ cùng phòng của tôi nhảy mũi ồn ào. Tôi cũng có lần ngẩn tò te ra vì không hiểu câu hỏi nhanh như gió của anh ta, nghe ra như thể JEETJET? Về sau mới biết câu ấy chính là DID YOU EAT YET? phát âm thật nhanh, khiến cho các âm vị (phonemes) trong mấy chữ đó bị rút ngắn và dính chặt vào với nhau! Dùng thuật ngữ của Jim Cummins (1979) thì ở thời điểm ấy, TIẾNG ANH HỘI THOẠI (basic interpersonal communicative skills, gọi tắt là BICS) của tôi dở lắm, và TIẾNG ANH HÀN LÂM (cognitive academic language proficiency, gọi tắt là CALP) của tôi cũng cần phải thăng tiến gấp gáp mới mong cạnh tranh nổi với các sinh viên bản xứ, vì tôi đã lựa văn chương Anh làm môn học chính (major). Theo các cuộc nghiên cứu liên tiếp nhiều năm của Cummins tại Gia Nã Đại thì các học trò ESL phải luyện tập khoảng 2 năm mới đạt được mức BICS khá, và từ 5 đến 7 năm mới may ra bắt kịp mức CALP của người bản xứ!
 
        Như đa số các học trò Á châu khác, tôi là một người học bằng mắt (a visual learner), và do đó dùng hình thức viết (spelling) của chữ làm kim chỉ nam phát âm chữ đó. Tai hại thay, lối phát âm kiểu này khiến tôi phát âm trật một số chữ Anh, như WEDNESDAY(thành ra 3 âm tiết: wed-nes-day), OFTEN (phát âm cả mẫu tự “t”), ARKANSAS (vần với Kansas). Riêng nhóm mẫu tự -OUGH thực dễ sợ vì nó có nhiều lối phát âm khác nhau; tôi đã phải vô cùng cẩn trọng và định thần mỗi khi phát âm các chữ BOUGH, COUGH, HICCOUGH, TOUGH, THOUGH, THROUGH! Những điều quá dễ cho người Mỹ bản xứ phát âm lại là những thử thách cho tôi, chẳng hạn sự khác biệt tế nhị giữa âm [i] trong chữ IT và âm [iy] trong chữ EAT hoặc giữa âm [u] trong chữ LOOK và âm [uw] trong chữ LUKE. Tôi còn nhớ mỗi lần phát âm chữ SHEETvà chữ BEACH là tôi ngại lắm vì nếu không cẩn thận chúng có thể bị nghe lộn thành hai chữ rất tục trong tiếng Mỹ! Cũng vì thiếu cơ hội thực tập phát âm tiếng Anh một cách nghiêm túc, tôi ưa mắc lỗi để trật dấu giọng chính (primary stress) trong một chữ đa âm tiết (multisyllabic word), chẳng hạn thay vì nhấn mạnh âm tiết đầu tiên của chữ MELANCHOLY tôi từng nhấn mạnh âm tiết thứ hai một cách sai lầm. Nguy hại hơn, nhấn mạnh sai chỗ có thể vô tình biến chữ này thành chữ khác; chẳng hạn, chữ INVALID có hai cách phát âm: nếu nhấn mạnh âm tiết đầu tiên, chữ đó là một danh từ có nghĩa là một phế nhân (có thể đã hy sinh một phần thân thể cho đất nước); nếu nhấn mạnh âm tiết thứ hai, chữ đó là một tính từ có nghĩa là vô giá trị. Vị phế nhân sẽ buồn biết mấy nếu bị người đời phát âm trật khiến danh từ đáng kính kia trở thành một tính từ chẳng đẹp chút nào!
 
        Trong lãnh vực cú pháp (syntax) và cách chọn từ (diction), tiếng Mỹ của tôi trong thời gian đầu ở đại học là thứ tiếng Mỹ bất thường. Nó già nua (archaic), hoa mỹ (flowery), trang trọng (formal), bất tự nhiên (unnatural), bất chính cống (unauthentic), và do đó chẳng giống tiếng Mỹ nói (spoken American English) hiện đại chút nào! Nó là sản phẩm của khả năng dịch thuật của tôi cộng với những từ ngữ cổ lỗ xĩ và văn phạm cao cấp không mảy may phù hợp với tiếng Mỹ hiện đại mà tôi phải làm quen và mau chóng chinh phục.
 
        Thứ tiếng Anh bất thường của tôi lúc ấy, nay ngó lại qua lăng kính tâm lý ngữ học của Ken Goodman (1986), thuộc loại PHÁT MINH CÁ NHÂN (personal invention) chưa bao giờ được điều chỉnh bởi QUY ƯỚC XÃ HỘI (social convention) tức là lối nói tiếng Anh chính cống của người bản xứ. Anh bạn cùng phòng của tôi mang tên Dick Welday là một người rất thân thiện và vui nhộn. Sau vài câu chuyện trong ngày đầu chúng tôi mới gặp nhau, Dick nheo mắt nói với tôi đại khái: TIẾNG ANH CỦA BẠN NGỘ LẮM ĐẤY, NHƯNG TÔI CŨNG HIỂU BẠN. Chiều hôm đó, Dick dẫn vài người bạn Mỹ khác đến chơi với tôi. Chắc hẳn anh ta đã nói với họ về thứ tiếng Anh lạ đời của tôi và muốn cho họ đích thân nghe tôi nói thứ tiếng ấy. Sau khi giới thiệu họ với tôi, Dick khai mào: PHAP, TELL US ABOUT THE WEATHER IN VIETNAM WHEN YOU LEFT A FEW DAYS AGO. Dùng khả năng dịch thuật tôn trọng cú pháp tuyệt đối và những từ ngữ hoa mỹ cổ kính, tôi chậm rãi trả lời: MY FRIENDS, WHEN I TOOK LEAVE OF MY BELOVED FATHERLAND, SITUATED NEAR THE EQUATOR, THE WEATHER WAS SCORCHINGLY HOT. Họ lộ vẻ ngạc nhiên và cười tủm tỉm với lối nói tiếng Anh lạ lùng của tôi. Rồi Dick chêm thêm: ISN’T HIS ENGLISH INTERESTING? Bối rối, tôi hỏi Dick: HOW WOULD YOU EXPRESS WHAT I JUST SAID? Anh trả lời gọn lỏn: WHEN YOU LEFT VIETNAM, IT WAS HOT LIKE HELL! Tôi nghe câu ấy khoái tai quá, và đã học ngay được hai điều quan trọng– đó là hãy dùng LEAVE thay cho TAKE LEAVE OF và dùng thành ngữ táo bạo LIKE HELL để biểu diễn mức độ cao. Toàn là những điều hữu ích quá xá mà tôi chưa hề biết đến bao giờ! Nỗ lực giải tỏa (unlearn) tiếng Anh cũ để sẵn sàng học lại (relearn) của tôi khởi đầu từ lúc ấy.
 
        Những tuần lễ đầu tiên tại Miami University thực đầy thử thách cho tôi. Nhớ nhà và thèm cơm Việt Nam quá chừng! Bỗng nhiên tôi cũng thấy màu da, màu tóc, chiều cao, trọng lượng, và giọng nói của tôi đều không giống người bản xứ. Như một con cá văng ra khỏi nước, tôi không biết tương lai học vấn của mình sẽ ra sao nữa. Dùng thuật ngữ giáo dục ngày nay thì lúc đó tôi là nạn nhân của CULTURE SHOCK (xung đột văn hóa), tức là giai đoạn khốn khổ nhất của cái gọi là ACCULTURATION (tiến trình cố gắng hòa hợp với hoàn cảnh mới). Trong gọng kìm của xung đột văn hóa thì việc học hành khó khăn hơn, theo các chuyên gia giáo dục ngày nay. Tôi chưa quen nghe tiếng Mỹ của các giáo sư cho nên việc tôi ghi chép lời giảng của các thầy là một thử thách lớn. Mỗi khi các thầy viết lên bảng điều gì là tôi vui mừng chép lấy chép để vào một cuốn vở. Sự thảm bại của bài luận văn đầu tiên của tôi là một bài học để đời, nhắc nhở tôi ĐỪNG BAO GIỜ BẤT CẨN VỚI CÁCH CHẤM CÂU TIẾNG MỸ! Bài luận văn ấy tôi đã viết rất kỹ về mọi phương diện, trừ phương diện chấm câu theo tiêu chuẩn Mỹ. Khi thấy điểm D bằng mực đỏ trên bài viết, tôi thất kinh, vội hỏi ông thầy tại sao tôi bị điểm kém này. Ông nói tôi phải cẩn thận tối đa với cách chấm câu và khuyên tôi nên ôn tập nhiều trong lãnh vực này. Rồi ông lấy ngón tay chỉ vào những chỗ tôi mắc lỗi lạm dụng dấu phết (comma splices) khiến cho nhiều đoạn trong bài luận trở thành những câu không ngừng chạy (run-on sentences). Những lỗi này, ông nhấn mạnh, không được phép xuất hiện trong tiếng Anh bậc đại học. Thuốc đắng giã tật, tôi vội bỏ ra vài buổi chiều ngồi học thuộc lòng tất cả các quy luật chấm câu tiếng Mỹ.
 
        Một vấn đề nữa rất lớn với tôi là người Mỹ sử dụng nhiều đặc ngữ (idioms) mà ý nghĩa không thể đoán được trong ngôn ngữ hàng ngày. Tôi có khuynh hướng đoán ý nghĩa của các đặc ngữ ấy theo nghĩa đen (literally), và thường đoán sai, vì làm sao mà tôi có thể hiểu BREAK A LEG lại có thể là lời chúc GOOD LUCK hoặc KICK THE BUCKET là cách nói lóng cho động từ DIE? Có lần tôi tới thăm một cô bạn học người Mỹ mà tôi rất mến vào một buổi sáng chủ nhật tại ký túc xá của nàng, nhưng chẳng thông báo trước gì cả. Lisa từ trên lầu xuống gặp tôi tại phòng khách, có vẻ không vui và trông không hấp dẫn như mọi ngày tại lớp học. Chưa kịp trang điểm, nàng xanh xao vàng vọt quá. Nàng nghiêm nghị nói với tôi: PHAP, I WISH YOU HAD GIVEN ME A RING BEFORE YOU STOPPED BY THIS MORNING. Vì tôi tưởng nàng muốn đốt giai đoạn mối tình đang chớm nở giữa chúng tôi, tôi ngây thơ đáp lại: LISA, WE ARE BOTH ONLY 18, WHY SHOULD WE GET ENGAGED AT SUCH A YOUNG AGE? Biết tôi đã hiểu lầm câu nói của nàng, Lisa bật cười và giải thích: DON’T BE SILLY! WHAT I MEANT WAS SIMPLY THAT YOU SHOULD HAVE TELEPHONED ME BEFORE YOU CAME TO SEE ME THIS MORNING. Ngượng ngùng quá cỡ, tôi xin lỗi đã hiểu lầm nàng chỉ vì tiếng Anh của tôi chưa đi đến đâu, cũng như đã không điện thoại cho nàng trước khi ghé thăm. Lisa là một ân nhân của tôi vì nàng đã làm mẫu cho tôi rất nhiều về cách sử dụng COLLOQUIAL AMERICAN ENGLISH và cũng kiên nhẫn giải thích cho tôi nhiều điều về văn hóa Mỹ như thế nào là VALENTINE’S DAY, thế nào là HOMECOMING QUEEN, thế nào là BLIND DATE, vân vân. Những cái kiến thức bối cảnh (schemata) đó về văn hóa Mỹ thực là quan trọng cho tôi mà trước đó tôi chẳng mảy may hay biết! Ngày nay, các giáo chức dạy Anh ngữ cho người ngoại quốc đều được nhắc nhở kỹ càng về tầm quan trọng của SCHEMA THEORY, theo đó sự hiểu biết (comprehension) là do sự liên hợp (integration) của kiến thức mới với một mạng lưới kiến thức cũ (a network of prior knowledge) của học viên. Tôi nợ Lisa một ân huệ lớn về kiến thức văn hóa Mỹ. Lại dùng kiến thức tâm lý ngữ học hiện đại, qua những câu chuyện trên trời dưới đất giữa nàng và tôi ngày này qua ngày nọ, tôi đã chuyển dần cái PERSONAL INVENTION về tiếng Mỹ của tôi sang phía SOCIAL CONVENTION mà cô bạn gái Lisa duyên dáng là một đại diện vô cùng khả ái.
 
Đàm Trung Pháp

Tất Cả Tinh Tú... * Đàm Trung Pháp

Tất cả tinh tú trên trời
chưa bằng…
 
… nụ hoa nhỏ nhoi trên váy em đâu! Đó là ngôn từ khuếch đại mà Victor Hugo dùng trong đoạn chót của bài thơ POUR JEANNE SEULE:
 
Et sais-tu ce qui m’occupe,
Jeanne? C’est que j’aime mieux
La moindre fleur de ta jupe
Que tous les astres des cieux.
 
Có biết chi đang bận lòng anh không,
Hả Jeanne? Đó là điều anh yêu mến
Một nụ hoa nhỏ nhoi trên váy em
Hơn tất cả tinh tú trên trời.
 
Khiếp chưa, nào ai biết là nàng Jeanne mặc váy dài hay váy ngắn hoặc là có bao nhiêu bông hoa nhỏ nhoi như vậy trên váy nàng? Chỉ biết rằng sau khi tán hươu tán vượn người đẹp ấy một hồi lâu, Victor Hugo đã kết luận bài thơ nịnh đầm ở mức thượng thừa này bằng một thứ ngôn ngữ thổi phồng khiến cho tâm hồn cô đầm Jeanne diễm phúc nào đó bay lên chín cõi từng mây.
 
Ngôn ngữ khuếch đại (mà cả tiếng Anh lẫn tiếng Pháp gọi là “hyperbole”) đã được dùng trong ngôn ngữ loài người từ lâu lắm rồi. Quả thực, dù chẳng có tâm hồn thi sĩ như Victor Hugo, chúng ta vẫn thường dùng ngôn ngữ thổi phồng trong đời sống hàng ngày để nhấn mạnh điều muốn nói hoặc để chọc quê thiên hạ cho vui. Một ông bạn thân làm văn nghệ của tôi có thói quen trách tôi mỗi khi gọi điện thoại cho tôi không được bằng câu: “Khiếp, ông đi đâu mà tôi gọi cả trăm lần không được vậy? Mong bài viết của ông đỏ cả con mắt ra đấy!” Biết là ông xạo, tôi vẫn chịu lối nói quá lời đó của ông. Nơi tôi làm việc có một bà đồng nghiệp người Mỹ rất ưa sử dụng ngôn từ khuếch đại. Một hôm bà nói như thế này về một đồng nghiệp khác nắm chức vụ lớn đã khá già rồi nhưng chưa chịu về hưu (để người trẻ hơn có chỗ mà ngoi lên): “I do not know why he’s still working. He’s only one year younger than God!” (Tôi chẳng hiểu tại sao cụ ấy vẫn còn làm việc. Cụ ấy tính ra chỉ thua Thượng Đế có một tuổi thôi mà!) Cũng cái bà này một bữa trách bạn trai của bà đến trễ khoảng 15 phút để rủ bà đi ăn trưa: “I’ve been waiting for an eternity!” (Đợi anh cả một vĩnh cửu rồi đấy nhá!) Người bạn trai nhanh miệng đáp lại, lộng ngôn không kém: “Sweetheart, I would do anything for you to make it up!” (Cưng ơi, anh sẽ làm bất cứ điều chi cho em để chuộc tội với em!) Thế có liều không? Các chánh khách Mỹ trong các cuộc bầu cử ai cũng tự cho mình là người xứng đáng nhất, trong sạch nhất, đặt quyền lợi dân chúng lên trên hết. Nếu quả thực như vậy thì người dân Mỹ tốt phúc biết mấy! Và hiển nhiên, trong cái xã hội mê tiêu thụ hàng hóa này thì đại ngôn làm sao vắng mặt được trong các dịch vụ quảng cáo? Từ lâu hãng xe Cadillac của nước Mỹ tự coi mình là “standard of excellence for the world” (tiêu chuẩn về thượng hảo hạng cho thế giới), mà chẳng hề sợ hãng Lexus của nước Nhật hoặc hãng Mercedes-Benz của nước Đức cười cho.
 
Xin trở lại với những đại ngôn đại cú trong thi ca trữ tình để Victor Hugo khỏi phải cô đơn. Phải nói ngay, thi ca trữ tình là môi trường tối hảo cho ngôn từ khuếch đại. Theo William Wordsworth thì người ta làm thơ hay nhất vào lúc người ta bị rung động bởi những cảm xúc vỡ nước tràn bờ. Vào những lúc đó thì hình như ngôn từ càng lộng thì lời thơ càng thiết tha. Đó là lúc Wordsworth không tiếc lời để ca ngợi một kỳ nữ tuyệt sắc, trong bài SHE DWELT AMONG THE UNTRODDEN WAYS:
 
A violet by a mossy stone
Half-hidden from the eye!
Fair as a star, when only one
Is shining in the sky.
 
Hoa đổng thảo mọc bên tảng đá
Nửa dấu che khỏi mắt trần gian!
Đẹp như sao, khi chỉ một vì
Long lanh sáng trên trời cao thẳm.
 
Đã khi nào chúng ta “đếm” xem mình yêu bao nhiêu kiểu chưa? Riêng Elizabeth Barrett Browning đã đếm kỹ lắm, cho thấy nhiều kiểu yêu đặc biệt, nhất là cái kiểu yêu … xuyên kiếp này sang kiếp sau, như thế này, trong thi tập SONNETS FROM THE PORTUGUESE:
 
I love thee with the breath,
Smiles, tears, of all my life; and if God choose,
I shall love thee better after death.
 
Em yêu anh bằng hơi thở,
Bằng những cười, những khóc cả đời em; và nếu Trời lựa chọn,
Em sẽ còn yêu anh hơn nữa sau khi lìa đời.
 
Nhà thơ lẫy lừng nhất của chúng ta trong TRUYỆN KIỀU cũng sử dụng ngôn ngữ khuếch tán thần tình lắm chứ. Nguyễn Du chỉ vắn tắt mà đã tả được cái cảnh chia ly đứt ruột sau khi Thúy Kiều phải bán mình chuộc cha:
 
Đau lòng kẻ ở người đi,
Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tầm.
 
Sau đó nàng Kiều rơi vào tay một số đàn ông háo sắc. Họ đều hứa hẹn bảo vệ tương lai nàng bằng ngôn từ tuyệt đối. Sở Khanh dụ nàng đi trốn, lộng ngôn đến thế là cùng:
 
Nàng đà biết đến ta chăng
Bể trầm luân lấp cho bằng mới thôi!
 
Đến như anh chàng râu quặp Thúc Sinh khi mê gái cũng hứa hẹn văng mạng:
 
Đường xa chớ ngại Ngô Lào
Trăm điều hãy cứ trông vào một ta.
 
Nhưng chỉ đại ngôn của Từ Hải là khả tín, vì chỉ có chàng giữ được lời thề thốt ấy thôi:
 
Một lời đã biết đến ta,
Muôn chung, nghìn tứ cũng là có nhau.
 
Các thi nhân đời Đường bên Tàu tương đối ít dùng ngôn ngữ thổi phồng, nhưng khi điều ấy xảy ra, nghe cũng vui tai lắm. Giả Đảo đi thi nhiều lần không đậu, bèn vào chùa gõ mõ tụng kinh. Ông thường làm thơ để than thân trách phận, và nhà thơ này làm thơ … kỹ nhất thế giới (vì vậy nên thi rớt hoài chăng?), nếu căn cứ vào câu thơ đầu của bài ngũ ngôn tứ tuyệt mang danh TUYỆT CÚ:
 
Nhị cú tam niên đắc
Nhất ngâm song lệ lưu.
Tri âm như bất thưởng
Quy ngọa cố sơn thu.
 
Hai câu làm mất ba năm
Ngâm lên lệ rỏ đôi hàng vì thơ.
Tri âm nếu chẳng biết cho
Trở về với núi thu xưa mà nằm.
 
(Trần Trọng San dịch)
 
Thương chồng đi lính thú phương xa như nữ sĩ Trần Ngọc Lan đời Vãn Đường thì hết chỗ chê. Mùa đông đến, nàng gửi áo lạnh ra biên thùy cho chồng, rồi lệ rơi không ngớt, vì chỉ sợ áo ấy không đến tay chàng, trong bài KÝ PHU:
 
Phu thú biên quan thiếp tại Ngô;
Tây phong xuy thiếp thiếp ưu phu,
Nhất hàng thư tín thiên hàng lệ,
Hàn đáo quân biên y đáo vô?
 
Thiếp ở đất Ngô, chồng lính thú;
Gió tây thổi thiếp, thiếp lo chồng.
Một hàng thư gửi ngàn hàng lệ,
Lạnh đến bên chàng, áo đến không?
 
(Trần Trọng San dịch)
 
Trong bài SAY ĐI EM của Vũ Hoàng Chương, “say” là “say” trên sàn nhẩy mới lạ. Ít ai trên đời có thể khiêu vũ khi đang say sưa bất tỉnh như thế này, mà còn thấy rõ “thành sầu” của mình vẫn trơ trơ ra đó:
 
Trong men cháy giác quan vừa bén lửa
Say không còn biết chi đời
Nhưng em ơi
Đất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt thành sầu chưa sụp đổ
Đất trời nghiêng ngửa
Thành sầu không sụp đổ em ơi!
 
Có lẽ cái thành sầu dễ sợ nhất cho thi nhân (và người thường nữa chứ) là sự hoang vắng cô đơn vì không còn người yêu bên mình. Tôi chưa thấy nhà thơ nào qua mặt được những lời thành khẩn thảm thiết và phóng đại của Jakob Lenz bên trời Đức khi chàng bị hoang vắng cô đơn. Chuyện kể rằng khi còn tuổi đôi mươi, Jakob trải qua một kinh nghiệm tình cảm nghiệt ngã: cô bạn gái diễm lệ của chàng bỗng dưng biệt tích! Tan nát cõi lòng vì tìm kiếm đâu cũng chẳng ra nàng, Jakob chỉ còn biết làm thơ để cầu khẩn nàng về, trích trong bài WO BIST DU ITZT ? (Em Ở Đâu Bây Giờ?):
 
Seit du entfernt, will keine Sonne scheinen,
Und es vereint
Der Himmel sich, dir zartlich nachzuweinen,
Mit deinem Freund.
All unsre Lust ist fort mit dir gezogen,
Still ueberall
Ist Stadt und Feld. Dir nach ist sie geflogen
Die Nachtigall.
 
Từ ngày em đi, không còn mặt trời nào chiếu sáng,
Và có sự kết hợp
Để khóc nhớ thương em, giữa trời cao
Và người bạn này của em.
Tất cả lạc thú mọi người đã ra đi với em,
Im lặng khắp chốn
Cả thị thành lẫn đồng nội. Theo em cũng đã bay mất
Cả con chim họa mi.
 
Ở trong một hoàn cảnh tương tự, Nguyên Sa của chúng ta phản ứng ngộ nghĩnh lắm, với ngôn từ khuếch tán nên thơ vô cùng, trong bài GỌI EM:
Một buổi sáng tỉnh dậy không thấy em tôi chạy ra cửa sổ gọi tên em rất to. Những tiếng kêu thất thanh vang trên hè phố.
………………….
Tôi bảo rằng: em phải về ngay. Nếu em là gió tôi sẽ làm trăng.
Em là trăng, tôi sẽ là mây. Nếu em là mây, tôi sẽ làm gió thổi.
Còn nếu em là chân trời xa tôi sẽ làm cánh chim bằng rong ruổi.
Em là mặt trời thì ở trên đường xích đạo tôi sẽ muôn đời làm một kiếp hướng dương …
 
Nói chuyện phiếm ngôn ngữ và văn chương với quý bạn đọc đủ rồi, xin hẹn kỳ tới. Từ nay tới đó, tôi thành tâm mong quý vị (nếu còn cơ hội) luôn mến yêu những nụ hoa nhỏ nhoi trên áo quần của ai đó, để không bao giờ phải ra cửa sổ kêu tên người ấy đến thất thanh nhá.
 
Đàm Trung Pháp
 

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013