Thi Ảnh

Trần Hoài Thư

Saigon Trong Trí Nhớ - Trần Hoài Thư

Tran Hoai Thu 

Saigon có mùa hạ dài hơn mùa đông
Nên Saigon có mắt em xanh như da trời tháng sáu
Saigon có thật nhiều quán cà phê quán cóc
Nên bàn ghế Saigon đầy ắp tình thân
Saigon có ngày cuối tuần Thủ Đức về thăm
Để những xe lam dập dìu Bến Thành Chợ Cũ
Để anh trở về thăm em, người em gái nhỏ
Khi ngọn đèn Saigon đã thắp sáng Bùng Binh
Saigon buổi chiều trời hay nổi giông
Nên những hiên nhà là những hiên tình hò hẹn
Saigon có những con bồ câu cúc cù trên hàng dây điện
Nên Saigon vẫn là nơi hò hẹn của hai kẻ yêu nhau
Saigon ít khi thấy được ánh hoả châu
Nên đêm đêm Saigon bình yên giấc ngủ
Để em đến trường như con sáo nhỏ
Để người lính trở về, có chỗ dừng chân
Để mãi mãi Saigon là những bâng khuâng
Trong con tim của những người viễn xứ

Trần Hoài Thư

Đôi Mắt Người Sơn Tây - Trần Hoài Thư

"Đôi Mắt Người Sơn Tây
U Uẩn Chiều Luân Lạc"
                                  Quang Dũng
 
Trước ngày ngưng bắn, là một phóng viên mặt trận, tôi vẫn thường theo các đoàn quân vượt qua giòng kinh Vĩnh Tế để làm những phóng sự chiến trường ngoại địa.
Vào một ngày đầu tháng chạp, tôi mang máy ảnh, sổ tay theo một chi đội thiết vận xa M113 về giải tỏa áp lực địch tại một quận lị nằm trên con đường số 1 nối từ Neakluong đến thủ đô Nam Vang. Buổi tối có mưa sụt sùi, cùng với người bạn cũ nằm đêm tại một đồng không mông quạnh, chúng tôi cùng nhắc lại những buổi chiều ở Bonard, Mai Hương. Bạn tôi cũng kể về những ngày dài nơi xứ lạ này. Trời tối như mực đến nỗi cách nhau vài thước, cũng không thể nhận diện được. Thỉnh thoảng vài trái sáng được bắn lên từ phía rặng núi, soi cả thinh không trong vài giây phút rồi tắt lịm.
Người bạn bỗng nói:
- Có bao giờ anh nghĩ rằng ở giữa vùng đất lạ lẩm này lại có một người nữ như trong một bài thơ của Quang Dũng ?
Tôi hỏi:
-Có phải là Đôi Mắt Người Sơn Tây ?
- Vâng.
Rồi bạn vừa đốt thuốc vừa kéo cao cổ áo lạnh. Cơn mưa đã dứt, nhưng khí lạnh tỏa bốc đầy trời. Bạn lại dục:
- Trước khi tôi kể câu chuyện, mời anh thử một chút rượu cho ấm. Rượu mang từ quê nhà đấy…
 
Tôi nghe lời bạn. Hớp rượu làm nồng cả châu thân. Như những giọt hạnh phúc nho nhỏ trong vùng đất gầm gừ tai họa. Chúng tôi bây giờ chỉ còn những cơn mơ, chẳng cần để ý gì đến ngoại cảnh, đến những tiếng nổ thỉnh thoảng nổi lên cắt xé cả lòng đêm tịch mịch. Chúng tôi cũng chẳng cần bận tâm gì đến những tín hiệu đang phát ra từ chiếc máy siêu tần số bên cạnh. Và lời bạn tiếp tục:
- Rồi ngày mai, tôi sẽ đưa anh tới một quán nghèo giữa quận lị. Anh sẽ gặp một thiếu phụ trẻ. Hy vọng anh sẽ một nguồn cảm hứng để viết.
- Người thiếu phụ ấy có liên quan gì đến chúng ta không ?
- Có. Liên quan đến tất cả chúng ta. Nhất là anh.
- Tại sao ?
- Anh là một phóng viên.
- Phóng viên không phải là thầy tướng số.
- Vâng. Nhưng tôi tin anh có những điều kiện và khả năng hơn tôi.
Tôi cười:
- Thôi, tôi chịu thua rồi. Anh kể tiếp về người thiếu phụ Miên ấy đi.
- Không phải Miên mà là người VN.
- …?
Bạn tôi vất mẫu thuốc xuống ruộng nước rồi tiếp tục nhấp khẻ hớp rượu. Đêm nặng và đầy sương. Xung quanh chúng tôi tiếng dạ trùng, ểnh ương ếch nhái vang lên não nuột. Thỉnh thoảng chúng tôi còn nghe cả tiếng “phụp” của trái sáng được bắn lên từ đâu đó. Giọng bạn ấm:
- Bởi thế tôi mới gọi là đôi mắt người Sơn Tây. Vâng, thật không ngờ, hai mươi năm về sau từ khi có bài thơ của Quang Dũng, tôi mới thấy được đôi mắt ấy. Anh còn nhớ không, những câu thơ đẹp như thế này.
Bạn đọc trầm trầm:
 
Em ở Sài Sơn chạy giặc về
Tôi từ chinh chiến đã ra đi
Cách biệt bao ngày quê bất bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì
…..
Đôi mắt người Sơn Tây
U uẩn chiều luân lạc
Buồn viễn xứ khôn khuây…
 
Thú thật, tôi không phải là nhà thơ. Tôi chỉ là người yêu thơ. Nhưng khi gặp nàng, nhìn đôi mắt nàng, tôi phải bàng hoàng. Cám ơn nhà thơ Quang Dũng đã cho tôi hiểu thế nào là một đôi mắt Sơn Tây…
Giọng bùi ngùi, người bạn kể lại:
- Khi đơn vị tôi đến K., thì bọn tôi nhào vào chợ để tìm mua vài vật dụng cần thiết. Riêng tôi, tình cờ ghé lại một quán bên đường và người chủ quán đã làm tôi ngạc nhiên hết sức. Da nàng trắng nuột, gương mặt thật thùy mị, mũi thanh tú, và nhất là đôi mắt nàng. Khi nhìn lên đôi mắt ấy, có chút gì buồn vời vợi, có chút gì như lệ long lanh anh ạ. Trong khi xung quanh nàng, màu da vàng mật, thì màu da nàng lại trắng nổi bật như một bông hoa hiếm lạ. Tuy vậy, tôi cứ nghĩ nàng là một người Miên một trăm phần trăm. Bởi cách ăn mặc, giọng nói của nàng. Bởi cung cách của nàng. Và tôi đã bập bẹ vài tiếng Miên học lóm được. Nhưng sau đó tôi bỗng nhiên nghe được hai tiếng Việt thưa ông. Càng ngạc nhiên hơn nữa, là giọng Bắc. Một giọng Bắc chính cống, không pha trộn, rất rõ và rất thanh. Anh hẵn biết ở xứ này, tìm được một người đồng hương đã là khó, mà người ấy lại là người Bắc thì lại càng khó hơn. Nhất là quê hương tôi là miền Bắc.
- Nàng nói gì không ?
- Nàng hỏi quê nhà mình dạo này ra sao ? Bên mình hòa bình chưa ? Nàng bảo nàng nhớ nhà quá. Còn tôi, tôi hỏi gốc nàng ở đâu, tại sao lại lưu lạc ở đất này…
- Nàng bảo sao ?
Nàng kể nàng sinh tại Sơn Tây. Rồi nàng tấm tức khóc. Sau đó chồng nàng xuất hiện. Nàng chắc sợ một điều gì đó nên giả vờ vui, rồi nói tiếng Miên huyên thuyên. Tôi muốn hỏi thêm nhưng lệnh ban xuống là đơn vị phải di chuyển gấp. Thành ra tôi chẳng biết gì thêm về lai lịch nguồn gốc của nàng…
- Quả câu chuyện anh kể như một cơn mơ…
- Vâng. Anh nói đúng. Nhiều khi nghĩ lại tôi nghĩ đời như cơn mơ. Cơn mơ về một đôi mắt…
- Đôi mắt người Sơn Tây…
- Vâng. Đôi mắt người Sơn Tây. Mà nếu không có cơn mơ ấy chắc chúng ta sống không nổi. Anh thấy không. Giữa lúc ở nhà, người ta đang sống phè phởn, đang bình an cùng giấc ngủ không bị quấy rầy, đang làm tình, thì bọn này đang có mặt ở giữa đồng không, xung quanh là những thiết vận xa bao bọc, trời thì mưa sụt sùi… Sống như thế này nếu không có những cơn mơ thì chắc phải điên khùng…
Có khi tôi mơ đất nước hòa bình. Có khi tôi mơ trở thành cánh chim bay về thành phố. Có khi tôi mơ có một phép lạ như Tôn Ngô Không, bắt tất cả những tên đồ tể chiến tranh bỏ vào chung một phòng để chúng đánh nhau cho dân đở khổ. Và bây giờ tôi mơ về một đôi mắt…
- Vâng, nhưng thật tội nghiệp cho chúng ta vì chúng chỉ là những cơn mơ không bao giờ thành sự thật.
Một trái sáng lại òa vỡ, tôi thấy mắt người bạn trở nên xa vời:
Người bạn tiếp tục nói:
-Tôi là một kẻ rất yêu thích thơ văn. Tôi cũng thường xuyên theo dõi tình hình sinh hoạt văn học nghệ thuật. Có một điều tôi rất ngạc nhiên là trong khi người ngoại quốc lấy VN làm đề tài, những nhà sản xuất phim, những phóng viên kỳ cựu hay những nhà văn nổi tiếng đều bay qua VN tìm chất liệu, thì mình lại đi ca ngợi tung hô mấy loại sách dịch như Một Thời Để Yêu và Một Thời Để Chêt của Remarque hay Lolita hay Love Story… Đất nước mình có biết bao nhiêu đề tài cho những ông nhà văn nhà thơ, tại sao lại cứ đi vay mượn. Có phải dân tộc mình có thói quen là nô lệ tinh thần hay không. Cứ nghĩ là mấy ông Tây ông Mỹ là mấy bậc thầy, cần phải học ở mấy ông ấy… Xin lỗi tôi có cái nhìn hơi chua chát nhưng không nói ra thì ấm ức lắm.
 
Vào sáng hôm sau, cả đơn vị lên đường. Tôi theo thiết vận xa của người bạn. Chiến tranh nơi nào cũng vậy. Cũng tang thương, đổ nát… Khi chúng tôi tiến qua một khu ruộng mía, người dân quì trên bờ ruộng, lạy chúng tôi. Làm sao mà người tài xế có can đảm cán bừa vào đám mía non ấy. Cả một dân tộc hiền hòa với những ngôi chùa mái cong vút lên mây ẩn hiện đàng sau những khóm dừa, khóm thốt nốt. Những ngôi nhà sàn trong sóc, còn thở khói. Đám con nít thấy chúng tôi cười thơ ngây. Trong gió, chừng như nghe cả mùi đất, mùi rơm và cả mùi ngây ngây của luống cày mới vỡ. Có những cánh én bay rợp xuống mặt hồ, rồi lại vút lên cao. Có những cánh én khác đuổi theo thiết vận xa, giởn đùa với những đường nước mà bánh xích đã cày và tạo nên. Bầu trời thật xanh. Có ai nhắc đến Tết. Gần đến Tết rồi anh em ơi. Giọng nói mang vào lòng những đứa con của chiến trường những nhớ nhung tràn ngập. Thấy họ càng thương họ. Những phận đời tuổi trẻ chưa biết hưởng thế nào là hương vị thanh xuân, nếu có, chỉ là những ước mơ, nhung nhớ tội nghiệp.
 
Và đúng như lời bạn nói, buổi trưa cả đơn vị đóng quân ngay tại trung tâm quận K. Người bạn đã nháy tôi và cả hai tìm đến chiếc quán bên đường. Tôi thật sự bị mê hoặc bởi gương mặt thanh tú, sóng mũi dọc dừa, màu da trắng nuột của người đàn bà. Nàng quả là một bông hoa lạ thường ở giữa cõi khô cằn này. Tuy nàng mặc chiếc sà rông đã bạc màu, những ngón tay bàn chân của nàng đã in dấu gian khổ lầm than, nhưng người ta vẫn tìm ở nàng một vẽ đẹp nổi bật vượt lên khỏi một tập thể dân quê nghèo nàn và khổ cực xung quanh. Và đôi mắt của nàng, thật khó diễn tả. Thấy như thể cả trời u uẩn, đầy nước mắt. Tôi chỉ biết ngồi yên như bị đôi mắt ấy hớp hồn rồi. Tự dưng tôi cảm thấy thương nàng hết sức. Chỗ của nàng không phải là chỗ này. Chỗ của nàng ở bên kia biên giới có cùng chung màu da tiếng nói, có ao nhà, vườn rau, có bà con lân láng.
Nắng đã lớn, tươi thắm cả khu chợ quận. Người bạn giới thiệu tôi bằng tiếng Việt:
- Đây là người bạn của tôi.
Tôi nói chào cô. Người thiếu phụ cũng cúi đầu đáp lễ. Tôi nhận ra đôi vai nàng mềm quá. Người bạn lại nói tiếp:
- Hôm qua cô kể cho tôi nghe nửa chừng. Tại sao thế?
Để đáp lại câu hỏi của người bạn, nàng chỉ nói:
- Các ông không hiểu hoàn cảnh của em đâu.
Đôi mắt của người thiếu phụ chợt hoe đỏ. Nàng nói giọng sũng lệ:
- Thấy các ông em bỗng nhớ đên quê nhà. Đã mười mấy năm em xa nhà. Thưa ông, từ đây qua bên ấy có xa không?
Người bạn trả lời:
- Quê mình chỉ cách nơi này non 15 cây số, đường bộ chỉ mất nửa tiếng đồng hồ, nếu đi xe…
- Thế sao? Em không hề biết.
- Chứ cô không bao giờ nghe nói đến quê nhà hay sao?
- Dạ thưa không.
Rồi nàng lại hỏi:
- Không biết giờ này bên ấy nóng hay lạnh, trời có hay mưa không?
- Bên nhà trời đã bắt đầu có những cơn rét cuối năm. Có nơi mai đã bắt đầu nở. Thiên hạ đang chuẩn bị ăn Tết…
- Thế ư. Gần đến Tết rồi ư?
Đôi mắt của người thiếu phụ sậm buồn. Nàng nói như khóc:
- Không ngờ em lại làm kẻ mất quê hương. Các ông không biết hoàn cảnh của em đau lòng lắm.
Nàng lại tấm tức khóc. Tôi tìm cách khơi mào câu chuyện:
- Cô có thể kể ra được không?
 
Nàng gật đầu. Gạt nước mắt, nàng kể lại cuộc đời của nàng. Từ một quê nhà xa lắc xa lơ ngoài Bắc tên là Sơn Tây. Từ những ngày đầu tiên theo cha mẹ di cư vào Nam, quanh quẩn dưới rừng lá cao su, chưa bao giờ dám nghĩ đến một ngày rời xa cái thế giới mà người mộ phu gọi là đồn điền. Nàng kể về chiếc xe tải mỗi ngày chạy khắp đồn điền để chở những thùng mủ trắng về nhà máy. Ở đâu? Nàng chỉ nhớ lại những tiếng chuông buổi sáng chủ nhật, từ gác chuông nhà thờ bằng ván tạp với ông linh mục già, hàm râu trắng xóa, đội chiếc beret đen, lúc nào cũng tươi cười và luôn luôn phát bánh kẹo cho lũ trẻ trong đồn điền. Ở đâu? Nàng không biết. Nhưng nàng nhớ rõ về những cảnh cơ hàn của người dân phu cạo mũ, gồm đủ hạng người: Thượng, Miên và Việt. Và chúng tôi liền đoán ra đó là đồn điền Lộc Ninh cũng nên.
 
Rồi tai họa bỗng dưng bủa xuống như một trận bão lửa kinh hoàng. Trận chiến từ đâu kéo về, chọn ngay đồn điền làm nơi giao tranh, ròng rả suốt cả một tuần lễ. Nhắc đến đây, tuồng như đôi mắt của nàng là cả một bầu trời sầu thảm. Hai giòng lệ lăn trào trên má. Tuy buổi trưa trời nắng lửa, hàng cây bên đường đứng bất động nhưng tôi nghe tuồng như có một cơn gió lạ thổi qua, rồi một đám mây buồn bả đậu lại trong hồn người như thể một phiến băng giá. Buổi trưa hôm nay, trong một quán lạ tại xứ người, có những kẻ cùng xa nhà gặp nhau mà nước mắt rưng rưng. Em xa nhà, tôi xa quê, em bỏ đi, tôi cũng bỏ đi, hai đàng. Đôi mắt người Sơn Tây. U uẩn trời luân lạc. Buồn viễn xứ khôn khuây. Hôm nay có một người của xứ Sơn Tây gặp lại người lính đồng hương, để nói về một kiếp đời bất hạnh. Đầu nhà bên kia đường có giàn hoa giấy vàng tươi thắm dưới ánh nắng mặt trời nhưng ở nơi này có một bông hoa tội nghiệp đang khóc cho hoàn cảnh của mình.
 
Sau đó… nàng kể tiếp. Suốt cả tuần lễ ở trong đồn điền, bố mẹ em tìm cách thoát ra ngoài. Vào khoảng tối, bố kêu em mang một bọc đồ quần áo, rồi dặn em phải theo kỹ bố. Nhưng mới đi khoảng chừng 100 thước, thì pháo lại nổ ầm ầm. Em không còn thấy bố thấy mẹ thấy em nữa. Em khóc. Em cứ chạy bừa. Vừa chạy vừa kêu bố kêu mẹ. Các anh cũng biết trong đồn điền cây cối san sát, đường nào cũng như đường nào… Em cứ nhắm mắt mà đi, vừa đi vừa kêu bố. Lúc ấy em mới 10 tuổi…
Cho đến khi trời sáng thì em không còn đủ sức đi nữa. Em cứ bò, vừa bò vừa run vì trời sớm thì rét lắm. May em gặp một gia đình người Miên tốt bụng. Họ mang em về đất Miên. Từ đó em sống đến bây giờ…
 
Cho đến lúc này em cũng không biết bố mẹ em còn sống hay đã chết nữa…
Tiếng kể của nàng như làm nhói cả tim tôi. Tôi nói với nàng:
- Cô có thể cho tôi biết tên bố mẹ cô. Khi về lại quê nhà tôi sẽ cố thăm dò giúp cô…
May ra, khi trở lại nơi này, tôi sẽ mang theo tin mừng.
 
Trên không bỗng hiện ra một đàn chim én, Những cánh chim báo hiệu mùa xuân đã cận kề. Tôi nghĩ là tôi sẽ giúp nàng được. Bởi vì tôi là một phóng viên. Bạn bè tôi làm ở các tòa soạn, và đài phát thanh. Tôi sẽ nhờ họ.
 
Nhưng tôi sẽ không bao giờ có dịp trở về chốn cũ ấy nữa. Hiệp định ngưng bắn đã không cho phép tôi vượt giòng kinh Vĩnh Tế ấy nữa. Món quà xuân cho người thiếu phụ xa xăm kia cũng không có dịp để trao tận tay. Tin mừng cũng hoài công không đến. Thỉnh thoảng tôi cũng có dịp đến bên này bờ kinh, nhưng đến để nhìn qua bên kia bờ, trên cánh đồng bao la xanh màu mạ, trên những hàng thốt nốt, rặng núi thẩm trong mây mà liên tưởng về một hình bóng cũ. Ở đấy, có người thiếu phụ trẻ đồng hương đang trải qua những tháng ngày mỏi mòn bất hạnh. Ở đấy có một đôi mắt mà chúng tôi gọi là đôi mắt người Sơn Tây, đang hướng về quê nhà vì nỗi buồn viễn xứ.
Còn riêng tôi, đứng trên bờ kinh bên này, mà cứ ngỡ đang đứng ở một điểm chấm cuối cùng. Tôi sẽ không bao giờ được nhìn lại một đôi mắt buồn vời vợi ấy nữa.
 
Trần Hoài Thư

Lữ Quỳnh, Bạn Tôi - Trần Hoài Thư

 
Lữ Quỳnh là bút hiệu của Phan Ngô, sinh năm 1942 tại Thừa Thiên-Huế. Thân phụ mất sớm, lúc một  tuổi. Tuổi nhỏ phần lớn sống tự lập. Học sinh Quốc Học – Huế, 1959-1962. Dạy học, trường Bán công Vinh Lộc 1962-1963.  Cựu Sĩ Quan VNCH (Khóa 19 Trường Bộ Binh Thủ Đức, ngành HC Quân Y). Đơn vị phục vụ : *Tổng Y Viện Duy Tân – Đà Nẵng năm 1965-66. *Tiểu đoàn 22 Quân Y (SĐ22BB) – Bình Định, năm 1967-70, *Quân Y Viện Quy Nhơn, năm 1971-75. (tài liệu trên Internet)
 
Tôi và Lữ Quỳnh có nhiều điểm chung. Cùng năm sinh. Cùng cảnh hẩm hiu của một đứa bé không thấy mặt cha từ khi còn quá nhỏ, cùng học Quốc Học – Huế, cùng gốc lính sư đoàn 22 BB, cùng viết cho Bách Khoa, Ý Thức và bây giờ, cùng ở Mỹ, tiếp tục cùng văn chương chữ nghĩa.
 
Biết anh từ những bài thơ đầu tiên trên Bách Khoa. Thơ anh đăng khá sớm trên một tạp chí bề thế, lúc anh  còn là cậu học sinh trung học. Nhưng thật sự cái giao tình bắt đầu từ năm 1967, khi tôi rời Thủ Đức về sư đoàn 22 BB tại Bà Gi để bắt đầu lao vào trận mạc. Đơn vị tôi là đại đội 405 thám kích, doanh trại nằm trên đồi, nép mình dưới ba ngọn tháp Chàm mà Chế Lan Viên đã xem như là biểu tượng của Điêu tàn qua tập thơ của ông thời tiền chiến. Còn đơn vị anh là một đơn vị quân y, doanh trại thì nằm ngay dưới đồi, về hướng Đông. Hai đơn vị dù khác nhiệm vụ nhưng hai đứa chúng tôi có cùng một mẫu số chung. Cùng viết văn làm thơ. Cùng viết cho Bách Khoa. Cùng đến từ xứ Huế. Dù thời gian này tại Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 22 BB có những cây viết cho Bách Khoa như Doãn Dân, Nguyễn Kim Phượng (tức là Hoàng Thị Bích Ni), nhưng tôi  thân với Lữ Quỳnh nhiều hơn. Thứ nhất là tánh tình anh cởi mở. Thứ hai những ý nghĩ về văn chương xem như giống tôi. Chúng tôi không xem văn chương là đồ trang sức, mà ngược lại dùng văn chương để nói lên những tiếng kêu trầm thống của một thế hệ bị thua thiệt, bị ném vào lò lửa của chiến tranh.
 
Lúc bấy giờ, Lữ Quỳnh là một sĩ quan cấp úy. Nếu tôi nhớ không lầm, anh là Sĩ quan Phụ tá Hành chánh Quân y của tiểu đoàn. Với chức vụ ấy, anh  được cấp một xe Jeep và tài xế. Còn tôi thì chỉ có “xe chân”. Cũng nhờ xe anh mà tôi được  “quá giang” theo anh về Quy Nhơn sau khi đơn vị hết hành quân, hay được dưỡng quân. Thỉnh thoảng chúng tôi gọi nhau, và anh lái xe lên đồi hậu cứ của tôi, bốc tôi xuống một quán cà phê  thị trấn ở An Nhơn, Đập Đá…
 
Anh là một mẫu người nghiêm túc, chững chạc. Anh không có một đam mê nào ngoài đam mê viết. Không phải như tôi, viết cẩu thả, viết thả dàn, viết có khi chẳng cần coi lại, trái lại anh viết rất chững chạc. Anh thai nghén một bài văn khá kỹ trước khi đặt ngòi viết xuống giấy. Một ví dụ là khi anh viết một truyện kể về những người đập đá, (trong truyện Bụi Đá), anh đã lái xe đến tận nơi, cố tìm hiểu, nhận xét về cảnh tượng… Hay truyện Bóng Tối Dưới Hầm, anh đã dùng những chất liệu có thật trong cuộc đời quân ngũ của mình để xây dựng.
 
Những ngày tháng ấy, chúng tôi cùng nhau viết, cùng nhau gởi bản thảo về Saigon.Chúng tôi viết trong không gian gào rú tiếng máy bay phản lực hay ì ầm tiếng nổ của bom hay cà nông vọng về. Chúng tôi viết dưới mái tôn tiền chế lạnh lẽo, âm thầm, bên cạnh những hàng dây kẽm gai, hay giao thông hào… Chúng tôi đã chuyển không khí chiến tranh, những vấn tra của người nhập cuộc, những tiếng nổ đầy bất trắc về Saigon. Chúng tôi đã thét gào đòi lại quyền của tuổi trẻ.  Chúng tôi được các ngài ở Saigon phong cho là “những cây bút trẻ miền Trung”.
 
Trong những điều kiện khắc nghiệt, và trong những hoàn cảnh đầy đe dọa lên số phận, vậy mà Lữ Quỳnh vẫn viết. Viết đối với anh, theo tôi, là một đam mê, chứ không phải là trách nhiệm, hay “một cây bút là một sư đoàn” gì ráo… Tôi bỗng nghĩ đến một nhận định của Mai Thảo khi ông giới thiệu bài Bệnh Xá Cuối Năm của tôi trên Văn. Ông cho là tôi đã : “đặt sống thành suy nghĩ. Tự thành trong cô đơn”. Nhận định này rất đúng cho Lữ Quỳnh. Riêng tôi thì 60%. Còn LQ có lẽ là 100%.
 
Bởi vì mỗi bài viết của anh, dù là văn hay thơ đều bắt độc giả suy nghĩ. Bởi chúng là kết quả của những suy nghĩ của anh và anh muốn gởi lên trang giấy. Không những anh sống để viết. Mà sống để suy nghĩ và viết.
 
Tôi xin dẫn chứng một đoạn ngắn trong Những Cơn Mưa Mùa Đông mà tôi mở tình cờ một trang sách, để nhận rõ sự suy nghĩ này qua một nhân vật.
 
Đây là đoạn tả lại cảnh một ông lão rầy đứa cháu trai của ông vì tội dám  lấy ná bắn vào cái dĩa sứ đẹp đẽ:
 
Mới ngày nào đây thôi mà – Ông già nói lầu bầu trong miệng – mày ngỗ nghịch quá, ai đời với chiếc dĩa đẹp đẽ như thế này mà mày dám dùng làm bia để bắn ná. Tao nghe một tiếng “bốp”, chạy ra, nhìn lên chiếc dĩa, nó đã rạn nứt như thế này rồi. Còn mày thì biến lẹ như một con còng chui sâu dưới vườn… Nghịch ngợm như mày, tưởng không bao giờ thành người lớn được chứ. Lại cái tội háu ăn nữa. Thế mà rồi mày không còn ở với tao, mày lại chết trong tư thế của người lớn mà. Tham gia, tham dự, tham gì gì đi nữa, rồi cũng chỉ có khổ cái thân già của cha mày thôi con ạ. [1]
 
Đọc đoạn trên ta hiểu ngay về cái ẩn dụ mà LQ đã gởi qua lão già. Cái dĩa là cái bia. Và hành động nghịch ngợm của thằng bé còn mang theo một tư thế của người lớn. Phải trong chiến tranh, người ta sẽ dùng bia người để nhắm. Để rồi “lại chết trong tư thế người lớn”…
 
Xin trích một đoạn khác, trong một truyện trước 75 của anh, để chứng minh là văn chương đối với anh là văn chương đầy những suy nghĩ, tra vấn đầy ý thức:
 
Từ “Chính gã khóc chứ không phải cái tôi mà gã chọn lựa, cái tôi không bao giờ mềm yếu, phản trắc, lầm lẫn ấy khóc cả.”
 
….Trong bóng tối của chiếc hầm chật hẹp, người đàn ông cố nhìn bàn tay mình mà vẫn không thấy nổi. Gã vừa nghĩ tới những kỷ niệm thật xa. Lúc này gã nhớ lại hình ảnh người nhạc sĩ nằm chết trên bến sông, gã đã khóc thật nhiều trên quãng đường công tác còn lại. Con tim bật máu làm trào nước mắt. Chính gã khóc chứ không phải cái tôi mà gã chọn lựa, cái tôi không bao giờ mềm yếu phản trắc lầm lẫn ấy khóc cả.  [2]
 
đến: “Tiếng nói không biết có phải là của mình không nữa? “
 
….Trong bóng tối, thiếu nữ cảm thấy chới với khi nghe tiếng nói của người đối diện. Tiếng nói, chỉ có tiếng nói thôi. Ma quái quá sức. Tiếng nói. Trong căn hầm chỉ có tiếng nói và tiếng nói thôi. Thiếu nữ nghĩ mình cũng không còn nhận ra mình. Tiếng nói không biết có phải là của mình không nữa?  [2]
 
Ngay cả bây giờ, anh vẫn đặt sống thành suy nghĩ. Dù cái bóng tối dưới hầm của ngày xưa chỉ còn là hoài niệm, nhưng cái bóng tối bây giờ vẫn còn vây phủ anh, đầy hiu quạnh và cô đơn:
 
thường có những giấc mơ
gặp gỡ bạn bè
những người bạn ra đi đã nhiều năm
nay kéo về
nói cười ấm áp
 
tôi rất vui
rất vui trong từng đêm như thế
để lúc tỉnh ra
ngồi một mình trong bóng tối
quạnh hiu. [3]
 
Bài thơ mới sáng tác, nhưng bóng tối vẫn là bóng tối. Dù ngày xưa hay bây giờ.
Nhưng cũng nhờ bóng tối ấy mà anh vẫn tiếp tục viết, tiếp tục sáng tác.
Nếu không, chắc đời phải là buồn lắm.
Phải không, Lữ Quỳnh ?
 _______
 
(1) Truyện viết năm 1974, do Thư Ấn Quán tìm lại tại Thư Viện Cornell và được tái bản trong Tủ Sách Di Sản Văn chương miền Nam.
(2) Trích từ truyện ngắn Bóng Tối Dưới Hầm.
(3) Trích từ “Giấc Mơ” trong thi tập “Những Giấc Mơ Tôi” của Lữ Quỳnh do nhà xuất bản Văn Mới ấn hành năm 2013
 
Những Lời Thơ Xôn Xao
 
Ðêm nay tôi không ngủ được. Tôi cần được thức. Tôi cần được cõi đêm vỗ về tôi.  Ngoài đêm, dù mùa hè đã vào tháng bảy, nhưng có tiếng gió vọng về, và cả tiếng xôn xao của lá, của bóng đêm.
 
Ðêm nay tôi chong đèn đọc thơ Luân Hoán, tập thơ kỳ lạ. Tập thơ đẩy đưa ở bến nào, đến đây, bắt tôi phải cảm động, phải thao thức, dằn vặt nhớ nhung. Có nơi nào, có tiếng gọi. Thi ca Luân Hoán và Thi ca. Thi ca và Luân Hoán. Hạt bụi là Thi ca. Thi ca là Hạt bụi. Ðất đá là Thi ca.Thi ca là đất đá. Cứ hạt bụi, cứ đất đá. Thử hỏi trong vũ trụ này ai đếm bao nhiêu hạt bụi, và ai đếm bao nhiêu Luân Hoán thi ca.
 
Hình như có một sự chuyển biến quá kỳ diệu trong tập thơ mới nhất của anh. Ðọc những tựa đề. lê thê, trải rộng, dịu dàng. Thơ 6,8. Ngay cả tượng cũng là thơ rồi. Chưa bao giờ tôi thấy một người thơ nào lại âu yếm cùng thi ca đến như thế. Tôi không nói đến chữ nghĩa như một số người đã bảo. Bởi Luân Hoán không phải là một phù thủy chữ nghĩa. Phù thủy chữ nghĩa chỉ là cái thùng rỗng, hay người kỹ nữ về già. Ðọc kêu to nhưng không thấm thía, không bùi ngùi, tha thiết. Với anh, tưởng như mọi thứ , mọi điều, mọi vật, nhỏ vô cùng như hạt bụi, to lớn vô cùng như trời đất vô lượng, tất cả đều có linh hồn và tất cả đều được thi ca gìn giữ.
 
như :
nhốt trăm tên gọi vào trong cặp
tưởng những tên kia đã của mình
 
như:
ngờ đâu lệ chỉ là vết đạn
lổ chổ lòng ta những xót xa
 
như :
quê hương nhắm mắt như sờ được
 
như :
trốn bao thương nhớ tôi ra phố
trăm ngã đường vào một trái tim
trái tim tôi vẫn là tên Ðà Nẵng
 
như :
hỡi con kiến lửa lạc bâng quơ
 
Ơi chú kiến lửa có lạc loài không nhỉ ? hay vơ vẩn rong chơi.Luân Hoán đã làm tôi xôn xao khi nhớ lại tuổi ấu thơ. Bây giờ tôi mới hiểu rằng tôi đã có bao nhiêu điều qúi báu nhất mà tôi đã bỏ quên từ lúc nào không hay.
 
Tôi đã kể một phần nhỏ những gì đã gắn bó trong thơ Luân Hoán. Thơ anh dạt dào đầy ắp những Việt Nam, Những Ðà Nẵng, Huế Sài gòn. Những ngã ba Huế, Hải Vân, huyện Quế Sơn, Câu Lâu, Hương An, Yến Nê, Hội An, Ngã Năm, Ðầm Dạ Trạch...Thơ anh cuốn làn mây mù đỉnh núi, "bờ tre chịu gió", thẳng đường chim bay","nước xôn xao dưới cầu". Thơ anh quê hương tăng thêm vẽ đẹp, tình yêu cũng âu yếm hạnh phúc bội phần. Thơ anh "mỗi hạt bụi đời như có máu" và gió thì " thở nhầm hơi thở của em tôi" và "nước xô nhau như chạy trốn nhọc nhằn". Thơ anh đất cũng được âu yếm : " hốt giùm nhắm đất đưa ngang mũi, thử có hương giày sư đoàn 2 " và mưa cũng tuyệt vời mộng mị "ước chi triệu hạt mưa rào, dắt dìu hồn sít rịt vào với nhau " .
 
Người ta vẫn thường đặt thơ ở một nơi thật trịnh trọng. Nói đến thơ, người ta sẽ nói đến cái gì tốt đẹp, tuyệt vời, vượt xa cõi ô trọc thường tình. Với Luân Hoán, trái lại, thi ca gần kề với quả đất, cõi trần gian. Với anh, qua tập thơ không còn những kỳ thị một thời. Trái lại, tất cả được thăng hoa, giữ gìn, chẳng hạn qua bài Giặt Áo Quần Cho Vợ (Ngơ Ngác Cõi Người, trang 67), Luân Hoán đã viết những câu thật đẹp :
 
"trộn tình ta vào trong bột giặt
vò nhẹ nhàng bởi lo sợ em đau
vải còn đượn mùi thịt da em thơm ngát
tay bùi ngùi như đang vuốt ve nhau
 
trông thau nước đục lờ những cáu bẩn
ta bỗng thương lớp bụi nổi màng màng
chúng là những nhọc nhằn em gánh chịu
nuôi chồng con dài năm tháng gian nan
 
vòi nước nhỏ chảy qua từng thớ vải
như chảy vào trong cùng tận lòng ta..."
 
Người ta nói nhiều đến người đàn bà Việt Nam với bao nhiêu ngưỡng mộ, khâm phục nhưng có vần thơ nào kể rõ hơn về cái nhọc nhằn, bất hạnh của người thiếu phụ "vò nhẹ nhàng bở lo sợ em đau". Tôi nhắm mắt lại . Tại sao Luân Hoán lại dùng chữ nhẹ nhàng ? Thi ca cuồn cuộn ngay cả đến một thau nước bẩn, một cái vòi nước, một buổi trưa (có lẽ) người thi sĩ ngồi giặt quần áo cho vợ, thi ca không còn kỳ thị.
 
"vò nhẹ nhàng bởi lo sợ em đau" Ở thơ Luân Hoán tình yêu đầy ắp. Yêu mọi thứ, mọi điều. Yêu sự đau khổ, nhục nhằn. Yêu hạnh phúc, yêu vật, yêu người, yêu hoa, yêu lá. Nhưng trang thơ của anh thảy đều bàng bạt tình yêu. Anh ướp chúng vào với tất cả độ lượng ngay giữa lúc người thi sĩ mạc vận nhất. Thật vậy, giữa lúc nước mất nhà tan, tội tù, giữa lúc anh mất đi một phần thân thể, anh vẫn :
"vò nhẹ nhàng bởi lo sợ em đau"
hay vẫn :
ta sẽ đãi ta bát nước xanh
điếu Vàm Cỏ thở khói mong manh
rung đùi nhấm nhí niềm hạnh phúc
mừng trái tim ta vẫn trong lành
ta sẽ cười vui với trẻ con
da nhăn bụng ỏng ngẩn ngơ buồn
cho em bao thuốc làm giấy vụn
phân lượng nào cân được mến thương"
 
Hỡi các em nhỏ của Bình Minh, Tân Quới, Phong Ðiền, tôi đã gặp các em , đã đứng bên đường lắc cái chuông đồng mời gọi các em tới. Các em xanh xao, da nhăng bụng ỏng...
 
Hôm nào cây cà rem chảy tôi tặng các em, bây giờ tôi xin tặng các em bài thơ của một người. Bởi thơ luôn luôn tồn tại. Thơ sẽ sống mãi và giữ mãi nhịp cầu giữa em và tôi...
 
Trần Hoài Thư
 
* Mời xem những bài viết khác của Trần Hoài Thư ở trang Văn Xuôi.

Đêm...* Trần Hoài Thư

Đêm Thánh Vô Cùng
 
Bốn chàng thanh niên: áo ấm kéo cao tận cổ, co ro run rẩy bước theo con dốc xuống bờ hồ. Trời của đêm Giáng sinh đầy sao và trong suốt như đáy cốc thủy tinh màu sẫm tối. Gió nghe lộng trên đồi, rồi lướt xuống lũng, rì rào trên những đọt thông cao. Gió thật lạnh. Cả bọn co rúm trước những cơn gió tê buốt.
 
Tuy nhiên họ vẫn chạy theo con dốc, những bước chân ngờ nghệch làm sao. Tiếng cười nói vang lên làm cõi đêm bỗng dưng bừng vỡ trong giây lát, rồi trở lại cùng sự im lặng cố hữu.
Trong khi đó, thành phố như mở rộng cánh cửa từ lâu bị khép kín. Ngày trước, dễ chừng vào lúc màn đêm vừa buông xuống, là các con đường đã trở nên vắng im và các nhà hai bên đường đã khép chặt cửa, chỉ còn lại là vài ánh đèn mờ nhạt từ trong một vài quán cà phê hay vài bóng người thích lang thang trước những cơn gió cắt da cắt thịt. Nhưng đêm nay lại khác. Rõ ràng, hầu như mọi người đều tuôn đổ ra đường, với quần áo mới, nụ cười tươi, gương mặt rạng ngời dưới những ánh đèn rực rỡ được thắp lên để chào mừng đêm Giáng sinh.
 
Thành phố chẳng khác một ngày hội. Máng cỏ, đèn hoa, những cây Noël rực rỡ màu sắc, và đồ chơi. Những cửa hàng đông nghẹt người. Quán cà phê đã thay băng nhạc thường lệ để chơi băng nhạc Giáng sinh. Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời… Tiếng hát đã hòa cùng niềm vui của một thành phố được xem là quí phái đài các. Chính niềm vui mừng rộng lớn ấy đã khiến bốn chàng thanh niên kia phải tức tốc mang áo ấm giã từ khu nội trú. Tuổi trẻ đã làm họ quên cả rét lạnh, quên cả nỗi xa nhà, để mà lang thang xuống phố. Càng lúc họ càng hòa nhập vào đám đông, đang cùng nhau đổ xuống con đường dẫn về ngôi nhà thờ chính của thành phố.
 
Một giọng nói cất lên:
- Đứa nào còn thuốc lá không?
Một đứa nói có rồi trao bao thuốc cho bạn. Một que diêm được thắp lên. Hai thằng áp mặt vào ánh lửa xanh. Một thằng bỗng nhiên cất tiếng hát:
- Đưa em xuống phố đêm nay…
Giọng khác nhái theo:
- Em đòi cà rá hai ly…
Lời pha trò đã làm cả bọn cười rộn rã. Bỗng nhiên trong bóng đêm trỗi lên tiếng nói của một người con gái nào:
- Coi kìa, mấy ông con trai, có điều gì vui mà cười quá thế.
Tiếp theo là những tiếng cười khúc khích. Phía thanh niên, một chàng đáp lại:
- Bọn tui cười thì mặc bọn tui. Can chi mô mà mấy o lại thắc mắc?
Giọng Huế pha khôi hài của hắn lại làm cả bọn con gái một phen cười rũ rượi:
- Nhưng tiếng cười của mấy ông có vẻ chi là lạ…
Một thằng đáp lễ, nhưng một thằng khác đã chặn ngang kịp thời:
- Đừng sa vào bẫy. Mày có biết “có vẻ chi là lạ” là gì không?
- Không.
- Là giống đười ươi. Các nàng muốn ví bọn mình là giống đười ươi đấy…
 
Cả bọn vào con đường đầy ánh điện nhiều nến. Bọn con gái bốn đứa. Một thằng la lên. Quả thật là tình cờ. Ngược lại, theo các nàng, mau lên. Một đứa khác giục. Rồi ba thằng vội vã đuổi theo tiếng cười khúc khích. Chỉ có một chàng thì bước theo chậm rãi, chẳng buồn hòa nhập vào nỗi phấn khích chung của cả bọn. Hình như đó là bản tính của chàng. Nếu người ta nhìn kỹ, người ta sẽ nhận ra sự côi cút của chàng. Lưng chàng khẽ khom xuống, mái tóc bay tự do trước những cơn gió mạnh thổi đến từ bên kia bờ hồ.
 
Lúc bọn con trai vượt qua, rồi chậm lại để trò chuyện với bọn con gái, thì một cô bé đã tách rời và đi chậm lại. Thế là không hẹn mà gặp, người sinh viên đã tiến sát cạnh cô gái, dễ chừng họ đi song song với nhau. Tuy vậy, họ đã không thốt lên một lời nào. Trong khi đó sương đã phủ dày đặc, ánh đèn đường chỉ là một vệt mỏng, cho đến những vì sao cũng trở nên nhòa nhạt và trên đồi, bóng những hàng thông đã mờ khuất trong sương mù.
 
Sương mỗi lúc một phủ đầy, khiến hai kẻ đi sau không còn nhận ra cả bọn trai gái đi đằng trước nữa.
Và để phá tan bầu không khí im lặng lê thê ấy, chàng trai hỏi trước:
- Sao cô bé không chịu gia nhập cuộc vui của bạn?
- Còn anh?
Chàng nhún vai:
- Tại tôi không thích.
- Em cũng vậy.
Chợt người con gái hỏi:
- Gần đến giờ Chúa ra đời chưa anh nhỉ?
- Tôi không có đồng hồ, cô bé ạ. Nhưng có lẽ gần đến rồi. Người ta càng lúc càng đổ về nhà thờ…
- Vâng. Em thấy.
 
Đêm càng lúc càng dày. Và bầu trời càng lúc càng thấp. Tiếng gió hú lồng lộng suốt con đường. Vô tình hai người đi sát vào nhau. Họ không còn để ý đến đám đông, đến đám bạn. Riêng người con gái, nàng đã quên nàng là giọng hát chính của buổi lễ nửa đêm. Hình như có một mối giao cảm kỳ diệu nào đã kết hợp hai tâm hồn người nam nữ để họ cùng nhau bước đi bên nhau, cho dù bước chân người nữ vẫn còn luống cuống ngượng ngùng và miệng lưỡi của người nam như câm cứng. Họ đã cảm nhận thế nào là ái tình. Họ cảm ơn một Đêm huyền nhiệm. Chúa đã ra đời để ban phát tình yêu thương cho nhân loại. Chúa muốn quả đất này sinh sôi nẩy nở và từng đôi, từng đôi tìm đến với nhau, không hẹn hò, không báo trước.
 
Có phải vậy không? Chắc giờ này, vị linh mục đang phải khốn khổ vì ban hợp ca lại thiếu một giọng ca chánh. Chỉ có đồi thông, chỉ có ánh trăng lai láng, chỉ có thời gian như dừng lại ngàn năm mới thấy được hai người. Ánh trăng trong sương mù loang loáng một màu tái xanh hơn, và từ phía dưới đồi chuông vẫn tiếp tục ngân lên, cùng với tiếng gọi tìm ơi ới của lũ bạn. Đêm đã khiến họ tìm được tình yêu đích thực. Họ giấu người sau một lùm bụi. Rồi tiếng gọi trở nên loãng dần. Trong khi đó, những hàng thông tiếp tục reo lên một điệu nhạc của trời đất vô lượng.
 
Rồi một động lực nào đó, khiến đôi mắt nàng nhìn lên bầu trời và bật lên lời hát: Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời, Chúa sinh ra đời, nằm trong hang đá nơi máng lừa... Chàng nghe nàng hát mà mắt nhắm lại, lòng bật rưng rưng. Tiếng hát vút cao, như chạm vào lớp mây mù, như cuống quít trên những ngọn thông già, như hòa nhập vào một vầng trăng huyền hoặc hư ảo, như ngày xưa thiên thần tụ hội trong bầu trời Bết-lê-hem để cùng nhau cất lời ngợi dâng… Nàng hát, và chưa bao giờ nàng lại hát xuất thần đến như vậy. Bởi vì, nàng hiểu rằng, đêm nay, nàng đã bắt gặp được niềm ân sủng của Thượng Đế không phải từ trong giáo đường tôn nghiêm mà tràn đầy trong cõi vũ trụ vô cùng…
 
Trần Hoài Thư

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013