Thi Ảnh

Phan Bá Thụy Dương

Bài Tâm Ca Vô Niệm - Phan Bá Thụy Dương

Phan Bá Thụy Dương

1.
kìa ai,
bên suối ôm ảo tượng
mắt dã hoang vu bụi lốc huyễn hờ
vũ trụ chết
tầng âm thanh lắng đọng
tay ơ hờ vuốt gió hát bâng quơ

2.
tâm niệm lặn,
lững lờ sương ốc đảo
gánh càn khôn u ẩn tiếng mưa khơi
tóc khô kiệt kết tinh mùi thủy thảo
thoáng mờ xa từng lượn sóng rã rời

3.
qua cổng nắng
soãi cánh mềm hải điểu
cát lao lung
phủ ấp đá dung tình
ai thảng thốt ướp thiền hoa mỹ diệu
buông tiền thân,
xua tự ngã u minh

4.
mây xám tạc hình ẩn khách
xiêm y loạn lửa chân như
nguyệt tàn, cõi giam sấm động
cung thương lạnh phím ngù ngờ

5.
rượu tàn canh
rượu tàn canh ngập ngừng chân du mục
réo gọi hồn phiêu lãng phách trầm luân
tâm huyền niệm – ý lạc loài vô thức
em
em về chưa, sao dư ảnh chập chùng

6.
sưởi hâm chi ngọn tình hương phấn cũ
ta về đâu
ta về đâu chiều đã mỏi cánh bay
lỡ tha hóa như rừng sâu tróc lá
loảng âm hao lã mộng gối vân đài.

7.
thôi nhé em
giếng hồng hoang cô tịch
trót cạn nguồn lạch kín dấu thiên di
đèo hun hút
bạt ngàn
đêm tận tuyệt
rải sa mù
khuất bóng nẻo từ ly.

Phan Bá Thụy Dương

Trần Văn Sơn: Thơ Như Những Tiếng Tơ Đồng Diệu Vợi Và Trầm Sâu. - Phan Bá Thụy Dương

Phan B Thy Dng

Thấp Thoáng Vài Nụ Hoa là ấn phẩm thi ca thứ nhì của Trần Văn Sơn, do nxb Little Sàigòn ấn loát cuối năm 2008 và phát hành vào đầu năm 2009. Bìa của họa sĩ Rừng. Sách trình bày mỹ thuật, dày 148 trang với nhiều phụ bản tranh màu của các họa sĩ thành danh: Hồ Thành Đức, Bé K‎ý, Lương Trường Thọ, Rừng. Tác phẩm này sau khi phát hành 5 tháng đã được bạn đọc yêu chuộng mua hết.

Trần Văn Sơn là nhà thơ trẻ khá nổi tiếng của nhóm Khai Phá trước 75. Ngoài tập san này, anh còn công tác với các tạp chí Phổ Thông, Thời Nay, Văn, Nghệ Thuật, Khởi Hành... và là hội viên của Hội Văn Nghệ Sĩ Quân Đội
Sinh năm 1945 dưới chân lầu Hoàng, Phú Hài, tỉnh Bình Thuận. Sang Mỹ theo diện H.O và hiện cư ngụ tại thị xã Garden Grove, California.

Tác phẩm đã xuất bản trước 1975:
* Vườn Dĩ Vãng: Thơ - Khai Phá xuất bản 1972 tại Sàigòn.

TTVNH sau khi ra mắt bạn đọc đã được giới văn nghệ, báo chí đón nhận với một thái độ trân quí, nồng ấm. Ai cũng biết thị trường sách báo hải ngoại càng ngày càng trở nên vắng khách, thiếu tri âm, thì những phản ứng, nhận định dưới đây đáng là một điều an ủi lớn cho Sơn khi anh trở lại với thi ca, sau 35 năm vắng bóng.

Sau khi đọc TTVNH nhà thơ Viên Linh nhận định:
“Thơ TVS, dù qua thể loại nào, vẫn có một nhịp điệu du dương riêng; anh chọn vần, lựa điệu như một nhạc sĩ, và chữ trong thơ TTVNH dồi dào hình ảnh, tạo ra hình ảnh, khiến bài thơ - hay câu thơ của anh - là một bức tranh, hay một góc của bức tranh nhiều màu sắc:
bay mưa sầu thấp trăm năm/đèn lu bất lụn mưa đầm đìa rơi/tôi ôm mưa ngủ ngoài trời/mưa tôi che kín bóng đời buồn tênh (tr.19). 4 câu lục bát điêu luyện.
chung trà nóng vẫn còn/chén rượu chưa nhắp cạn/ngó lên đỉnh thiên sơn/lạc loài chim lẻ bạn (tr.15). 4 câu ngũ ngôn không thừa một chữ.
sát quán Ba Cô ngôi miếu cổ/ngổn ngang gạch đá lạnh hương trầm/bạn. ta. thiền định bên ly rượu/chợt thoáng trong ly bóng nguyệt rằm. (Tửu thiền với Nguyễn Bắc Sơn tại quán Ba Cô tr.45). 4 câu thất ngôn tứ tuyệt rất tuyệt.
Thơ TVS: chỉ 4 câu thôi là khúc nhạc. Chỉ 4 câu thôi là tấm tranh. Chỉ 4 câu thôi là thấy hết. Chỉ 4 câu thôi mà mênh mang.” (trích Khởi Hành số 149 tháng 3 năm 2009).

Sau khi TTVNH phát hành không lâu, một nhà thơ khác cùng chung trường mẹ Phan Bội Châu, cùng quê Bình Thuận với TVS là nhà thơ Trần Vấn Lệ đã viết:
“Gần bốn mươi năm mà một nhà thơ đã có danh như Trần Văn Sơn mới có thêm tập thơ thứ hai, thế là muộn màng lắm; nhưng có còn hơn không. Anh, trước hết, chứng tỏ cho anh em trong thi giới thấy mình vẫn còn sống - vẫn còn sống để còn Thơ... Trần Văn Sơn làm thơ không lẻ loi, không thiếu hay vắng bạn. Cái tình của tác giả Thấp Thoáng Vài Nụ Hoa không thấp thoáng mà choáng ngợp lòng người. Ai là bạn của Trần Văn Sơn chắc hẳn là có nhiều kỷ niệm vì tôi thấy Hà Thúc Sinh ưu ái viết bài tựa cho Thấp Thoáng Vài Nụ Hoa, Phạm Nhã Dự, Ngô Nguyên Nghiễm, Trần Phù Thế thì viết cho Trần Văn Sơn ở phần bạt; còn ở bìa sau thì Phan Bá Thụy Dương giới thiệu tác giả và tác phẩm tuy ít lời mà rất nồng nàn.”
* Trần Vấn Lệ (trích tạp chí Tân Văn số 20 tháng 3 năm 2009)

Một thi hữu khác là bạn Nguyễn Mạnh Trinh cũng đã thân tình phát biểu:
“Đọc thơ Trần Văn Sơn, như nhìn ngắm lại một chân dung của một người bình thường trong thế hệ chúng ta. Đi lính, đi tù, đi Mỹ, những cái đi ấy hình như hầu hết chúng ta đều có chung . Những cái đi khởi từ một cuộc chiến tranh tàn khốc. Trải qua những nhọc nhằn bi thương , có lúc cũng hào sảng luận anh hùng , cũng có lúc giở tỉnh giở điên trong cơn say ngậm ngùi nhìn thế sự, thơ như những phác họa của một thực tế mà bất cứ ai cũng có lúc trải qua. Thành ra, thơ lại là những chia sẻ của những người hiện giờ đang sống đời lưu lạc , đang hụt hơi với chuyện cơm áo xứ người. Có mấy ai bằng lòng với hiện tại , với những gì mình đã có trong tay. Nhưng rồi cũng phải nhận ra một điều. Cuộc đời dù ở đâu và bất cứ ở nơi chốn nào, cũng cần một tấm lòng. Trong thơ Thấp Thoáng Vài Nụ Hoa, quả tôi đã thấp thoáng thấy mình của đám đông trong thế hệ ấy. Làm thơ, có phải là để trung thực và sòng phẳng với đời, để có lúc còn một chút nắng vui tươi , của một vài sợi mây mơ mộng. Qua bao nhiêu ngã đường đã vượt, trải bấy nhiêu cay đắng ở đời , thì có lúc , thơ đã làm gậy chống để giúp đỡ đôi chân trèo lên dốc đứng nhân sinh muôn đời chập chùng trước mặt…
* Nguyễn Mạnh Trinh (trích Trẻ Magazine số tháng 5 năm 2009)

Thân mời bạn đọc thưởng ngoạn một số bài tiêu biểu với các thể lọại khác nhau của TVS được trích trong tác phẩm thi ca TTVNH:

* Thấp Thoáng Vài Nụ Hoa

Dẫu không cửa không nhà. Vẫn an nhiên mà sống
Dẫu không rượu không trà. Vẫn hằng đêm nuôi mộng
Một ngày. Một ngày qua. Khốn khó vây quanh ta
Cháo rau ngày hai bữa. Chưa đủ ấm thịt da
Ngày thẫn thờ với bóng. Bóng quanh quẩn bên ta
Đêm thẫn thờ đối bóng. Bóng nhìn ta nghẹn ngào
Mộng có khi là thực. Nhưng thực phải thế nào
Ngày. Ngày qua - Còn đó. Tia nắng chưa rọi vào
Sáng nay trời thật đẹp. Hoa ngào ngạt quanh nhà
Vườn ai vừa mở cửa. Thấp thoáng vài nụ hoa.


* Lục Bát Mưa

Mưa Đầu Mùa

Rơi hoài phố vắng người thưa
Rơi trong chăn chiếu giọt mưa đầu mùa
Rơi tôi hạnh phúc ngày xưa
Phất phơ sợi tóc buổi trưa mưa dầm
Bay mưa sầu thắp trăm năm
Đèn lu bấc lụn mưa đầm đìa rơi
Tôi ôm mưa ngủ ngoài trời
Mưa tôi che kín bóng đời buồn tênh.

Mưa Sài Gòn

Sài Gòn đang nắng chợt mưa
Dừng chân đụt vội mưa vừa dứt cơn
Hết mưa chỉ một phút hơn
Rồi mưa mưa mãi mưa còn dài thêm
Mịt mù ngày cũng như đêm
Thèm hôn chút nắng êm đềm buổi trưa
Giận trời sao cứ mưa mưa
Bóng ai thấp thoáng cuối mùa mưa rơi
Sài Gòn thương quá người ơi
Giọt mưa và giọt hồn tôi rơi đều.

Mưa Cao Nguyên

Mưa rơi trên đó buổi chiều
Ngoài hiên đứng ngó thả diều rong chơi
Tình trong đục giọt một đời
Sương tan theo nước mắt trời ở trên

Xe lăn qua đó sấm rền
Ngồi đây ngó phố gọi tên một lòng
Mưa hoài ngỡ đã sang đông
Áo dài xanh ngỡ màu hồng thiên thu

Ra sông ngó núi mịt mù
Mưa rơi hay giọt phù du vô cùng
Xưa trôi mấy nẻo thủy chung
Nay trông mưa uống rượu mừng mưa rơi.

* Áo Phong Sương

Mây che kín bước song hồ
Tử sinh bóng ngã bên bờ nhân gian
Sầu khô tuổi úa lá vàng
Lao đao thân ngựa cười khan kiếp tằm
Xô đời biệt tích bao năm
Ngày mưa mù mắt đêm nằm ủ sương
Tình xưa chết gục bên đường
Áo phong sương nhuộm vô thường những thu.

Với tôi Thấp Thoáng Vài Nụ Hoa là sự thể hiện của những tiếng tơ đồng trầm sâu, truyền cảm. Ðó cũng là tiếng lòng đầy ấp chân tình, chân ái của một người làm thơ lâu năm, coi thơ như lẻ sống, coi bạn bè như anh em thân thiết, ruột thịt. Thơ Trần Văn Sơn thuần khiết và trong sáng như mặt nước hồ thu, như tâm hồn anh.

Cho dù khi thơ Sơn phản ảnh, qui chiếu về một góc độ nhị nguyên đối đãi nào đó của cuộc sống mà anh đã trải nghiệm như: khổ ải-hạnh phúc, được-mất, thắng-thua, có-không... thì những thi ảnh, thi ngữ, xúc cảm ấy cũng đã được hài hòa, dàn trải bằng những ngôn-ngữ-tình, để từ đó những đặc điểm này được kết hợp, tạo thành một tác phẩm thi ca chứa chan cung điệu bát âm và mang tròn tính chất nhất quán, đậm màu nhân bản.

Ngay sau cuộc nói chuyện với Du Tử Lê phát hình trên SBTN ngày 19 tháng 6, TVS đã cho tôi biết anh đang thai nghén tác phẩm thi ca mới để nhờ tôi ấn hành tiếp vì TTVNH sau 5 tháng ra mắt bạn đọc đã không còn.

Đọc thơ Trần Văn Sơn rất thú vị, vì mỗi ngày tôi đều nhận thấy thơ anh càng trong sáng, sâu sắc hơn và nhạc tính cũng như thi ảnh, thi ngữ đều mới mẻ, tăng tiến không ngừng. Vì vậy chắc chắn sau khi về lại USA tôi sẽ giúp TVS để ấn hành tiếp tác phẩm thi ca mới của anh, của một số tác giả thân hữu, trong năm 2013. Ít nhất cũng sẽ ấn hành theo lối Ebook và giao cho Amazone hay Yahoo bán giá thật thấp trên internet, nếu thị trường tiêu thụ sách in ấn vẫn còn bị chậm, trì trệ như mấy năm qua.

Phan Bá Thụy Dương

Viết Về Thơ Thy An - Phan Bá Thụy Dương

 
Thy An: 40 năm làm thơ, yêu đời và yêu người.
Thy An tên thật là Nguyễn Thế Tài, sinh năm 1952.
Anh xuất thân trường Pháp tại Việt Nam, tốt nghiệp ngành khoa học tại Âu châu và cư ngụ tại Bỉ quốc. Thy An cho biết anh rất yêu thích thi ca và văn chương Việt Nam ngay từ khi còn bé.
 
Học sinh, sinh viên miền Nam VN, nhất là người theo học chương trình Pháp như Nguyễn Thế Tài hay chọn ngành chuyên biệt Pháp ngữ trên các phân khoa đại học, những người yêu thích thi ca phương Tây, thi ca hiện đại, không ai không biết hay từng say mê, đọc qua Stephane Mallarmé, Paul Verlaine, Arthur Rimbeau, đặc biệt là Guillaume Apollinaire [1880-1918] - ít nhất, qua Le Pont Mirabeau và Le Voyageur, hoặc Victor Hugo [1802-1885] với Les Misérables, Alphonse De La Martine [1790-1869] qua Méditations... mà thi phẩm Le Lac của vị đại thi hào này thì dường như ngay cả học sinh trung học chương trình Việt trước 1975 có thể nói ai cũng thuộc lòng.
 
Thy An theo học trường Pháp từ thuở thiếu thời, nên có điều kiện thuận lợi để đọc, tiếp xúc rộng rải với nền văn hóa, văn học Tây phương, do đó tôi nghĩ phần nào anh đã chịu ảnh hưởng của những thi sĩ trứ danh nêu trên, để từ đó anh yêu và làm thơ hơn 40 năm qua.
 
Và qua Tuyển Tập Thơ Thy An, nếu cần nhắc thêm ảnh hưởng về dòng thi ca trữ tình, lãng mạn VN thì người đọc còn nhận ra trong thơ Thy An phảng phất âm hưởng, tiết tấu, phong vận của Đinh Hùng, Hồ Dzếnh, Hàn Mạc Tử.
 
Hầu hết những người làm thơ không ai là không chịu ảnh hưởng ít nhiều của những thi sĩ thành danh đi trước. Ngôn ngữ thi ca, thi ảnh... mỹ miều không nhiều, nên tự thân việc chịu ảnh hưởng về một mặt nào đó vốn là chuyện đương nhiên, bình thường. Vấn đề là người chịu ảnh hưởng, thấm nhuần tư tưởng thi ca của các thế hệ đi trước có biết cấu trúc, hài hòa để tự sáng tạo cho thơ mình một " chân dung " mới, một con đường mới hay không. Theo tôi, Thy An đã thực hiện được điều hay đó một cách trọn vẹn, hoàn hảo.
 
 Thơ Thy An được cấu trúc chặt chẽ, hài hòa và đầy nhạc tính, với những nhân dáng, hình ảnh sâu đậm, mà Robert Bly và nhóm thi hữu của ông như James Wright, Louis Simpson, William Stafford... đã tận dụng, khai thác và được họ mệnh danh là "deep images". Lời thơ dù mang sắc thái lãng mạn, trữ tình, hoặc cảm xúc trước sông hồ, biển cả, núi non như được biểu tượng hóa, đều luôn phảng phất, tiềm tàng tinh thần nhất quán của một bản thể tính hoài niệm.
 
Thơ anh nhẹ nhàng và dài hơi, nhất là trong thể loại 8 chữ, thơ mới. Nguồn thi cảm của anh phong phú, dạt dào và được giao thoa, dàn trải một cách thiết tha, lắng đọng.
 
Thi ngữ Thy An xử dụng thường mới lạ, âm vận êm đềm, đồng thời chuẩn mực về thi pháp và quy luật, nên dễ lôi cuốn người đọc tiếp tục hành trình khám phá, thưởng ngoạn tuyển tập thơ của anh. Đây là một tác phẩm hay cần có trong tủ sách gia đình.
 
Tác phẩm đã xuất bản:
* Albert Einstein, nhà bác học đam mê và chân thật (biên khảo, xuất bản tại  Bruxelles năm 2007, tái bản lần thứ nhất 2008)
 
* Tuyển Tập Thơ Thy An tác giả ấn hành tại Bruxelles, cuối 2008. Sách dày 220 trangvới nhiều phụ bản tranh màu của các họa sĩ trứ danh: ?, Monet, Vangogh, Jacobha, Nguyễn Trung, Hồ Thành Đức, Bé Ký... Địa chỉ giao dịch điện thư : This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
 
Dưới đây là một số bài được trích từ tuyển tập thi ca nói trên :
 
 Lời Độc Thoại
đời một nửa nghiêng sâu vào tình sử - hồn lung linh theo tiếng hát lên trời
đỏ nước mắt gửi niềm đau ngọc nữ - rồi ngày qua, ngày qua vẫn thấy rã rời
chiều thắp sáng nguồn đau chờ sám hối - giấc chiêm bao như héo úa tàn canh
theo tiếng gió gửi lời ca buổi tối - thương ngày mai như thương khoảng ngày xanh
 
Có Phải Em Về
có phải em về đèn khuya héo úa - cho cả bầu trời ẩm đục sương đêm
tay đốt lửa soi đời ngày đối mặt - ôi khuôn mặt xưa mờ mịt bên thềm
 
có phải em về phấn hương tẻ nhạt - môi vẫn hồng tóc vẫn chấm ngang vai
những thương yêu ấp ủ ở bàn tay - hay ngày mai chỉ là cơn gió lạnh
 
ngày ra đi, đời ta buồn ủ chặt - nghe hương xưa thoang thoảng áo phong trần
trời có biếc, mắt có trong màu trinh nữ - ta vẫn mình ta khua nhịp đều chân
 
trên đỉnh trời sầu loài cây nhớ gió - một lần trót thương vạn kiếp u mê
ta đã xót xa ngày tháng lê thê - nghe gãy mục từng cảnh đời vàng ố
 
có phải em về thời gian vỡ đổ - để ngọn đèn khuya nức nở thâu đêm
ôi dung nhan của một thuở êm đềm - ta bỗng sợ cho ngày mai gió bão
 
có phải em về buồn lên sắc áo - ánh đèn vàng đâu soi rõ đời nhau
đời của em lẽ nào buồn da diết - để lời thơ ta mãi mãi sầu đau ?
 
Bài Thơ Du Tử
rồi mai anh về thơ thành hoa thành lá - có bao giờ hoa lá ngủ trên vai
có bao giờ em thương mến ngày mai
hay suốt đời thơ anh - chỉ là giọt sương buổi sáng ?
 
khi đã ngã nghiêng một vùng đời quên lãng - anh chợt về vầng trán nét suy tư
có thể nào thôi vàng lá mùa thu - để anh tiếc ngày đêm làm du tử
 
tình của anh là tiếng buồn cô lữ - dưới hiên nhà trên đồi núi sơn khê
nghe vang xa từng tiếng suối đê mê - nghe thương nhớ mảnh trăng thề chờ đợi
 
anh vẫn tiếc những tháng ngày diệu vợi - con đường nào hàng me lá bay bay
đã quên chưa em cơn hò hẹn tình dài - hay kỷ niệm chỉ là thời vang bóng ?
 
ngày ra đi anh vẫn biết đời biển động - nên đã cười mà đau đớn xót xa
cũng như ngày xưa anh đã chọn thi ca - làm giấc ngủ trong những đêm phiền muộn
 
và trời Liège khi sương chiều buông xuống - phủ lòng anh đêm rừng núi vây quanh
anh đã nhớ tới em qua làn khói mong manh - qua kẽ hở bàn tay mùa gió lạnh
 
có lẽ nào mùa thu đã đem về hiu quạnh - để lòng anh se sắt đớn đau
có lẽ nào bàn tay đã đánh mất tin yêu - để mãi mãi anh một đời rong ruổi
 
rồi mai anh về, thơ thành hoa thành lá - đậu bờ vai hay hàng giậu trước hiên
anh sẽ về tìm bắt cánh chim khuyên - hay nỗi nhớ muôn đời là nỗi nhớ ?
 
Em Về, Ta Về
* Tặng NKChi
 
em về rũ áo tà huy - sương mai hóa ngọc, xuân thì nở hoa
phù vân dòng suối tóc ngà - cuốn theo hư ảo nhạt nhòa chân mây
 
ta về, tâm thức : tỉnh, say - uyên nguyên hạt bụi lung lay phong trần
vai mềm, áo bạc che thân - nghe kinh huyễn ảo chín phần nổi trôi
 
em về hoa nở trên môi - tiếng thơ rơi rụng núi đồi vọng mê
lần nghe tiếng gió gọi về - trời xanh biển rộng sơn khê ngậm ngùi
 
ta về, nỗi nhớ : ngược, xuôi - giọt kinh phủi xuống buồn vui muộn màng
lên đồi bát nhã thênh thang - vẽ lên tấm áo hai hàng sen thơm
 
Bài Thơ
Làm Tại Giảng Đường
người về đó rêu bồng xanh mái tóc - đá hoang vu mòn nhẵn cạnh trùng khơi
trong mê lốc ta nghe đời hao đổ - thoáng hương xưa trên vai áo rối bời
 
nghiêng bóng nắng môi cười không thành nụ - ta trở về, tim ủ nẫu tình xưa
đem ước mơ về phủ gót chân thừa - xô dạt mãi gió mưa ghềnh thác lũ
 
người về đó chim muông thành cầm thú - cướp hồn ta đêm cào máu thành thơ
đã chín chưa ôi vời vợi mong chờ - hay mưa bụi vẫn bay bay thềm cũ ?
 
mùa thu đó đã về đây yên ngủ - áo người xanh rồi cũng phủ mờ sương
hồn của ta rồi cũng rụng bên đường - mai đi dạo dưới chân người vần vũ
 
người đã đến đã đi đời trôi nổi - vớt hồn ai trên dục vọng cuồng điên
lắng xuống đi đời ta vỡ trăm miền - chìm lỉm mãi bao quanh vùng biển tối
 
người có nhớ về đây nhìn tội lỗi - lỗi đời ta ngày mưa gió yêu người và bài LTLĐ dưới đây có thể nói đã thể hiện rõ rệt nhất bản chất tiêu dao, thanh thoát cùng những hoài niệm trầm mặc, thiền vị trong thơ Thy An NTT:
 
Lững Thững Lên Đồi
ôm nỗi nhớ ta về qua triền núi - rừng xa xưa cất tiếng gọi khôn nguôi
con suối trong xanh soi bóng bùi ngùi - bao kỷ niệm nghe buồn hơn yên lặng
 
đá vắng lạnh nên hồn ta cũng lạnh - tóc thiên thu vén lại mấy tầng mây
lững thững lên đồi hát với cỏ cây - mắt hoang dại tìm dung nhan bất tận
 
núi vẫn đó trông xuống đời lận đận - cuộc phong trần đá cũng phải hư hao
chuyện tình người như sông biển chờ nhau - chân bước mỏi nẻo sơn khê lỡ vận
 
mây gọi mưa ở cuối trời hiu quạnh - núi và rừng vẫn xanh mãi cùng ta
lững thững lên đồi hát bản tình ca - trong gió thoảng hương thơm ngàn hoa lạ
 
ôm nỗi nhớ ta về cùng cỏ lá - dặm đường xa đi dưới bóng tà huy
vạt nắng cuối non ôi thật nhu mì - nghe như tuổi thanh xuân thời mộng mị
 
lững thững lên đồi ta quên hệ lụy - núi cùng ta to nhỏ với hư không.
 
 
Tình Khúc Nếu Mai Em Về
1.
nếu mai em có về xóm biển
thả gió về trời cho mây bay
bên con suối ngọc mơ màng ngủ
cho tóc em nồng hương cỏ may
nước mắt mẹ -
có rơi dài đêm tối?
nỗi niềm cha –
còn u ẩn tháng năm?
em – em đó sầu dâng mấy độ
ngóng trăng suông và lạnh chỗ nằm
2.
nếu mai em có về quê cũ
đánh thức dùm tôi nhánh ô môi
đang rủ sắc buồn bên song cửa
với giàn bông giấy đắm sương mai
có băng qua bãi,
băng qua suối
theo tiếng thì thầm trong khói mưa
mặc gió hững hờ rung tà áo
đã quên sầu,
hết xót xa chưa
3.
nếu mai em có về xóm biển
hãy thắp dùm tôi mấy nén nhang
cho bạn bè trên đường bỏ xứ
lỡ trầm mình dưới đáy đại dương
thắp thêm nhiều nén trên bia mộ
cho thân bằng quyến thuộc anh em
đã ngã gục qua lằn tên mủi đạn
thủa chiến chinh chia cắt đôi miền
4.
nếu mai em có về quê cũ
đọc lại tình thư đã nhạt màu
mà dư lệ đã lem nhòa trang giấy
với muộn phiền chất ngất lao đao
đò qua xóm vắng ai xuôi ngược
có chở đầy trời thương nhớ không
mộng hồn nào vấn vương tóc rối
gót chân sen em có động chiều hồng?
 
Liên Khúc Vô Thường
* Tặng Trần Thiện Hiệp
 
1.
Đốt công án vất kinh thư khải ngộ
Theo đường trăng -
trăng khi tỏ khi lu
Tìm người hiền nơi thâm cốc âm u
Thỏng tay vào rừng giả làm ẩn sĩ
Giòng sinh mệnh
chừng nhuộm màu chướng khí
Bến nhân gian ai quán niệm vô thường
Hành trình xa ngựa đà lỏng dây cương
Trên vách núi chân dung in mờ tỏ
 
2.
Ném công án chôn kinh thư bất ngộ
Nương sông ngòi biển cả tới an nhiên
Nửa u hoài, nửa chợt nhớ, chợt quên
Bỗng tan tác cùng tiên thiên tự ngã
Tay huyễn hoặc đề lời thơ trên lá
Hồn xanh xao mờ mịt chốn tang bồng
Người đâu rồi,
người đâu rồi sao tịch mịch hư không
Hương dạ thảo đang chớm mùa khai nở
 
3.
Hủy công án buông kinh thư giác ngộ
Vào chợ đời áo mỏng phất phơ bay
Bụi khói mê man,
chênh chếch nắng gầy
Lời phố thị chập chờn như ảo giác
Ta là ai -
ta là ai sao tâm linh ngơ ngác
Người là ai -
người là ai mà sắc diện mơ hồ
Rượu độc ẩm hề chân lạc loài đưa
Mây biến dịch mưa chắt chiu giọt nhỏ.
 
Trên Nỗi Tình Người 4
 
1.
mấy ngàn dặm hai khung trời cách biệt
em một phương
và ta ở một phương
trăng tuyết ở đây sao cũng dị thường
như khơi động nỗi niềm người viễn xứ
 
lỡ mai mốt em về qua xóm cũ
ta lạc loài từ thuở dấy đao binh
đường xưa em đi cô lẻ một mình
ôm khắc khoải thẫn thờ trong dư ảnh
 
2.
mưa bên ấy -
chắc làm em thấm lạnh
gió Hạ buồn có làm tóc em bay
trời đất mang mang sông bể vơi đầy
ai đếm được con nước ròng, nước lớn
 
thôi nhé em -
góp chi từng sợi nắng
nuối tiếc gì bụi khói đã trôi xa
nhớ nhung nào năm tháng chẳng phôi pha
mà chợt khóc, chợt cười trong ảo mộng
 
3.
đốt lửa lên em -
đốt lửa lên em, hâm thêm rượu nóng
để mình say quên bão táp vô tình
sao mắt em buồn như giọt sương đêm
tìm đôi bàn tay -
tìm đôi bàn tay, cũng chưa thấy ấm
 
biết về đâu ta nửa đời phiêu lãng
giấu u tình trong cổ mộ hoang vu
có còn chăng bèo bọt với mây mù
và ủ ấp bóng người trong lặng lẽ
 
4.
sóng biển hỡi - xin vỗ về thật nhẹ
cát vàng ơi - thôi xóa dấu hài hoa
sỏi đá nào dòng nước đã trôi qua
sao heo hắt muộn phiền như rêu cỏ
 
gác chuông Bắc ta treo hồn trên đó
đợi em về hong tóc gọi đêm Thu
cho mưa nguồn giăng lá thắm sa mù
và em cất tiếng, ru ta ngàn kiếp.
 
Cho Lá Thắm
 
1.
kể từ độ quan san chung cách biệt
bởi tự thân mình đã lỡ căn phần
ngày qua ngày ta sám hối ăn năn
em hờn dỗi ôm tình chôn đáy mộ
trót gieo hạt nảy mầm trên đất khổ
đường nhân gian ta thất thểu độc hành
ta treo hồn trên suối tóc em xanh
bay - bay mãi trong cuồng mê lầm lạc
 
2.
sao khắc khỏai chẳng hao mòn tan tác
mà dật dờ như bọt sóng lênh đênh
thử hỏi lòng lau sậy có điêu linh
có mặc niệm lời bi ca ẩn dụ
em thả gió thả hương vào vũ trụ
ta miệt mài đuổi bóng dưới trăng khuya
rượu tàn canh -
rượu tàn canh mù mịt lối đi về
tay huyền hoặc đề thơ trên giấy máu
 
3.
em đến thực hay mơ trong mộng ảo
cho ta nâng niu
từng ngón tay mềm
nụ hôn nào vương vấn má môi em
mà chua xót, ngọt ngào đêm kỳ ngộ
dưới huyệt lạnh em còn thương còn nhớ
chiều Gò Công có hoang vắng nhạt mưa
Lá Thắm ơi -
Lá Thắm đã về chưa
để ta ấp ủ hình hài em thánh thiện
 
4.
rượu tàn canh -
rượu tàn canh ta ngẫn ngơ tìm kiếm
em -
em nơi nào - trời đất có bao dung
ta lạc hồn trong cõi nhớ mông lung
réo gọi mãi chỉ thấy tòan dư ảnh
 
5..
có phải bây giờ
thủy triều đang xuống
thuyền đã đưa em về chốn hư vô
nên ráng chiều mây biếc cũng bơ vơ
và hiu hắt muộn phiền trong cô lặng
dẫu gom góp từng giọt sương sợi nắng
cũng âm u như lời hát chiêu hồn
em ơi em -
ở bên này hay bên đó buồn hơn
ta thao thức dỗ từng cơn ngủ muộn.
 
Trên Nỗi Tình Người 7
 
1.
Kể từ độ quan san chung cách biệt
bởi tự thân mình đã lỡ căn phần
ngày qua ngày ta sám hối ăn năn
em hờn dỗi ôm tình chôn đáy mộ
Trót gieo hạt nảy mầm trên đất khổ
đường nhân gian ta thất thểu độc hành
ta treo hồn trên ngọn tóc em xanh
bay -
bay mãi, trong cuồng mê lầm lạc
Sao khắc khoải chẳng hao mòn tan tác
mà dật dờ như bọt sóng lênh đênh
thử hỏi lòng lau sậy có điêu linh
có mặc niệm lời bi ca ẩn dụ
 
2.
Em thả gió thả hương vào vũ trụ
ta miệt mài đuổi bóng dưới trăng khuya
rượu tàn canh -
rượu tàn canh mù mịt lối đi về
tay hư huyễn đề thơ trên giấy máu
Em đến thực hay mơ trong mộng ảo
cho ta nâng niu
từng ngón tay mềm
nụ hôn nào vương vấn má môi em
sao chua xót, ngọt ngào đêm kỳ ngộ
Dưới huyệt lạnh em còn thương còn nhớ
chiều Sơn Qui có hoang vắng nhạt mưa
Lá Thắm ơi -
Lá Thắm đã về chưa
để ta ấp ủ
hình hài em thánh thiện
 
3.
Rượu tàn canh -
rượu tàn canh ta ngẩn ngơ tìm kiếm
em -
em nơi nào -
em nơi nào, trời đất có bao dung
ta lạc hồn trong cõi tạm mông lung
réo gọi mãi chỉ thấy toàn dư ảnh
Có phải bây giờ
thủy triều đang xuống
thuyền đã đưa em về chốn hư vô
nên dáng chiều mây trắng cũng bơ vơ
cũng hiu hắt muộn phiền trong cô lạnh
Dẫu gom góp từng giọt sương sợi nắng
cũng âm u như lời hát chiêu hồn
em ơi em -
ở bên này hay bên đó buồn hơn
ta thao thức dỗ từng cơn ngủ muộn.
 
Bóng Thời Gian
 
biển lặng sóng nước xanh như mắt ngọc
liểu vờn bay như suối tóc người tình
cơn nắng hồng - giọt nắng mới lung linh
thuyền ai đó mái chèo khua bỡ ngỡ
 
ôm khổ hạnh én lần qua đất nhớ
gió về đâu
nghiêng ngã khóm phi lau
gió về đâu
mà bụi khói xôn xao
mây lờ lửng trên đỉnh trời vàng vọt
 
cành lá biếc
vừa đâm chồi nảy lộc
ai báo Xuân cho lau cỏ rộn ràng
nhịp trống nào xa
khoan nhặt mênh mang
nghe phảng phất bóng thời gian vời vợi.
 
Gõ Thức Đêm Đen
* cho Anh Thuần và Lá Thắm
 
1.
Lửa đã lịm trong lòng anh đó sao
Mà lời nguyện cầu nghẹn tắt
Tình đã dậy trong tim em đó sao
Mà tiếng ca ấm êm ngọt mật
Anh oằn vai vác gỗ qua sông
Chợt thấy bóng dã nhân
run run, ngơ ngác
Đôi chân lạnh hững hờ trên cát
Lưu dấu mù mờ ấn tích bi thương.
 
2.
Quanh quẩn đâu đây bên chổ anh nằm
Chỉ có tiếng thở dài âm u
của người tù già biệt xứ
Quanh quẩn đâu đây, trong tâm thức anh
Chỉ có đôi mắt em rưng rưng giọt lệ
Và tiếng hét hận thù
của bầy ngạ quỷ nồng nặc mùi tử khí tanh hôi
Không còn gì không còn gì nữa em ơi.
 
3.
Quanh quẩn đâu đây
bên chổ anh nằm
Đêm tối đen, vắng nhịp chuông gõ thức
Anh thèm một nụ hôn trên môi, trên tóc
Thèm một giọt nước cam lồ, cứu rỗi
Và đôi bàn tay dịu mềm
vỗ về trong cơn khát, đói
Không có gì - không có gì, ngoài âm hưởng xích xiềng rơi
Lặng câm - tịch mịch - rã rời.
 
4.
Anh oằn vai vác đá băng rừng
Con đường mòn khổ dịch
gập ghềnh - xa xăm - vô định
Quanh quẩn đâu đây trong tiềm thức anh
Tiếng hú đồng vọng, tiếng gió qua truông
Sao rờn rợn, hung hăng
Như ánh mắt ma tinh của loài cú vọ
Hình hài anh cùng trái tim anh
Rịn chảy - âm ỉ những giòng máu đỏ
Mặt trời đã lặn, đã ngủ mê trong cõi chết
Không còn gì – không còn gì nữa đâu em
Ai - ai sẽ khua trống, chuông đồng
gõ thức đêm đen ?
 
Liên Khúc Vô Thường
* Tặng Trần Thiện Hiệp
 
1.
Đốt công án vất kinh thư khải ngộ
Theo đường trăng -
trăng khi tỏ khi lu
Tìm người hiền nơi thâm cốc âm u
Thỏng tay vào rừng giả làm ẩn sĩ
Giòng sinh mệnh
chừng nhuộm màu chướng khí
Bến nhân gian ai quán niệm vô thường
Hành trình xa ngựa đà lỏng dây cương
Trên vách núi chân dung in mờ tỏ
 
2.
Ném công án chôn kinh thư bất ngộ
Nương sông ngòi biển cả tới an nhiên
Nửa u hoài, nửa chợt nhớ, chợt quên
Bỗng tan tác cùng tiên thiên tự ngã
Tay huyễn hoặc đề lời thơ trên lá
Hồn xanh xao mờ mịt chốn tang bồng
Người đâu rồi,
người đâu rồi sao tịch mịch hư không
Hương dạ thảo đang chớm mùa khai nở
 
3.
Hủy công án buông kinh thư giác ngộ
Vào chợ đời áo mỏng phất phơ bay
Bụi khói mê man,
chênh chếch nắng gầy
Lời phố thị chập chờn như ảo giác
Ta là ai -
ta là ai sao tâm linh ngơ ngác
Người là ai -
người là ai mà sắc diện mơ hồ
Rượu độc ẩm hề chân lạc loài đưa
Mây biến dịch mưa chắt chiu giọt nhỏ.
 
Đêm Trên Bãi Cà Ná
 
dường như lá ngủ trong mê
lũ chim muông đã tìm về núi xa
trên cao bên dãy thiên hà
có vì sao rụng bóng tà long lanh
nổi chìm trong nước biển xanh
nhấp nhô sóng bạc xô gành đá non
còn chi ẩn mật u tàng
bãi đêm quanh quẩn
rượu càng nhạt môi
sinh sinh hóa hóa dòng đời
cũng hư huyễn với kiếp người phù du
lều ai heo hắt đèn lu
lẫn trong hơi gió cát mù mù bay
 
Bên Dòng Sông Lạnh
 
Thử hỏi dòng sông Seine -
theo thủy triều xuôi ngược
Mỏi mệt chưa qua năm tháng thăng trầm
Du thuyền nọ ai đưa và ai đón
Có hao gầy với mưa nắng mong manh
 
Cửa khải hoàn có chia niềm kiêu hảnh
Ngọn Eiffel còn thao thức dung tình
Ðền nguyện cổ có trao lời kinh sáng
Rửa hoà chưa bao tội lổi nhân sinh
 
Này dòng thủy triều miệt mài trôi chảy
Ðã u hoài mấy độ dưới trăng khuya
Ðèn heo hắt -
sao ánh đèn heo hắt quá
Có đủ ấm lòng tận đáy sâu kia
 
Thử hỏi con nước sông Seine -
đong đưa khi ròng khi lớn
Mỏi mệt chưa sao còn vẫn luân lưu
Hãy soi chiếu mặt người như gương thánh
Rồi bềnh bồng trong quên lãng, vô ưu
 
Có cánh chim vừa đáp trên cành trúc
Và mây đang quấn quít rũ nhau về
Thôi, xin vảy tay chào -
xin vảy tay chào dòng sông êm ả
Một lần quen một lần nhớ thiên thu
 
Như Vì Sao Lạc
* Bài thủ vĩ ngâm cho Hồ Thành Đức
 
1.
như một vì sao lạc giữa sơn khê
nhìn trần thế âm u màu chướng khí
người rũ áo - xoa hành tinh, ứa lệ
gọi hồn thiêng sông núi đến tự tình
đem hạt nhân hòa, nhân ái kết tinh
âm thầm cấy dưới đồng ngô, ruộng lúa
 
2.
rải thương yêu, ngọt ngào trên đất khổ
tô màu xanh cho biển rộng xanh thêm
điểm son hồng trên môi má nhung êm
pha hương sắc cho đời thôi u uất
 
3.
người quỳ đó: cô đơn và trầm mặc
viết tâm kinh mà tâm thức hắt hiu
tay khẳng khiu hứng từng đợt nắng chiều
phủ trên mộ, trên rừng hoang cô quạnh
có phải người hóa thân làm ánh sáng?
soi rọi tự thân, soi chiếu đêm mê
như một vì sao lạc giữa sơn khê
 
Nếu Mai Em Về
1.
 
nếu mai em có về xóm biển
thả gió về trời cho mây bay
bên con suối ngọc mơ màng ngủ
cho tóc em nồng hương cỏ may
nước mắt mẹ -
có rơi dài đêm tối ?
nỗi niềm cha –
còn u ẩn tháng năm ?
em - em đó sầu dâng mấy độ
ngóng trăng suông và lạnh chỗ nằm
 
2.
nếu mai em có về quê cũ
đánh thức dùm tôi nhánh ô môi
đang rủ sắc buồn bên song cửa
với giàn bông giấy đắm sương mai
có băng qua bãi,
băng qua suối
theo tiếng thì thầm trong khói mưa
mặc gió hững hờ rung tà áo
đã quên sầu,
hết xót xa chưa
 
3.
nếu mai em có về xóm biển
hãy thắp dùm tôi mấy nén nhang
cho bạn bè trên đường bỏ xứ
lỡ trầm mình dưới đáy đại dương
thắp thêm nhiều nén trên bia mộ
cho thân bằng quyến thuộc anh em
đã ngã gục qua lằn tên mủi đạn
thủa chiến chinh chia cắt đôi miền
 
4.
nếu mai em có về quê cũ
đọc lại tình thư đã nhạt màu
mà dư lệ đã lem nhòa trang giấy
với muộn phiền chất ngất lao đao
đò qua xóm vắng ai xuôi ngược
có chở đầy trời thương nhớ không
mộng hồn nào vấn vương tóc rối
gót chân sen em có động chiều hồng?
 
Đêm Bên Dòng Sông Lạnh
* Bài Cho Anh Đinh Từ Thức
 
thử hỏi dòng sông Seine -
theo thủy triều xuôi ngược
mỏi mệt chưa
qua năm tháng thăng trầm
du thuyền nọ ai đưa và ai đón
có hao gầy với mưa nắng mong manh
 
cửa Khải Hoàn
có chia niềm kiêu hãnh
ngọn Eiffel
còn thao thức dung tình
đền Nguyện Cổ
có trao lời kinh sáng
rửa hoà chưa bao tội lổi nhân sinh
 
này dòng thủy triều miệt mài trôi chảy
đã u hoài mấy độ dưới trăng khuya
đèn heo hắt -
sao ánh đèn heo hắt quá
có đủ ấm lòng tận đáy sâu kia ?
 
thử hỏi con nước sông Seine -
đong đưa khi ròng khi lớn
mỏi mệt chưa sao còn vẫn luân lưu
hãy soi chiếu mặt người như gương thánh
rồi bềnh bồng trong quên lãng, vô ưu
 
có cánh chim vừa đáp trên cành liễu
và mây đen quấn quít rũ nhau về
thôi, xin vẩy tay chào -
xin vẩy tay chào dòng sông êm ả
biệt kinh kỳ ta tìm chốn sơn khê.
 
Thôi Ta Về Ôm Góc Núi
 
1.
Áo nhuộm phong trần chưa rũ sạch
Tóc đã pha màu nắng quan san
Thôi thôi ta về ôm góc núi
Đẽo gỗ trầm hương tạc tượng nàng
 
Gõ phách mà ca bài độc đạo
Hứng tinh hoa nhật nguyệt càn khôn
Mang ẩn tích về treo cổng gió
Chợt phân vân ngẫm chuyện sinh tồn
 
2.
Mềm môi cạn rượu đêm trừ tịch
Lại nhớ người xưa, hương tóc xưa
Đường thăm thẳm bước chân lơ đãng
Thoảng nghe lạc điệu pháo giao thừa
 
Thôi thôi ta về bên dốc đá
Dựng am đường hội chứng vô âm
Rủ chim chóc ngao du rừng trúc
Đốt cảo thơm chuyển hóa huyễn thần
 
3.
Dư ảnh chập chờn như bụi khói
Ảo chân rời rạc giữa lưng trời
Thôi thôi ta về ôm góc núi
Đục gỗ trầm hương tạc tượng người
 
Gõ nhịp mà ngâm bài tuyệt tận
Gọi hồn Lá Thắm suốt đêm thâu
Gió sương phơ phất đời cô lặng
Nhòa nhạt chưa phiến thạch mộ sầu?     
 
Trên Nỗi Tình Người 5
 
cơn gió thổi mộng hồn bay lả bóng
trời hoang vu mấy độ phủ hồn em
ôi mắt ngọc của ngày xưa hiển hiện
ta ngẩn ngơ thao thức những canh huyền
 
sao thương nhớ những nụ sầu giông bão
sao u tình dằn vặt suốt đêm thiêng
ta mệt mỏi ghi vào trang giấy máu
nụ hôn đầu trong ký ức trinh nguyên
 
Niệm Khúc Tôi
 
 ta về tóc phủ sương đông
 áo tà huy quyện bụi hồng phấn tơ
 
 hốt nhiên tỉnh giấc mộng hờ
 mắt từ dung đã lững lờ tử sinh
 
 rán chiều rực lửa vô minh
 nhịp chuông chiêu niệm
 lời kinh cầu vàng
 
 ta về cõi trú thênh thang
 bỏ dương thế
 với địa đàng hoang vu.
 
Cũng Còn Kỷ Vật
 
em dâng trái cấm đầu mùa
với trăm mộng ước ban sơ ngọc ngà
 
anh ngồi góp ánh trăng sa
cho em đan áo tình tha thiết tình
 
dẫu mai đời có phiêu linh
cũng còn kỷ vật để mình nhớ nhau.
 
Phan Bá Thụy Dương
 
* Mời Xem Những Bài Viết Khác Của Phan Bá Thụy Dương Ở Trang Văn Xuôi

Lê Văn... * Phan Bá Thụy Dương

Lê Văn Khoa,
Người Nghệ Sĩ Tài Danh, Đức Độ
 
Những ai đã từng quen biết, thường giao hữu với Lê Văn Khoa trước 75 tại Việt Nam hay sau 75 trên khắp các vùng đất định cư mới này, đặt biệt là tại Hoa Kỳ đều công nhận anh là một người đa tài, đa năng, đa hiệu. Những đức tánh tốt như khiêm tốn, đầy óc sáng tạo, tự tin và cẩn trọng của anh có thể đã là nguyên nhân giúp anh thành công trong cuộc đời và sự nghiệp. Anh lại là người luôn cởi mở, biết lắng nghe, hòa nhã trong cách ứng xử, nên ai ai cũng ái mộ. Tài năng của anh và ảnh hưởng, tên tuổi lừng danh, nổi bật trên thế giới của anh quả là một điều xứng đáng cho người Việt Nam chúng ta khâm phục, hãnh diện.
 
Lê Văn Khoa ra đời vào ngày 10 tháng 6 năm 1933 trong một gia đình thanh bạch tại Tây đô, tức Cần Thơ. Nơi ấy là một thành phố đầy thơ mộng, nằm bên hữu ngạn dòng Bassac – tức Hậu giang [sông Hậu], thuộc vùng đồng bằng, châu thổ sông Cửu Long. Anh mất mẹ sớm nhưng may thay lại có một người cha hiền đức, một vị mục sư đầy lòng bác ái, chăm chỉ, tận tụy vì đời vì giáo chúng của mình. Anh thừa hưởng tình thương, sự giáo huấn và lòng nhân từ cha mình để làm hành trang quí báu, dấn thân trên bước đường tạo dựng sự nghiệp mà anh hằng ấp ủ, mơ ước. Đến khi trưởng thành anh đã đem tình thương và lòng vị tha, bao dung đó để hướng dẫn, giáo hóa những trẻ bụi đời, thăng hoa kiếp sống của những em thiếu nhi khốn cùng, bị gạt ra ngoài lề xã hội. Anh là người chăm học, hiếu học và lạ lùng, kỳ diệu thay, lãnh vực nào anh cũng thành công.
 
Khi giáp mặt, tiếp cận anh, người ta đều có thể mau chóng, dễ dàng cảm nhận ra rằng ẩn trong cái dáng hiền hòa, đôi mắt sáng và nụ cười tươi vui, thân thiện kia đang tiềm tàng cả một tâm hồn rộng lớn cùng ý chí sắt son và quan trọng hơn là cả một khối kiến thức uyên bác.
 
Đến nay, tuy đã trên 77 tuổi anh vẫn còn là người tích cực đóng góp trong các hoạt động về âm nhạc, văn học và nghệ thuật. Con người trầm lặng, đầy óc sáng tạo đó vẫn ngày ngày âm thầm tư duy, làm việc không biết mệt mỏi để cống hiến những khám phá mới cho người, cho đời cả một kho tàng lớn lao về mỹ thuật và âm nhạc học…
 
Tôi rong chơi ở các nước ngoài cả năm vừa trở về Mỹ thì nhóm chủ trương “Nghĩ về Lê Văn Khoa, một người Việt Nam” yêu cầu viết bài về anh cho kịp ngày in sách. Thật ra thì các thân hữu này chẳng cần mời gọi vì trước đây 2 năm khi tôi và anh Lê Văn Khoa cùng tham dự ngày ra mắt sách kỷ niệm về nhạc sĩ Anh Bằng, tôi đã hứa với anh em là tôi sẽ viết về thi lão Hà Thượng Nhân và anh Lê Văn Khoa. Lời hứa viết về vị chưởng môn đáng kính của nhật báo Tiền Tuyến tôi đã thực hiện trên ấn phẩm “Kỷ Niệm Về Thi Sĩ Hà Thượng Nhân” vừa phát hành, ra mắt vào hạ tuần tháng 11/2010 tại San José. Hơn nữa cụ Hà và Lê hiền huynh là 2 trong những thân hữu, có giao tình sâu đậm khác mà tôi đang cố gắng hoàn tất cho cuốn “Những Trích Tiên Phiêu Bạt Trong Dòng Thi Ca, Nghệ Thuật Việt Nam”. Đó là các anh Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Trần Tuấn Kiệt, Hoàng Trúc Ly, Tường Linh và các bạn Anh Việt Thu, Trần Hoài Thư…
 
Vì sách đang chuẩn bị lên khuôn, nên tôi chỉ có đủ thời gian để đề cập đến Lê Văn Khoa qua 3 lãnh vực tiêu biểu của anh, mà đa số người thân cận hoặc đã tìm hiểu về anh đều công nhận là xuất sắc. Sự đóng góp của anh trên các lãnh vực này phải nói là đã vượt khỏi biên giới, không gian nhỏ bé Việt Nam để gây ảnh hưởng sâu đậm, hòa hợp, nhập cuộc, bay bổng cùng với âm nhạc, nghệ thuật hoàn vũ. Mấy hoạt động khác của anh về báo chí, dịch thuật, xã hội và nhân văn… nếu có dịp sau này tôi sẽ trở lại để trình bày, đề cập đến.
 
LVK: NGƯỜI THẦY, BẬC PHỤ HUYNH TỪ ÁI CỦA CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC THIẾU NHI.
 
Một người thông thái, khôn ngoan phải ghi nhớ rằng
trong khi ông ta là hậu duệ của quá khứ,
ông ta cũng là một đấng sinh thành của tương lai”. (1)
Herbert Spencer
 
Trước tháng 4 năm 1975 những ai thường theo dõi các chương trình của đài truyền hình Sàigòn đều biết, đều say mê khi xem Chương Trình Thế Giới Của Trẻ Em – tức Chương Trình Thiếu Nhi Lê Văn Khoa – trên băng tầng số 9. Đó là một chương trình giáo dục thực dụng, mới mẻ được nhiều người xem nhất, không riêng gì với thanh thiếu nhiên, thiếu nhi mà cả giới phụ huynh của họ. Chương trình Tivi của anh cùng với 2 shows nhạc của Anh Việt Thu, Bảo Thu luôn luôn thuộc loại “prime time ăn khách” thời bấy giờ và thường xuyên được chiếu lại, ít nhất, trên băng tần số 6 của Đài Truyền Hình Cần Thơ, nơi quê hương thân yêu của vị thiếu niên ham học, thông minh, sớm phát triển óc mỹ thuật, nghệ thuật này.
 
Lê văn Khoa, người nghệ sĩ tài danh đức độ:
Chương Trình Thế Giới Của Trẻ Em chẳng những giúp mở mang kiến thức và lòng yêu nước cho trẻ em trong một quốc gia bị chiến tranh tàn phá, tràn ngập khói lửa mà còn gợi ý, tạo hứng khởi cho một số các nhà giáo dục, khoa học gia cải tiến lãnh vực chuyên nghiệp của họ. Đồng thời chính các nỗ lực và sáng kiến của anh còn giúp đưa danh dự và uy tín của trẻ em Việt Nam ra thế giới bằng những cuộc triển lãm, dự thi tranh thiếu nhi quốc tế. Nhờ vậy nhiều em đã đoạt được những giải thưởng, bằng khen cao quý. Chính những kết quả rất đáng khích lệ, tuyên dương này đã khơi dậy lòng tự tin để các thiếu nhi mạnh dạn phát triển tài năng của mình.
 
Đìều đáng tiếc là chương trình của anh đã không nhận được một sự trợ giúp nào từ ngoại bang hay các tổ chức, hiệp hội quốc nội. Ngay cả chính phủ thời bấy giờ cũng không biết khai thác những ưu điểm ấy để làm lợi cho quốc gia
 
---o0o---
 
Tôi quen anh hơi muộn màng. Tuy biết và nghe danh tiếng anh từ lâu, nhưng mãi đến đầu năm 1971, sau khi được chính thức giải ngũ, được điều động về Bộ Tài Chánh, tôi mới có cơ duyên hội ngộ cùng anh tại đài Truyền Hình Việt Nam. Cơ sở truyền hình này nằm trên khuôn viên đường Hồng Thập Tự và Đinh Tiên Hoàng, kế cận trường Đại học Văn Khoa. Đại Học Văn Khoa là nơi trong những năm đầu thập niên 60, tôi, Phạm Quốc Bảo, Bùi Ngọc Tuấn… đã từng ngồi lê trên các giảng đường nóng bức, chật hẹp thiếu tiện nghi trong mấy năm đầu khi trường này còn nằm giữa đường Nguyễn Trung Trực và Gia Long. Sau khi tôi về trường Luật, rồi nhập ngũ để thi hành nghĩa vụ công dân trong thời chiến thì Phạm Quốc Bảo được bầu là chủ tịch sinh viên Sài Gòn. Hai bạn Bảo, Tuấn đều là giáo sư và cũng là những người luôn tán thưởng, đánh giá cao về chương trình giáo dục thiếu nhi đầy sống động, vui tươi, tân tiến của Lê Văn Khoa.
 
Chính Phạm Quốc Bảo và các bạn trong ban đại diện sinh viên là những người đã từng thụ ân của anh Lê Văn Khoa trong việc họ cùng Tổng hội Sinh viên Nhật Bản đã tổ chức thành công cuộc triển lãm “Our Beloved Việt Nam” [VN Quê Hương Dấu Yêu] về các bộ mộn văn mỹ nghệ. Cuôc triển lãm này kéo dài cả năm 1967 tại National Museum, một bảo tàng viện đồ sộ ở Tokyo và tại các trường trung, đại học trên đất nước của “thần Thái Dương”.
 
Số là sau khi phân ban Việt Nam thu góp xong được một số tranh tiêu biểu của các họa sĩ: Nguyễn Gia Trí, Tú Duyên, Hồ Thành Đức, Bé Ký, Nguyên Khai, Đinh Cường, Nghiêu Đề…, thơ của Trần Tuấn Kiệt, sản phẩm thủ công, mỹ nghệ của các lò gốm Bình Dương, nhạc của Trịnh Công Sơn thì Phạm Quốc Bảo và các sinh viên khác phát hiện họ còn thiếu 2 lãnh vực quan trọng. Đó là tranh và điêu khắc của thiếu nhi VN.
 
Theo yêu cầu của Phạm Quốc Bảo, anh Khoa đã vui vẻ nhập cuộc để giải quyết nan đề khó khăn, cấp bách này. Bằng uy tín và tài tổ chức của mình, Lê Văn Khoa đã nhanh chóng thực hiện một cuộc thi về 2 bộ môn này với cả trăm thiếu nhi tham dự Nên ghi nhận thêm ở đây: phần lớn nhóm trẻ này là những người đã do anh Khoa trực tiếp dạy dỗ, đào luyện. Chính những tác phẩm mỹ thuật chọn lọc của các em đã giúp phân ban sinh viên Việt Nam quảng bá đầy đủ hơn nền văn mỹ nghệ đặc thù của dân tộc. Giới thưởng ngoạn, chuyên gia văn hóa thế giới đã ngạc nhiên, không ngờ trong thời kỳ chiến tranh, khói lửa như vậy mà các nghệ nhân, văn nghệ sĩ, thiếu nhi Việt Nam lại vẫn có thể hoàn thành những sản phẩm, tác phẩm đặc biệt có giá trị cao như thế.
 
---o0o---
 
Giống như các thanh thiếu niên, thiếu nhi khác, các con tôi rất hâm mộ, say mê, thường xuyên theo dõi show của anh, đã thấy anh đàn và ước vọng được trực tiếp tham dự. Thế là gần cuối năm ấy, tôi được anh bạn vốn là nhân viên nòng cốt của sở Chương Trình và Thời Sự, cùng cô em vợ làm việc tại đài cho biết ngày giờ thâu hình chương trình Thế Giới Của Trẻ Em để phát hình trong dịp Tết, tôi đã mang các cháu Phan Thủy Như Quỳnh, Phan Thủy Duyên Giao và Phan Bá Thụy Vi vào gặp anh.
 
Đúng ra các con tôi còn quá nhỏ, chưa ai hội đủ điều kiện để gia nhập, nhưng có lẽ vì là một chương trình đặc biệt vui Xuân nên anh đã vui lòng để 3 cháu tham gia, góp mặt với những em cháu thường trực khác. Cuối chương trình khi cameramen quay cảnh Lê Văn Khoa đang phát bao lì xì cho các em thì vì bỡ ngỡ, chưa quen, nên một hoạt cảnh náo nhiệt đã xảy ra mà tôi, và chắc anh, còn nhớ mãi. Cháu Thụy Vi lúc ấy mới hơn 2 tuổi, nhất định không chịu nhận bao tiền lì xì, rồi cứ bỏ chạy vòng vòng la hoảng: “Con không lấy. Không lấy. Con không lấy đâu.” Cháu Như Quỳnh và anh Khoa phải dỗ dành, khuyên bảo nó mới cầm tiền, cám ơn bác Khoa. Sự kiện đột ngột xảy ra khiến tất cả mọi người trong hội trường đều cười xòa, hoan hỉ.
 
Chính nhờ ảnh hưởng, sự dìu dắt, hưởng dẫn ban đầu này của anh Khoa mà hai đứa con tôi là cháu Duyên Giao và Thụy Vi đã chịu học thêm piano và đàn organ sau khi tôi và 3 cháu vừa định cư tại Hoa kỳ trong những ngày đầu thập niên 80, khi các cháu còn theo học nội trú tại trường trung học tư thục Moye Brown ở Providence, tiểu bang Rhodes Island. Vì nguyên nhân này mà một số những người trong hội bảo trợ tôi như vợ chồng tiến sĩ John, Marjorie Udalls, vợ chồng bác sĩ Roger và Ann Ward… phải thay phiên nhau mỗi chiều lái xe vào trường đón 2 cháu để đưa chúng đến nhà vợ chồng nhạc sĩ Milligans ở thị trấn Cumberland học nhạc, rồi đưa các cháu về lại trường nội trú. Cháu đầu lòng Như Quỳnh thì vừa bận học vừa phụ bố trong cảnh gà trống nuôi con chăm lo cho các em lại còn phụ trách trang Thiếu Nhi cho tờ Lửa Việt bên Canada nên không còn thì giờ theo học đàn dương cầm mà cháu rất yêu thích.
 
LÊ VĂN KHOA,. “NGƯỜI VIẾT LỊCH SỬ. VN BẰNG ÂM NHẠC”
 
Nguồn: saigontimesusa.com
Đối với các em cháu thiếu nhi trong thời khoảng 1968 -1975 thì Lê Văn Khoa luôn là một người huynh trưởng, một bậc phụ huynh đức độ, nghiêm cung, từ ái. Không ai là không từng thừa hưởng những kiến thức bác học thâm uyên, thực dụng mà anh đã gieo cấy vào những khối óc, tâm hồn trong sáng, những mầm non đầy triển vọng của tương lai, đất nước.
 
---o0o---
 
Xin mời quí vị đọc qua lời phát biểu dưới đây của thầy Nguyễn Thanh Liêm – một nhà giáo dục uyên bác, nổi danh của Việt Nam Cộng Hòa và là nguyên Thứ trưởng Văn Hóa Giáo Dục, để hiểu thêm về khả năng bẩm sinh, đặc thù của anh:
 
“Nói chung, lãnh vực nghệ thuật là lãnh vực đã làm cho Lê Văn Khoa được nhiều người biết đến và tán thưởng. Nhưng ở con người Lê Văn Khoa còn có một tài năng rất có giá trị khác mà ít người biết đến hay nói đến. Đó là tài dạy học của ông. Trên phương diện dạy học, ông là một nhà giáo có khả năng sư phạm bẩm sinh rất đặc biệt. Trước kia ở Việt Nam ông đã có những lớp học trên đài truyền hình. Qua những lớp học đặc biệt này người ta có thể thấy được triết lý, chủ trương cũng như phương pháp giáo dục của ông. Ông không tốt nghiệp ở một trường sư phạm nào, không dạy chánh thức ở một trường công lập hay tư thục nào cả. Ông chỉ có một lớp học nhỏ với một ít học sinh trên đài truyền hình mà thôi. Bài học ông dạy không theo sát chương trình học của Bộ Giáo Dục. Tuy nhiên kết quả giáo dục của ông rất đáng kể.
 
Trước hết những kiến thức mà ông trao cho học sinh của ông là những kiến thức rất thực tế, cụ thể mà nhà trường vì điều kiện vật chất thiếu thốn không cho phép, không thể cung ứng cho học sinh được. Thí dụ như một số những thí nghiệm về hóa học mà ông có thể cho học sinh của ông thực hiện được trong chương trình của ông trong khi học sinh ở các trường công lập cũng như tư thục chỉ học trên lý thuyết. Thành ra bài học cụ thể của ông giúp ích rất nhiều cho sự hiểu biết và sự ghi nhận của học sinh hơn là những bài học lý thuyết suông ở trường học.” (NGUYỄN THANH LIÊM - Lê Văn Khoa: Nghệ Sĩ Đa Năng, Nhà Giáo Dục Đáng Kính)
 
Khi được hỏi về những điều đáng ghi nhớ qua Chương Trình Thế Giới Của Trẻ Em mà anh đã dày công thực hiện cả chục năm trước khi đào thoát, tránh nạn Cộng sản, anh cho biết:
 
“Kỷ niệm khó quên thì rất nhiều, ví dụ như sự ngạc nhiên của các em cũng như khán giả bên ngoài khi thấy tôi làm việc tréo cẳng ngỗng bằng cách cho ông già Noel xuất hiện trong chương trình Trung Thu. Những chương trình truyền hình của tôi đều không có tập dợt trước, nên phản ứng của các em rất chân thực. Thái độ, nét mặt và lời nói đều hoàn toàn của các em trong giây phút đó.
 
Trong những cuộc giao tiếp, gặp gỡ tình cờ ngoài đường phố tôi đã được nhiều anh em quân nhân cám ơn vì tôi đã thay mặt họ hướng dẫn, giáo hóa dùm con cái họ – qua truyền hình – bởi bản thân họ không có mặt thường xuyên ở nhà để dạy dỗ. Có những quân nhân còn chân thành cám ơn tôi vì nhờ chương trình truyền hình của tôi họ từ bỏ cuộc sống bụi đời để trở nên người lính chiến bảo vệ quê hương. Tôi nghĩ những lời khen ngợi, tri ân chân thành đó là phần thưởng cao quý hơn những bội tinh, huy chương mà tôi nhận được. Với tôi, một ly nước mía bên lề đường trong tâm tình lắng đọng giữa con người với con người thật sự còn ngọt ngào, chân tình hơn một ly rượu sang trọng trong dinh Độc Lập.”
 
Phan Bá Thụy Dương

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013