Thi Ảnh

Ngô Nguyên Nghiễm

Đường Gian Nan Chạy Suốt Kiếp Người - Ngô Nguyên Nghiễm

Ngô Nguyên Nghiễm


Bóng dáng của Vũ Hữu Định như một con ngựa hoang, ngày tháng chất chồng trên vó ngược mà chính bản thân chủ nhân cũng không lường trước được phương hướng để định vị cuộc đời trước mặt. Đã là hóa thân loài ngựa hoang, sự thuần hóa là điều không tưởng, bước đi nhảy vọt không hai chắn mắt, vì vậy hướng tương lai như chiếc bóng phù ảo, cứ chạy đuổi miệt mài trong cái hư không vô cùng tận. Có lẽ định mệnh quy cách cho một số phận đầy nghiệt ngã, khiến Vũ Hữu Định cứ rong cương cất vó vô định hình trong không gian lưu trú, lãng bạt suốt bề dài tuổi thanh niên. Cũng có lẽ bao nhiêu bất trắc cứ đổ đầy trên số phận nhà thơ, đem tất cả phong trần thế gian phủ chụp cho nát nhàu kiếp số. Long đong và nghiệt ngã bám đầy trên vai áo Vũ Hữu Định không biết bắt đầu từ lúc nào, nhưng khi anh gặp tôi tại Sài Gòn, hình như gió bụi cộng sinh đã là chiếc bóng gắn chặt vào cuộc đời, không tách rời khỏi được số phận và thơ Vũ Hữu Định. Chan hòa tan nát trong sự vần vũ của vũ trụ, bản thân như hạt cát lẻ loi giữa sa mạc, cái mất đi còn có hình thể gì đâu mà phải phân trần, nhưng cái còn lại của một tâm thức người thơ trụ lại được trong cái an nhiên, thì đó là cái khó được thử thách thật quyết liệt. Vũ Hữu Định biến hóa sự nghiệt ngã trở thành sự tịch tịnh hằng ngày trong hành xử với thế sự và chính bản thân, như một đóa sen hồng điềm đạm thanh khiết giữa tứ bề sương khói phủ vây. Trong đời tôi, giao tiếp thân tình với bằng hữu bốn phương, dĩ nhiên cũng gặp nhiều khuôn mẫu tuyệt vời trong cuộc sống. Nhiều nhân dáng chuyên chở từ tâm thức kỳ diệu gần như những đạo vị, được hóa thân tự tại, dù có quay cuồng trong nghiệt ngã… Vũ Hữu Định là một con ngựa bạch lãng bạt phiêu du dưới những giọt trăng vàng, đói hớp sương tạo dựng sự sung mãn cho khí thơ, hiện thành bất chợt luân lưu hòa nhập với từng đoạn đường trường sải vó qua truông.
Thản nhiên bước lên cuộc sống không giây phút bình yên, Vũ Hữu Định không bao giờ thiếu nụ cười cợt đùa với thế sự chung quanh. Thoạt đến thoạt di, là phương chăm hành sự khiến có lúc anh em quan tâm chờ đón cũng không định được phương hướng dừng chân của Vũ Hữu Định. Thật ra, hoàn cảnh bất hợp lệ khiến đời sống anh có một sự thay đổi lớn, luôn lăng ba vi bộ trước biến động trên lộ trình. Chính vậy, phần vì tế nhị với bạn bè, phần vì lãng bạt của tính nghê sĩ, Vũ Hữu Định di chuyển thường xuyên để khỏi phiền hà cho bằng hữu, hơn nữa sự ra đi cũng là những bước thơ rơi, giúp nhà thơ hóa hiện nhiều tác phẩm tuyệt cùng. Trong đời, có lẽ Vũ Hữu Định là một trong những nhà thơ viết dễ dàng và nhanh chóng trên bất cứ hoàn cảnh nào. Thơ Vũ Hữu Định bộc phát thật tự nhiên, như hoa phải nở, trăng phải soi và sương phải phủ mờ vạn vật. Bất chợt trên đường hoạn lộ, nhập tâm vào cuộc lữ hành và khiến thơ hóa hiện bằng những tinh túy vừa rơi rụng, làm nảy nở từng đóa hoa lung linh giữa trời đất…
Năm 70 cách đây hơn 40 năm, thời loạn ly giữa bao nhiêu tin chiến sự làm cuồng rối cuộc sống của quê hương, anh em văn nghệ cật lực bày tỏ tiếng nói của tuổi trẻ bằng những tạp san, rải rác hầu hết các tỉnh thành trong cả nước. Mỗi tờ báo đều có quan điểm riêng, nhưng tụ chung vẫn là mặt trận phản đối chiến tranh diệt chủng. Sự gặp gỡ tên tuổi hằng ngày trên các báo chí văn nghệ, đã giúp trong lòng anh em hình thành một sự quen biết vô hình, nhưng trân trọng nhau một cách chân thành. Đến khi có dịp giáp mặt thăm viếng, thì đã như mối thâm tình giữa những cố nhân. Vũ Hữu Định lếch thếch bộ hành qua cây cầu chữ Y dài gần 700m, vào tìm tôi ngay buổi trưa ngày giáng sinh 1971, nhốt cả hồn thơ trong một vóc dáng thấp đậm người, mà nụ cười là điểm chính yếu luôn hiện diện trên môi anh. Phong phanh trong chiếc sơ mi bỏ ngoài, lẹp xẹp đôi dép Lào bước vào tệ xá. Người mà Vũ Hữu Định gặp đầu tiên là Nguyễn Thành Xuân và Trương Quang Vinh, lần lượt xưng tên rồi khoác vai nhau kéo vào hàn huyên. Bản tính Vũ Hữu Định xuề xòa, cởi mở mà sự thong dong của anh hình như thể hiện được cung cách tự nhiên trong đời sống. Tôi chưa hề nghe Vũ Hữu Định than thở, dù từ thời gian 1970 – 1974 anh đi – về với tôi tại thư trang Quang Hạnh hầu như thường xuyên. Mỗi lần xuất xử với chuyện đời, Vũ Hữu Định thường về kể tôi nghe những diễn biến mà anh lượm nhặt được từ bốn phương trời, quy cũ lại và đưa ra trò chuyện với nhau.
Những kỷ niệm của nhiều người bạn làm văn nghệ, mỗi người có cách xử thế riêng biệt, đậm tính khí của tâm hồn mỗi cá thể. Nét tiêu dao phong thái của một Trần Kiêu Bạt có tính cách giang hồ, đậm nét lãng bạt Nam bộ và hy sinh như phong thái của Lương Sơn Bạc. Cung cách của một Nguyễn Bắc Sơn, lại đăm chiêu giữa cái khí cốt phương Đông, gác kiếm ngay trên trận chiến rượu tàn, mà phá phách chơi ở mọi điếm lữ trần gian. Phạm Nhã Dự thì lãng đãng trong sương mù của 18 thôn vườn trầu, mọi khí hậu tinh sương đều được nhà thơ cung hiến hết cho bằng hữu tâm giao, mà đối với anh, mới cũ vẫn tứ hải giai huynh đệ. Một Hà Thúc Sinh thì nhẹ hẫng bước phong lưu với đồng điệu, đến nỗi: “ Hà Thúc phu nhân coi buồn lắm/ Sữa thiếu làm sao tiếp rượu chồng”…Hằng hà sa số bằng hữu văn nghệ, cái tâm của anh em nhiều khi ảnh hưởng cực kỳ với sáng tác. Hình như tất cả chân thật của cõi lòng, dù ở bất cứ hoàn cảnh phủ chụp nào, cũng là một hạnh ngộ để nhào nắn giữa khuôn đời. Tôi cảm nhận, Vũ Hữu Định có một chút lãng bạt của Trần Kiêu Bạt, sự tự tin nhẹ nhàng của Hà Thúc Sinh, hòa – hoa – nghĩa – khí- chân - thành với đời sống như Phạm Nhã Dự, chút nghiêm cẩn rộng mở cái tâm bát ngát bốn phương như trường hợp Nguyễn Lê La Sơn…Chính vậy, bôn ba trong cuộc đời đầy hệ lụy, nhưng Vũ Hữu Định vẫn giữ vững được bản sắc du hành tuyệt diệu cho thơ. Đến đâu thơ cũng tràn ngập trên thần trí, tràn ngập cả không khí vây quanh. Tôi không hiểu ở thời đại Thiền sư Basho, khi chống gậy dặm ngàn sương gió, phong vũ có dồn dập ảnh hưởng đến phong thái ông như thế nào. Mà ngàn bài Hai Ku kỳ diệu lắng động cả thiên thu. Chỉ có điều hình ảnh của Vũ Hữu Định cũng có dáng dấp lênh đênh, trôi nổi giữa trần gian, trong cái tâm còn quầy quả xáo trộn vô thường, khác hẳn điều hạnh phúc an nhiên thiền vị của Basho, trên bước thiền hành. Thơ Vũ Hữu Định vẫn gieo hoa giữa không gian, đầm đìa cả một trời nghiệp chướng của nhân sinh, mà những khúc trường ca lỡ vận là một hướng nhìn tan tác tội nghiệp của kiếp người: “Ta đã hát khúc hát đời lỡ vận/ Hát âm u trong đêm tối một mình”, mà nhiều lúc tàn canh uống từng giọt rượu cô đơn để chợt thấm đẫm trách nhiệm cương thường: “Ta đã hát khúc đời lỡ vận/Khúc hát buồn như một khúc sông con/ Khúc hát cay như những lần uống rượu/ Khúc hát chua như một đĩa cũ mòn/ Khúc hát đời cha nay đến đời con”. Chợt nhớ trong bao lần ngẩng bóng để lãng quên, nhưng làm sao được, ở quê xa vẫn chợt ẩn hiện man mác đến đau lòng: “Mười năm cha mẹ đau chân sỏi/Sớm lặn truông xa, chiều lội bãi cồn”.
Vũ Hữu Định có một sự cương nghị trong cuộc sống, dù phôi pha có phủ đầy trên số kiếp nhưng đời thường anh vẫn trầm tĩnh đến độ phớt lờ những khắc nghiệt đó. Hình như, trong những cuộc giao tiếp, thần thái Vũ Hữu Định hòa đồng trong nếp sống hồn nhiên của mọi người, nhưng những đêm dài lẻ loi, đầy vơi ý nghĩ trên chén rượu, làm sao không bừng cháy những ám ảnh riêng tư: “Thời đại thánh thần đi mất biệt/ Còn lại bơ vơ một giống sầu/ Rót mãi, bao nhiêu tình cũng cạn/ Nâng ly, nhìn thấy tóc bạc mau”, những câu hỏi thường đặt ra như một cách tự vấn: “Anh là một gã giang hồ tới/ Lòng hoang như con lộ không đèn/ Ngồi với hồn sầu ly rượu cạn/ Sao mới vài ly mà đã say?”
Thế là, Vũ Hữu Định lưu vong sống trong Thư trang Quang Hạnh của tôi, thấm thoát cũng gần 4 năm, bắt đầu từ cuối năm 1971-1974. Thời gian vật đổi sao dời, đối với con chim di Vũ Hữu Định như một cái cớ để xếp cánh tạm lắng trong không gian ân tình. Tôi thường xuyên chở Vũ Hữu Định trên xe Honda 67, lúc thăm viếng A.Khuê, lúc qua Phạm Duy, hẹn hò Phạm Chu Sa…Đi xe máy thật ra là một phương tiện để di chuyển nhanh gọn, tránh cho Vũ Hữu Định những cuộc tra xét bất chợt giữa lộ trình. Năm 1973, có hai chuyến di chuyển đầy kỷ niệm, khắc sâu thêm tình cảm của Định với đồng bằng miền Nam, mà anh thường cười nói, nghĩa khí bạt ngàn trên từng cọng lúa. Trưa hè 1973, tình cờ Phạm Trích Tiên có lời nhắn gởi mời về thị trấn Tân An (Long An) cách Sài Gòn hơn 50 cây số, mà Phạm Trích Tiên rào đón, ngày cuối tháng lương bổng dồi dào, để khỏi mất mặt với phương xa. Thật tình tôi ngại đường xa và túy tửu vô chừng, nhưng Vũ Hữu Định lại phấn khởi, đốc xúi tôi làm một chuyến di chuyển cho biết một tỉnh lỵ miền Tây gần gũi Sài Gòn nhất. Chiều ý, tôi cũng đèo Vũ Hữu Định trên chiếc hắc mã 67, về hội ngộ Phạm Trích Tiên sau gần 6 tháng không gặp mặt. Cái đến thì tự khắc sẽ đến, sự chờ đợi của Phạm Trích Tiên cũng được đáp ứng với hiện diện của hai gã phiêu linh. Tiệc tùng đầy rẫy, rượu tràn khóe môi, tửu phùng tri kỷ, ngàn ly cũng chưa đầy. Ông Phạm Trích Tiên thì như hủ chìm, ông Vũ Hữu Định thì như rồng gặp nước…thơ thẩn vun vẫy tứ phương, ca ngâm loạn nhịp nào ai hay ai biết, vì thần trí gởi cả cho gió ngàn bay. Trong tiệc rượu tới giai đoạn tung khai lý lịch, hai nhà thơ chợt hét lên ôm chầm nhau trong một phút cảm ngộ tuyệt vời. Tôi còn ngơ ngác nhìn tìm hiểu, thì Phạm Trích Tiên cho hay khi nhắc đến gia đình, thì ra Vũ Hữu Định lại là con nuôi của người cô ruột Phạm Trích Tiên khi anh lưu lạc vào miền Tây khoảng tuổi thiếu niên. Thì ra mọi sự thế đều được an bày, có tránh được định mệnh đâu, mà phải thở than? Như trên chuyến đò ngang, kẻ thất phu cũng hiểu rằng giữa dặm trường vẫn còn tiếng gió sương vương vãi: “Chạnh lòng ngó chuyến đò ngang/ Tiếng kêu sương gió dặm đường quạnh hiu”.
Bản tính của Vũ Hữu Định là cả vì anh em, nên tôi chưa bao giờ nghe anh than phiền một ai, dù rằng trong đời sống phiêu lãng anh cũng gặp nhiều chuyện trái ngang thế thái nhân tình. Nhưng chỉ có một lần duy nhất, không biết Nguyễn Đức Sơn có thái độ ngang trái gì với chàng thi nhân gió bụi phong trần này, mà trong đời tôi chưa hề thấy cơn giận dữ nào khiến phủ lấp đầy vơi trên khuôn mặt luôn luôn nở nụ cười của Vũ Hữu Định. Ngày 29/07/1973 tại tệ xá, Vũ Hữu Định nghiêm chỉnh bày tỏ thái độ với Nguyễn Đúc Sơn trên một bức tâm thư, đích danh tranh luận chính kiến với danh dự của một kẻ sĩ…Tôi cũng không lạ gì tính khí trái trời của các chàng thi sĩ đầy vẻ độc tôn, để dành giựt ngôi vị bắc đẩu. Một việc làm nghi kỵ khiến đời sống chao đảo, đưa đẩy vào cái hư vị phù du, mà danh vọng chỉ làm bận lòng cho thơ. Tình cảnh Vũ Hữu Định trong giai đoạn cùng cực của nẻo sống, nên chỉ có danh dự là sự tự trọng chân thành. Anh trao tôi xem bản văn ngỏ với Nguyễn Đức Sơn, khiến tôi cũng buồn lây cho sự thế xáo trộn, thiện ác huyễn hoặc ẩn hiện giữa lớp người. Định tâm, tôi khuyên giải Vũ Hữu Định suốt hai ngày ròng rã, mới lấy được bản văn ngỏ lưu lại với thiên thu. Vũ Hữu Định thản nhiên bỏ lại những phiền toái sau lưng, lững thững lướt vào gió bụi. Bây giờ, thị phi không còn đọng trên nếp áo, nhà thơ chỉ biết nghiêng tai lắng nghe trời đất, vạn vật, để ôm cả buổi chiều rơi rụng vào thơ: “Anh có nghe bên đường tiếng chim kêu/ Con chim chi buồn chết cả buổi chiều”, hoang vu cô độc nhớ nhung chất chồng trên cả đường đi lối về, với: “Những con đường núi sâu hun hút/ Những phố đìu hiu không nhớ tên” và :“Thấy gì không giữa bao la?/ Bỗng nghe tim động nỗi nhà quạnh hiu.”
Bóng dáng khiêm tốn khi đứng vươn vai so bì với thiên địa, bản chất hạo nhiên lại là chân khí tuyệt diệu của thi nhân. Vũ Hữu Định thản nhiên trước mọi cuồng rối vây phủ chung quanh. Trong tâm thức chắc chỉ còn cô đọng một khối oan khiên cho riêng mình, mà nhiều khi số phận đã khiến nhà thơ trải lòng cảm ngộ với những bóng hình phủ chiếu xuống thân ta: “Chiều khó thở ngồi bên quán xếp/ Một miếng khô, một xị rượu nồng/ Nhai là nói với đời lận đận/ Uống là nghe sầu cháy long đong……Ta là khách, còn cô hàng là chủ/ Cũng có trong lòng một hố sâu.”
Trường đời dàn trải đầy nghịch cảnh gai góc, khiến suốt quãng đường đi qua của Vũ Hữu Định quay quắt như con vụ cuồng xoay. Cái điêu linh không thoát thành lời, họa chăng chỉ có thơ gieo từng hạt lân tinh trên đường phiêu bạt, đã làm cháy xém đi những tang thương chất chồng trên suốt một kiếp người…


Ngô Nguyên Nghiễm

Lâm Chương, Bản Tường Trình Của Một Chứng Nhân - Ngô Nguyên Nghiễm

Bài viết
Ngô Nguyên Nghiễm
 
Ngô Nguyên Nghiễm
Ngô Nguyên Nghiễm

Lâm Chương sinh năm 1942 (Khai sinh ghi 28/10/1945) tại Gò Dầu Hạ - Tây Ninh
Định cư (1987): Boston, Massachusetts (USA)
Trước năm 1975 ông viết cho Những tạp chí Văn, Văn học, Bách Khoa, Khởi hành, Nghệ Thuật . Khai Phá…
Ở Hải ngoại ông cộng tác thường xuyên cho Văn, Lửa Việt, Văn Học, Thế Kỷ 21, Hợp Lưu, Sóng Văn, Đi Tới, Phố Văn và Khởi Hành, cùng xuất hiện nhiều trên các website văn học.

Lâm Chương

Tác Phẩm Đã Xuất Bản:

Loài Cây Nhớ Gió (Thi phẩm, Khai Phá 1971)
Đoạn Đường Hốt Tất Liệt (Tập truyện, Văn Mới 1999)
Lò Cừ (Tập truyện, Văn Học 2000)                                                                                                     Đi Giữa Bầy Thú Dữ (Tập truyện, Văn Mới 2002)
Truyện Và Những Đoản Văn (Văn Mới 2004).                                                                                   

Không phải mặc nhiên tôi chọn đầu tựa như vậy để bước vào không gian văn chương của nhà thơ nhà văn Lâm Chương, nhưng là cái chọn lựa tâm đắc mà suốt hơn 40 năm nhiều lúc dong ruỗi cùng anh trong nhiều đoạn đường dài đầy gió bụi. Bao giờ tôi cũng rất thán phục những thành công thật tuyệt vời của Lâm Chương, trong từng giai đoạn sãi vó phi nhanh trước một không gian diệu vợi của nghệ thuật.Thật ra, tựa bài phát xuất từ cuộc phỏng vấn của Triều Hoa Đại gom lại trong đề bài Lâm Chương, ngựa Hồ hí gió Bắc . Bài phỏng vấn khá dài, có đoạn so sánh một tác giả được ưa chuộng nhất ở Nhật Bản hiện đang sống rời xa tổ quốc là nhà văn Haruki Murakamai phát biểu, chỉ có thể tìm thấy quê hương khi ở xa quê hương. Vậy, Lâm Chương cũng là nhà văn đang sống xa tổ quốc, anh có cùng quan điểm đó không? Lâm Chương trả lời: “Khổ quá. Anh cứ gọi tôi là nhà văn. Tôi chỉ là chứng nhân thời đại, và đang viết bản trường trình về những gì đã nghe thấy mà thôi. Ý nhà văn Haruki Murakamai muốn nói tìm thấy quê hương ở trong lòng mình. Tôi cũng nghĩ thế. Người xa quê hương, viết về quê hương thắm thiết hơn người ở tại quê nhà”. Tôi nhớ gần kết bài phỏng vấn, nhà thơ Triều Hoa Đại phát biểu bạn bè nói dù lưu lạc nơi đâu hay trong hoàn cảnh nào thì Lâm Chương cũng là Lâm Chương, chẳng khác gì ngựa Hồ mỗi khi gió Bắc lồng lộng thổi về thì chẳng bao giờ quên cất tiếng hí đau thương.
Đằng đẵng sau hơn mấy mươi năm, cay đắng chen chúc trong cuộc sống còn giữa bốn bề là vách tường kiên cố không tìm thấy một lối thoát, cứ quẩn quanh nuôi dưỡng một hướng sáng khiến tâm thức gò ép trong cùng cực quẩn bách. Tất cả như một hiện trạng cốt lõi đầy ấp tài liệu, giúp Lâm Chương bùng vỡ mãnh liệt trong những tác phẩm dính đầy máu thịt, đọa đày, mồ hôi và nước mắt. Quả thật, như phân trần của nhà văn sự hiện diện tác phẩm anh hoàn toàn dựa trên tinh thần nhân bản, sự thật, không dính dấp vào những hư cấu của những người viết giàu tưởng tượng…
Qua những tác phẩm xuất bản trong thời gian gần đây, tạo dựng trong tâm hồn một sự cảm thông chia sẻ vô bờ bến. Ngoài Lò Cừ , Đoạn Đường Hốt Tất Liệt, là những mẫu chuyện dài rấp nối suốt đoạn đường bi thiết của chiến tranh. Mọi chi tiết lồng lộng tự chính nó như dòng sông, con suối trôi chảy dầy đặc những bản tuyên ngôn li ti những điều biến thể ghê rợn, mà người bình thường cũng không dám có giây phút tưởng tượng. Sự chân thật trong hành văn, là một thành công của tác phẩm Lâm Chương, nó hấp dẫn cực kỳ, lôi kéo người đọc say mê bước thẳng vào con đường trước mặt. Hình như trong sáng tác, nhà văn không bao giờ vạch sẵn cho trước tác một hướng đi trước, tất cả trôi nổi tự nhiên như dòng chảy của trí nhớ. Nhào nắn quá tải trong nhiều kỷ niệm, từ bình dị trong cuộc đời mà anh đã trải qua suốt những năm tháng lăn lóc trong lửa đạn, thừa hưởng hoan lạc hay bi thống giữa đời thường, đến những khắc nghiệt phủ kín định mệnh những ngày tháng sau nầy bôn ba trên quê hương. Tất cả hóa thân một Lâm Chương sừng sững và hùng vĩ trong văn nghiệp thật độc đáo.Những gì đã trải qua là những kinh nghiệm được đúc kết và bạch hóa sự thật trên từng tác phẩm. Lâm Chương nhiều khi cũng bày tỏ, chỉ viết với những kinh nghiệm đã trải qua, khó mà viết khác với lòng mình. Sự hoạt biến từng chi tiết ngẫu nhiên là phương cách khiến truyện anh vừa sống động, thực tế, vừa mê hoặc người đọc một cách kỳ diệu. Diễn biến câu chuyện như một tường thuật tràn ngập chi tiết và hoạt biến, chính sự sáng tạo đó người thưởng ngoạn bất ngờ không tiên đoán được cái hậu của truyện viết.
Thâm giao với nhau cũng hơn 40 năm, mỗi người một tài hoa và định kiếp, nhưng trong đời ngoài sự trôi dạt lãng du của một Lâm Hảo Dũng, phiêu bồng gian khổ như Vũ Hữu Định, nghĩa khí bạt ngàn của Phạm Nhã Dự,tiết tháo cùng cực như Nguyễn Phan Thịnh… thì hiện thân của sự tang bồng lang bạt chắc phải có Lâm Chương. Những ngày tháng gặp nhau như những cơn phiêu hốt tình cờ trong cuộc sống, anh em thì rải rác muôn phương, tụ tán như vầng mây nắng sớm mưa chiều.Thời gian cuối thập niên 60, Lâm Chương đã có nhiều tác phẩm đăng trên Nghệ Thuật, Văn, Văn Học, Bách Khoa… nên bằng hữu văn nghệ đều biết tên nhau. Khi tạp chí Khai Phá ra mắt với bạn bè văn nghệ, Lâm Chương cũng góp phần bài vở giúp tờ báo vững chải như những tài hoa khác. Ngày anh em họp bàn chuyển tờ báo sang nhà xuất bản, Lâm Chương hiện diện tác phẩm đầu tiên cho NXB Khai Phá, với thi phẩm Loài Cây Nhớ Gió,đã gây được nhiều tiếng vang tuyệt diệu.
Đến giờ, thỉnh thoảng Lâm Chương vẫn làm thơ nhưng hầu như từ ngày định cư tại phương trời xa thẳm, anh bước sang viết văn. Thật ra, đó cũng là cách chuyển tải những nỗi niềm gian khổ, đã oằn nặng trên đôi vai suốt bao nhiêu năm tháng trong cuộc trở mình đầy đọa giữa quê hương chính mình.Bước sang địa hạt văn chương, vì chính thơ theo Lâm Chương chỉ nói lên những rung động cảm xúc của cõi lòng , nhưng văn mới có thể diễn tả được hết những chi li trong cuộc đời. Những tháng năm xưa, Lâm Chương vẫn là một nhà thơ nổi danh như phần đông bạn bè tuổi trẻ , vì vậy thơ vẫn đến với anh những lúc bất chợt cần có trong sự rung động của lòng mình. Ngoài những truyện ngắn vừa viết xong gởi về tôi chia sớt niềm vui sáng tác, thỉnh thoảng trong vài năm trước Lâm Chương vẫn mail cho tôi đôi ba bài thơ thật khuynh khoái làm trong lúc trà dư tửu hậu (*). Như vậy, bao nhiêu ân tình xưa cũ giữa văn và thi ca vẫn đột biến từng cơn trong tâm thức. Cái nét lấp lánh ẩn hiện của thơ, càng khiến tinh hoa phát tiết tuyệt diệu hơn…
Hiện tại, trong thế giới văn chương trong cũng như ngoài nước, Lâm Chương hiện diện là một nhà văn lớn trong cộng đồng người Việt. Tác phẩm bao gồm những tập truyện, truyện vừa, truyện và những đoản văn …hầu như chỉ chuyên chở những câu chuyện hòa quyện suốt cuộc đời mà nhà văn gian khổ trải qua. Lâm Chương trung thành quan điểm nầy, như anh thường nói chỉ viết những chuyện của mình thôi. Những cốt lõi của tác phẩm là sự trung thực và sáng tạo, chính vậy bút pháp bạch hóa thẳng băng, không cầu kỳ hay mang nặng những lý tưởng cao siêu. Lâm Chương khơi hoạt rõ nét từng chi tiết trong cuộc chấm phá những cảnh tượng cuộc đời đầy phong ba trong quá khứ. Nó được vực dậy như một chứng nhân, giữa thời kỳ chuyển biến khốc liệt của xã hội hiện tại xãy ra từng giờ trong đời sống, mà anh bó buộc nai lưng chịu đựng.Quá khứ còn dẫy đầy trong tâm thức uất nghẹn, bi thống chưa tiêu hóa được, nên hiện tại nét nhìn của nhà văn Lâm Chương mong soi thấu được hết phần nào đoạn đường khốc liệt trải qua. Khi được hỏi, có nên đổi cách viết để hướng về ngày mai tươi sáng chan chứa tình người? Lâm Chương trả lời, khơi rõ hơn về quan niệm sáng tác, là anh không có biệt tài dựng lên những truyện hoàn toàn do trí tưởng tượng. Theo anh, chỉ có thể viết được những kinh nghiệm đã có trong quá khứ, nên hiện tại chẳng thể viết được gì về cái xã hội xa lạ nầy
Đọc tác phẩm Lâm Chương, quả thật ta nhìn thấy sự thật như vậy. Những phân cảnh quá khứ tuôn trào nồm nộp, chuyển biến như những lớp thoại kịch nhiều tình tiết đa dạng, trôi chảy chẩm rải như những khúc phim, được đạo diễn tài ba quay li ti trong từng góc sống của cuộc đời.
Từ tập truyện vừa Đi Giữa Bầy Thú Dữ, chia hai phân đoạn là hai câu chuyện Gió Về Phố Biển và Đi Giữa Bầy Thú Dữ, Lâm Chương kể lại chuyện đời mình từ thời niên thiếu, rời gia đình lang bạt tận phố biển Nha Trang, háo hức của người đi tìm ước mơ kỳ thú. Trong cuộc sống vô gia đình bao nhiêu diễn biến trong tình yêu sa đà hư đốn, những cuộc hội ngộ với những danh nhân như thi sĩ Quách Tấn, ôm mớ triết học của Krishnamurti tự do đầu tiên và cuối cùng, ôm cái tâm lành của nhà sư Trí Tâm, những tên ma cô đĩ bợm đánh đỗ hết mọi giá trị đạo đức….( Gió Về Phố Biển ). Phân đoạn hai, Đi Giữa Bầy Thú Dữ là cuộc đào thoát trốn chạy, xuyên qua biên giới Kamphuchia, cất dấu tài sản trên đường hoạn lộ bằng cách nuốt vàng vào bụng, hậu môn, cửa mình…Cuộc tráo chác lường gạt giữa cuộc đời, nhiều khi còn quá tàn bạo, những người lên Kampuchia vượt biên bị lừa lấy hết vàng, rồi giết phi tang. Kế tiếp, sự trôi nổi gian truân lê lết cuộc sống giữa xứ lạ quê người…(Đi Giữa Bầy Thú Dữ).
Người đọc chia sẻ cùng nhà văn những chuyện thật đời người, như màn kịch lớp lang trên một sân khấu lộ thiên. Những chuyển biến như những hoạt hình, cứ trôi chảy bao nhiêu tình tiết mắc xích liên quan thật ấn tượng. Văn phong đầy chi tiết sáng tạo, uyên bác như nỗi nhớ xấp lớp dầy đặc những bi kịch của kiếp người. Ý tưởng trùng trùng trải đầy trên trang giấy vô tri, thành câu chuyện hấp dẫn đầy tình tiết chân thật hữu tri.
Nét thông minh ranh mãnh trong từng câu thoại tự nhiên, như dẫn dắt câu chuyện về một ngã rẽ hướng sẵn cá tính của nhân vật: “Trên tường nơi phòng khách , treo cái bản đồ thiết lộ ghi các trạm phụ và nhà ga ở mỗi địa phương. Tôi thường đứng nhìn bản đồ, mơ ước một chuyến viễn du qua những địa danh xa lạ, những nơi đèo heo hút gió. Bửa trước, đọc ké quyển sách anh Hòa để trên bàn. Tự Do Đầu Tiên Và Cuối Cùng của Krishnamurti. Tôi nhớ câu,’’Đi là sống. Đứng là chết ngay trong đời sống hiện tại” Ý tác giả nói đến sự thăng hoa trong tư tưởng, nhưng tôi vẫn muốn hiểu theo cái nghĩa đen cuộc đời. Không biết tự lúc nào, trong tâm hồn sâu thẳm của tôi có tiếng thì thầm réo gọi ra đi. Không dự định sẽ tới nơi nào, mà vẫn muốn ra đi. Tư tưởng phiêu bạt đã gắn chặc trên cung định mệnh, tác giả dẫn dắt người đọc đi từ tấm bản đồ, để trình bày một chuyển dịch sáng tạo phải có thay đổi thường xuyên quanh ta.
Lâm Chương quả thật xây dựng một cung cách viết độc đáo, góp nhặt quá khứ thành một trang sử mà theo anh, anh chỉ là chứng nhân đang viết lại những điều nghe thấy mà thôi.

Ngô Nguyên Nghiễm

***

Lâm Chương

Mùa Hạ

Mùa hạ nhà ta lò bát quái
Cửa mở toang thông đạt khí trời
Đêm trăn trở trong lò thịt nướng
Da rám vàng tươm mỡ mồ hôi

Mùa hạ nhà giàu đi ra biển
Ta vô rừng nằm dưới bóng cây
Mấy lão tu tiên ngàn năm trước
Chắc cũng như ta nằm ngắm mây

Không có con nai làm bằng hữu
Vài con sóc nhỏ nhảy lăng quăng
Sóc ơi ta với mi là bạn
Vui giữa rừng xanh lánh bụi trần

Tiền bạc chẳng làm ta mờ mắt
Ba ngàn tân khách của Nguyên Quân
Ký sinh bám riết vào thân trụ
Cũng chỉ vì tham một miếng ăn

Ví thử mai kia ta tuyệt mệnh
Chẳng phủi tay đời cũng sạch trơn
Sống thong dong thác không hề tiếc
Bởi ta sinh vốn đã trần truồng

Mùa hạ nhà giàu đi nghỉ mát
Ta ngồi ta ngắm một dòng sông
Hỡi ơi, con nước đi ngày ấy
Phiêu hốt mười năm bất phục hoàn

Khương Thượng ngồi câu danh với lợi
Đội nón mê áo vải chờ thời
Còn ta chẳng còn gì trông đợi
Chỉ ngồi suông ngó nước mà thôi

Kẻ sĩ ngày nay nhiểu như nhặng
Không ai cầm trủy thủ qua sông
Dẫu có Yên Đan tìm đỏ mắt
Cũng không ra một kẻ sang Tần

Mùa hạ dăm ba thằng thất nghiệp
Đến tìm ta bày cuộc nhậu chơi
Bằng hữu những tên nghèo kiết xác
Uống lai rai để lãng quên đời

Con mồi khô mực dai như đỉa
Trệu trạo nhai hoài nuốt chẳng trôi
Rượu rót tràn ly mời tới tấp
Bỏ hết lo toan ngất ngưởng cười

Cười sĩ khí mặt dày râu quặp
Tranh hùng đuổi bắt một con hươu
Thiếu Lăng gò nổi đùn mây trắng
Lau sậy đìu hiu cỏ lút đầu

Rượu bốc hơi men bừng lên mặt
Việc đời xem cũng nhẹ như không
Lịch sử bao năm còn dâu bể
Huống hồ bèo nước ở trường giang

Mùa hạ nhà ta không đóng cửa
Nghe chừng sắt thép rợn xương da
Bốn phương thiên hạ còn tranh chấp
Lò lửa nhân sinh thổi tạt về.

Lâm Chương

Hồ Chí Bửu, Kẻ Lãng Bạt Ngao Du Trần Thế - Ngô Nguyên Nghiễm

Ngô Nguyên Nghiễm

Để có được cái nhìn sâu thẳm và bước đi trên thơ của Hồ Chí Bửu, quả thật tôi chọn gần 7 tựa đề để mô tả sát sao nhất biểu tượng cuộc hành hương kỳ diệu, mà nhà thơ đang lướt thướt biến ảo trong cơn mộng thi ca. Quả tình, chỉ có chữ ngao du trần thế của một kẻ lãng tử mà Võ Tấn Cường gói gọn như một dấu ấn, là tôi coi như ngôn từ đắt địa, để mô tả mọi tư hướng lãng bạt bùng cháy một cách quỷ quái trong quan điểm thơ Hồ Chí Bửu.

Cách thức lập trình một quan điểm nghệ thuật của nghệ sĩ, phải chăng được bao quát bằng một khối óc đầy tinh huyết, hầu sáng tạo được khung trời riêng biệt cho chính nơi cư trú thiên hình vạn trạng của tha nhân. Người ta thường đứng núi nầy nhìn cảnh quan lập thể của cao sơn khác, nên sự thiên kiến giữa nhận định đối tượng quả tình mang nặng tư chất cục bộ. Nếu một vườn hoa chỉ đầy rẫy một sắc hoa như một sự trùng điệp của sự vô tính thì nghệ thuật là cái vất vưởng cô hồn, không tinh khí, nghèo nàn bằng những phục trang tiền sử thô kệch, lạnh lùng. Như thế, thì còn phân biệt làm gì giữa cõi vĩnh cửu và cái nhất thời, cũng như lập dựng một thế giới chỉ bằng những hình ảnh robot, cứ lập lòe tư tưởng bằng những phản xạ của con chip vô hồn, đã có phân biệt gì nhau. Hoa thì phải có hương và ngan ngát muôn loài tung nhụy vàng rực rỡ khắp cùng không gian sinh hóa.

Đâu nhất thiết một cọng cỏ rêu xanh nhòe mình làm lung lay được một ánh trăng vàng, cũng như đâu nhất thiết vầng trăng phải soi mình cho cỏ dại phiêu linh. Tất cả đã có sẵn chan hòa trong vũ trụ mênh mông, tự nhiên mà hằng hiện hữu, vì nghệ thuật hóa sinh bằng tư hướng cơ địa nguyên khai của kẻ ngao du. Trăng có bày tỏ gì đâu, cỏ có thì thầm gì đâu, mà người nghệ sĩ cứ phải oằn mình lưu đày cho trọn kiếp sơ nguyên. Mỗi cá thể đều chiêu nghiệm cho chính bản thân mình, không thể vay mượn hình hài hay hơi thở của chung quanh làm lẽ sống. Cái bất chợt không tương ngộ trong sự sáng tạo của mọi tha nhân, đều là cái hữu tình thuần túy, tự nhiên mà có được trong cơn mộng nghệ thuật. Chính vậy, vườn hoa mới chao nở vun đầy bằng vạn sắc hoa. Tinh hoa của mỗi loài mỗi khác, cách biệt nhau như một cá tính siêu việt riêng lẻ, lập dựng cho mỗi loài một thế giới riêng tư, kỳ bí như chính bản ngã hóa thân. Thơ của một thi nhân, cũng chính là sự hóa thân diệu hoặc như vậy, nên cái riêng của từng thần hồn đã lập dựng được cả một thế giới sinh diệt quanh ta…

Hồ Chí Bửu, vẫn có cái ngạo nghễ của một kẻ sáng hóa, dù có những lúc vung tay quá trán. Nên đang bay lượn hạo nhiên giữa vùng sinh thực khí sung mãn thi ca, thì bỗng như tia chớp cân đẩu vân vòng vèo bước ngang lối sống. Mây gió tuôn chảy không theo một định số nên thơ anh chu du lắm lúc như tình cờ nhỏ giọt xuống từng con chữ một cách kỳ hồ, làm nhuộm đủ sắc màu xanh đỏ tím vàng, không yên ổn được uy dũng mà hồn thơ sẵn có. Hồ Chí Bửu nặng nề một kiếp tài hoa, dầy đặc công lực để đưa đẩy thời gian không gian thơ đi vào một lối quang hóa riêng biệt, mà có lúc đọc thơ anh, tôi có cảm giác như phiêu lưu biến hóa chữ nghĩa trong những cơn mộng phù ảo của văn nghệ, có khác gì muốn rập khuôn với những hình dáng phù thủy ngôn ngữ của Bùi Giáng, Nguiễn Ngu Í, Nguyễn Đức Sơn… hay gần đây là một Bùi Chí Vinh trí tuệ đầy thông minh hoa dạng phù phép ngôn từ, cho cuộc hí trường nầy đầy ý sáng hóa, bay nhảy.

Thơ Hồ Chí Bửu tung tăng sắp đặt, ngạo nghễ, phiêu bồng… loang loáng trên bề mặt của con nước thủy triều phủ đầy mầm xanh bèo dạt, nhưng nếu đi sâu vào chiều lặn của thơ anh thì những bi kỷ hoang vu của thân phận lúc nào cũng bám víu cuối cùng, như chợt nói lên điều gì chua chát bên góc đường ta ngồi nhặt hoa rơi. Mặc dù, khi thơ phát tiết, cái hơi thở phán xét bao giờ vẫn đầy nét tưng tửng cuồng nhiệt bộc phát như một cái khuynh khoái của một dũng sĩ, vừa tuốt gươm bay lượn công phu, đánh vèo vào không gian những tiếng sấm vỗ đầy hoang sơ. Phút giây bày tỏ của thơ đi, hầu như mươi lần như một, nỗi trằm mặc của hàn sĩ đều được bỏ rớt những quan hoài quy ẩn: hai mươi tuổi đã quá lỳ/giang hồ tứ chiến thứ gì cũng chơi/ cho đi chẳng biết lỗ lời/phút giây tàn cuộc-đến hồi trắng tay.Nhiều lúc đọc thơ Hồ Chí Bửu, nếu được ban phát trong những cuộc rượu tàn canh, vun vẫy đầy sinh khí của bằng hữu anh em ngâm nga từng đoạn thơ anh như giây phút vắt hồn chiêu sinh, có lúc ngôn ngữ bật dậy bất ngờ làm sững sốt cái ngông cuồng khinh khoái, chen lẫn trong ý nghĩa quái dị như vừa mới phun trào từ kẻ hở phún thạch cổ đại. Thơ vừa mới ám đầy những dòng chữ xét nét trào lộng, bỗng chốc cuối câu đã vương vãi tự kỷ, quay ngược lại nội tâm trầm cảm, bơ vơ : vào blog như thăm khu vườn lạ/có hoa chanh hoa bưởi hoa hồng/có chim phượng chim oanh và chim cú/có kỳ đà cắc ké lẫn kỳ nhông/ta rất muốn sửa mình cho đúng đắn/ nhưng sao thơ cứ mai mỉa bất cần/suốt đời ta chưa một lần may mắn/chùa khép rồi còn vọng tiếng chuông ngân…

Trải qua một định số của kẻ làm thơ, Hồ Chí Bửu cũng là nhân vật kiên trì và thủy chung với con đường nghiệp dĩ. Đằng đẳng hơn 40 năm nay, nhà thơ vẫn bước đều trên hướng đi định sẵn, dĩ nhiên cái thuận lợi có, cái hư hoại có, tất cả như trò trêu cợt của gió bụi giăng mắt bám víu đằng đẳng gót chân lãng bạt. Theo thói thường ai dám khẳng định rằng cái thuận lợi là hoàn chỉnh, cái hư hoại là sai lầm? Mọi vật thể đều chan hòa trong tứ đại, đất nước lửa khí, hay nói gọn gàng hơn theo triết ngữ phương Đông, nhận định hoằng hóa, xê dịch trong nguyên lý âm dương. Lưỡng nghi cũng là một cân bằng đối lập, đưa đẩy biến hóa vọng tưởng của loài người trong cõi hồng trần tạm bợ, bước đến ranh giới bỉ ngạn. Làm sao lấy quan điểm cực đoan của chính một cá thể tiểu vũ trụ lẻ loi riêng mình, làm thước đo cho một mắt xích thiện mỹ, tốt xấu, mà phê bình tư tưởng và thần trí người khác. Cách đây cũng gần 2 năm, sự chênh lệch của một kẻ sĩ gối đầu trên những thành công mông lung về khuynh hướng nghệ thuật của riêng mình, xem vũ trụ nghệ thuật chỉ còn là vườn hoa đơn sắc, độc tôn hậu hiện đại, xóa hết công trình văn học và những dòng sinh khí lý triết xa xưa, để bước vào con đường chẻ nhỏ ngôn ngữ, như là một sự giành giựt trí não và sáng tạo. Đường đi thì còn xa thẳm, tương lai của thuyết tân lập còn phía trước, vời vợi…

Kẻ trầm tĩnh vẫn phải là nhà thơ, gánh trên vai những quan niệm sáng tác riêng mình, thản nhiên đối mặt nhu cương, cũng như Thiền Sư Nam Tuyền chỉ bông hoa bừng nở trước sân: “Người thời nay nhìn hoa không như hoa mà như mộng”. Thì thôi, cứ như Hồ Chí Bửu phủi chân ngồi xuống chiếu/làm với nhau xị mốt xị hai… cái bất chợt tai bay vạ gởi lần đó của Hồ Chí Bửu khiến tôi vạ lây, nhưng bỗng nhiên tĩnh tọa lại, vì biết rằng trăng gió (hay nghệ thuật) là của trời đất, không phải của báu riêng ta. Thành quả mới khẳng định trọng đại cho sự thành công nhiều ít của hướng tới. Chính vì vậy, kẻ lập ngôn và tín hữu, muốn chỉnh chu tiếng nói lập trình hệ thống văn học mới không bị khập khễnh, trên bước phiêu du chưa định hình chính thống, điều tối cần thiết là họ phải thông thấu xuyên suốt tư tưởng lập dựng các lý triết khác trong mấy thiên niên kỷ trôi qua. Vì vậy, ý kiến của cái mới và cái cũ, vẫn tạm được phân chia một cách chủ quan, và thiên kiến sẽ làm sai lệch thảm thương chủ hướng sáng tạo nghệ thuật. Nhiều lúc, tôi hiểu nhiệt huyết và tâm thức của anh em, năng nổ bay nhảy trên bước đường sáng hóa của một không gian mờ ảo của nghệ thuật, đôi lúc cũng cực đoan bằng lòng hoặc chối bỏ tư tưởng khác, dù đó là khóm hoa mẫu đơn tinh khiết đang rung rinh sinh khí bên hàng rào lãng đãng sương mai. Cái đẹp của Chân Thiện Mỹ không chỉ có một, mà hằng hà sa số tinh quang lấp lánh làm diệu kỳ thêm cho kiếp sống.Có lúc Hồ Chí Bửu bước đi bằng trái tim vô quái ngại, trên một không gian nghệ thuật kỳ ảo quen thuộc của chính mình, nên ý kiến của anh về Thơ đôi lúc khiến tha nhân phải phân vân. Túi thơ nặng trĩu suốt cuộc hành trình hóa sinh cho riêng mình, khi mở ra trưng bày trong trời đất bằng tất cả chân thật, thì chắc chắn nhà thơ biết rõ mình là ai, làm gì và dĩ nhiên bảo vệ được quan điểm mình đã bước qua trải nghiệm, giúp cuộc soi bóng kỳ thú với nghệ thuật, biểu lộ đầy đủ chất người…Đích tới gần hay xa, cỏ hoa hay gai góc, dĩ nhiên còn nằm riêng vất vưởng cô độc trong thế giới mà nhà thơ đang dìu bước thơ đi, chiêu niệm lại bản sắc đầy tịch liêu, chắc hẳn để thấy lòng mình đỡ quạnh hiu.

Vùng đất địa linh biên cương Tây Ninh, không gian thơ kỳ thật có nét u trầm phưởng phất lãng bạt của bóng dáng đạo sĩ thỏng tay bước vội giữa kẻ đời, giữa bao ngát núi rừng lất phất mùi trầm hương đẫm ngát sự tuôn chảy cho nhiều dòng thơ tài hoa kỳ thú. Lắm lúc, tôi có cái nhìn so sánh vùng huyền mặc Tây Ninh với quê tôi vời vợi tiếng gió núi đầy mặc khải của cụm Thất sơn bao ngát sấm giảng. Hình như cả hai bao trùm trong một tinh hoa hựu huyền vượt thoát gần tương đồng mọi mặt: âm dương diệu hoặc của cuộc đất, khí lực bát ngát phủ đầy trên ngõ tới của quê hương…Trước 1975, lớp trẻ văn nghệ mang đầy nhiệt huyết, tạo lập nên một khuynh hướng nghệ thuật, lăn xả vào những cuộc dấn thân trước cuộc chiến tranh đang phủ đầy ngõ ngách quê hương. Tiếng nói và lương tri người làm văn nghệ, là ngọn đuốc góp phần soi sáng cho tiếng nói văn học nghệ thuật miền Nam. Ngoài các nhà văn lão thành như Từ Trẩm Lệ, Trường Anh, Phan Phụng Văn, Huỳnh Phan Anh… anh em văn nghệ trẻ hơn như Trần Thy Dã Tràng, Sa Chi Lệ, Hồ Chí Bửu, Điệp Thuyên Ly, Nguyễn Quốc Nam, Vũ Anh Sương, Vũ Miên Thảo, Hồ Thi Ca, Khaly Chàm… cũng lập dựng được cho văn nghệ vùng đất nầy một sức sống mãnh liệt. Hồ Chí Bửu gắn chặt với văn nghệ Tây Ninh, bằng tiếng nói của tờ tạp chí Biên Giới, nhưng khi tập san Động Đất ra mắt, cùng với sự gánh vác của Sa Chi Lệ, thì Động Đất là chỗ đứng bề thế hơn, góp mặt nhiều cây viết tiếng tăm của miền Nam.
say mê kiên trì bay nhảy trên sáng hóa văn hóa văn học nghệ thuật, Hồ Chí Bửu với một bề dầy văn nghệ bao năm phiêu bạt, nên sự hòa quyện sâu sát với cuộc đời và chữ nghĩa đã là dấu ấn trân trọng cho nhà thơ, suốt hành trình hòa âm trong cuộc lữ. Bởi lúc nào cũng hòa quyện trong thơ, như một thánh hóa cuồng nhiệt, nên nhiều lúc thơ Hồ Chí Bửu nghênh ngang ngẫu hứng, như bạch mã (phi mã) chưa kìm được yên cương, nhiều lúc muốn xoay đầu về núi, về chôn đất hứa/rớt lại nơi đây một chút ngậm ngùi/ mà ước mong ngồi bên ngày tháng đếm sầu trên lá/còn lại gì ngoài mấy vần thơ. Cái định hướng huyễn hoặc nhào lộn giữa một không thời gian mênh mông, hình như để thỏa chí bạt ngàn, không chấp nệ ý hướng, sự buông thõng nhiều lúc làm xáo trộn cái tịnh yên của thần trí, cái bốc đồng quang quả, khiến thơ hồng hộc đầy hơi thở nghịch ngợm trong nguyên lý đối chiếu, tầm chân: quá buồn nôn trước cái trò chữ nghĩa/kẻ hứng người tung trông thật tức cười/ôi nghưỡng mộ với mấy con trâu đỉa/giữa rừng già mà dỡ thói đười ươi.

Thơ Hồ Chí Bửu nhiều bất chợt kỳ lạ, không định hướng trước được, phải chăng thơ đến với anh cũng chớp nhoáng như những ngôn ngữ đã bộc phát thành thơ? Hồ Chí Bửu có lẽ làm thơ rất nhanh, nhỏ giọt thành thơ, và sự hoàn chỉnh bài thơ chắc nhà thơ cũng ít chu toàn, chỉnh sửa. Hình như thơ tự nhiên đến, và tự nhiên đi, thanh thoát vô cùng cho nẻo đi–về, tung tăng bay nhảy không rào đón, nên nhiều khi bằng hữu chỉ thấy mặt nổi của bài thơ, vì cái ngông cuồng phiêu bạt lướt thướt dày đặc chính diện. Phóng túng, lý sự, đùa cợt trước cửa hạo nhiên, nhưng thật sự Hồ Chí Bửu còn nhiều ẩn ức, đầy nổi u buồn miên viễn, thấm ngầm giữa hồng tâm. Tung hứng trong thơ Hồ Chí Bửu, có phần nào trừu tượng diệu hoặc, mà giữa chữ nghĩa lý thú tung tăng đùa giỡn có nét thông thái đầy phá phách.. Nhưng khi tôi lặng lẽ chong ngọn bạch lạp, soi lại mặt lẫn khuất, chìm lắng trong dòng thơ anh, tại sao trăm lần như một, mỗi câu kết trong từng đoạn thơ lãng bạt của Hồ Chí Bửu vẫn hát hò mà nước mắt rưng rưng. Cái buồn cố hữu, quả thật đã thấm đẫm từ nguồn cội trải dài suốt 5 thi tập mới nhất, được Hồ Chí Bửu xuất bản từ đầu thiên niên kỷ nầy.

Tôi hiểu Hồ Chí Bửu, ngoài cái chịu đựng của một kẻ lữ hành, đang cô độc ôm thơ bay lượn ngạo nghễ lang bạt, đầy kẻ ghét người thương, nhưng chắc chắn cái không gian thơ đầy rẫy phù sa sông núi, khí thiêng cố thổ, vạch riêng cho một hồn thơ khung trời sinh hóa, bất khả xâm phạm, thì thế tục thường tình xin hãy ngẩn ngơ! Bên cạnh cây bạch lạp vừa soi, bóng dáng kẻ lang bạt ngao du trần thế, vẫn làm chau đi ngọn gió, hàng hàng câu thơ vừa hát được ra lời…

Ngô Nguyên Nghiễm

Đường Gian Nan Chạy Suốt Kiếp Người - Ngô Nguyên Nghiễm

Ngô Nguyên Nghiễm

Bóng dáng của Vũ Hữu Định như một con ngựa hoang, ngày tháng chất chồng trên vó ngược mà chính bản thân chủ nhân cũng không lường trước được phương hướng để định vị cuộc đời trước mặt. Đã là hóa thân loài ngựa hoang, sự thuần hóa là điều không tưởng, bước đi nhảy vọt không hai chắn mắt, vì vậy hướng tương lai như chiếc bóng phù ảo, cứ chạy đuổi miệt mài trong cái hư không vô cùng tận. Có lẽ định mệnh quy cách cho một số phận đầy nghiệt ngã, khiến Vũ Hữu Định cứ rong cương cất vó vô định hình trong không gian lưu trú, lãng bạt suốt bề dài tuổi thanh niên. Cũng có lẽ bao nhiêu bất trắc cứ đổ đầy trên số phận nhà thơ, đem tất cả phong trần thế gian phủ chụp cho nát nhàu kiếp số. Long đong và nghiệt ngã bám đầy trên vai áo Vũ Hữu Định không biết bắt đầu từ lúc nào, nhưng khi anh gặp tôi tại Sài Gòn, hình như gió bụi cộng sinh đã là chiếc bóng gắn chặt vào cuộc đời, không tách rời khỏi được số phận và thơ Vũ Hữu Định. Chan hòa tan nát trong sự vần vũ của vũ trụ, bản thân như hạt cát lẻ loi giữa sa mạc, cái mất đi còn có hình thể gì đâu mà phải phân trần, nhưng cái còn lại của một tâm thức người thơ trụ lại được trong cái an nhiên, thì đó là cái khó được thử thách thật quyết liệt. Vũ Hữu Định biến hóa sự nghiệt ngã trở thành sự tịch tịnh hằng ngày trong hành xử với thế sự và chính bản thân, như một đóa sen hồng điềm đạm thanh khiết giữa tứ bề sương khói phủ vây. Trong đời tôi, giao tiếp thân tình với bằng hữu bốn phương, dĩ nhiên cũng gặp nhiều khuôn mẫu tuyệt vời trong cuộc sống. Nhiều nhân dáng chuyên chở từ tâm thức kỳ diệu gần như những đạo vị, được hóa thân tự tại, dù có quay cuồng trong nghiệt ngã… Vũ Hữu Định là một con ngựa bạch lãng bạt phiêu du dưới những giọt trăng vàng, đói hớp sương tạo dựng sự sung mãn cho khí thơ, hiện thành bất chợt luân lưu hòa nhập với từng đoạn đường trường sải vó qua truông.
Thản nhiên bước lên cuộc sống không giây phút bình yên, Vũ Hữu Định không bao giờ thiếu nụ cười cợt đùa với thế sự chung quanh. Thoạt đến thoạt di, là phương chăm hành sự khiến có lúc anh em quan tâm chờ đón cũng không định được phương hướng dừng chân của Vũ Hữu Định. Thật ra, hoàn cảnh bất hợp lệ khiến đời sống anh có một sự thay đổi lớn, luôn lăng ba vi bộ trước biến động trên lộ trình. Chính vậy, phần vì tế nhị với bạn bè, phần vì lãng bạt của tính nghê sĩ, Vũ Hữu Định di chuyển thường xuyên để khỏi phiền hà cho bằng hữu, hơn nữa sự ra đi cũng là những bước thơ rơi, giúp nhà thơ hóa hiện nhiều tác phẩm tuyệt cùng. Trong đời, có lẽ Vũ Hữu Định là một trong những nhà thơ viết dễ dàng và nhanh chóng trên bất cứ hoàn cảnh nào. Thơ Vũ Hữu Định bộc phát thật tự nhiên, như hoa phải nở, trăng phải soi và sương phải phủ mờ vạn vật. Bất chợt trên đường hoạn lộ, nhập tâm vào cuộc lữ hành và khiến thơ hóa hiện bằng những tinh túy vừa rơi rụng, làm nảy nở từng đóa hoa lung linh giữa trời đất…
Năm 70 cách đây hơn 40 năm, thời loạn ly giữa bao nhiêu tin chiến sự làm cuồng rối cuộc sống của quê hương, anh em văn nghệ cật lực bày tỏ tiếng nói của tuổi trẻ bằng những tạp san, rải rác hầu hết các tỉnh thành trong cả nước. Mỗi tờ báo đều có quan điểm riêng, nhưng tụ chung vẫn là mặt trận phản đối chiến tranh diệt chủng. Sự gặp gỡ tên tuổi hằng ngày trên các báo chí văn nghệ, đã giúp trong lòng anh em hình thành một sự quen biết vô hình, nhưng trân trọng nhau một cách chân thành. Đến khi có dịp giáp mặt thăm viếng, thì đã như mối thâm tình giữa những cố nhân. Vũ Hữu Định lếch thếch bộ hành qua cây cầu chữ Y dài gần 700m, vào tìm tôi ngay buổi trưa ngày giáng sinh 1971, nhốt cả hồn thơ trong một vóc dáng thấp đậm người, mà nụ cười là điểm chính yếu luôn hiện diện trên môi anh. Phong phanh trong chiếc sơ mi bỏ ngoài, lẹp xẹp đôi dép Lào bước vào tệ xá. Người mà Vũ Hữu Định gặp đầu tiên là Nguyễn Thành Xuân và Trương Quang Vinh, lần lượt xưng tên rồi khoác vai nhau kéo vào hàn huyên. Bản tính Vũ Hữu Định xuề xòa, cởi mở mà sự thong dong của anh hình như thể hiện được cung cách tự nhiên trong đời sống. Tôi chưa hề nghe Vũ Hữu Định than thở, dù từ thời gian 1970 – 1974 anh đi – về với tôi tại thư trang Quang Hạnh hầu như thường xuyên. Mỗi lần xuất xử với chuyện đời, Vũ Hữu Định thường về kể tôi nghe những diễn biến mà anh lượm nhặt được từ bốn phương trời, quy cũ lại và đưa ra trò chuyện với nhau.
Những kỷ niệm của nhiều người bạn làm văn nghệ, mỗi người có cách xử thế riêng biệt, đậm tính khí của tâm hồn mỗi cá thể. Nét tiêu dao phong thái của một Trần Kiêu Bạt có tính cách giang hồ, đậm nét lãng bạt Nam bộ và hy sinh như phong thái của Lương Sơn Bạc. Cung cách của một Nguyễn Bắc Sơn, lại đăm chiêu giữa cái khí cốt phương Đông, gác kiếm ngay trên trận chiến rượu tàn, mà phá phách chơi ở mọi điếm lữ trần gian. Phạm Nhã Dự thì lãng đãng trong sương mù của 18 thôn vườn trầu, mọi khí hậu tinh sương đều được nhà thơ cung hiến hết cho bằng hữu tâm giao, mà đối với anh, mới cũ vẫn tứ hải giai huynh đệ. Một Hà Thúc Sinh thì nhẹ hẫng bước phong lưu với đồng điệu, đến nỗi: “ Hà Thúc phu nhân coi buồn lắm/ Sữa thiếu làm sao tiếp rượu chồng”…Hằng hà sa số bằng hữu văn nghệ, cái tâm của anh em nhiều khi ảnh hưởng cực kỳ với sáng tác. Hình như tất cả chân thật của cõi lòng, dù ở bất cứ hoàn cảnh phủ chụp nào, cũng là một hạnh ngộ để nhào nắn giữa khuôn đời. Tôi cảm nhận, Vũ Hữu Định có một chút lãng bạt của Trần Kiêu Bạt, sự tự tin nhẹ nhàng của Hà Thúc Sinh, hòa – hoa – nghĩa – khí- chân - thành với đời sống như Phạm Nhã Dự, chút nghiêm cẩn rộng mở cái tâm bát ngát bốn phương như trường hợp Nguyễn Lê La Sơn…Chính vậy, bôn ba trong cuộc đời đầy hệ lụy, nhưng Vũ Hữu Định vẫn giữ vững được bản sắc du hành tuyệt diệu cho thơ. Đến đâu thơ cũng tràn ngập trên thần trí, tràn ngập cả không khí vây quanh. Tôi không hiểu ở thời đại Thiền sư Basho, khi chống gậy dặm ngàn sương gió, phong vũ có dồn dập ảnh hưởng đến phong thái ông như thế nào. Mà ngàn bài Hai Ku kỳ diệu lắng động cả thiên thu. Chỉ có điều hình ảnh của Vũ Hữu Định cũng có dáng dấp lênh đênh, trôi nổi giữa trần gian, trong cái tâm còn quầy quả xáo trộn vô thường, khác hẳn điều hạnh phúc an nhiên thiền vị của Basho, trên bước thiền hành. Thơ Vũ Hữu Định vẫn gieo hoa giữa không gian, đầm đìa cả một trời nghiệp chướng của nhân sinh, mà những khúc trường ca lỡ vận là một hướng nhìn tan tác tội nghiệp của kiếp người: “Ta đã hát khúc hát đời lỡ vận/ Hát âm u trong đêm tối một mình”, mà nhiều lúc tàn canh uống từng giọt rượu cô đơn để chợt thấm đẫm trách nhiệm cương thường: “Ta đã hát khúc đời lỡ vận/Khúc hát buồn như một khúc sông con/ Khúc hát cay như những lần uống rượu/ Khúc hát chua như một đĩa cũ mòn/ Khúc hát đời cha nay đến đời con”. Chợt nhớ trong bao lần ngẩng bóng để lãng quên, nhưng làm sao được, ở quê xa vẫn chợt ẩn hiện man mác đến đau lòng: “Mười năm cha mẹ đau chân sỏi/Sớm lặn truông xa, chiều lội bãi cồn”.
Vũ Hữu Định có một sự cương nghị trong cuộc sống, dù phôi pha có phủ đầy trên số kiếp nhưng đời thường anh vẫn trầm tĩnh đến độ phớt lờ những khắc nghiệt đó. Hình như, trong những cuộc giao tiếp, thần thái Vũ Hữu Định hòa đồng trong nếp sống hồn nhiên của mọi người, nhưng những đêm dài lẻ loi, đầy vơi ý nghĩ trên chén rượu, làm sao không bừng cháy những ám ảnh riêng tư: “Thời đại thánh thần đi mất biệt/ Còn lại bơ vơ một giống sầu/ Rót mãi, bao nhiêu tình cũng cạn/ Nâng ly, nhìn thấy tóc bạc mau”, những câu hỏi thường đặt ra như một cách tự vấn: “Anh là một gã giang hồ tới/ Lòng hoang như con lộ không đèn/ Ngồi với hồn sầu ly rượu cạn/ Sao mới vài ly mà đã say?”
Thế là, Vũ Hữu Định lưu vong sống trong Thư trang Quang Hạnh của tôi, thấm thoát cũng gần 4 năm, bắt đầu từ cuối năm 1971-1974. Thời gian vật đổi sao dời, đối với con chim di Vũ Hữu Định như một cái cớ để xếp cánh tạm lắng trong không gian ân tình. Tôi thường xuyên chở Vũ Hữu Định trên xe Honda 67, lúc thăm viếng A.Khuê, lúc qua Phạm Duy, hẹn hò Phạm Chu Sa…Đi xe máy thật ra là một phương tiện để di chuyển nhanh gọn, tránh cho Vũ Hữu Định những cuộc tra xét bất chợt giữa lộ trình. Năm 1973, có hai chuyến di chuyển đầy kỷ niệm, khắc sâu thêm tình cảm của Định với đồng bằng miền Nam, mà anh thường cười nói, nghĩa khí bạt ngàn trên từng cọng lúa. Trưa hè 1973, tình cờ Phạm Trích Tiên có lời nhắn gởi mời về thị trấn Tân An (Long An) cách Sài Gòn hơn 50 cây số, mà Phạm Trích Tiên rào đón, ngày cuối tháng lương bổng dồi dào, để khỏi mất mặt với phương xa. Thật tình tôi ngại đường xa và túy tửu vô chừng, nhưng Vũ Hữu Định lại phấn khởi, đốc xúi tôi làm một chuyến di chuyển cho biết một tỉnh lỵ miền Tây gần gũi Sài Gòn nhất. Chiều ý, tôi cũng đèo Vũ Hữu Định trên chiếc hắc mã 67, về hội ngộ Phạm Trích Tiên sau gần 6 tháng không gặp mặt. Cái đến thì tự khắc sẽ đến, sự chờ đợi của Phạm Trích Tiên cũng được đáp ứng với hiện diện của hai gã phiêu linh. Tiệc tùng đầy rẫy, rượu tràn khóe môi, tửu phùng tri kỷ, ngàn ly cũng chưa đầy. Ông Phạm Trích Tiên thì như hủ chìm, ông Vũ Hữu Định thì như rồng gặp nước…thơ thẩn vun vẫy tứ phương, ca ngâm loạn nhịp nào ai hay ai biết, vì thần trí gởi cả cho gió ngàn bay. Trong tiệc rượu tới giai đoạn tung khai lý lịch, hai nhà thơ chợt hét lên ôm chầm nhau trong một phút cảm ngộ tuyệt vời. Tôi còn ngơ ngác nhìn tìm hiểu, thì Phạm Trích Tiên cho hay khi nhắc đến gia đình, thì ra Vũ Hữu Định lại là con nuôi của người cô ruột Phạm Trích Tiên khi anh lưu lạc vào miền Tây khoảng tuổi thiếu niên. Thì ra mọi sự thế đều được an bày, có tránh được định mệnh đâu, mà phải thở than? Như trên chuyến đò ngang, kẻ thất phu cũng hiểu rằng giữa dặm trường vẫn còn tiếng gió sương vương vãi: “Chạnh lòng ngó chuyến đò ngang/ Tiếng kêu sương gió dặm đường quạnh hiu”.
Bản tính của Vũ Hữu Định là cả vì anh em, nên tôi chưa bao giờ nghe anh than phiền một ai, dù rằng trong đời sống phiêu lãng anh cũng gặp nhiều chuyện trái ngang thế thái nhân tình. Nhưng chỉ có một lần duy nhất, không biết Nguyễn Đức Sơn có thái độ ngang trái gì với chàng thi nhân gió bụi phong trần này, mà trong đời tôi chưa hề thấy cơn giận dữ nào khiến phủ lấp đầy vơi trên khuôn mặt luôn luôn nở nụ cười của Vũ Hữu Định. Ngày 29/07/1973 tại tệ xá, Vũ Hữu Định nghiêm chỉnh bày tỏ thái độ với Nguyễn Đúc Sơn trên một bức tâm thư, đích danh tranh luận chính kiến với danh dự của một kẻ sĩ…Tôi cũng không lạ gì tính khí trái trời của các chàng thi sĩ đầy vẻ độc tôn, để dành giựt ngôi vị bắc đẩu. Một việc làm nghi kỵ khiến đời sống chao đảo, đưa đẩy vào cái hư vị phù du, mà danh vọng chỉ làm bận lòng cho thơ. Tình cảnh Vũ Hữu Định trong giai đoạn cùng cực của nẻo sống, nên chỉ có danh dự là sự tự trọng chân thành. Anh trao tôi xem bản văn ngỏ với Nguyễn Đức Sơn, khiến tôi cũng buồn lây cho sự thế xáo trộn, thiện ác huyễn hoặc ẩn hiện giữa lớp người. Định tâm, tôi khuyên giải Vũ Hữu Định suốt hai ngày ròng rã, mới lấy được bản văn ngỏ lưu lại với thiên thu. Vũ Hữu Định thản nhiên bỏ lại những phiền toái sau lưng, lững thững lướt vào gió bụi. Bây giờ, thị phi không còn đọng trên nếp áo, nhà thơ chỉ biết nghiêng tai lắng nghe trời đất, vạn vật, để ôm cả buổi chiều rơi rụng vào thơ: “Anh có nghe bên đường tiếng chim kêu/ Con chim chi buồn chết cả buổi chiều”, hoang vu cô độc nhớ nhung chất chồng trên cả đường đi lối về, với: “Những con đường núi sâu hun hút/ Những phố đìu hiu không nhớ tên” và :“Thấy gì không giữa bao la?/ Bỗng nghe tim động nỗi nhà quạnh hiu.”
Bóng dáng khiêm tốn khi đứng vươn vai so bì với thiên địa, bản chất hạo nhiên lại là chân khí tuyệt diệu của thi nhân. Vũ Hữu Định thản nhiên trước mọi cuồng rối vây phủ chung quanh. Trong tâm thức chắc chỉ còn cô đọng một khối oan khiên cho riêng mình, mà nhiều khi số phận đã khiến nhà thơ trải lòng cảm ngộ với những bóng hình phủ chiếu xuống thân ta: “Chiều khó thở ngồi bên quán xếp/ Một miếng khô, một xị rượu nồng/ Nhai là nói với đời lận đận/ Uống là nghe sầu cháy long đong……Ta là khách, còn cô hàng là chủ/ Cũng có trong lòng một hố sâu.”
Trường đời dàn trải đầy nghịch cảnh gai góc, khiến suốt quãng đường đi qua của Vũ Hữu Định quay quắt như con vụ cuồng xoay. Cái điêu linh không thoát thành lời, họa chăng chỉ có thơ gieo từng hạt lân tinh trên đường phiêu bạt, đã làm cháy xém đi những tang thương chất chồng trên suốt một kiếp người…

Ngô Nguyên Nghiễm

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013