Thi Ảnh

Chu Tất Tiến

Hãy Quên Tôi Đi - Chu Tất Tiến

Chu Tat Tien

Em cho tôi một điều không dám nhận
Một mối tình bốc lửa giữa không trung
Một nụ cười thanh và ngọt vô cùng
Giọt nước mắt nghẹn ngào như tim vỡ

Em hỏi tôi, nghe rồi, không dám thở
Vì hồn tôi, bỗng choáng váng, mịt mù
Tưởng như mình đang lạc chốn sương mù
Tay chân mỏi, mắt bàng hoàng tìm lối

Em đưa tôi về cõi tuổi thơ chới với
Cõi hồn nhiên, tôi vẫn đợi từ lâu
Trong tim tôi, vẫn muôn triệu sắc mầu
Vẫn hồi hộp như ngày nao mới lớn

Nghe tiếng "Yêu", mà thấy như sóng dợn
Như ba đào xô đẩy, như cuồng phong
Làm cho tôi, ngơ ngẩn giữa đường
Tôi tự hỏi, mình là ai đây nhỉ?

Phải một thư sinh, với tình yêu bình dị?
Hay một người đang nao nức, đợi chờ?
Em đưa tôi vào một cõi mộng mơ
Với thèm khát, yêu đương, hoan lạc

Và tôi đó, bỗng một lần đổi khác
Bỗng bất ngờ, nhận thấy tôi lạ xa
Không còn ai với âm điệu hiền hòa
Không còn dáng một ai thường trịnh trọng

Tôi trẻ thơ, tôi nôn nao, mơ mộng
Được gặp em, một buổi, ngất ngây say
Bàn tay em, sẽ mang lại giấc đầy
Giọng nói ấy, sẽ bên tai, ngọt nhẹ

Nhưng,
Chợt đâu đây, có tiếng ai khe khẽ
Lạc đường rồi! Sẽ lạc mãi, không lối ra!
Em và tôi, hai thế hệ trẻ, già

Em miền Bắc, tôi ở Nam nóng gắt
Em và tôi, chưa trao nhau ánh mắt
Chưa bao giờ gặp gỡ, tay trong tay
Tôi chưa biết em, vai hạc? thân gầy?

Hay mộng mị, tóc dầy như sóng vỗ?
Vậy, làm sao nói tiếng "yêu" cởi mở?
Sao bên nhau, chung giấc mộng vô thường?
Nên cho dù, tôi cảm nhận tình thương

Vẫn không thể, không thể nào nhận được
Tình em yêu tôi, xin một lần từ khước
Để cho em sáng đẹp mãi trong tôi
Cho tình yêu của em, mãi vẫn trên ngôi

Long lanh quý, như ngọc trời hiếm lạ
Tôi chỉ mong em, chung quanh đầy hoa lá
Nụ hồng tươi luôn ngọt lạ trong tim
Tôi chúc em, sẽ vui thỏa kiếm tìm
Một nhân dáng sẽ cùng em mãi mãi

Vai sánh vai, trên bước đường còn lại
Em và "Ai" sẽ say đắm bên nhau
Chân thành trong tim, tôi chắp tay nguyện cầu
Cho hạnh phúc đến với em.. ngào ngọt.

Chu Tất Tiến

Sao Lại Yêu Quê Hương Đến Thê - Chu Tất Tiến

Chu Tat Tien

Ai trong chúng ta, những kẻ lưu vong, xa nhà lại không yêu quê hương? Ai không có những kỷ niệm đẹp về thời thơ ấu để nhớ, để thương? Những người thành thị chắc nhớ đến những khu phố ngóc ngách, những buổi tối lên đèn, tiếng xe xích lô máy gầm rú nửa đêm về sáng, tiếng “xực tắc” lẻ loi, lời rao hàng nghe như tiếng khóc của người bán hàng rong đêm... Người thôn quê nhớ đến giọt sương trải trên vườn bàng bạc, con giếng đầy ánh trăng, giọng ru em trong trẻo, và những câu hò lả lướt trên sông...

Còn tôi, một kẻ si tình, lãng mạn, yêu quê ngào nghẹn. Cứ nhớ đến quê hương, nước mắt lại rưng rưng và trái tim quặn thắt. Có lẽ, tại Mẹ tôi đã cho tôi ngắm cảnh đẹp quê hương từ những ngày còn thơ ấu.

Hồi đó, từ khi tôi mới lên 5 tuổi, Mẹ tôi luôn cho tôi đi theo Người trong những chuyến đi xa, lênh đênh qua nhiều vùng trên đất Bắc có rất nhiều huyền thoại. Rời Hà Nội đến Phủ Lý, qua Nam Ðịnh, tới Hà Ðông, Hà Nam, vào Hải Dương, đến Kiến An, rồi Bùi Chu, Hải Phòng... và nhiều địa danh tôi không thể nhớ hết. Chỉ biết rằng những hình ảnh núi đồi chập chùng sương khói, mầu đậm chen với mầu sương lam, những mảng vàng rực rỡ tràn qua các vùng trắng xóa, những làn sóng bạc nhấp nhô trên các tảng đá kỳ dị đen thẫm... đã khắc ghi những hình ảnh tuyệt vời vào trí óc non nớt của tôi làm tôi mê mẩn suốt đời. Nhất là vào một buổi chiều thu, đứng trước cửa sổ một căn lầu miền trung du nào đó, thấy một mảnh “Ðồi Thông Hai Mộ” với những thân cây mờ mờ ẩn hiện xa xa, trí óc thơ ngây của tôi như tê dại. Mảnh đồi xanh xám có hai ngôi mộ song song, chứa đựng một câu chuyện lãng mạn về một người tráng sĩ đã trúng tên, lảo đảo giục ngựa chạy về với người con gái đang chờ đón, rồi gục chết. Dì tôi, người chủ của căn lầu sương khói ấy, kể cho tôi hay, người thiếu nữ ấy, sau khi vuốt mắt cho nguời yêu thì rút mũi tên oan nghiệt kia mà đâm vào trái tim mình...

Nghe xong câu chuyện, tâm hồn tôi như bồng bềnh theo mây, như một làn gió nhẹ bay đến đứng trước hai ngôi mộ, và lặng lẽ cúi đầu... Tôi vẫn còn nhớ như in, Dì cho tôi đọc cuốn thơ nói về “Ðồi thông hai mộ” có trang sách dài và hẹp vẽ hình người tráng sĩ cưỡi ngựa giữa một vùng mờ mờ nhân ảnh và trang bên kia có người thiếu nữ tóc thả xuôi theo thân mình, ngồi nghiêng vai nhìn xuống chàng tráng sĩ đang gục đầu trên đùi. Mũi tên hờ hững trên lưng. Có lẽ, từ độ ấy, giòng máu lãng mạn và anh hùng của người tráng sĩ kia đã từ từ thấm qua trái tim non nớt của tôi để sau này, mãi mãi, tôi vẫn như dập dình trên vó ngựa.

Tôi cũng không thể nào quên được những ánh đèn bão chao đi chao lại khi mẹ tôi giục tôi bước nhanh xuống thuyền, buổi sáng chớm Ðông nào đó. Tiếng chân lội trong nước bì bõm. Tiếng người gọi nhau khe khẽ.
- Ðâu? Ðưa tay đây! Tôi nắm cho!
- Ðây, tôi đây này!
- Cẩn thận đấy, sắn quần lên chưa? Nuớc đục lắm đấy!

Rồi tiếng miếng ván gác từ bờ sông tới thuyền kẽo kẹt. Và mui thuyền đan bằng tre hiện ra trước mắt. Bên trong là tấm chiếu hoa chập chờn sáng dưới sự đu đưa của cây đèn bão khác được treo tòong teng trong mui thuyền. Tôi ngồi dựa đầu vào lòng Mẹ tôi, lắng nghe tiếng chèo khua nước lõng bõng đâu đây.

Qua một đêm với giấc ngủ bập bềnh, buổi sáng, mặt trời hiện lên rực rỡ. Những tia nắng vàng óng ánh tràn ngập chung quanh tôi. Ðược dìu lên ngồi trên nóc mui thuyền, tôi ngắm mê mải những cảnh vật trên bờ liên tiếp thay đổi. Các mái nhà nhỏ xíu xa xa. Bãi cát sát bờ sông cũng vàng rực, chan hòa trên các khóm cây, bụi cỏ. Bất chợt tôi thấy dưới chân một dẫy núi xa xa, một đàn ngựa non đang đùa giỡn tung tăng. Bỗng đâu, một chú ngựa non đứng thẳng trên hai chân sau, cất tiếng hí vang dài trong không gian vắng lặng. Tiếng hí của chú vang dội trong óc tôi như tiếng kèn đồng diễn hành ngày nào trên phố Hà Nội, nhưng độc đáo hơn, nhọn sắc hơn, xuyên thẳng vào tim tôi làm tôi chết lặng. Tôi say sưa ngắm bức tranh thiên nhiên đồng quê ấy đến nỗi người phu thuyền tôi lay tôi vài lần mới tỉnh.
- Ơ! Cái thằng bé này! Làm gì mà như mất hồn vậy? Mẹ đang gọi kìa!
Tôi bẽn lẽn đưa tay cho anh phu thuyền dìu xuống khỏi mui, nhưng mắt vẫn ngoái nhìn đàn ngựa tung vó xa xa.

Rời thuyền, tôi theo Mẹ đi xe kéo trong tỉnh lị nhỏ, đến nhà một ông cậu nào đó, leo lên gác, buớc qua tấm bình phong khảm xà cừ để thấy hai nguời đàn ông nằm bên khay đèn thuốc phiện. Khói thuốc vờn quanh một nguời phụ nữ trắng ngồi tiêm thuốc. Trên vách, một bức tranh tiên nữ Trung Hoa cũng đang lả luớt với những giải luạ uốn luợn và bộ xiêm áo xổ tung. Ngay đầu nằm cuả hai tiên ông, ba bốn chú tắc kè mập mầu xám trắng, đang say thuốc phiện, há mồm ngây dại hít từng luồng khói thuốc do hai ông tiên nhả ra. Ông cậu cuả tôi, thấy tôi mê mẩn ngắm mấy chú tắc kè, chỉ tay vào chúng, hể hả:
- Này, thích chưa? Thích thì cậu cho một con.

Rồi ông ngồi dậy, với tay lấy chiếc điếu thuốc lào cũng chạm trổ bằng xà cừ, nhét một nắm thuốc lào vào, châm lửa, rít một hơi say sưa. Ðoạn ông chu miệng thổi ra một làn khói dài cho bay mù mịt khắp căn phòng. Thở xong, ông mới nhìn tôi cuời:
- Này, nhưng cậu nói cho cháu biết, mấy con tắc kè đó hả, có các vàng, chúng nó cũng không chịu bỏ đi. Chúng nghiện còn hơn cậu nữa!
Ông cuời ha hả, thích thú một hồi rồi mới nhìn sang Mẹ tôi lúc đó, kiên nhẫn ngồi tiêm một miếng trầu cho vào miệng, nhai chậm rãi:
- Chị có hút không? Thuốc lào Nam Ðịnh đó. Không bằng thuốc lào Vĩnh Bảo cuả chị, nhưng cũng ngon tuyệt.

Mẹ tôi chỉ ậm ừ cho qua. Hai mẹ con ở đó chừng một buổi, ăn một bữa cơm gạo thơm với giò luạ, dưa cải, và thịt đông rồi lại ra đi vào sáng sớm. Khi bình minh chưa lên, Mẹ tôi dắt tay tôi đi về phía chợ. Cả ngôi chợ cũng còn đang ngủ. Chỉ có một gánh bánh cuốn nóng đầu chợ. Từ xa, tôi đã thấy gánh bánh cuốn nổi bật lên trong đêm vì ánh đèn treo đung đưa trên đầu quang gánh. Nguời phụ nữ bán hàng chít khăn mỏ quạ đon đả mời chúng tôi ngồi xuống trên hai chiếc ghế con con. Bà thoăn thoắt bóc từng lát bánh cuốn ra đĩa, cắt xoen xoét, rồi thả mấy lát gìo luạ lên trên, ruới nuớc mắm vào. Chao ôi! Chắc trên đời này không có món gì ngon bằng đĩa bánh cuốn nóng hổi đó, buổi sáng lành lạnh, suơng mờ, ánh đèn lung linh truớc một không gian còn đen thẫm, khuôn mặt nguời phụ nữ sáng bừng lên với nụ cuời tuơi nở, hai mẹ con yên lặng thuởng thức huơng vị thơm nồng cuả nuớc mắm, xuýt xoa với ớt cay, ngọt miệng với mầu trắng tinh nõn nà như luạ cuả từng lát bánh cuốn mỏng... Tôi chia tay với gánh bánh cuốn nóng sáng hôm đó như chia tay một tình nhân nhỏ bé như tôi, một cậu bé còn mắt tròn như hai viên bi thuỷ tinh xanh biếc.

Những kỷ niệm chập chùng trong tôi laị đưa tôi về lần đi “ca nô”, một loại phà cũ kỹ, trông như một cái hộp, không có giuờng, không ngăn, chạy ọc ạch, thở phì phò như nguời sắp chết, lẩn quẩn ven sông. Từ trên bờ xuống “ca nô” , hành khách phải buớc đi trên một tấm ván nhỏ, rung động duới từng buớc chân, đã bao lần hất hành khách văng xuống sông, khi có hai ba nguời cùng mang đồ nặng xuống một luợt. Mẹ con tôi vội vã kiếm đuợc một chỗ ngồi dưạ vào vách tầu xong là Bà mở túi lấy ra một gói cơm nắm nhuyễn như bột, vài lát gìo luạ, vài con tôm rang đỏ để ăn sáng. Hai mẹ con im lặng ăn trong khi khách đi thuyền thì ồn ào tìm chỗ lăn ra ngủ ngay trên sàn tầu. Họ nằm giáo đầu đuôi như cá hộp, chân nguời nọ đạp vào đầu nguời kia. Chỉ một lúc sau khi tầu rú lên một tràng còi ghê rợn, và xành xạch tách bến, có nguời đã ngáy khò khò. Ba bốn nguời bỏ bài ra đánh, cãi lộn um xùm.

Ăn xong, Mẹ tôi lấy ra một cuốn truyện, đưa cho tôi đọc. Hồi ấy, tuy mới học Tiểu học đuợc hơn một năm, tôi đã có khả năng đọc truyện làu làu. Mẹ tôi thích lắm, đi đâu cũng mang truyện theo và bảo tôi đọc cho Bà nghe. Những cuốn “Ðôi Bạn”, “Ðoạn Tuyệt”, “Nửa chừng xuân”, “Hồn buớm mơ tiên”, “Gánh hàng hoa”... cuả Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam... trong Tự Lực Văn Ðoàn, tôi đọc gần hết. Ðọc trên tầu thuỷ, đọc trên thuyền đinh, đọc cạnh võng nơi Bà nằm thiu thiu, đọc trên giuờng ngủ truớc khi hai mẹ con nhắm mắt... Tôi vừa đọc vừa nhập hồn vào cốt truyện. Ðoạn giận dữ, tôi cao giọng lên. Ðoạn tình tự, tôi nhỏ giọng xuống. Có lẽ vì đọc những câu truyện lãng mạn cổ điển kiểu xưa ấy từ khi trí khôn tôi mới mở, cho nên tâm hồn tôi, sau này cũng lãng mạn, cũng dở dở dang dang. Nhưng trên hết, tôi đã yêu quê huơng tôi từ dạo ấy. Tôi yêu những nhân vật cùng khổ, quanh năm suốt tháng lặn lội, long đong, chỉ kiếm đủ ăn mà không cần đủ mặc. Yêu anh thợ hồ, yêu chị bán hàng. Yêu những con nguời can đảm, dứt bỏ ái tình để theo sự nghiệp giang hồ. Yêu nhân vật Dũng, vai đeo đàn, tay xách túi, vạch lau lách buớc xuống thuyền, để lại sau lưng một cặp mắt thăm thẳm. Và thuơng đứt ruột khi nghe chị Lực thều thào: “Thằng Bò, Cái Nhớn, Cái Bé...Thôi, anh phải sống...” rồi chị lẳng lặng buông tay bám vào vai anh, để chìm duới làn nuớc lạnh lùng trôi xuôi...

Nuớc mắt tôi chan hoà, dàn duạ mỗi khi có con nguời bất hạnh gặp chuyện đau thuơng. Máu tôi sôi sục lên khi thấy nguời bị ức hiếp. Tôi căm ghét những bà Phán, Thầy Thông, Thầy Ký, Tri Huyện, Tri Phủ... những con mọt dân, những đưá, mà theo tôi, không “đáng giống nguời”... Cho nên, khi lên gần 10 tuổi, có lần mẹ tôi gửi tôi ở nhà một bà Phán để Bà đi buôn xa, tôi ghét cay ghét đắng con bé Liên, cũng nhàng nhàng tuổi tôi, con bà chủ nhà cho tôi ở nhờ. Mặc dù, bà Phán đối với tôi tốt như con ruột, một điều “con ơi, ra đây ăn bánh giò đi!”, hai điều “Cậu út cuả tôi đâu rồi?”... và con bé Liên, xinh đẹp, mũm mĩm, trắng nõn, thơm mùi con nhà giầu, lúc nào cũng quấn lấy tôi, nhõng nhẽo, tôi cứ lờ đi, khinh khỉnh. Ðể tránh đuợc cưng chiều từ mẹ đến con, tôi cứ cắm đầu vào đọc sách, tủ sách khổng lồ cuả ông Phán, không biết bao nhiêu là sách. Ðến khi bà Phán gợi ý muốn nhận tôi làm con nuôi, tôi dẫy ra, chống cự như điên.
- Này, cậu út nhé, cậu mà làm con tôi thì tha hồ muốn gì đuợc nấy nhé! Kẹo, bánh này! Quần áo này... Cậu lớn lên, tôi mua cho cậu cả chiếc xe hơi nữa! Tội gì theo mẹ đi buôn bán cực khổ như thế!

Những lời chào mời hấp dẫn thế, tôi lờ tuốt. Chỉ vì trong đầu tôi cứ hình dung ra những nguời mang tên “Phán” đều độc ác, đểu giả, lừa gạt ái tình như mụ Phán Phom trong “Số Ðỏ” cuả Vũ Trọng Phụng cả. Những tay truởng giả già thì một lũ giống như ông già mất nết, hết răng trong “chị Dậu”, đã bú sữa nguời rồi lại còn đòi làm bậy với chị nữa làm chị phải bỏ chạy ra đuờng trong một đêm tối trời như mực.

Cho nên, khi cái con Liên cứ dứ dứ cái kẹo Tây truớc mặt tôi, dụ dỗ, tôi phát bẳn.
- Ðằng í ăn kẹo không?
Tôi dấm dẳng:
- Chả í với éo gì cả!
Con Liên chu mỏ lên:
- Thế, đằng í muốn tớ gọi bằng anh à?
- Anh gì, anh đóng đanh lỗ đít!
Con nhỏ xụ mặt xuống, hậm hực phủi tay, rồi ngoe nguẩy bỏ đi.
Việc xin con nuôi vì thế mà bất thành. Mẹ tôi thì chỉ cuời nhẹ nhàng:
- Con có muốn làm con nuôi bà Phán không?

Tôi giận dữ, luờm mẹ tôi một cái dài dễ sợ. Mẹ tôi không biết rằng, ngoài tình mẹ con ra, tôi còn tình quê huơng chan chưá. Bà cũng không nhớ rằng, để thêm vào các cuốn truyện sách tôi đã đọc, chính Bà đã làm tôi mê quê huơng hơn khi Bà vẫn đọc thơ cho tôi nghe, những bài Giáo Huấn Ca, thơ vịnh các Thánh, và một số bài thơ “cách mạng” nói về một tay tri huyện theo Tây bị “cách mạng” giết, hoặc kêu gọi cải cách dân sinh... Lâu lâu, bà cũng đọc ít Kiều, hay Chinh Oán ngâm khúc, hoặc Chinh Phụ Ngâm, những đoạn bốc đầy hào khí.

Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt
Xếp bút nghiên theo việc kiếm cung
Thành liền mong tiến bệ rồng
Thuớc guơm đã quyết chẳng dung giặc trời
Chí làm trai dặm nghìn da ngưạ
Gieo Thái sơn nhẹ tựa hồng mao...

Tất cả những lời thơ ấy, cốt truyện ấy cùng bao nhiêu hình ảnh tôi gặp trên đuờng phiêu lưu đã gieo vào đầu tôi những ấn tuợng quê huơng khó quên. Ðể đến khi lớn lên, lại vì hoàn cảnh mà tôi bỏ nhà đi từ năm 17 tuổi, giang hồ trôi nổi trên những con tỉnh lộ Hậu Giang, Tiền Giang, nhìn lục bình trôi trên sông Sa Ðéc, ngắm Long Xuyên qua Bến Bắc đục lờ, ngồi bên bến Cần Thơ nhìn chiều chạng vạng xuống, nằm trong những khách sạn rẻ tiền nghe những cô điếm gấu ó, và nhất là khi đi qua những chiếc cầu khỉ chênh vênh, tôi lại thuơng đất nuớc hai miền Nam Bắc tha thiết. Ðể đến một ngày, tôi ngồi trên chiếc Mobilette cuả thằng bạn thân đến trình diện tại Sân Cộng Hoà, tình nguyện đi lính, rồi cũng tình nguyện chọn đơn vị là Cà Mâu hay Bến Hải, nhưng rất tiếc, giấc mơ đuợc đứng ở điạ đầu đất nuớc không thành. Cuộc sống lính tráng tôi không lênh đênh như ngày xưa còn trẻ. Rồi mất nuớc. Tù ngục. Vuợt biên. Càng ngày, quê huơng càng hiện rõ lên những mất mát, đau thuơng. Mẹ Việt Nam cũng như Mẹ tôi, điêu đứng, lênh đênh. Nên tim tôi, cho đến cuối cuộc đời, vẫn tràn đầy tình quê huơng ngào nghẹn.

Chu Tất Tiến

Vô Thường - Chu Tất Tiến

Chu Tat Tien

Sự giao thoa
Của những tần số
Giăng mắc trong không gian ba chiều:
Thương, Yêu, và Nhớ
Thơ
Từ đỉnh Hy Mã
Băng qua sông Seine
Từ Lạng Sơn, Chapa
Đến Kim Tự Tháp Ai Cập
Thơ chuyên chở tình tự
Trên thảm thần của Aladin
Thơ vượt nhà chọc trời
Xuyên qua căn gác cô đơn
Đậu trên nóc nhà tranh
Thơ nhìn lên ánh trăng
Tìm thần tượng
Thơ
Buổi chiều nghe lũy tre ca hát
Buổi trưa, nhìn mẹ ru con
Đẩy tiếng võng ru hời hợi
Buổi tối,
Tà áo em lả lơi
Lộ phần đời sữa ngọt
Thơ chạm khẽ tóc em
Thơ bảo:
Yêu tôi đi!
Thơ chạm vào mắt:
Hôn tôi đi!
Thơ
Ngủ say như đứa bé
Má hồng tươi
Môi nho ngọt lịm.
Thơ nhìn ra bờ sông
Có tiếng sóng nào tuyệt vọng
Vỗ mãi một âm buồn
Cho tôi một tiếng thở dài
Để tôi thành bão, vỗ hoài tim em
Cho tôi một cánh chim đêm
Chờ em mộng mị, làm mềm thân say
Ngủ đi, em, ngủ! Tay này
Ôm em quằn quại, thú đầy đau thương
Một mai đất gọi, vô thường
Ta còn một chút chiếu giường thơm em.

Chu Tất Tiến

San Jose Có Gì Lạ Không Em ? - Chu Tất Tiến

Có lẽ trong số dân trung niên, tầm tầm, rất ít người không biết đến câu: “Paris có gì lạ không, em?” Hồi ấy, nghe câu thơ này, tự dưng trong hồn thấy cơn lãng mạn dâng trào, con trai thì phải làm ngay một ly cà phê cho đã, hoặc “rít” một hơi thuốc lá cho tới tận cuống, rồi bâng khuâng nhả khói chầm chậm, nhẹ nhàng để làn khói bay lảng vảng trong không một lúc rồi mới tan đi. Còn con gái? Nho nhỏ thì  ôm lấy cuốn “Lưu bút ngày xanh” vào lòng, mắt lơ đãng nhìn vào những tấm hình bạn bè và những dòng chữ thân thương, để nhớ đến cánh bướm vàng khô ép trong cuốn vở trắng tinh, những lời gán ghép đỏ mặt,và những giây phút vui đùa rũ rượi bên nhau. Nhớn nhớn một chút thì cắn môi, tay vân vê những sợi tóc dài buông thả trên bờ vai, nhìn qua cửa sổ, hướng về phía cánh cửa nhà của “chàng” cách đấy không xa, lắng nghe tiếng đàn ghi-ta chập chững của chàng mà tơ tưởng đến một thành phố diệu vợi bên trời Tây biền biệt kia, có dòng sông Seine lờ lững uốn quanh phố thị như cánh tay của nàng Venus đa tình đang vươn ra, mời mọc.
   Nhưng rồi, thời gian qua, có dịp đến Paris, để thấy Paris chẳng có gì lạ cả! Y hệt như trong những tấm “carte postal” ngày xưa. Dù hai, ba chục năm trôi qua, Paris vẫn thế, vẫn nóc thánh đường cổ kính, vẫn tháp Eiffel xương xẩu, và những con đường chật hẹp chỉ đủ lọt một chiếc xe hơi và một chiếc xe đạp. Dân Paris đi làm, ăn mặc chững chạc, “complê, cravát”, nhưng tay lại cắp một ổ bánh mì dài thòng không  nhân, cuộn trong một tờ giấy vàng ố. Ðường xá nhiều xe, nhưng đa số là xe tàn và tắc xi, những anh tắc xi “chém” bạo hơn máy chém thời Robespiere, vừa bước lên xe đã thấy đồng hồ nhẩy vài đôla rồi; hỏi tài xế thì cho biết đó là tiền “baga”, nghĩa là tiền chở đồ! Vào tiệm uống cà phê thì coi chừng cà phê Paris làm loãng máu, vì giá dành riêng cho du khách được tính đặc biệt, uống xong một ly thì xây xẩm mặt mày, máu tan ra như nước. Nếu đói bụng mà muốn thưởng thức cơm Tầu, Paris đãi khách bằng loại hủ tiếu không thịt, chỉ toàn bánh và nước. Muốn có thịt, phải kêu riêng một tô thịt riêng, giá tương đương với tô bánh.  Paris chật hẹp, Paris không có nước xài thả giàn như ở Mỹ, dân Paris hai, ba ngày tắm một lần, nên nước hoa Paris bán đầy phố. Khách sạn Paris có hai loại: loại quyền quý, loại trung bình. Loại quyền quý thì không dám bước chân vào, sợ khi trả buồng, bước ra thì cụt cẳng. Loại trung bình thì chán phè, buồng chật, thang máy hẹp, phòng tắm bé tẻo tèo teo, nhìn khăn trải giường không dám nằm úp mặt xuống. Bởi vậy, Paris chẳng có gì lạ cả. Chắc thêm ba chục năm nữa, Paris vẫn là một vũ nữ về chiều, ngồi trên ghế đá, lắc lư đầu nhìn khách vội vã bước qua.
  Trong khi đó, thì tại Tiểu Bang miền viễn Tây này, có một thành phố mà lúc nào lên chơi cũng thấy lạ: San Jose!
  Từ  Orange lên miền Bắc, xe vượt qua những con đèo ngoằn ngoèo, rồi tới một khoảng dài xa lộ mà chỉ có một “lane”, đi ban đêm, tim đập thình thịch, chỉ sợ vừa quẹo ra là thấy lù lù một chiếc xe tải khổng lồ đâm sầm tới. Và những khúc xa lộ chạy trong thành phố, những vườn nho lẩn giữa những trang trại kiểu xưa đột ngột biến hiện trong những tòa nhà đang xây cất hiện đại. Rồi thung lũng hoa vàng từ từ hiện ra, rất sương khói, rất mờ nhạt, và rất lạ. Xa lộ cũng từng ấy “lane” mà hình như khác với xa lộ Orange, không diễn tả được. Cũng kẹt xe, cũng xe cộ nối đuôi nhau, nhưng một khi vào tới xa lộ San Jose rồi, thì cảm giác lâng lâng sao đó, không còn cảm thấy sự căng thẳng của lái xe lâu giờ, không thấy “road rage” làm muốn chửi thề liên tục, không thích bấm còi dầu người bên cạnh lái ẩu, mà chỉ muốn tha thứ, muốn mỉm cười với người không quen. Sao vậy, nhỉ? San Jose có chi lạ mà mỗi lần lên, lại như trẻ hẳn ra? Quán ăn San Jose cũng bàn, cũng ghế, cũng phở, cũng bún bò Huế, cũng hủ tiếu, cơm tấm, nhưng hình như bà chủ San Jose dễ thương hơn, tươi mát hơn, nên thức ăn có vị đậm đà hơn.
  Quán cà phê San Jose buổi sáng vắng hoe, không ồn ào như Orange, nên thưởng thức một ly nong nóng vào lúc sương còn lảng vảng trong hồn, thấy như cà phê San Jose độc nhất vô nhị. Trong cà phê có pha sương, trong sữa đậu nành có chút gió, trong tô phở có nụ cười. Giá sống ở đây trắng nuốt như nàng sơn nữ Phà Ca, rau răm ở đây nhấp nháy như cặp mắt ai Quan Họ. Aên uống ở đây, tình tứ và lãng mạn hơn Paris  nhiều.
  Buổi tối, lái xe đi vòng vòng thành phố, thấy San Jose như cô thiếu nữ kiều diễm, nửa Tây Phương, nửa Châu Á, thay đổi mầu áo từng giờ, từng phút. Những quán sách, dĩ nhiên ít sách hơn ở Orange, nhưng lại cám dỗ vô cùng. Những chợ, những quán “to go”, dĩ nhiên nhỏ hơn Orange, nhưng lại đầm ấm hơn, thân thiết hơn, bước vào chỉ muốn mua một chút gì đó, rồi tần ngần bước ra, muốn để một chân lại trong cửa. Hình như khí hậu ẩm ẩm, lành lạnh làm cho San Jose có một không khí lúc nào cũng lạ.
  Như thế, đến San Jose rồi là không muốn về, dù San Jose đất chật, người đông. Nhất là một hôm, San Jose tặng cho một kỷ niệm đẹp, mãi mãi không quên. Chiều Chủ Nhật ấy, San Jose mưa như mưa tháng Bẩy, người Orange đi lễ tại một ngôi nhà thờ cổ kính nằm giữa lòng thành phố. Orange đậu xe lại, giương dù định bước ra, chợt thấy ngay bên cạnh, San Jose cũng vừa đậu xe, mà ngập ngừng nhìn lên trời, đếm những hột mưa ào ào rơi xuống như những sợi chỉ thủy tinh trắng trong. San Jose quên dù ở nhà mất rồi! Orange suy nghĩ trong một giây, rồi bước đến cạnh xe San Jose, gõ cửa nhè nhẹ, rồi lấy tay chỉ chỉ vào cây dù. Cặp mắt nai San Jose mở to, ngần ngại trong giây lát rồi khép nhẹ. Cánh tay nhẹ nhàng đưa xuống mở cửa. Cây dù của Orange nghiêng vào, che mái tóc, rồi che cho cả chiếc váy đen dài của San Jose. Từ ấy, dưới mái dù ấy, chân Orange và San Jose đi cạnh nhau, tránh vũng nước này, nhẩy lên viên gạch nọ, lách qua bụi cây, bước lên thềm giáo đường. Tới dưới mái hiên, dù gấp lại, và nghe rõ tiếng cây dù thở dài. Sao mưa không tạt vào ướt cả thánh đường để dù được giương lên mãi? Dù bâng khuâng, và ráng mỉm miệng cười khi nghe tiếng “thanks” nhỏ nhẹ, ngân vang trong lòng dù.
  Thánh lễ hôm ấy hình như dài hơn mọi hôm. Cha giảng hình như hơi nhiều, người ta chịu lễ hơi đông. Và rồi, chờ mãi thì cũng thấy lễ tất. Bước ra khỏi cửa, gặp ngay cặp mắt San Jose đang đứng chờ. Vẫn lặng lẽ, không một lời chào, không một gật đầu, dù giương cao, che cho mái tóc San Jose khỏi ướt, và lại trở lại con đường cũ. Không, không phải, đường này sai rồi, tại cây dù lúng túng nên đi lạc rồi, không thấy xe đâu. Hay Orange cố tình đi lạc? Không phải đâu, Orange đang cố dõi mắt tìm xe chứ! Ðây, đây rồi. Xe San Jose đậu cạnh xe Orange đây. Cánh cửa mở ra, San Jose bước vào và ngước lên nhìn. Mắt San Jose mở lớn đến nỗi Orange thấy cả mình trong đó. “Thanks.” Tiếng nói thứ hai và là tiếng cuối cùng. Xe San Jose từ từ chuyển bánh. Orange bỗng tự nhiên thấy mình già hẳn. Mới phút trước là chàng thanh niên trung niên, hùng tráng, mạnh bạo; chỉ phút sau, chân đã lập cập kiểu ông già tám mươi, tay rung rung cắm chìa khóa mãi mà không vào, đóng cửa mãi mà không kín, “đề” mãi mà xe không nổ máy làm nước mưa tung tóe vào, ướt cả tóc tai... Tự dưng, Orange muốn ngâm câu thơ cuối của một bài thơ xưa: “Orange ơi! Hồn ở đâu bây giờ?” nhưng thấy một câu thơ không đủ, người Orange bèn phải viết nguyên một bài thơ tặng cho San Jose như sau:
 
San Jose có gì lạ không, em?
 
San Jose có gì lạ không, em?
Hình như, ở đó, tóc em rất mềm
Hình như gió núi làm em mỏng
Ðêm lạnh, thở dài, bỗng lạnh thêm.
 
San Jose có gì lạ không, em?
Cà phê buổi sáng chưa đã cơn thèm
Nhìn qua cửa sổ, như chim sâu nhỏ
Nửa muốn nằm vùi, nửa muốn bay lên
 
San Jose có gì lạ không, em?
Quán xá về khuya, khách ngồi như thiền
Thinh lặng ngó hồn theo dòng nhạc
Thơ thẩn về nơi rất thân quen
 
San Jose có gì lạ không, em?
Chủ Nhật, mưa bay, đi dù rất hiền
Chân “ma sơ” chạm chân trần thế
Anh bỗng thèm một vòng lưng êm
 
San Jose có gì lạ không, em?
Giữa ban ngày mà lòng như đêm
Giọt mưa hôm ấy còn lành lạnh
Cánh cửa nào đã khép lại hồn em?
 
Và San Jose lúc nào cũng lạ
Người tình lúc nào cũng lãng đãng xa
Ðến hoài mà vẫn như tờ giấy trắng
Chưa nụ hôn nào nóng bỏng môi ta…
 
 Xin Đừng Yêu Tôi  
 
Như tiếng gọi của lá cây buổi tối
Như lời ru của gió lúc hoàng hôn
Như bài ca chim hót một chiều buồn
Tôi muốn nói:
Xin đừng yêu tôi nữa
Những lớp sóng mặt hồ đang lặng lẽ
Xin đừng dâng làm thác chẩy tràn bờ
Những trưa hè đang bình lặng, đơn sơ
Xin đừng vẳng tiếng ồn ào đất lở
Tiếng trái tim đập nhanh hơn nhịp thở
Đã phập phồng như muốn vỡ không trung
Xin đừng cho tôi giọng nói ấm vô cùng
Thôi, em! Thôi!
Tôi và em,
Xa xôi lắm, không bao giờ gặp gỡ
Hãy để yên, minh tuy cùng thở
Nhưng, bao nhiêu ngăn cách trùng trùng
Và, xin đừng quên, tuy Chúa bao dung
Nhưng tội lỗi, khó được Người tha thứ
Vậy, thôi, đừng yêu tôi,
Đừng yêu tôi, em nhé..
 
Chim Hót Trong Lồng         
                                                        
Ngày Tết, đi tản bộ dòng dòng quanh các chợ Hoa Bolsa, bất ngờ gặp Thầy Tư Bolsa cũng đang ngao du quanh mấy chậu hoa. Người viết vội khom người cúi chào:
-Cha chả! Hôm nay Thầy Tư hưỡn đãi dữ? Không ở nhà với Cô Tư nấu bánh tét như mọi năm ư?
Thầy Tư nhướng cặp kính cận lên:
-Nấu hôm qua rồi. Hôm nay đi ngắm hoa.
Người viết cười tủm:
-Ngắm hoa chi? Hoa biết nói hay hoa không biết nói?
Thầy Tư hỉnh mũi lên:
-Tao đâu có còn trẻ như mày đâu mà ngắm hoa biết nói! Ngắm hoa thiệt sướng cặp mắt hơn. Thời buổi này, hoa biết nói nó lạng quạng lắm. Một là nó mê mày, hai là nó chê mày. Không có thái độ đứng giữa, nghĩa là không có thành phần thứ ba.
Người viết cười hì hì:
-Thầy Tư Bolsa đã sấp xỉ bẩy bó rồi, mà còn lanh miệng chán! Thôi thì mời thầy đi cà phê “Quên Đi’ làm một phát cà phê chơi.
Thầy Tư Bolsa lại hỉnh mũi:
-”Dĩ Vãng” tao còn không tới nữa là “Quên Đi”! Quên làm quái gì! Nhớ thì sướng hơn chứ! Người mất trí nhớ thì còn chi là người!
Thấy Thầy Tư hôm nay hơi cộc cằn, có lẽ Thầy Tư mới bị Cô Tư quạt cho một vố. Thế thì đành rủ Thầy Tư hôm nay làm một ly cà phê ở tiệm cà phê nhạc... Thầy Tư nhận lời liền.
Hai thầy trò bước vào quán nhạc hơi vắng khách. Có lẽ tại cà phê không ngon. Nhưng không sao, cứ thử xem.
Cô chủ quán bật nhạc theo ý Thầy Tư. Thầy có vẻ như khoan khoái lắm, ngồi dựa ngửa người theo tiêng nhạc.
Hôm nay được nghe bản nhạc “Cô Láng Giềng” trong cát-sét do một ca sĩ nam Bắc kỳ thượng thặng hát : “Hôm nay, trời xuân bao tươi thắm, dừng gót phiêu lưu về thăm nhà, tôi bước trên con đường đầy hoa..”, người viết thấy “phê” quá. Giọng anh ca sĩ  này nghe sao mà ngọt, mà ấm áp, làm người nghe tưởng chừng đang lững thững xách cây đàn ghi ta đi trên một con đường quê, có bướm vàng lượn quanh, có sáo diều vi vút, và những lữy tre xanh mượt mà vươn mình trong gió. Rồi cũng từ những câu hát muợt mà đó mà nguời nghe thấy cả một trời lãng mạn thuở nào trở về, những mơ mộng cuả chàng trai mới lớn về những thoáng mắt ai lấp ló bên kia rào, về một bóng dáng thuớt tha vừa luớt qua cánh cửa sổ mở rộng, về một tràng cuời khúc khích nghe vưà ngọt vừa thanh như  khi cắn vào một quả mận Đà Lạt mới chín đỏ. Bất ngờ, đang chơi vơi với mộng với mơ, chợt tim người nghe thót lại, làm bật dậy, ngơ ngác như vừa bị ai đó đánh một cú đấm trúng tim. Tiếng hát của anh ca sĩ vang lên: “Cô Lán Giền ơi! Không biết cô còn nhớ đến tôi..” Trời đất! hát gì mà kỳ dậy, anh hai? Tiếng Việt làm gì có “Cô lán giền”! Chỉ có “Cô láng giềng” thôi! Hay là tại băng bị hư? Hay là tai mình bắt đầu... lãng?
Thầy Tư hình như cũng cùng một tư tưởng. Thầy ngồi thẳng người lên, giơ tay ra hiệu:-Ngừng lại! Ngừng lại! Quay lại, nghe lại!
 Hồi hộp... Giọng ca trầm ấm kia lại cất lên: “Cô .. lán.. giền.. ơi... !” Thôi rồi, không biết anh chàng này bị lai tiếng nuớc nào đây? Mỹ lai thì không phải? Tây lai? Lào lai? Camphuchia lai?
Người viết bực dọc:
-Thầy thấy chưa? Chán nản quá! Trời ạ! Tiếng Việt mình đâu đến nỗi tệ vậy. Nghe mà bắt cái mình!
Thầy tư lẩm bẩm như nói một mình:
-Chưa hết đâu. Mày mà nghe mấy cô ca sĩ ký-điệu hát thì còn bực hơn nữa. Rồi thầy Tư kể:
-Hồi trước đó, tao đang say sưa nghe mấy cô ca sĩ Bắc kỳ hát một bên Tân Nhạc cũng viết bơỉ mấy anh nhạc sĩ  “ăn cá rô cây”, mà tự dưng cô ca sĩ lại nhái giọng nguời Nam để ngân lên rằng: “Những chiều hôn có em, phố nhỏ buồn hoan vắn..” hay “thuơn.. em thì thuơn.. rất nhiều mà duyên kiếp lỡ làn rồi!” ,tao nổi cơn giận quá! Nguời ta thuờng nói: “chửi cha không bằng pha tiếng!” Hát tân nhạc Bắc thì cứ hát cho đúng chữ,  đâu có sao đâu mà không hiểu lý do gì cứ phải uốn giọng đi một cách kỳ cục như vậy? Đâu có hay hơn hay hấp dẫn hơn? Nguợc lại là đằng khác.
Rồi thầy Tư giận dữ nói luôn một hơi:
-Thông thuờng, với những bài hát có tính cách dân ca Nam Bộ, hay sáng tác tân nhạc nhưng theo kiểu Nam Bộ như  “còn thuơng rau đắng mọc sau hè”ø, “chiếc áo bà ba”.. thì những chữ hát cắt xén như thế đó cuả nguời Nam lại rất “tình”, rất lãng mạn, mà nếu hát đúng văn phạm lại đâm ra khô khan và không diễn tả nổi cái dễ thuơng cuả những câu tình tứ cuả nguời Nam! Những bài tình ca đuợc trai gái hát ở trên sông rạch miền Nam, hát trong những dịp hội hè, hát trong chuơng trình cải luơng, tuồng cổ, hay những bài thuần tuý miền Nam mà hát “không” là “không” sẽ chẳng thể hay bằng hát chï “khơng” thành “hôn” hay “hông”.  Như  câu “hổng biết ăn có thuơng em hôn?” nghe rạo rực và mát lòng, trong khi nói “không biết anh có thuơng em không?” nghe khô khan và chán ngắt. Nhiều bài ca khác diễn tả cảnh đồng quê miền Nam thì bắt buộc phải hát lai giọng Nam Kỳ, nghe mới thật là đã. Đối lại, với những bài hát “Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh..” mà hát thành “Làn tôi có cây đa cao ngất từn xanh”, hay hát rằng “từn là từn là khi không mà có..”, hoặc “từn cho không, biếu không..” thì thật là quái đản. Chữ  “từn” trong câu truớc nguyên gốc là “từng”, hai chữ sau nguyên gốc là “tình”, khác nhau thật xa, không thể nhập nhằng đuợc. Dĩ nhiên cũng có truờng hợp ngoại lệ, chẳng hạn như câu: “Ai cho tôi tình yêu..” mà hát là: “Ai cho tôi từn yêu..” có thể chấp nhận đuợc, nghe thấy dễ thuơng nếu cô ca sĩ là nguời Nam thực sự, không phải Bắc Kỳ giả giọng.
-Thế thì... Thầy có thể cho biết tại sao mà mấy anh, chị ca sĩ cứ phải đổi giọng như vậy không?
-Tao cũng không biết! Tao chỉ biết có nhiều nguời hát tiếng Bắc mà không dám buông những chữ  “g” ở sau cùng, hình như sợ nếu buông chữ “g” xuống thì xui xẻo hay sao ý.  Cho nên họ hát “thuơng” thì hát bằng “thuơn”, “tháng” thì hát bằng “thán”, (Bây giờ thán mấy rồi hỡi em?), vànhư  truờng hợp ở trên, “láng” đổi ra “lán”, “giềng” lại thành “giền”.. Nghe muốn phát sùng luôn! Hát vậy thì thà làm luôn một hơi “lói thì nắm, nàm thì nuời, nàm không chất nuợng mà cứ đòi ăn lo” cho nguời nghe biết rằng mình đang biểu diễn một bài hát Bắc kỳ, theo giọng nguời “quan họ Bắc Linh” cuả chúng em cho rồi!
Thầy Tư làm một hơi cà phê rồi tiếp:
-Ai cũng biết rằng một khi đã thành ca sĩ là phải mất bao nhiêu thời gian tập luyện, sáng trưa chiều tối, hát thử giọng xem có hợp với bài hát hay không, rồi mới tập hát cho thuộc, thuộc rồi, phải tập cho điêu luyện, cho ngọt ngào, xong lại tập với giàn nhạc. Như vậy thì thời gian tập một bài phải nhiều lắm, thì dứt khoát không thể quên sót, lạc giọng đuợc, và nếu có những sai sót trong cách phát ầm thì cũng dứt khoát là do ca sĩ cố tình tạo ra như thế. Vậy tại sao lại biến đổi chữ Việt trong cách phát âm theo kiểu như thế đó để làm gì? Phải chăng là làm điệu cho khác nguời? Nhưng làm điệu mà làm cho nguời ta say thì tốt, còn nguợc lại, điệu rơi điêụ rụng như thế chỉ làm cho nguời nghe hết hồn hết “diá”, chạy vắt giò lên cổ.
-Chu choa! Thầy Tư hôm nay nÕổi hứng-Tết hay sao mà lên lớp dữ quá?
-Lên lớp cái gì đâu? Tại bực cái mình! Để tao nói luôn cho mày nghe. Nói về hát sai, lại không thể không nói đến nhiều truờng hợp hát đổi “anh” thành “em” và nguợc lại. Có những bài hát dành cho nam ca sĩ hát mà thôi, nếu nữ ca sĩ hát mà đổi lời thì nghe rất quái. Chẳng hạn như câu: “Tôi yêu ly trà và điếu thuốc..” phải dành cho một giọng đực hát thì hợp lý thôi, đàn ông đa số uống cà phê, trà, và hút thuốc, nhưng một cô ca sĩ mà hát “tôi yêu đi dạo, uống trà, và hút thuốc” thì.. chắc mấy cậu đang say mê thần tuợng phải bỏ chạy xa. Bài “em đến thăm anh một chiều mưa” cũng chỉ dành cho nam giới. Tuởng tuợng một chiều “mưa dầm dề, đuờng trơn uớt tiêu điều” mà em lội mưa tới thăm anh, sao mà lãng mạn quá sức đi thôi. Đổi lại, nếu một cô đứng nhìn anh lội mưa tới thăm em, tầm lãng mạn bị giảm đi một nửa, và nếu “em uớc mong một chiều thêu nắng, anh đến chơi quên niềm cay đắng và quên đuờng về..” thì đúng “gu” cuả các chàng rồi, chàng khoái chí tử đi chứ, chả cần em mời lần thứ hai, nhào dô liền một khi, em văn minh tân kỳ quá trời, còn chi là lãng mạn theo ý tác giả nữa! Có nguời lại còn bạo gan hơn, hát rằng: “Tôi đến thăm em một chiều mưa..” Trời ơi là trời!
Tuy nhiên, đổi lời như vậy cũng chưa ghê bằng đổi nhịp điệu cuả các bài nhạc cũ có tính chất hơi cổ điển. Một truờng hợp khá phổ biến trong làng âm nhạc sau này là dùng những bài nhạc cũ nhưng chơi theo điệu giật cuả thời đại mơí. Bản nguyên thuỷ là “Slow”, chơi theo nhịp chậm 4/4, nghe dịu dàng và đã lọt vào tủ trí nhớ cuả những nguời trung niên đến cao tuổi rôì, tự nhiên chế lại “cha cha cha”, thành “paso”, thành nhịp 2/4 giật lắc như điên, nghe ghê cả nguời. Đáng lẽ những lời tình tứ lãng mạn của những tâm hồn đang yêu đuợc thổ lộ ra duới âm điệu nhẹ nhàng, lại bị nhạc giật biến thành những câu hùng hổ, mất hết ý nghiã. Tỷ dụ  câu  “em nhé! mình yêu nhau muôn đời!” khi đuợc hát nhẹ nhàng, nghe như lời thủ thỉ cuả hai kẻ e lệ yêu nhau thì dễ thuơng biết bao nhiêu, nhưng khi đuợc tiếng trống đánh phụ hoạ um xùm, tiếng đàn “bass” giật đùng đùng, anh ca sĩ  nhẩy loi choi, phồng mang trợn mắt lên hát: “EM NHÉ! NHÉ!  MÌNH YÊU NHAU MUÔN ĐỜI! ĐỜI!”, chẳng khác gì một câu hăm dọa “cô mà không yêu tôi thì cô chết với tôi! Tôi sẽ vác súng tới nhà cô, phơ cho cô một phát nát thây!!!”
Người viết cười ha hả. Thấy Tư đệm nốt câu cuối cùng:
-Âm nhạc vốn là phuơng tiện để giải trí, là một loại hình sinh hoạt tinh thần cần thiết cho đời sống con nguời vốn khô khan, vốn căng thẳng. Không có âm nhạc, đời sống chán ngắt, tẻ nhạt. Cho nên, vai trò cuả âm nhạc rất quan trọng, không nên dùng âm nhạc như  một dụng cụ để phô truơng cá tính cuả mình, để “giật le”, cũng không nên làm giảm giá trị cuả âm nhạc bằng cách biến âm nhạc thành phuơng tiện chọc cuời thiên hạ.    
Rồi Thầy Tư lại cười:
-Tao nhớ có một lần nghe kể chuyện một anh giám khảo cuộc thi hát kia khó tính quá! Có một cô thí sinh cũng hát cái kiểu bỏ chữ “dê” dưới, bị anh ta tương ngay một câu: “Cô hát điệu quá! Mà lại hát bỏ chữ “dê” dưới nữa! Tôi hỏi cô, nếu phải hát câu chim hót trong lồng thì cô hát làm sao? Cô kia mới đầu đứng đực ra, lẩm nhẩm một phút rồi tự nhiên đỏ mặt, ù té chạy vê nhà, méc mẹ!
Nói xong, Thầy Tư cười muốn sặc. Người viết cũng muốn tắc thở luôn. Phải bỏ chạy về nhà, nhưng vừa đi vừa lẩm bẩm: chim hót trong lồng, chim hót trong lồng! Ha ha ha!

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013