Thi Ảnh

Điệp Mỹ Linh

Nụ Hôn Muộn Màng - Điệp Mỹ Linh

Diep My Linh 001

Nhìn thẳng vào mắt Kelly, Mai -Trâm lắc đầu:
- Tôi không thể ký được. Tôi phải hỏi ý kiến luật sư của tôi.
- Nếu cô muốn hội ý với luật sư của cô thì chiều nay cô có thể nghỉ sớm để gặp luật sư của cô; bởi vì, ngày mai cô đến đây mà cô chưa ký thì cô sẽ không được vào phòng làm việc.
- Cô xử ép tôi. Nếu tình thế đưa đến như cô nói thì tôi xin gặp ông Sếp của cơ quan này, ngay chiều nay.

Kelly nhấn nút điện thoại. Vì lịch sự, Mai-Trâm bước đến cửa để khỏi nghe cuộc điện đàm. Chỉ một thoáng thôi, Kelly gọi:
- Cô Nguyễn! Ông Lee đang có mặt tại văn phòng của ông ấy; cô có thể lên gặp ông ấy ngay bây giờ.
- Ông Lee nào? Tôi muốn gặp ông Heinline, Sếp của cơ quan này.
- Ông Heinline đi rồi. Ông Lee vừa thay thế ông Heinline cách nay mấy hôm.

Vì tính ít trò chuyện với mọi người, Mai-Trâm thầm ngạc nhiên, nhưng không nói. Vói lấy mảnh giấy bị Kelly “buộc tội”, Mai-Trâm nói “Cảm ơn” rồi quay ra cửa.

Nghe tiếng gõ cửa, Lee vẫn chăm chú nhìn vào computer và nói:
- Vào đi.
- Chào ông Lee.
Lee ngẫng lên. Vừa thấy Mai-Trâm, Lee thoáng giật mình, nhíu mày. Mai-Trâm cũng hơi ngỡ ngàng vì thấy Lee trông quen quá. Lee tiếp, bằng tiếng Việt:
- Chị làm ơn đóng cửa lại.
Sau khi Mai-Trâm đóng cửa, Lee hỏi:
- Có phải chị là chị Mai-Trâm, ngày xưa học…
Lee chưa dứt câu, Mai-Trâm đã nhớ ra:
- Còn anh là Lê Bảo Toàn, ngày xưa đàn guitar và piano trong ban văn nghệ, đúng không?
- Chị cũng là một “cây xanh giờn” chứ đâu có vừa.
- Bỏ hết rồi!
- Tại sao bỏ? Bỏ cái gì?
- Chuyện dài dòng lắm. Còn anh chị, “lên chức” Nội Ngoại gì chưa?
- Chuyện của chị dài dòng thì chuyện của Toàn cũng không thể ngắn được. Bây giờ mình giải quyết chuyện Kelly trước, nha. Mời chị ngồi.

Nghe Toàn xưng tên như ngày xưa, Mai-Trâm thầm vui. Sau khi nghe Mai-Trâm trình bày sự việc, Toàn cười:
- Toàn nghĩ chị không phải là người đầu tiên rơi vào tình cảnh này. Hiện tại kinh tế khó khăn, mấy tam cá nguyệt vừa qua công ty vẫn lỗ lã cho nên họ tìm cách để nhân viên thâm niên tự xin nghỉ việc, công ty khỏi phải trả tiền thất nghiệp và họ sẽ thuê người mới, trả lương thấp hơn. Đó là một cách tiết kiệm cho công ty chứ không phải Kelly có ý xấu với chị.
- Như vậy là không công bằng.
- Toàn sẽ giải quyết trường hợp của chị một cách công bằng; vì những điều chị đòi hỏi để việc làm của chị được kết quả tốt là những điều rất quan trọng để bảo đảm cho công ty sau này, nếu chẳng may, công ty bị kiểm kê.
Toàn xoay người, chỉ vào computer, tiếp:
- Toàn đã đọc hồ sơ cá nhân của chị; chỉ khổ một điều là tiếng Anh không có dấu mà mấy ông bà Mỹ lại không viết chữ đệm “Mai” cho nên Toàn không nghĩ Tram Nguyen là chị. Toàn nhận thấy tìm được một nhân viên làm việc chăm chỉ, có kinh nghiệm như chị không phải dễ. Một lý do khác là, sau mấy mươi năm bặt tin, nay gặp lại chị, Toàn rất vui mừng vì Toàn được sống lại những ngày hồn nhiên của thời được bạn bè tặng biệt danh là “Toàn Antique”.
Mai-Trâm và Toàn cùng cười.

Ngày xưa Mai-Trâm được nhiều nam sinh để ý vì nàng đẹp, hiền, phong cách quý phái, nghiêm trang. Toàn được nhiều học sinh đặt biệt danh “Toàn Antique” vì Toàn “cả gan” theo đuổi và không cần che dấu sự say mê của Toàn đối với Mai-Trâm – người học trên Toàn ba lớp và lớn hơn Toàn ba tuổi.

Bây giờ gặp lại và được Toàn hứa sẽ giải quyết công việc một cách tốt đẹp, Mai-Trâm rất vui, chào “Mr. Lee”, trở về bàn làm việc của nàng.

Chiều, trên đường lái xe về nhà, trong khi Mai-Trâm bùi ngùi nhớ lại mảnh giấy nhỏ, chữ viết rất nắn nót “Je t’aime”, phía dưới ký tên Toàn, được gắn nơi ghi-đông xe đạp của nàng thì điện thoại cầm tay reng. Nàng nhấn nút speaker rồi “Allo”. Tiếng Toàn:
- Mọi việc đã giải quyết xong. Mai chị cứ vào làm việc bình thường, xem như không có gì xảy ra cả, nhé.

Theo luật lệ của công ty, Mai-Trâm nghĩ câu cuối cùng của Toàn gồm hai phần: Phần đầu, không có gì rắc rối với Kelly; phần sau: không có gì xảy ra giữa Mai-Trâm và Toàn, nghĩa là cả Toàn và Mai-Trâm đều không nên để nhân viên trong sở nhận ra tình bạn ngày xưa giữa hai người.

Tự dưng Mai-Trâm cảm thấy buồn buồn. Sang Mỹ, bạn của Mai-Trâm ai cũng đi học lại, chỉ riêng Mai-Trâm thì phải đi làm ngay; vì Nhuận – người chồng mà Mai-Trâm vừa ly dị – ngày xưa cũng như sau 1975, không cho nàng đi học. Số vốn văn hóa và kiến thức mà Mai-Trâm có được là nhờ Cha Mẹ của nàng nuôi nàng ăn học cho đến khi Nhuận cưới nàng!

Sự thua thiệt và những cay đắng, khổ lụy trong đời làm vợ lúc nào cũng được Mai- Trâm âm thầm chịu đựng và che dấu; vì nàng nhớ lời Cha Mẹ dạy “Xấu chàng, hổ thiếp!”Do đó các con cũng như bằng hữu không ai biết gì về bề trái của Nhuận. Ngược lại, Nhuận mặc cảm và nghĩ rằng nhiều người đã hiểu rõ con người thật của chàng cho nên Nhuận thường bịa những chuyện không đâu về Mai-Trâm để nói với các con và với mọi người; chỉ với mục đích làm cho mọi người không có cảm tình với nàng. Vì vậy Mai- Trâm thích sống thầm lặng, không muốn giao thiệp với ai cả.

Sự gặp gỡ bất ngờ với Toàn chiều nay khiến Mai-Trâm nghĩ ngợi mông lung. Không biết gia cảnh của Toàn hiện tại ra sao? Toàn nhắc đến biệt danh “Toàn Antique” với dụng ý gì hay chỉ là vô tình? Sự cách biệt giữa Sếp lớn và nhân viên khiến Mai-Trâm nghĩ rằng nàng khó có cơ hội tìm hiểu.

Như để trả lời những thắc mắc của Mai-Trâm, sau khi nàng ăn tối xong, điện thoại reng. Mai Trâm “Allo”. Giọng của Toàn:
- Lúc chiều Mai-Trâm đi về có bị kẹt xe không?

Nhận thấy Toàn không dùng chữ “chị” nữa, Mai-Trâm thoáng lưỡng lự rồi đáp:
- Dạ, cảm ơn Boss, không bị kẹt xe. Còn Boss có bị kẹt xe hay không?
- Cho xin chữ Boss đi.
- Vậy thì gọi là Mr. Lee, được không ạ?
- Vâng, trước mặt nhân viên khác thì nên giữ kẻ một tý; ngoài ra, cứ gọi tên như ngày xưa vậy.
- Dạ.
- Chiều mai Mai-Trâm ở lại dự tiệc sinh nhật của Kelly chứ?
- Dạ, ít khi tôi tham dự lắm, vì tôi không thích đám đông.
- Người đã từng xuất hiện trước đám đông không biết bao nhiêu lần mà bây giờ lại không thích đám đông, lạ thật!

Mai-Trâm không thích đám đông vì mỗi khi cùng Nhuận xuất hiện trước công chúng lúc nào Nhuận cũng có những hành động và cử chỉ nhố nhăng để tạo sự chú ý của mọi người, làm Mai Trâm mắc cở. Đôi khi gặp người bạn cũ, biết khả năng văn nghệ của Mai-Trâm, yêu cầu nàng lên sân khấu thì – trước khi Mai-Trâm kịp trả lời – Nhuận đáp ngay: “Thôi, bả không thích đâu”. Nhưng, ngay sau đó, Nhuận đến xin ban tổ chức cho chàng hát một bài. Nghe Nhuận “hét” Mai-Trâm chỉ biết lắc đầu, cúi mặt. “Hét” xong, Nhuận “xin khán giả một tràng pháo tay”. Tư cách của Nhuận là như vậy cho nên Mai- Trâm chỉ thích ở nhà.

Không nghe Mai-Trâm nói gì, Toàn gọi:
- Mai-Trâm!
- Dạ. Xin lỗi. Đang bị phân tâm.
- Mai ở lại, vì Toàn, nha.

Ngại Toàn nghĩ rằng nàng còn giận Kelly, Mai-Trâm đành đáp:
- Dạ, vâng.

Chiều hôm sau, mọi người vừa ăn uống vừa cười đùa vui vẻ. Trước khi cắt bánh sinh nhật, Kelly đưa cao tay vẫy vẫy rồi nói:
- Xin các bạn chú ý. Xin các bạn chú ý.

Im lặng. Kelly tiếp:
- Tôi rất xúc động và cảm ơn Mr. Lee – vị Sếp mới của chúng ta – và cảm ơn các bạn đã ở lại dự tiệc sinh nhật của tôi. Trước khi cắt bánh sinh nhật, tôi xin mời Ted ra đây. Lúc nãy Ted nói với tôi rằng Ted muốn nói vài lời chúc mừng sinh nhật tôi trước khi tôi cắt bánh. Ted đâu rồi, bước ra đi.

Ted cười cười, tiến về Kelly. Mọi người đều nhìn Ted, chờ đợi. Ted nhìn về hướng Toàn:
- Chúng ta có Sếp mới. Đó là niềm vui, đúng không?

Mọi người cùng nhìn Toàn, cười rồi reo “Yeah!” Ted tiếp:
- Nhân ngày vui của Kelly, tôi đoan chắc với các bạn, nếu các bạn được nghe Sếp mới của chúng ta đàn và hát thì bữa tiệc sinh nhật hôm nay sẽ vượt xa những ý nghĩa bình thường, phải không, Kelly? Phải không, các bạn?

Trong khi mọi người vừa nhìn Toàn vừa reo vui thì Toàn nhìn Ted bằng ánh mắt ngạc nhiên, không hiểu do đâu Ted biết được Toàn chơi đàn. Nhưng Toàn nhớ lại ngay. Cách nay hai hôm, lúc đưa đứa cháu nội, tên Joshua, đi học piano, Toàn gặp Ted đưa con đi học violon. Muốn lấy lòng Sếp, Ted tỏ ra thân mật với Joshua. Joshua vô tình cho Ted biết rằng Joshua thích học piano và guitar vì Joshua muốn giống ông Nội. Trước khi theo Toàn ra xe, Joshua còn quay lại nói với Ted: “Ông Nội cũng hát nữa đó.” Ted giữ kín chi tiết này, đợi đến hôm nay mới dành ngạc nhiên cho mọi người.

Toàn bước ra, đứng giữa đám đông, nghĩ rằng chàng có thể từ chối mà không ngại bị mất lòng ai:
- Cảm ơn Ted. Cảm ơn các bạn. Nhưng tôi đi làm tôi không mang đàn theo.

Ted cười lớn, chạy vào văn phòng lấy guitar ra. Toàn tròn mắt nhìn Ted:
- Ủa, đàn của ai vậy, Ted?
- Dạ, của tôi. Nhưng tôi chơi không được nhuyển.

Mọi người cùng cười. Toàn so giây đàn rồi nói:
- Bây giờ tôi xin đệm để các bạn cùng hát mừng sinh nhật Kelly. Okay?

Im lặng. Toàn dạo một đoạn rồi bắt giọng: “Happy Birthday to you…” Mọi người tiếp vào: “Happy Birthday to you…” Nhìn 39 cây nến lung linh trên chiếc bánh và nghe một tổng hợp âm thanh không đồng nhất, Toàn cảm thấy vui vui. Thỉnh thoảng Toàn cười và lắc đầu vì vài người bắt vào không đúng nhịp. Bản đồng ca “bất đắc dĩ” chấm dứt trong nhiều tiếng vỗ tay của chính những “ca sĩ” vừa hát xong.

Kelly vừa cầm dao, chuẩn bị cắt bánh thì Ted đến gần, thì thầm với Kelly điều gì đó. Nghe xong, Kelly cười tươi, nhìn về hướng Toàn:
- Thưa Mr. Lee và thưa các bạn. Hôm nay là ngày vui của tôi, tôi xin Mr. Lee cho tôi một đặc ân.

Toàn nhìn Kelly rồi nhìn Ted, tỏ vẻ không hiểu. Ted dục:
- Đặc ân gì, nói nhanh đi, Kelly!

Kelly nhìn Toàn:
- Xin Mr. Lee hát một bài.

Toàn nhìn về hướng Mai-Trâm, muốn nói Kelly nên yêu cầu Mai-Trâm hát thì đúng hơn; nhưng chợt nhớ cương vị của chàng, Toàn quay nhìn Kelly:
- Các bạn “hành hạ” tôi, phải không? Hát gì không có micro mà hát!

Kelly đến bên Toàn, nhỏ nhẹ:
- Chúng ta đang tụ họp trong căn phòng không lớn lắm, do đó tiếng hát của Boss sẽ không bị loãng đâu.

Ted lăng xăng lấy guitar đưa cho Toàn và nói: “Please, Boss!” Toàn hỏi:
- Các bạn muốn nghe nhạc vui hay nhạc tình cảm?

Mọi người nhao nhao: “Nhạc gì cũng được; chỉ cần nghe Boss hát là vui rồi.” Toàn cười. Muốn nhân cơ hội này gợi lại trong hồn Mai-Trâm kỷ niệm của những ngày thơ dại dưới mái trường xưa, Toàn “búng” vài notes của một nhạc khúc trử tình mà bất cứ người nào có trình độ âm nhạc cũng không thể không đàn, không hát hoặc không nghe.

Vừa mới nghe những notes đầu, Mai-Trâm đã nhận ra đó là nhạc khúc bất tuyệt suốt nhiều thập niên từ Châu Mỹ, Châu Âu đến Châu Á. Ted cũng vừa nhận ra dòng nhạc, vội reo lên:
- Wow! Unchained Melody! Tuyệt quá! Tuyệt quá!

Toàn cười, vừa nhìn vào phím đàn bên tay trái vừa hát: “Oh, my love, my darling! I’ve hungered for your touch. A long, lonely time...” (1) Giọng hát thiết tha, truyền cảm của Toàn đưa tâm hồn Mai-Trâm trở về khoảng thời gian cuối thập niên 50, đầu thập niên 60. Thời điểm đó, giới trẻ Việt-Nam chỉ thích nghe nhạc Pháp; ít người nghe nhạc Mỹ. Vậy mà Toàn đã làm cho tất cả giáo sư và học sinh ngạc nhiên khi Toàn vừa đệm guitar vừa hát tình khúc Unchained Melody trong buổi trình diễn văn nghệ nơi bãi cát, phía sau Trường.

Như muốn tranh đua với người bạn tài hoa, trong buổi văn nghệ năm đó, Mai-Trâm cũng đơn ca một ca khúc Mỹ - April Love của Pat Boone. Thật lòng, Mai Trâm chỉ có ý “ganh đua” với Toàn thôi. Nhưng, sau lần trình diễn đó, bạn bè đều bảo Toàn và Mai Trâm mượn lời ca để gián tiếp tỏ tình; vậy là bạn bè có lý do để “cắp đôi”. Và Toàn thật sự quyến luyến người “chị” đa tài.

Đang miên man trong vùng kỷ niệm, Mai-Trâm thoáng giật mình vì tiếng Kelly:
- Cô Nguyễn! Đi về.

Nhìn quanh, mọi người tuần tự ra về, nhân viên trực đêm bắt đầu mở tất cả đèn, Mai-Trâm vội vàng theo Kelly.
Vừa cho xe nổ máy, Mai-Trâm nhận được điện thoại của Toàn:
- Mai Tâm rời phòng hội chưa?

- Dạ rồi. Đang cho máy xe nổ.
- Chiều nay Mai-Trâm bận gì không?
- Dạ, không. Toàn cần gì?
- Toàn mời Mai-Trâm ghé nhà thăm Lam-Ngọc, bà đầm của Toàn, được không?

Rất muốn làm quen với vợ của Toàn để dễ có thái độ đối với Toàn, Mai-Trâm đáp:
- Dạ, cho xin địa chỉ.
***
Thấy Mai-Trâm xúc động quá độ, Toàn đưa nàng rời phòng của Lam-Ngọc, nhẹ nhàng khép cửa phòng lại. Sau khi dìu Mai-Trâm ngồi vào xa lông, Toàn đích thân lấy một ly nước lạnh đem đến cho nàng. Mai-Trâm đón nhận và hớp từng ngụm nhỏ. Đợi cho sự xúc động của nàng dịu xuống, Toàn bảo:
- Mai-Trâm ra sân sau ngắm vườn của Toàn, nha.

Biết Toàn muốn tránh ánh mắt tò mò của Linda – người đàn bàn da đen giúp việc –Mai-Trâm đáp: “Okay”.

Thấy trên deck chỉ có một chiếc ghế, Mai-Trâm hơi ngạc nhiên, nhưng nhớ lại tình cảnh của Toàn, đành im lặng. Linda đem ra một ghế cao. Toàn ngồi vào ghế cao, mời Mai-Trâm ngồi vào ghế thấp:
- Ngồi đi, Mai-Trâm. Sau giờ làm việc và cuối tuần, đây là “giang sơn” của Toàn.

Sự xúc động vẫn còn lắng động trong lòng, Mai-Trâm chỉ biết thở dài. Trong khi Toàn chưa biết gợi chuyện bằng cách nào thì Linda rụt rè xuất hiện, nói nhỏ với Toàn:
- Thưa Mr. Lee, văn phòng bác sĩ để lời nhắn trong máy điện thoại.
- Cảm ơn. Tôi sẽ nghe sau.

Mai-Trâm tỏ ra lo lắng:
- Toàn nên nghe ngay, nhỡ có gì khẩn cấp cho Lam-Ngọc thì sao?

Toàn chần chừ. Mai-Trâm và Toàn đều có chung một cố tật là khi nào bị xúc động mạnh thì phát âm bằng tiếng Anh. Mai-Trâm tiếp:
- Please, Toàn.

Toàn thở dài, đi vào nhà.
Khi trở ra, thấy Mai-Trâm nhìn chàng như chờ đợi, Toàn nói, giọng không vui:
- Họ nhắc Toàn về những điều phải làm trước khi trở lại để họ theo dõi tình trạng cuộc giải phẫu vừa qua.
- Tại sao Toàn bị giải phẫu?
- Toàn bị prostate cancer!
- Oh, No!...No!

Mai-Trâm gục mặt vào lòng bàn tay, khóc. Toàn vịn vai nàng:
- Mai-Trâm! I’m okay. I’m okay.

Với đôi mắt nhạt nhòa, Mai-Trâm ngước nhìn Toàn. Toàn nhìn nàng bằng đôi mắt ửng đỏ. Nếu không thấy bóng Linda nơi cửa sổ bếp, có lẽ Mai-Trâm đã chồm về phía Toàn, hug Toàn thật chặt như muốn truyền nghị lực cho người em trai.
Sau phút xúc động, Toàn nói:
- Toàn mời Mai-Trâm về nhà với mục đích để Mai-Trâm biết rõ cuộc sống của người bạn xưa, chứ không phải để Mai-Trâm thương hại Toàn.
- Không. Tôi cảm phục Toàn thì đúng hơn.
- Nhiều khi Toàn buồn cho thân phận của mình và Toàn không thiết tha điều gì nữa.
- Đừng nên bi quan, Toàn ạ! Hãy nói chuyện với các con của Toàn xem các cháu có nghĩ đến một giải pháp nào khác để cất bớt gánh nặng cho Toàn hay không?
- Dạ, có. Nhưng vì khi Lam-Ngọc bị stroke, nằm trong phòng hồi sinh thì ở phòng đợi Toàn nguyện rằng: Nếu ơn Trên cứu Lam-Ngọc qua được cơn ngặt nghèo này, Toàn thề sẽ chăm sóc nàng đến mãn đời!
- Toàn thủy chung với Lam-Ngọc, đó là điều quý hóa mà không phải người đàn ông nào cũng có thể thực hiện được. Để thể hiện lòng chung thủy tuyệt đối của Toàn dành cho Lam-Ngọc, tôi nghĩ Toàn không nên kết thân với bất cứ người phụ nữ nào khác.
Nghĩ rằng Mai-Trâm nói bóng gió xa xôi, Toàn nhìn vào mắt nàng:
- Toàn không phải là Thánh. Toàn chỉ là người đàn ông bình thường. Mai-Trâm không nghĩ rằng người đàn ông cũng cần một bờ vai – nhất là bờ vai của một phụ nữ mà đã hơn một lần người đàn ông đó mơ tưởng – khi tinh thần bị suy sụp hay sao?
- Nhưng Toàn chưa biết gì về gia cảnh của tôi.
- Hôm đầu tiên Mai-Trâm gặp Toàn, Toàn đã cho Mai-Trâm biết rằng Toàn đã đọc hồ sơ cá nhân của Mai-Trâm rồi, nhớ không? Hơn nữa, bây giờ cũng như ngày xưa, tình cảm Toàn dành cho Mai-Trâm lênh láng và trong lành như dòng suối chảy xuôi một chiều; Mai-Trâm không phải đáp ứng.
- Lam-Ngọc bị như vậy bao lâu rồi?
- Khoảng mười năm.
- Lúc nào tôi cũng tưởng rằng cuộc đời của tôi bị vùi dập đến thê thảm. Nhưng bây giờ biết rõ hoàn cảnh của vợ chồng Toàn, tôi mới thấy rằng những gì đã đến trong đời tôi so với sự không may của gia đình Toàn thì chẳng là gì cả.
Toàn đứng lên:
- Thôi, ngồi đây nói toàn chuyện buồn không hà! Mời Mai-Trâm vào nhà, mình đàn, hát cho vui.

Mai-Trâm ngồi vào xô-pha. Toàn đến bên piano. Toàn “gõ” vài notes để bắt giọng rồi vừa đàn vừa hát: “Yêu ai, yêu cả một đời. Tình những quá khắc khe khiến cho lòng ta đau tủi cả lòng vì yêu ai mà lòng hằng nhớ…” (2) Mai-Trâm đến bên Toàn, hỏi nhỏ:
- Tại sao Toàn chọn ca khúc này?
- Để tặng Mai-Trâm.
- Toàn không sợ Lam-Ngọc nghe Lam-Ngọc buồn à?
Toàn cúi đầu, giọng khổ sở:
- Lam-Ngọc chỉ khác thực vật vì bà ấy tự thở được. Thế thôi!
- Xin lỗi. Tôi không còn lòng dạ nào để nghe đàn nữa. Toàn cho hôm khác, nha.
Vừa đậy nắp piano Toàn vừa đáp: “Vâng.”
Tiễn Mai-Trâm ra cửa, Toàn hỏi:
- Tối mai Mai-Trâm có thể cho Toàn mời Mai-Trâm đi nghe nhạc, được không?
- Đến mấy clubs hít khói thuốc không tốt đâu. Vả lại tôi khiêu vũ dỡ lắm.
Vừa lắc đầu Toàn vừa lấy ví ra và đáp:
- Không. Đây là một buổi hòa nhạc quốc tế.
Toàn cho Mai-Trâm xem vé vào cửa buổi hòa nhạc của Yanni. Mai-Trâm không nén được vui mừng:
- Làm thế nào Toàn biết tôi thích Yanni?
- Đây là quà của con trai của Toàn. Sau khi nghe Toàn kể về sự hội ngộ bất ngờ với Mai-Trâm và hai chữ Je t’aime ngày xưa Toàn gắn lên ghi-đông xe đạp của Mai-Trâm, cháu cười, ra vẻ cảm thông. Sáng nay cháu ghé sở, tặng Toàn hai vé vào cửa và “Chúc Ba tìm được nguồn vui.”
Toàn và Mai-Trâm cùng cười. Toàn tiếp:
- Mấy giờ chiều mai Toàn có thể đón Mai-Trâm được?
- Tôi tự lập quen rồi.
Biết Mai-Trâm còn ngại ngùng, Toàn không ép, trao nàng một vé vào cửa.
***
Nhìn khung vải màu xanh thẫm điểm những ngôi sao lấp lánh trên sân khấu, Mai-Trâm tưởng như nàng có thể thấy lại vùng trời đầy sao của những ngày thơ dại. Những ngày thơ dại đó, Mai-Trâm đã sống với âm thanh, với ánh sáng, với những buổi hòa đàn và những tràng pháo tay vang dội mà lúc nào Mai-Trâm cũng ấp ủ trong lòng như những kỷ niệm không bao giờ nhạt phai. Khi thấy đoàn nhạc công từ từ tiến lên sân khấu, vào vị trí, phía sau nhạc cụ của mỗi người, Mai-Trâm chợt cảm thấy xót xa và tội nghiệp cho những buổi hòa đàn ngày xưa!

Mai-Trâm thầm nghĩ, ban nhạc tầm cỡ như vậy thì nhạc trưởng thế nào cũng xuất hiện một cách rực rỡ, đầy hào quang hoặc là một cách đạo mạo với một baton(3) trên tay. Nhưng không! Yanni xuất hiện với quần trắng, giày Tennis, áo thun đen ngắn tay, mái tóc bồng bềnh, dài chấm vai. Trong từng tràng pháo tay vang dội, với dáng vẻ rất tự nhiên và đầy tự tin, Yanni cười tươi, để tay phải lên lồng ngực bên trái, cúi chào khán giả.

Yanni bước vào giữa hai keyboards, mỗi keyboard có ba tầng, trong tư thế sẵn sàng. Vừa khi tràng pháo tay của khán giả hơi dịu xuống, Yanni phất tay trái về phía ban nhạc. Tổng hợp âm thanh trổi lên cùng lúc với bàn tay phải của Yanni lướt nhanh trên phím keyboard. Yanni phất tay trái về hướng nào thì tất cả nhạc cụ từ hướng đó trổi lên.

Thấy Yanni vừa điều khiển ban nhạc bằng tay trái và tay phải đàn theo, vừa nhún chân, lắc vai rồi nghiêng người, hất mái tóc bồng bềnh theo mỗi thì mạnh (temps fort), Mai-Trâm kinh ngạc đến sửng sờ. Mai-Trâm biết có những conductors (4) điều khiển ban nhạc không cần baton – như nhạc sư Mozart – nhưng vừa điều khiển bằng tay trái và hòa đàn với ban nhạc bằng tay phải thì nàng chỉ thấy một Yanni mà thôi!

Giữa khi Yanni như hòa nhập, như quay cuồng theo dòng nhạc thì Mai-Trâm chợt nhớ câu nói của Elvis Presley: “Music should be something that makes you move, inside or outside.”

Trong phần trình diễn, tất cả nhạc khúc được trình tấu đều do Yanni sáng tác. Lắng nghe một lúc, Mai-Trâm nhận ra dòng nhạc của Yanni là sự phối hợp tuyệt vời của nhạc jazz, classical và soft rock. Khi nghe được những giai điệu dịu dàng, thiết tha của nhạc khúc Nightingale, Mai-Trâm nghiêng sang Toàn:
- Toàn có nhận biết là nhạc của Yanni phản phất âm hưởng nhạc Á Đông không?
- Dĩ nhiên. Yanni là dân Greece mà. Tên thật của Yanni là Yiànnis Hryssomàllis.
- Sao Toàn biết hay vậy?
Toàn cười, không đáp. Mai-Trâm tiếp:
- Tôi nghe và thích Yanni từ lâu, nhưng chưa bao giờ thấy Yanni trình diễn.
- Đây cũng là lần đầu Toàn thấy Yanni. Yanni có một kỹ thuật trình diễn rất khác lạ.
- Trong văn học nghệ thuật mình phải tự tìm cho mình một nét riêng.
Toàn gật đầu, cười.
Bản nhạc dứt. Thấy khán giả vừa vỗ tay vừa đứng lên, Mai-Trâm và Toàn cũng đứng lên. Yanni lại cúi chào với bàn tay phải để lên lồng ngực bên trái. Khán giả từ từ ngồi xuống. Yanni bước sang chiếc piano à queue. Với giọng trầm và ấm, Yanni giới thiệu nhạc khúc Felitsa mà Yanni đã sáng tác cho Mẹ.
Nghe Yanni nói tiếng Anh như một người Mỹ chính gốc, Mai-Trâm lại nghiêng sang Toàn:
- Sao Yanni nói tiếng Anh hay quá vậy?
- Yanni tốt nghiệp cử nhân Tâm Lý Học từ đại học Minnesota mà.

Tự dưng Mai-Trâm cảm thấy buồn và xót xa cho Elvis Presley; vì trước khi trở thành thần tượng của không biết bao nhiêu triệu người trên thế giới, Elvis Presley là một chàng tài xế xe vận tải! Elvis Presley và Yanni chỉ giống nhau ở một điểm là cả hai đều tự học nhạc lý mà thành danh.

Từ nãy giờ chỉ thưởng thức toàn nhạc hòa tấu, bây giờ nghe Yanni giới thiệu và ca sĩ Jeanette Clinger dịu dàng xuấy hiện trong chiếc áo dạ hội màu đen có những chấm kim tuyến lấp lánh, Mai Trâm nghĩ rằng mọi người sẽ được thưởng thức một ca khúc tuyệt vời.

Nghe ban nhạc dạo phân đoạn đầu, Mai-Trâm tự hỏi, không hiểu làm thế nào giọng của Jeanette có thể “lên” đến những âm vựt cao như vậy! Khi giọng soprano của Jeanette vang khắp hội trường thì sự tuyệt vời trong màn trình diễn này không những chỉ với tiếng ngân dài mà còn là sự bất ngờ đầy thú vị đối với Mai Trâm – Jeanette Clinger không hát mà chỉ hò theo giai điệu của nhạc khúc. Trong khi âm thanh của dàn violon “đưa” giọng hò của Jeanette vút cao như cánh hạc chao lượn trong không gian tràn ngập ánh trăng thì âm thanh trầm trầm của dàn violoncelle như bóng của cánh hạc chập chờn, chập chờn trên đồi thông.

Đang bị giọng hò của Jeanette cuốn hút, Mai-Trâm chợt cảm nhận được hơi ấm nơi cánh tay của nàng. Một cách nhẹ nhàng và từ tốn, bàn tay của Toàn chạm vào tay của Mai-Trâm. Những xao xuyến nhẹ nhàng dâng lên cùng lúc với những ý tưởng đã dày vò nàng suốt đêm qua và cả ngày nay. Mai-Trâm tự hỏi: Chấp nhận tình yêu của Toàn có phải là tội lỗi hay không? Các con sẽ nghĩ gì? Bằng hữu sẽ nghĩ gì? Ở tuổi này mà nàng lại vương vấn vào cuộc tình “tay ba”? Nhưng nghĩ lại, suốt mấy mươi năm làm vợ của Nhuận, Mai-Trâm đã giữ được Nhuận cho riêng nàng hay không? Và nàng đã phải chia xẻ Nhuận cho bao nhiêu phụ nữ khác? Khi các con vào đại học, đứa nào thích phân khoa gì thì tự chọn lấy, có đứa nào chọn ngành theo ý muốn của Mai-Trâm không? Khi lập gia đình các con cũng chủ động tất cả chứ có đứa nào hỏi ý kiến nàng đâu? Còn bằng hữu, từ mấy mươi năm qua bằng hữu đã bị Nhuận “đầu độc” tinh thần rồi; vậy thì Mai-Trâm có cần ý kiến của những người bạn đó hay không? Nếu yêu Toàn mà cố tình tách rời người vợ tật nguyền của Toàn ra khỏi vòng tay bảo bọc của Toàn thì đó là tội lỗi. Còn yêu Toàn chỉ vì muốn chia xẻ nghịch cảnh của Toàn; chỉ vì muốn đem đến cho Toàn chút hạnh phúc muộn màng trong chuỗi ngày còn lại của Toàn thì…

Giòng ý tưởng của Mai-Trâm bị đứt đoạn vì tiếng vỗ tay vang dội. Đèn sáng. Khán giả đứng lên, vỗ tay trong khi Yanni hơi khom người, lại để bàn tay phải lên lồng ngực, cúi chào.

Sau khi choàng áo ấm cho Mai-Trâm, Toàn đưa nàng ra chỗ đậu xe. Trước khi Mai- Trâm bước vào chiếc SUV, Toàn nắm tay nàng:
- Mai-Trâm! Cảm ơn Mai-Trâm đã cho Toàn những giờ phút rất cần thiết cho đời sống nội tâm của Toàn.

Mai-Trâm mỉm cười, im lặng. Toàn từ từ kéo nhẹ tay nàng về phía chàng. Mai-Trâm tựa đầu lên vai Toàn rồi đưa tay mở cửa xe. Toàn nâng tay nàng cho đến khi nàng ngồi vào sau tay lái. Mai-Trâm hạ cửa kính xuống:
- Bye, Toàn.
- Drive carefully, Mai-Trâm!

- Take care of yourself. Take care of her too.

Vừa nói “I love you!” Toàn vừa đưa tay giữ cửa kính để cửa kính không thể quay lên rồi nhìn nàng đắm đuối. Mai-Trâm hơi bối rối, nhưng không tránh ánh nhìn của Toàn. Toàn hơi chồm vào trong xe, đặt lên môi Mai-Trâm nụ hôn thật dịu dàng. Ánh đèn đường soi rõ hai ngấn lệ long lanh từ đôi mắt buồn của Mai-Trâm...

Điệp Mỹ Linh

1. Nhạc của Alex North, lời của Hy Zaret
2. Nỗi Lòng của Nguyễn Văn Khánh
3. Cây nhỏ để điều khiển ban nhạc
4. Người điều khiển ban nhạc

Trường Xưa Bạn Cũ - Điệp Mỹ Linh

Diep My Linh 001

Vì đến trễ, tôi phải sắp hàng nơi cửa hội trường, chờ người kiểm vé. Trong khi đứng đợi, tôi nghe ban nhạc đang hòa tấu một nhạc khúc rất quen thuộc. Rồi một tổng hợp âm thanh nữ vang lên: “Trường làng tôi cây xanh lá vây quanh, muôn chim hót vang lên êm đềm…”(1) Tôi chợt cảm thấy nôn nao trong lòng, vội chồm người về phía trước để nhìn lên sân khấu.

Trên sân khấu, hai hàng phụ nữ mặc đồng phục trắng, trên mỗi chiếc áo dài có một vệt đen dài xeo xéo nơi tà áo phía trước. Vừa hát những phụ nữ này vừa uốn nhè nhẹ thân hình theo điệu Valse Lente: “…Trường làng tôi không giây phút tôi quên nơi sống bao kỷ niệm ngày xanh…” Giai điệu êm đềm của dòng nhạc và sự lay động nhẹ nhàng của những tà áo dài như từng đợt sóng ngầm dìu hồn tôi trở về khung trời mà tôi đã phải lìa xa. Trong trạng thái bềnh bồng, tôi tưởng như tôi có thể thấy lại tôi của những ngày thơ dại, chỉ biết đi học rồi về miệt mài với cây đàn.

Khi mới bắt đầu dạy tôi học đàn Accordéon – lúc đó tôi chỉ hơn mười tuổi – ngoài những bài thực tập trong sách, Ba tôi thường tìm những bản nhạc dễ đàn để tôi đàn cho khỏi chán. Một trong những nhạc khúc Ba tôi cho tôi đàn là bản Trường Làng Tôi. Tôi vừa nhìn bản nhạc vừa để ý bàn tay của Ba tôi và vừa nghe Ba tôi đếm “chát chát chình, chát chát chinh” để vào cho đúng temps fort (thì mạnh của nhịp 3/4).

Thời gian học Accordéon tôi chưa hiểu nhiều về nhạc lý, nhưng không hiểu tại sao mỗi khi đàn nhạc khúc Trường Làng Tôi, giai điệu thiết tha của bản nhạc như quyện vào hồn tôi và trong lòng tôi niềm bùi ngùi thương cảm dâng tràn!

Niềm bùi ngùi thương cảm lại trở về chất ngất trong tôi khi tôi trở về quê Nội, ghé thăm Trường xưa sau hơn 30 năm xa cách.

Khi ghé thăm thầy Bửu Thả, giáo sư toán và cũng là giáo sư hướng dẫn lớp tôi, lớp Tam B4, Thầy bảo: “Chừ không còn là Trường Trung Học Võ Tánh nữa mô! Họ đổi tên rồi!” Tôi buồn nhưng chưa cảm thấy xót xa.

Đến khi tôi đứng trước ngôi Trường cũ, thấy Trường tôi vẫn như xưa, vẫn mái ngói đỏ và tường sơn màu trứng sáo, dưới một bảng tên tôi chưa từng biết khi học Việt sử, lòng tôi mới đắng cay, ngậm ngùi! Sự ngầm ngùi cứ dâng lên, dâng lên mãi khiến tôi muốn đi nhanh đến chiếc xe thuê như trốn chạy, như chối bỏ một thực thể mà tôi không chấp nhận được! Nhưng không hiểu tại sao đôi chân của tôi lại không thể rời Trường! Tôi tựa vào gốc cây sao, nhìn lên lầu, nơi lớp đệ Tam B4 “của tôi” năm xưa; toàn Trường thường “chọc quê” chúng tôi, gọi là Tam “Bê Bối”. Lớp B4 chỉ có hai nữ sinh là Đỗ Thị Nghiên và tôi.

Nghiên, về sau dạy học tại Quảng-Ngãi. Khi Nghiên theo chồng sang Mỹ theo diện H.O. tôi sang San Jose thăm Nghiên ngay. Nghiên bỏ tấm nệm trên sàn nhà, “ra lệnh” cho tôi: “Mày ở đây, ngủ tại đây. Mày mà ra khách sạn, tao…từ mày liền!” Suốt đêm nhắc lại thời thơ ấu, trong các lớp “Bê Bối”, dưới mái trường Võ-Tánh, Nghiên kể cho tôi nghe về những nam sinh mà Nghiên đã lên lạc được. Sau này Nghiên trở thành Ni Sư Thường Như.

Cố nhớ lại tên những nam sinh mà Nghiên đã liên lạc được, tôi chỉ nhớ vài người.

Lúc Trần Ngọc Phê – tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh – cùng vợ sang Mỹ tham dự Đại Hội Quốc Gia Hành Chánh, ghé thăm tôi và cho tôi biết rằng Lưu Khương Đức, sau khi tốt nghiệp Kiến Trúc Sư, bị động viên. Sau khi mãn khóa sĩ quan, Đức “cả gan” tình nguyện về Biệt Động Quân; để rồi…Đức bị tử trận trong một cuộc đụng độ rất ác liệt với địch quân, tại Pleiku, năm 1972!

Rồi Phú “đen” gia nhập Không Quân. Phú “đen” đã tử trận khi trực thăng do Phú “đen” lái bị trúng hỏa tiễn của địch!

Đến Vũ Công Tạo, người bị địch bắt, bị cầm tù dài hạn, rồi được trao trả tù binh.

Riêng Vũ Mạnh Hoàn, sau khi đỗ Tú Tài II, được du học và ở lại Bỉ. Trần Tri Chánh được sang Nhật du học và cũng ở lại Nhật.

Và Nguyễn Đăng Dự, sau này là hiệu trưởng Trường Trung Học Pleiku. Khi vợ chồng Dự từ Canada sang Texas, ghé Houston thăm tôi, Dự kể cho tôi nghe, khi cuộc rút quân đẩm máu từ cao nguyên theo tỉnh lộ 7 đang diễn ra, giữa những tràng pháo kích ồ ạc của địch quân, Dự và vợ con không biết làm thế nào để thoát khỏi những trái đại pháo và dòng người cùng xe cộ ngổn ngang trên đường thì một quân nhân từ trên xe nhà binh nhận ra Dự, gọi lớn: “Thưa Thầy!” Dự nhìn bảng tên của anh sĩ quan trẻ, thấy tên Lại Quyền Thế. Thế chận chiếc xe chở hàng, buộc tài xế phải cho gia đình của Dự lên xe.

Khi dòng người chạy loạn đến cầu Sông Ba, Dự thấy nhiều trực thăng vận tải quân dụng để Công Binh dựng cầu dã chiến cho đoàn người qua sông. Trong cảnh hỗn loạn này, Lại Quyền Thế lại xuất hiện. Thế canh chừng, khi trực thăng vừa thả quân dụng xong, Thế giúp gia đình Dự lên trực thăng, còn Thế ở lại! Vừa vào trực thăng, Dự lại ngạc nhiên khi nghe anh phi công: “Dạ, thưa Thầy.” Dự cũng kể cho tôi nghe nhiều nam sinh ngày xưa học lớp “Bê Bối” sau này thành công trên nhiều lãnh vực. Nhưng, vì tính hay quên, tôi chẳng nhớ được tên.

Tôi chẳng nhớ được tên những người Bạn đã thành công trên đường đời; nhưng tôi lại không thể quên được tên những người Bạn đã hy sinh tuổi trẻ, đã hy sinh một phần cơ thể và có Bạn đã hy sinh cả mạng sống để chúng tôi được yên bình chốn hậu phương!

Những người bạn đã dấn thân của lớp “Bê Bối” có: Phạm Khắc Sinh, Luyện Thái, Nguyễn Minh Châu, Trần Chánh Tùy, Bùi Ngọc Long, v. v…

Ngoài những bạn lớp “Bê Bối của tôi”, tôi còn có những bạn khác cũng học ban B Võ Tánh.

Lớp B1 có Võ Ấm, xuất thân Trường Võ Bị Quốc Gia Dalat. Anh ruột của Võ Ấm là chánh văn phòng cho một nhân vật đầy uy quyền. Nhưng, sau khi tốt nghiệp, Ấm đã không đồng ý cho người anh biết số quân để anh của Ấm xin cho Ấm về đơn vị không chiến đấu. Chỉ vài tháng sau, Ấm tử trận tại Mỹ Tho!

Lớp B2 có Võ Thành Đông, gia nhập khóa 17 sĩ quan Hải Quân; Nguyễn Triệu Khâm, khóa 12; Bùi Tiết Quý và Mùi, khóa 14. Rất tiếc, tôi không nhớ Mùi họ gì và Mùi lớp B mấy cũng như tôi đã quên Mùi xuất thân khóa mấy sĩ quan Hải Quân. Mùi mất tích ngoài biển khơi khi chiến hạm đang tuần dương! Nguyễn Đình Tân, cũng “dân” B2. Tân rất điễn trai, lúc nào cũng cười và đôi môi hồng hồng. Tân tình nguyện gia nhập Không Quân. Sau khi tu nghiệp tại Mỹ, trở về, trong một chuyến công tác, chiếc C-130 do Tân lái bị bắn hạ tại đèo An-Khê!

Quân chủng Hải Quân cũng thân ái đón nhận những người Bạn lớp B3 như: Nguyễn Lương Thuật, khóa 16; Trương Hoàng Đông, khóa 13; Phan Hữu Niệm, Nguyễn Sỹ và Đặng Hữu Thân, khóa 12, v.v…

Riêng bạn Đặng Hữu Thân – sau tháng Tư, 1975 – đã trở thành Người Hùng của Hải Quân V.N.C.H; vì Ông thành lập Mặt Trận Dân Quân Cứu Quốc, tại Nha Trang, để chống lại Cộng Sản Việt Nam. Ông bị bắt và bị Cộng Sản Việt Nam xử bắn! (Muốn biết thêm chi tiết, kính mời vào link này
http://www.diepmylinh.com/dang-huu-than )

Nguyễn Dinh gia nhập khóa 13 sĩ quan Hải Quân. Dường như Dinh học lớp B3, tôi không nhớ rõ.

Khi đơn vị của Dinh, dường như là Giang Đoàn 24 Xung Phong, tham dự hành quân vùng Dầu Tiếng, Dinh bị mìn, nát cả đôi chân! Bố của các con tôi – cố Hải Quân Trung Tá Hồ Quang Minh – cho tôi biết tin Dinh bị thương và dặn tôi: “Muốn đi thăm Dinh thì đi ngay; vì không biết Dinh có thể ‘qua’ được hay không!”

Minh đưa tôi đến ngay bệnh viện Cộng Hòa. Nhìn đôi chân của Dinh được băng bột, cứng, to và máu đã khô, trở nên màu nâu và sần sùi như gốc cây sao trước Trường Võ Tánh, tôi khóc! Dinh vẫn mê man trong khi tôi cứ âm thầm quẹt nước mắt, thương người Bạn xưa! Một lúc sau, Dinh từ từ hé mắt, nhìn tôi. Tôi hỏi: “Dinh! Biết ai đây không?” Dinh đáp: “Biết. Thanh Điệp”. Tôi lại khóc nhiều hơn và thương Bạn nhiều hơn!

Trong những dòng nước mắt khóc thương các bạn nam sinh ban B, tôi cũng dành những giọt lệ muộn màng khóc chị Đỗ Minh Tham, người bạn ban A. Chị Đỗ Minh Tham, biệt hiệu Thúy Minh, ngày xưa cùng sinh hoạt với tôi trong ban ca nhạc Bình Minh, do Ba tôi – Cụ Điệp Linh Nguyễn Văn Ngữ –

thành lập để phụ trách phần văn nghệ cho đài phát thanh Nha Trang vào mỗi tối thứ Năm và tối Chủ Nhật.

Được tin chị Đỗ Minh Tham qua đời, tôi đi New York, dự đám tang của Chị. Khi được chị Đỗ Khánh Niệm, chị của chị Đỗ Minh Tham và cũng là phu nhân của Cố Y Sĩ Thiếu Tá Phạm Văn Lương – người đã cầm lựu đạn trước Quốc Hội, năm xưa – bảo hãy nói vài lời tiễn biệt chị Thúy Minh, tôi đã nhắc lại những kỷ niệm với chị Thúy Minh dưới mái Trường Võ Tánh cùng những kỷ niệm văn nghệ với chị Thúy Minh trong ban Bình Minh. Trước khi dứt lời, tôi nói: “Thưa chị Thúy Minh, em xin lỗi Chị, em không thể ở lại để dự lễ hỏa thiêu của Chị. Em không đủ can đảm nhìn Chị bị hủy diệt. Đối với em, Chị không thể bị hủy diệt!”

Ai rồi cũng sẽ bị hủy diệt, vì đó là định luật của thiên nhiên! Nhưng định luật này chỉ có thể hủy diệt xác thân của Bạn tôi, chứ trong lòng tôi, nhân dáng và kỷ nệm của những người Bạn này vẫn sống mãi.

Dòng hồi tưởng của tôi vừa đến đây thì người kiểm vé đưa tôi vào bàn.

Nhìn những vạt áo dài có vệt đen xeo xéo của ban hợp ca, tôi tự hỏi: “Có phải vệt đen đó để tang cho Ngôi Trường Đã Mất Tên hay không?” Trong khi tôi không thể tự giải đáp được thì ban hợp ca đang hát đến câu cuối. Tôi không hát theo nhưng trong lòng tôi tiếng hát ngân dài, vang xa: “Trường làng tôi không giây phút tôi quên, dù cách xa muôn trùng Trường ơi!”

Tôi lấy khăn giấy, thấm nhẹ những giọt nước mắt, lòng ngậm ngùi nghĩ đến các Bạn tôi – những Người Trai rất xứng đáng là Hậu Duệ của Danh Tướng Võ Tánh trong Thiên Hùng Sử Việt Nam.

* Những phần trích dẫn là lời ca trong nhạc khúc Trường Làng Tôi của Phạm Trọng Cầu.

Điệp Mỹ Linh

Tình Thư Trên Cát - Điệp Mỹ Linh

Diep My Linh

Dọn cơm lên bàn xong, Thảo-Ly chưa kịp ra sân mời Mẹ vào dùng thì thoáng nghe, từ radio của nhà bên cạnh, một dòng nhạc quen thuộc mà nàng yêu thích từ thời còn học trung học. Khi tiếng hát vang xa,.Thảo-Ly đứng lặng để niềm xúc động cuồn cuộn xuôi theo giọng ca ngọt ngào: “On the day like today, we passed the time away, writing love letters in the sand. How you laughed when I cried each time I saw the tides take our love letters from the sand…”(1) Vừa nghe đến phân đoạn này, Thảo-Ly chạy vội vào phòng trong, mở radio để được lặng lẽ nghe trọn bài.
Thảo-Ly tựa vào góc giường, ôm radio, để giọng ca nồng nàn của Pat Boone đưa nàng trở về với những tháng ngày tươi đẹp, êm đềm và đáng yêu nhất của một đời người.
Những tháng ngày êm đềm và đáng yêu ấy, không những một mình Thảo-Ly mà dường như hầu hết học sinh lớp đệ nhị B trường trung học Võ-Tánh đều mong thứ Hai và thứ Tư qua nhanh để thứ Ba và thứ Năm đến sớm, được thấy Kiệt, giáo sư Toán-Lý-Hóa, xuất hiện trong lớp.
Mỗi khi Kiệt bước vào, cả lớp đứng lên trong thế nghiêm. Kiệt khoát tay, ra dấu cho cả lớp ngồi xuống, rồi Kiệt để cái mủ nhà binh của chàng lên góc bàn. Dáng người cao, gương mặt của Kiệt rất điềm đạm và mọi động tác của chàng đều từ tốn, nhưng Kiệt lại đem đến cho cả lớp một sinh khí vui tươi, một lối giảng dạy mới mẻ. Sau những lần thi tam cá nguyệt, nếu thừa thì giờ, Kiệt thường kể cho cả lớp nghe về những điều tốt đẹp tại các nước văn minh mà chàng đã du học và nhiều lần được đi tu nghiệp. Nhìn Kiệt và nghe những điều chàng kể, tất cả học sinh đều có những mơ ước thầm kín. Riêng Thảo-Ly, là một học sinh rất chăm chỉ, nàng chỉ ước mơ được đậu cao kỳ thi này để xin học bổng du học, và sẽ được đến những nơi mà Kiệt đã hết lời ca ngợi.
Rồi một chiều Hè, đang lang thang bên bờ biển, Kiệt chợt thấy mái tóc và dáng người quen quen ngồi ủ rủ cạnh gốc dừa. Đến gần, Kiệt nhận ra Thảo-Ly; nhưng Thảo-Ly vẫn cúi mặt cho nên Thảo-Ly không thấy chàng. Kiệt gọi: “Thảo-Ly! Phải Thảo-Ly không?” Thảo-Ly giật mình ngẫng lên. Thấy đôi mắt đỏ và những dòng nước mắt nhạt nhòa trên khuôn mặt xinh đẹp của cô học trò, Kiệt ngạc nhiên: “Thảo-Ly! Tại sao Thảo-Ly khóc?” Thảo-Ly òa khóc như trẻ thơ: “ Thầy ơi! Con rớt vấn đáp rồi!” Kiệt vừa cảm thấy tội nghịêp cho cô học trò rất siêng năng, vừa cảm thấy tức cười vì Thảo-Ly hành động giống như cô em gái bị Mẹ rầy rồi làm nũng với ông anh. Kiệt an ủi: “Rớt kỳ này thì thi lại kỳ sau. Đừng bi quan.” Thảo-Ly im lặng, quẹt nước mắt và thút thít. Kiệt tiếp: “Thôi, về gắng ôn bài để thi kỳ II. Thảo-Ly chỉ phải thi lại vấn đáp thôi, còn biết bao nhiêu người phải thi lại cả viết và vấn đáp. Nghĩ như vậy thì Thảo-Ly sẽ thấy Thảo-Ly may mắn hơn nhiều người. Đúng không?” Nghe lời khuyên của Kiệt, Thảo-Ly mới cảm thấy ngường ngượng, vội nín khóc. Kiệt hỏi: “Thảo-Ly đến đây bằng gì?Có ai đưa về không?” Thảo-Ly cố lấy giọng tự nhiên, đáp: “Dạ, thưa Thầy, bạn con chở con đến trường xem danh sách thí sinh trúng tuyển. Khi con biết con bị rớt vấn đáp, con buồn, con đi bộ từ trường đến đây.” Kiệt nhìn chiếc Vespa của chàng đậu xa xa: “Nếu vậy thì Thảo-Ly chỉ nhà để tôi đưa về. Sắp tối rồi, không nên đi bộ một mình.”
Từ buổi chiều hôm đó, mỗi tối, Kiệt đến dạy kèm cho Thảo-Ly, theo yêu cầu của ông bà Trực, Ba Má của Thảo-Ly. Và cũng từ đó, Kiệt mới biết Thảo-Ly có nhiều năng khiếu về âm nhạc. Kiệt tặng nàng những dĩa nhạc thời trang ngoại quốc mà Kiệt đã mua từ những lần tu nghiệp. Và ca khúc Love Letters In the Sand này là “ruột” của Thảo-Ly.
Khi Pat Boone hát đến phân đoạn cuối, Thảo-Ly vừa rơi nước mắt vừa hát theo nho nhỏ, như muốn thì thầm với Kiệt: “…Now my broken heart aches with every wave that breaks over love letters in the sand.” (2) Bản nhạc dứt vừa lúc bà Trực lựng chựng bước vào:
– Ra ăn cơm, con.
Thảo-Ly “dạ” nhưng vẫn ngồi yên. Bà Trực thở dài. Không biết bao nhiêu nghìn lần bà Trực tự trách chỉ vì Bà mà Thảo-Ly phải sống cô đơn, vò võ như thế này! Bà Trực lại thở dài, quay ra, đến bên bàn thờ thắp nhan. Như mọi ngày, khi cắm nhang trước tấm ảnh của ông Trực, Bà vừa vái lạy vừa rơm rớm nước mắt, khấn với Ông: “Ông à! Ông ‘đi’ lâu rồi mà sao Ông không chịu ‘đem’ tôi theo? Tôi muốn ‘đi’ theo Ông để cho Thảo-Ly dễ giải quyết cuộc đời của nó. Tội nghiệp con, Ông à. Thấy nó sầu khổ tôi đứt ruột, Ông biết hôn?” Tủi thân, một tay bà Trực vái ông Trực, tay kia Bà quẹt nước mắt.
Trở ra phòng khách, ngồi bên mâm cơm, bà Trực nghĩ Bà nên thay đổi thái độ may ra Thảo-Ly sẽ nản lòng, không muốn sống với Bà nữa. Vì đã chọn thái độ cho nên khi Thảo-Ly trao cho Bà mấy viên thuốc bổ, từ Mỹ gửi về, và một ly nước, bà Trực hất tay, mấy viên thuốc rơi trên nền gạch và ly nước nghiêng, đổ. Thảo-Ly ngạc nhiên:
– Má làm gì vậy?
– Làm gì kệ tao.
Thảo-Ly giật mình khi nghe bà Trực xưng “tao”. Thảo-Ly cúi lượm mấy viên thuốc; bà Trực vội lấy chân chà lên, không cho Thảo-Ly lượm, rồi Bà hét lớn lơn – nhưng trong lòng, Bà chỉ muốn ôm Thảo-Ly mà khóc cho vơi bớt nỗi niềm:
– Không thuốc không thang gì hết. Tao không muốn sống với đứa con ngỗ nghịch.
– Con chỉ ra ăn cơm hơi trễ chứ con đâu làm gì mà Má nói là con ngỗ nghịch?
Thật lòng bà Trực muốn nói: “Con ơi! Má thương con quá chừng. Má chỉ muốn chết cho con dễ giải quyết hoàn cảnh của con mà Má chết không được!” Nhưng bà Trực lại phát ngôn ngược lại:
– Thứ con ngỗ nghịch mới không nghe lời Mẹ. Tại sao mày muốn làm theo ý của mày mà mày lại không cho tao làm theo ý của tao, hả?
Ý của bà Trực là Bà muốn ở lại Việt-Nam để nhan khói, chăm lo mồ mả của ông Trực và cả Ông Bà Nội, Ngoại nữa. Thêm một lý do nữa là bà Trực nghe nhiều người già, từ Mỹ về Việt-Nam, kể lại sự cô đơn thê thảm khi phải ở nhà một mình hoặc bị đưa vào viện dưỡng lão, không ai thăm viếng!
Riêng Thảo-Ly, ngoài lý do thương Mẹ già sống lẻ loi, đơn độc, không ai chăm sóc khi ốm đau, Thảo-Ly còn lý do khác không kém quan trọng. Đó là vết sẹo dài nơi má, do chuyến xe đò bị lật trong lần Thảo-Ly đi thăm nuôi Kiệt ở trại cải tạo ngoài Bắc. Thảo-Ly hiểu rằng, đối với Kiệt, vết sẹo ấy không là gì cả nếu phải so sánh với sự thủy chung và những gian khổ, tảo tần của Thảo-Ly. Nhưng, sau khi Kiệt ra tù, tình cờ Ngọc-Hân và Bích-Loan – hai cô bạn thân, học cùng trường với Thảo-Ly – từ Mỹ về, ghé thăm Thầy cũ, Thảo-Ly mới nhận biết giữa Ngọc-Hân và Kiệt dường như đã có những điều vượt xa tình Thầy trò. Thảo-Ly ra dấu cho Bích-Loan ra sau nhà để Thảo-Ly nói với Bích-Loan sự nghi ngờ của nàng. Bích-Loan cười hơi lớn, điểm ngón tay trỏ vào trán Thảo-Ly: “Con khỉ họ. Nhà ngươi khờ gì khờ dữ vậy?Hèn chi ngày đó nhỏ Ngọc-Hân thường ghé nhà mi để thăm Thầy Kiệt!” Thảo-Ly viện dẫn lý do: “Lúc đó Ngọc-Hân cũng đã có vị hôn phu rồi mà”. Bích-Loan cười rũ ra: “Nhà người dân ban B hèn chi không thuộc thơ TT.KH. Lấy chồng thì lấy mà ‘vẫn giấu trong tim bóng một người’. Hiểu chưa?” Thảo-Ly hoang mang. Bích-Loan tiếp: “Chính nhỏ Ngọc-Hân thố lộ với ta ngay sau ngày đám cưới của nhà ngươi với thầy Kiệt. Ngọc-Hân bảo, sau khi dự đám cưới về, nhỏ khóc suốt đêm. Nhỏ tìm ống Optalidon mà tìm không ra!” Thảo-Ly nhíu mày, cố ôn lại những điểm đáng nghi ngờ. Thảo-Ly chỉ nhớ, lúc nào cũng vậy, khi ghé thăm, Ngọc-Hân cũng bảo là ghé thăm Thảo-Ly thôi. Nhưng Thảo-Ly bận lo cho con, Kiệt “đành phải” tiếp Ngọc-Hân. Một lần, sau khi Ngọc-Hân chào từ biệt, Thảo-Ly nhờ Kiệt tiễn Ngọc-Hân ra cửa vì Thảo-Ly bận lo cơm chiều. Dường như linh cảm bén nhạy của nàng “báo động”, Thảo-Ly nhìn ra cửa và thấy Kiệt đặt nhẹ bàn tay lên vai Ngọc-Hân. Ôi! Chỉ một bàn tay nhẹ nhàng đặt lên vai thôi nhưng sao trông âu yếm và quyến luyến lạ lùng! Tim của Thảo-Ly nhói đau, nhưng nàng không có lý do để ghen – vì Kiệt là một trí thức được đào tạo tại Âu Mỹ thì cử chỉ như vậy đâu thể nào bị kết tội là ngoại tình! Bây giờ nghe Bích-Loan kể chuyện, tim của Thảo-Ly cũng nhói đau!
Nhìn Bích-Loan và Ngọc-Hân tươi thắm, xinh đẹp, gọn gàng trong quần Jeans, áo T-shirts và những cái nhún vai rất điệu, rất Âu Mỹ, rồi nhìn lại thân hình tàn tạ và làn da sạm nắng của mình, Thảo-Ly chỉ biết thở dài, đưa tay sờ vết sẹo bên má. Thảo-Ly không nghi ngờ lòng chung thủy của Kiệt; nhưng thấy nụ cười và ánh mắt của Ngọc-Hân và Kiệt, Thảo-Ly ngầm hiểu rằng cả hai người đều “giấu trong tim bóng một người!” Suốt bao nhiêu năm dài phải quần quật kiếm tiền nuôi chồng trong tù, nuôi con ngoài tù và nuôi Mẹ già, Thảo-Ly đã mệt mỏi, mất hết sức phấn đấu, nàng không còn muốn tranh giành gì nữa trong cuộc đời này. Đó cũng là một trong hai lý do khiến Thảo-Ly từ chối theo Kiệt và các con sang Mỹ theo diện H.O. Không thể nào bà Trực hiểu được lý do thầm kín của Thảo-Ly; vì vậy, bà Trực cứ tự trách là chỉ vì Bà mà Thảo-Ly đành phải hy sinh hạnh phúc gia đình.
Dòng ký ức của Thảo-Ly vừa đến đây, nàng quay nhìn bà Trực. Thấy khuôn mặt héo hon và ngấn nước mắt còn đọng trên mi của Mẹ, Thảo-Ly hiểu rằng những lời rầy la vô cớ của Mẹ lúc nãy chỉ là những đột biến âm thầm để Mẹ che giấu khối tình cảm bao la mà Mẹ đã trọn đời dành cho nàng. Thảo-Ly bới cơm cho Mẹ rồi bới cơm cho nàng. Bà Trực gắp miếng cá bông lau để vào chén cơm của Thảo-Ly:
– Ăn đi, con.
Thảo-Ly mỉm cười:
– Để con lấy mấy viên thuốc bổ khác cho Má, nhen.
Giọng bà Trực vui vui “ờ”. Hai Mẹ con dùng gần xong bữa ăn đạm bạc thì người đưa thư xuất hiện, bảo Thảo-Ly ký giấy nhận quà từ Mỹ gửi về.
Tưởng rằng quà do Kiệt và các cháu gửi về, bà Trực vui trong lòng. Vì muốn để Thảo-Ly tận hưởng giây phút hạnh phúc riêng tư khi đọc thư của Kiệt và của các cháu, bà Trực kiếm cớ sang nhà hàng xóm “bỏ hụi”.
Thảo-Ly đọc những dòng chữ thân tình của Bích-Loan rồi cho video vào máy để xem khung cảnh đêm Hội Ngộ do học sinh trường Võ-Tánh tổ chức tại California.
Theo ống kính video, Thảo-Ly thấy khung cảnh rất vui, rất rực rỡ, và âm thanh thật tuyệt vời. Nàng nhận ra vài người bạn xưa. Ống kính quay chầm chậm ngang dãy bàn dành cho Giáo-Sư. Thảo-Ly nhận ra vài Thầy Cô cũ. Kia rồi! Kiệt ngồi giữa hai nam giáo sư. Kiệt không khác xưa, chỉ có mái tóc thưa hẳn đi. Kiệt đang chú tâm nhìn lên sân khấu. Giọng hát của ai nghe não nùng quá: “…Thương anh thì thương rất nhiều mà ván đã đóng thuyền rồi! Xa anh lòng em muốn nói bao lời, gió đưa hương lã lơi…Anh ơi! Đời đã lỡ hẹn thề thì đâu có ngày về. Xa anh đời em tắt nụ cười, héo hắt đôi làn môi…”(3) Ống kính video lại từ từ lướt ngang bàn dành riêng cho Giáo-Sư. Thảo-Ly thấy Kiệt ngồi lặng yên, mắt buồn buồn nhìn lên sân khấu. Nét mặt của Kiệt như chìm đắm theo lời ca và rõ ràng Kiệt không thể che giấu được sự xúc động. Ống kính video quay sang sân khấu. Thảo-Ly rất ngỡ ngàng khi thấy Ngọc-Hân, trong chiếc áo dài kim tuyến lóng lánh, đang đứng trên sân khấu, tay cầm micro và mắt nhìn thẳng về huớng bàn của Kiệt rồi ca lên những lời tình tự! Không đủ can đảm xem tiếp, Thảo-Ly chạy vào giường, úp mặt lên gối, khóc!
Sau một lúc khóc cho thỏa thuê, Thảo-Ly bình tâm trở lại. Thảo-Ly không trách Kiệt; vì làm thế nào người đàn ông có thể cưỡng lại sự đeo đuổi dai dẵng của một người đàn bà. Và, điều khôi hài là Thảo-Ly cũng không trách Ngọc-Hân; bởi vì Thảo-Ly biết, Kiệt có sức lôi cuốn khá mạnh đối với người khác phái. Ngày xưa, khi Kiệt đứng trên bục gỗ nhìn xuống học sinh để giảng về hình học không gian thì không một trò nào dám xao lãng; nhưng khi Kiệt quay mặt vào bảng để viết những công thức rườm rà thì học sinh lén chỉ chỏ về cái mũ nhà binh và bộ quân phục “chết người” của Kiệt! Càng suy nghĩ Thảo-Ly càng thương Kiệt, càng nhớ con. Và Thảo-Ly ước mơ được “bay” sang Mỹ ngay tức thì để được ôm con vào lòng, được tựa đầu lên vùng ngực mênh mông của Kiệt…
Ước mơ xa vời của Thảo-Ly vừa đến đây, nàng chợt nghe tiếng ho sù sụ của bà Trực từ phòng ngoài. Tiếng ho của bà Trực nhắc cho Thảo-Ly biết mùa Đông sắp đến rồi. Năm nào cũng vậy, mùa Đông đến là mùa bà Trực bị bệnh suyển hành hạ nhiều nhất. Thảo-Ly thở dài, tự hỏi, có thể để bà Trực ở lại đây một mình hay không? Ngày xưa, ông bà Trực, Thầy Cô và bạn bè ai cũng đoán tương lai của Thảo-Ly sẽ rất xáng lạng. Nhưng bây giờ Thảo-Ly mới nhận ra nàng là một người hoàn toàn thất bại! Nàng thất bại vì không thể thuyết phục Kiệt di tản năm 1975; vì Kiệt khẳng định chàng chỉ là một sĩ quan biệt phái để dạy học chứ chàng không phải là một sĩ quan tác chiến! Nàng đã thất bại vì không thể khuyên bà Trực từ bỏ quan niệm lỗi thời để thích nghi với hoàn cảnh hiện tại. Nàng cũng thất bại vì không thể chiếm giữ trái tim của Kiệt cho riêng nàng!
Thảo-Ly uể oải ngồi giậy. Vừa khi đó, tiếng hát của một nam sinh, trong video Hội Ngộ vang xa: “I can’t stop loving you, so I’ve made up my mind to live in memory of old lonesome time. I can’t stop wanting you, it’s useless to say. So I’ll just live my life in dreams of yesterday…”(4) Thảo-Ly lại mủi lòng, nằm vật trở lại rồi lặng lẽ lấy ống tay áo lau nước mắt.
* *
*
… Cả Bích-Loan và Kiệt đều im lặng, chậm bước đi bên nhau trên bờ cát mịn của bãi biển Santa Barbara. Kể từ hôm được thuyển chuyển đến làm việc tại thành phố giàu sang này, đây là lần đều tiên Kiệt đi bỉển. Nhìn mặt nước xanh thẫm và những đợt sóng nhẹ lóng lánh trong ánh nắng chiều, Kiệt tưởng như chàng có thể thấy lại vùng biển xưa và những lần chàng cùng Ngọc-Hân âm thầm đi bên nhau. Một lần, không hiểu nguyên nhân nào, Ngọc-Hân lặng lẽ khóc. Kiệt hỏi nhiều lần Ngọc-Hân mới thố lộ rằng nàng tủi thân vì nàng là kẻ … đến sau! Xúc động quá, Kiệt ôm Ngọc-Hân, hôn nàng đắm đuối. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần sau cùng Kiệt hôn Ngọc-Hân.
Giữa khi Kiệt đang nhớ về Ngọc-Hân thì Bích-Loan lại nghĩ đến nỗi quạnh hiu của nàng từ bao nhiêu năm qua. Trong những tháng năm đơn độc của Bích-Loan, Kiệt là người đã an ủi, khuyến khích để Bích-Loan hiểu được rằng, dù thế nào đi nữa, trong cuộc sống này vẫn còn nhiều người đàn ông đạo đức, cao thượng và thương yêu thật lòng. Qua những e-mails trao đổi nhau, Bích-Loan nhận biết, đôi khi vô tình, Kiệt hé lộ tình cảm của chàng dành cho nàng. Thật lòng, ngoài tình Thầy trò, Bích-Loan cũng dành cho Kiệt rất nhiều thiện cảm. Nhưng mỗi khi nghĩ đến Thảo-Ly, Bích-Loan lại cảm thấy “tội lỗi” đối với người bạn xưa cho nên tình cảm bị nén lại.
Bây giờ đi cạnh nhau, Bích-Loan muốn tìm hiểu xem tình cảm của Kiệt như thế nào:
– Thưa Thầy…Dạ, quên, thưa anh. Khi nhận được tin Thảo-Ly nộp đơn ly dị, anh nghĩ như thế nào?
Bị hỏi bất ngờ, Kiệt hơi lung túng:
– Tôi… Tôi hoàn toàn ngạc nhiên.
– Anh có hỏi Thảo-Ly lý do nào khiến Thảo-Ly đi đến quyết định đó hay không?
– Có. Tôi điện thoại về hỏi nhiều lần; lần nào Thảo-Ly cũng khóc và bảo là duyên nợ không còn thì thôi.
– Em nghĩ …
Bích-Loan ngập ngừng vì ngày xưa nàng gọi Kiệt bằng Thầy, xưng “con”; sau 1975 Kiệt bảo tất cả học trò cũ nên gọi Kiệt bằng anh. Gọi Kiệt bằng anh mà xưng em Bích-Loan cảm thấy người ngượng. Kiệt nhìn nàng:
– Sao? Bích-Loan nghĩ gì?
– Dạ…em muốn hỏi tại sao…anh không về Việt-Nam để trực tiếp nói chuyện với Thảo-Ly?
– Tôi đã nộp đơn xin visa nhưng chính phủ Việt-Nam không chấp thuận.
– Có phải vì những bài nhận định rất “nẩy lửa” của anh mà họ không cấp visa cho anh về hay không?
– Tôi không biết, nhưng có thể là như vậy.
Im lặng một chốc, Bích-Loan hỏi:
– Có bao giờ anh nghĩ rằng một người đàn ông nào đó đã chiếm vị thế của anh trong trái tim của Thảo-Ly hay không?
– Không. Không bao giờ. Thảo-Ly là một phụ nữ hiền thục, đức hạnh và được giáo dục rất nghiêm minh; vả lại, thời gian dài tôi ở tù ngoài Bắc, Thảo-Ly còn trẻ, đẹp mà Thảo-Ly không phụ tôi thì tại sao bây giờ Thảo-Ly lại phụ tôi?
– Hay là Thảo-Ly cao thượng, muốn trả tự do cho Thầy, ô, dạ quên, cho anh?
– Cũng có thể.
– Nếu giả thuyết đó đúng thì anh nghĩ như thế nào?
Kiệt cười:
– Ôi chao! Tôi đang nói chuyện với cô học trò cũ hay là tôi đang bị Barbara Walters phỏng vấn đây?
– Ô, em xin lỗi Thầy.
– Lại Thầy!
– Dạ, anh…mà anh cho em hỏi một câu nữa, được không?
– Được. Cứ hỏi.Nhưng trước khi hỏi, tôi nghĩ mình nên lên bờ cát khô ngồi nghỉ chân một chốc, Bích-Loan đồng ý không?
Bích-Loan im lặng, bước theo Kiệt. Cả hai ngồi xa xa những người đang hóng gió biển và cạnh một cặp vợ chồng Mỹ thuộc vào lứa tuổi Baby Boomer. Kiệt nhìn Bích-Loan:
– Sao? “Cô phóng viên” muốn hỏi gì đây?
– Dạ, anh có cảm thấy cô đơn trong cuộc sống độc thân hay không?
– Có. Nhưng tôi đã hoặch định một thời khóa biểu rõ rệt cho từng ngày, nhờ vậy tôi không bị “nhàn cư vi bất thiện”. Tuy nhiên, càng lớn tuổi, tôi nghĩ, con người càng có nhu cầu tình cảm nhiều hơn.
Dừng lại trong phút giây, Kiệt tiếp:
– Còn Bích-Loan? Bích-Loan có thích nghi trong cuộc sống độc thân hay không?
– Dạ, em nghĩ, sống với nhau nên cố tạo niềm vui cho nhau. Nếu không tạo được niềm vui cho nhau thì ít ra cũng đừng làm phiền nhau. Khi mà mình cứ bị làm phiền nhiều quá thì cuộc sống độc thân là một giải pháp tốt đẹp.
– Trong cuộc sống độc thân Bích-Loan có cảm thấy tình cảm là một nhu cầu thiết yếu hay không?
Là một phụ nữ với tâm hồn rất nhạy cảm, Bích-Loan hiểu nàng không nên trả lời thẳng vào câu hỏi của Kiệt:
– Thưa anh, dù đã nhiều lần anh khuyên giải em, nhưng em vẫn như con chim vừa bị tên, thấy cây cong thì sợ.
Kiệt hơi thất vọng. Nhận ra nét thất vọng của Kiệt, Bích-Loan tiếp:
– Anh cho em hỏi anh một câu có tích cách tò mò, được không, thưa anh?
Kiệt nhìn Bích-Loan, mỉm cười, “Okay”.
– Kỳ Hội Ngộ vừa rồi Ngọc-Hân có đến chào Thầy hay không?
– Đừng gọi tôi bằng Thầy.
– Dạ, em sorry.
– Có. Ngọc-Hân đến và nói chuyện lâu lắm.
– Dạ, từ ngày anh sang Mỹ, đó là lần đầu tiên anh gặp lại Ngọc-Hân hay là…
Bích-Loan bỏ lửng, nhìn Kiệt và chờ câu trả lời của chàng. Kiệt vẫn thật lòng:
– Không. Ngọc-Hân vẫn giữ liên lạc với tôi từ mấy mươi năm qua.
Bích-Loan vô cùng ngạc nhiên:
– Mấy mươi năm qua? Có phải đó là lý do Thảo-Ly không muốn sang Mỹ cùng anh và các cháu hay không?
– Không. Tôi và Ngọc-Hân không có gì cả, chỉ…
Kiệt chưa kịp nói tiếp “chỉ có một nụ hôn thôi” thì Bích-Loan đã cười mỉm như không tin:
– Anh và Ngọc-Hân có gì hay không thì chỉ giữa anh, Ngọc-Hân và Trời biết chứ làm thế nào ai biết được. Thôi, em phải về đây.
Bích-Loan thay đổi thái độ quá đột ngột khiến Kiệt ngỡ ngàng:
– Tại sao? Em đã nhận lời dùng cơm chiều với anh rồi mới về mà?
Trong phút giây xúc động Kiệt quên giữ ý cho nên xưng “anh, em” nhưng cả chàng và Bích-Loan đều không chú ý.
– Dạ, em xin lỗi. Em phải về.
– Anh không hiểu gì cả. Anh có nói gì làm tổn thương em không?
Bích-Loan muốn nói: “Suốt mấy mươi năm qua mà anh vẫn ‘giấu trong tim bóng một người’ thì em sợ anh lắm! Em sợ anh cũng như em sợ ông ‘ex’ của em vậy.” nhưng nàng lại dối:
– Dạ không. Em phải về.
– Em muốn về thì em về. Cuối tuần anh sẽ xuống thăm em.
– Dạ, thôi! Anh đừng liên lạc với em nữa.
Kiệt lắc đầu:
– Anh không hiểu gì cả. Một lần nào đó em nói với anh rằng những người thuộc cung Cancer rất khó hiểu. Bây giờ anh mới nhận thấy điều em nói là đúng.
– Dạ, em, cung Cancer; và anh cũng thuộc vào cung Cancer vậy.
Kiệt thoáng giật mình, không ngờ cô học trò cũ lại nhớ cả tử vi của chàng. Kiệt nghiêm giọng:
– Bích-Loan! Để anh giải thích. Anh và Ngọc-Hân không có gì cả.
Bích-Loan nhìn ra biển khơi, lòng buồn vô hạn. Bích-Loan không tự biết được rằng nàng buồn cho Thảo-Ly hay buồn cho chính nàng.
– Anh không cần phải giải thích với em. Người mà anh cần giải thích là Thảo-Ly. Thôi, em xin phép anh, em về.
– Để anh đưa em ra bãi đậu xe.
Đi ngang vợ chồng người Mỹ thuộc vào thế hệ Baby Boomer, vô tình Kiệt nghe, từ radio của họ, một nhạc khúc xưa mà chàng biết Thảo-Ly rất thích.
Lúc Kiệt trở lại bãi cát một mình, Pat Boone đang hát đến đoạn: “…You make a vow that you would always be true. But somehow that vow meant nothing to you…”(5) Câu hát này khiến Kiệt nhớ lại những buổi tối, sau những giờ giảng dạy tại các lớp luyện thi, trở về nhà, Kiệt thường nghe Thảo-Ly ngân nga để ru con. Kiệt không hiểu, đó chỉ là sự trùng hợp hay là Thảo-Ly đã nhận biết sự liên hệ giữa chàng và Ngọc-Hân rồi Thảo-Ly hát lên để thầm trách chàng!
Dù ngày xưa Thảo-Ly có thầm trách chàng hay không thì, bây giờ, với trạng huống tình cảm này, trong khung cảnh này, giọng ca của Pat Boone cũng đưa Kiệt trở về khung trời cũ; nơi đó, lúc mới yêu nhau, Thảo-Ly và chàng thường sánh bước bên nhau mà không biết gì để nói với nhau. Thỉnh thoảng “hai đứa” nhìn nhau, cười. Những lúc đó Thảo-Ly trông bẻn lẽn, ngây thơ và đáng yêu vô cùng…
Kiệt dùng ngón tay trỏ viết trên cát hai chữ: Thảo-Ly!

*-.1-2-5: Love Letters In The Sand cùa Pat Boone.
*-.3: Gợi Giấc Mơ Xưa của Lê-Hoàng-Long.
*-.4: Can’t Stop Loving You của Ricky Nelson.

Điệp Mỹ Linh

Tưởng Như Trở Về - Điệp Mỹ Linh

Lời tòa soạn: Những địa danh cũng như tên đường được đề cập trong Tùy Bút Tưởng Như Trở Về là địa danh và tên đường của thành phố Nha-Trang vào đầu thập niên 60 của thế kỷ 20.
Hà-Nội dịu dàng, Hà-Nội thướt tha, Hà-Nội quyến rũ...” Bằng một giọng không còn là Bắc-Kỳ nguyên thủy, diễn giả nhấn giọng ở dấu nặng mỗi khi lập lại danh từ riêng “Hà-Nội”.
Cứ mỗi lần chữ “Nội” được phát âm, cái dấu nặng dường như nặng hơn và dội thẳng vào tâm thức tôi; ở đó bao kỷ niệm ấu thơ đang yên ngủ, bỗng trở mình, thức giậy.
Trong khi diễn giả vẽ ra những cảnh sắc nên thơ, những con đường yêu mến của Hà-Nội thuở xưa thì hồn tôi như ngây, như dại, âm thầm tìm về những ngõ ngách quanh co của một quá khứ mịt mùng; nơi có tiếng sóng rì rào bên bờ cát mịn, tiếng chuông chùa đồng vọng trên đồi cao, tiếng chuông nhà thờ ngân vang khi chiều xuống và tiếng xình xịch rã rời của chuyến tàu đêm.
Bỗng dưng tôi tưởng như tôi thấy được chuyến xe lửa mệt nhọc đang hổn hển thở từng ngụm khói đen sì giữa cánh đồng bao la. Và, từ một toa xe dơ bẩn, tôi đang lặng người, trải dài bao thương nhớ theo từng vết lăn trên đoạn đường đầy rỉ sét.
Khi tàu đến Suối-Dầu, nhìn ánh nắng mỏng lướt nhẹ trên rừng cao su xanh rì và chiếc cầu nhỏ bắt ngang con suối cạn để vào Quận đường, tôi không nén được xúc động! Phạm-Đình-Phê, ngón đàn vĩ cầm không đối thủ của Nha-Trang đã phục vụ nơi đây, một thời. Nếu thính giả của đài phát thanh Nha-Trang từng say mê tiếng vĩ cầm của Phê thì các cô gái Nha-Thành cũng nghe lòng mình rung động khi tiếng Tây-Ban-Cầm của Phê dìu dặt trong điệu Rhumba Melody trầm buồn vào những buổi họp mặt. Bây giờ, tôi không hiểu sau bao nhiêu năm tù đày, ngón đàn của người anh cô cậu có còn làm nhức nhối lòng người nghe hay anh phải bán đàn và xử dụng những ngón tay thon dài ấy vào động tác lao động để mưu sinh? Tôi thở dài, nhìn rừng cao su im lìm lùi lại phía xa.
Tàu tiến vào Thành, nơi xuất phát loại mít ráo dày cơm, xơ ít; loại ô mai ngọt, bùi, màu vàng tươi như lòng đỏ trứng gà; loại vú sữa nếp dày cơm, hạt nhỏ; loại sam-bô-chê ngọt như mật; loại chuối tiêu trái nhỏ nhưng thơm khi chín vàng.
Mùi thơm của chuối chín chắc chắn không giống mùi thơm của lúa. Nhưng màu vàng của chuối chín cây lại rạng rỡ chẳng khác chi màu vàng của cánh đồng lúa từ đường rầy xe lửa vào đến bìa làng; nơi đó, những mái nhà ngói đỏ thẹn thùng núp sau vườn cây ăn trái. Trong những vườn cây ấy, tôi biết chắc chắn thế nào cũng có cây mận với những trái đỏ hồng, hình quả chuông; cây chùm ruột với những trái nho nhỏ, kết thành chùm, từ xa trông như chùm nho xanh; cây bông điệp với những đóa hoa nhỏ nhắn màu vàng xen lẫn đỏ.
Tàu đến Cây-Dầu-Đôi, nơi có ông thầy bói nổi tiếng một thời. Con tàu vẫn tiến về phía trước nhưng hồn tôi lại lui về quá khứ, vì thấy cây cổ thụ vẫn tỏa rộng bóng mát êm đềm trên con đường nhựa ngập nắng.
Trên con đường ngập nắng ấy, đã biết bao lần tôi cùng bạn bè đạp xe đạp từ Nha-Trang lên đây để xem bói. Đứa học giỏi thì nhờ thầy bói xem sẽ đậu hay hỏng; đứa học dở thì nhờ thầy bói xem có bị bảng “cót” (không đủ điểm để thi lại kỳ hai) hay không? Cũng có nhiều nam sinh đi theo chỉ với mục đích được đi cùng với một nữ sinh nào mà chàng ta ngầm để ý.
Xem bói xong, chúng tôi thường đến nhà bạn ở Bình-Can ăn thanh long. Những trái thanh long vỏ tím hồng và ruột mát, ngọt tự nhiên, bây giờ nghĩ đến cũng bắt thèm. Từ quốc lộ vào làng, chúng tôi phải đạp xe hàng dọc trên bờ ruộng khô. Những bờ ruộng này chia cách cánh đồng lúa mênh mông thành những thửa ruộng vuông vắn. Cuối những thửa ruộng ấy là lũy tre già. Bên kia lũy tre, dòng sông Cái lặng lờ xuôi ra biển, lưu lại dọc lũy tre từng đụn cát im lìm.
Trên đường về, chúng tôi không quên ghé Phú-Vinh thăm bác Lê-Văn-Đào, giáo sư Anh văn và cũng là ngón đàn vĩ cầm một thời với Ba tôi -- Cụ Điệp Linh Nguyễn Văn Ngữ -- trong Hội Mỹ-Thuật Nha-Trang. Chúng tôi cũng ghé thăm chú Vân-Sơn, người có ngón đàn Hạ-Uy-Cầm tuyệt vời của ban ca nhạc Bình-Minh, đài phát thanh Nha-Trang.
Sau đó, chúng tôi ghé Chợ-Mới uống nước dừa tươi. Ôi! Những trái dừa xiêm nho nhỏ, xinh xinh, vừa tới độ “nạo” đã cho chúng tôi từng miếng dừa non beo béo, dòn dòn và từng ngụm nước dừa trong, mát, ngọt mà bất cứ loại giải khát nào trên hành tinh này cũng không thể sánh bằng!
Ngoài cái thú uống nước dừa, nam sinh còn thích ghé Chợ-Mới để ngắm những người con gái có làn da mỏng, trắng và mịn như da con gái Dalat. Riêng tôi, tôi thích ghé Chợ-mới để thỏa mãn khứu giác vì mùi cam sành, mùi xoài chín cây, mùi hoa chanh, hoa bưởi. Bưởi ở đây không mang tên diễm lệ như Thanh-Trà ở Huế, không ngọt đậm đà như bưởi Biên-Hòa. Nhưng bưởi ở đây mọng nước và hương vị riêng biệt của nó cộng với tý muối ớt cũng đủ làm cho dịch vị của chúng tôi tiết ra gấp bội.
Từ Chợ-Mới tôi có thể thấy mái chùa Hải-Đức vươn cao trên ngọn đồi dày đặc cây táo nhơn. Bậc cấp cao nghệu trước cổng chùa đã bao lần đếm bước chân tôi? Gốc bông sứ bên hông chùa đã bao lần nghe tiếng tôi “gạo” bài thi hoà với tiếng mõ nhịp nhàng thoát ra từ chánh điện? Mấy chú kỳ nhông có còn phóng nhanh vào khóm lá khô khi bất ngờ thấy tôi đang rón rén hái trộm đoá ngọc lan?
Nhiều hôm học xong tôi men theo con đường mòn phía sau chùa Hải-Đức để sang ngọn đồi lớn; nơi đây, chùa Phật-học im lìm sau hai hàng cây khuynh diệp, trường Bồ-Đề nương theo triền đồi thấp, và chùa Ngọc-Hội ẩn mình vào cuối ngọn đồi, về phía Tây. Từ ngọn đồi này tôi có thể thấy ngôi nhà thờ cao nghệu ở ngã sáu.
Dạo đó, những đêm Giáng-Sinh tôi thường choàng khăn voan quanh cổ, khoát chiếc áo lạnh ngắn, đi dọc theo đường Gia-Long, dưới hai hàng me sầu, rồi men theo bậc cấp bên hông nhà thờ, lên đến gốc đa, chỉ để nghe những bài thánh ca.
Cách nhà thờ không xa lắm, trên đường Nguyễn-Hoàng, Nhơn có còn cùng Ka-Lăng ru đời bằng Vần Thơ Sầu Rụng? Dàn hoa mimosa trước nhà “người” Hạ-Uy-Cầm Hà-Quang-Đức có còn nở rộ những đóa vàng hình tháp chuông? Cuối đường Thủ-Khoa-Huân, trường trung học bán công Lê-Qúy-Đôn có còn tổ chức những lớp luyện thi toán lý hóa vào mỗi mùa Hè?
Tôi vẫn nhớ, quanh trường Lê-Qúy-Đôn, hoa giấy nở rộ trên dàn, đơm bóng mát êm đềm trước những ngôi nhà tĩnh mịch. Nhiều khóm hoa giếng trắng, tím, hồng mọc hoang trên những vùng cát trắng, cạnh nhóm cây thồn bồn. Tôi thích hái hoa giếng, rút từ giữa đài hoa cái tim dài và nhỏ, rồi xoè bàn tay để cái tim lên, thổi nhẹ một tí là cái tim quay vòng vòng.
Ánh mắt tôi vượt khỏi rặng dương liễu và dừng lại nơi Trung tâm huấn luyện Không-Quân. Lòng tôi ngậm ngùi khi nghĩ đến Nguyễn-Đình-Tân, “dân” B-2, đã trở về lòng đất từ một cao độ trùng trùng! Và Nghị, người thường đi chiếc Vespa xanh xám, đến nhà tôi mỗi sáng chủ nhật để nghe ban Bình-Minh tập dượt. Là một người yêu nhạc, thích nghe nhạc, nhưng khi Nghị chết chỉ có tiếng phản lực thét gào!
Đến căn cứ Thủy-Quân Lục-Chiến tôi lại nhớ một lần ban Bình-Minh cùng nhóm học sinh đến đây ủy lạo binh sĩ theo lời mời của người hùng Nguyễn-Bá-Liên. Lần đó, Thúy-Minh đơn ca Em Gắng Chờ của Huỳnh-Anh, Hoàng-Thu đơn ca Mùa Thái Hòa, Thanh-Điệp vừa đệm phong cầm vừa hát Dạ-Khúc của Nguyễn-Mỹ-Ca và nhiều học sinh khác cũng đem niềm vui đến cho những người lính chiến. Sau đó, chúng tôi được một sinh viên sĩ quan Quân-Y, bút hiệu Hoàng-Việt-Sơn, tặng bài thơ Tiếng Đàn Đêm Trung-Thu mà nay tôi nhớ không trọn:
.... Về đây tôi đã gặp nàng,
Bên bờ biển đẹp lòng tràn nhớ thương.
Đêm Thu ai hát Nghê thường?
Phong cầm chuyển phím tay hường nhẹ buông.
......
Em về đâu? Em ở đâu?
Cho tôi nghe mãi tiếng đàn,
Tâm tình giọng hát qua làn gió đưa.
Thúy-Minh, Thanh-Điệp, Hoàng-Thu,
Những hình bóng cũ bao giờ phai đâu!...
 
Bây giờ không biết vị bác sĩ Quân-Y “về đâu? ở đâu?”, nhưng tôi biết người hùng Nguyễn-Bá-Liên đang ở một nơi rất yên bình và không có hận thù!
Và kia là Trung Tâm Huấn Luyện Hải-Quân; nơi tôi có những gắn bó không rời; nơi tôi hiểu thế nào là lễ nghi quân cách của một quân chủng nặng truyền thống trưởng giả; và cũng là nơi Bùi-Tiết-Qúy, “dân” B-3 và Mùi, “dân bê bối (B-4) của tôi” đầu quân.
Qua khỏi cụm thông già nơi bệnh xá Hải-Quân là Chutt với những tô phở gà thịt thơm, bánh phở dai, nước dùng trong vắt và vài cái trứng non, ăn thơm thơm, bùi bùi.
Cách hàng phở không xa là con dốc nhỏ nối liền Chutt với Cầu-Đá. Tôi thích xuống Cầu-Đá vào mùa Thu để nhìn lá bàng bay bay trước khu phố hẹp và trong vòng rào Hải-Học-Viện; để nhìn những đợt sóng triền miên kéo về tung bọt trắng xóa bên ghềnh đá chơ vơ; để thấy con tàu an bình nhờ sự vây bọc của ngọn Corniche de Cauda và hòn Bảy-Miếu; để thấy mấy chàng Hải-Quân trong quân phục tiểu lễ trắng, áo dạ màu xanh đen, rời xe lam với những bước vội vàng.
Khoảng cách từ hòn Bảy-Miếu đến mõm núi cuối làng Xóm-Bóng có thể gọi là “cửa lớn” của “ngôi nhà” Nha-Trang; vì muốn vào Nha-Trang bằng đường thủy phải qua vùng biển ấy.
Nơi vùng biển ấy, mỗi sáng, từng đoàn ghe lũ lượt ra khơi từ Xóm-Bóng, và mỗi chiều, từng cánh buồm no gió lửng thửng trở về. Cũng nơi vùng biển ấy, vào những đêm tối trời, những điểm sáng ly ty của đoàn ghe câu mực trông rực rỡ và kỳ bí như những vì sao lấp lánh trên nền trời đêm.
Trên mõm núi cuối làng Xóm-Bóng là tu viện và trường dòng. Không xa hai chốn trang nghiêm ấy, về hướng Bắc, là Hòn-Chồng; nơi dường như lúc nào sóng cũng nổi cơn cuồng nộ, dội ầm ì vào ghềnh đá cheo leo. Chính cái âm thanh vang động này và hình ảnh những lượn sóng vỡ ra trắng xóa đã đem đến cho Hòn-Chồng tính chất hùng vỹ và lãng mạn. Những lần đến đây tôi thích ngồi lặng lẽ nhìn những nhánh rong rêu sậm màu chờn vờn theo từng lượn sóng rạc rào trên những phiến đá phẳng, cạnh mặt nước. Ngoài mấy đụn cát bên bờ vắng, Hòn-Chồng chỉ có nắng, gió, đá và sóng. Trong tiếng thét gào của sóng, Hòn-Chồng âm thầm ghi lại không biết bao nhiêu mối tình thơ!
Lui về hướng Tây Nam, tôi thấy lại vườn ổi ở Lương-Sơn với bác giữ vườn đôn hậu. Ngày xưa, bất cứ toán học sinh nào đến đây, chỉ trao cho bác ít tiền tượng trưng là có thể ăn tại chỗ bao nhiêu cũng được. Ổi ở đây không lớn như ổi ở Bac Mỹ-Thuận hay Bac Vàm-Cống. Nhưng ổi ở đây da mởn, vị đậm đà, ruột đỏ hồng. Những trái ổi chín cây lại có mùi thơm ngọt ngào, lúc nào cũng quyến rũ lũ chim non.
Và đây, Tháp-Bà ngào ngạc trầm hương soi mình bên dòng sông Cái. Từ chân cầu Xóm-Bóng lên đến chánh điện không biết phải qua bao nhiêu bậc cấp, nhưng những người hoang mang trước nhiều uẩn khúc của dòng đời đầy hệ lụy thường tìm đến đây để cầu nguyện, xin xăm. Vào dịp Tết hay cuối tuần, khung cảnh Tháp-Bà tấp nập hơn, vì lũ học trò như chúng tôi thường đến đây chụp hình, xin xăm và hái lộc.
Rời khóm cây đầy bóng mát và mấy tàng phượng vỹ đỏ rực quanh Tháp-Bà, ánh mắt tôi dừng lại một chốc nơi hòn Đá-Chữ chơ vơ giữa lòng sông Cái. Trên hòn Đá-Chữ, một cây Bồ-Đề nhỏ nhắn, lẻ loi.
Nếu cây Bồ-Đề trên hòn Đá-Chữ xinh như loại cây trong chậu kiểng, thì cây Bồ-Đề trên miếu Sinh-Trung lại sum sê, um tùm như một cổ thụ. Từ mặt đường lên đến cổ thụ này cũng phải qua nhiều bậc cấp ven triền đồi. Từ đồi này nhìn xuống cửa sông Cái, doi Xóm-Cồn lặng lẽ với những mái nhà lụp xụp dưới rặng dừa xanh. Xóm-Cồn im lìm bao nhiêu thì trên đồi này cảnh vật cũng tĩnh mịch bấy nhiêu, tuy dưới chân đồi là bến xe đò Sinh-Trung nhộn nhịp, xô bồ.
Đối diện với bến xe Sinh-Trung là Rọc-Rau-Muống; nơi rau muống được trồng từng ao, từng ruộng, lan mãi đến đường Trần-Qúy-Cáp. Chính sự hiện diện của những ruộng rau muống đã tạo nên giao điểm của sự khác biệt nơi đường Trần-Qúy-Cáp: Một bên thì, Nha-Trang tấp nập, Nha-Trang yêu kiều, Nha-Trang lộng gió; và bên kia là vùng quê êm đềm bên những ruộng rau muống xanh ngút ngàn.
Nhắc đến đường Trần-Qúy-Cáp là nhắc đế tiệm nem Ninh-Hòa với những chiếc nem chua nho nhỏ, chỉ đủ vừa cắn làm đôi; những cuốn chả ram dòn rụm, có con tôm ở giữa; những lụi nem nướng bốc khói trên lò than hồng; và những đòn chả lụa nóng, dai, thơm mùi lá chuối.
Mỗi món ăn có một mùi thơm riêng biệt. Như mùi thơm của chả lụa không thể nào giống được mùi thơm của tô phở Chutt. Và hương vị phở Chutt cũng hoàn toàn khác với hương vị phở Bắc chính thống của tiệm phở Hợp-Lợi, trên đường Trần-Qúy-Cáp, gần đường rẽ vào Phường-Củi.
Con đường vào Phường-Củi khởi đầu từ đường Gia-Long, men theo công trường Trịnh-Minh-Thế trước sân ga, cắt đường Yersin, Hoàng-Tử-Cảnh, Độc-Lập và Trần-Qúy-Cáp. Nhờ vậy, từ phở Hợp-Lợi, nếu muốn sang đường Độc-Lập, chỉ cần đi vòng tiệm bánh Thanh-Vân là đến.
Đầu đường Độc-Lập, trước công trường Trịnh-Minh-Thế, là nơi ngày xưa tôi thường chen lấn, cố tìm một chỗ gần lề đường để xem duyệt binh. Lớn hơn một chút, tôi không đến đầu đường Độc-Lập để xem diễn hành nữa, mà tôi đến để mua sách, mua bản nhạc tại nhà sách Kim-Anh. Tôi vẫn nhớ chị bán sách tên Tuyền, có mái tóc rất dài và mượt như tơ. Cũng nơi đây, tiếng phong cầm dồn dập của Hoàng-Đình-Phiên nghe chẳng khác chi tiếng đàn chuyên nghiệp của Trần-Văn-Lý. Ngoài ra, vào những lúc tinh thần chùng thấp, Phiên cũng thích ru hồn bằng tiếng vĩ cầm thiết tha. Phiên là “linh hồn” của ban Gió-Mùa, đài phát thanh Nha-Trang. Nhưng mỗi khi Ba tôi -- cụ Điệp-Linh Nguyễn-Văn-Ngữ, Trưởng Ban Ca Nhạc Bình-Minh đài phát thanh Nha-Trang -- yêu cầu, Phiên cũng tăng cường cho ban Bình-Minh.
Xuôi theo đường Độc-Lập, chưa đến rạp xi-nê Tân-Tân, nhưng khứu giác của tôi bắt đầu “báo động” liên tục vì mùi thức ăn từ nhà hàng Dân-Thiên; nơi xuất phát những món ăn Tây chỉ thua nhà hàng Frigate ở bưu điện chút xíu thôi. Nhìn mấy bích chương đồ sộ treo ngay trước rạp Tân-Tân, không làm sao tôi không nhớ những xấp chương trình xi-nê mà thời đó chúng tôi rất thích cất giữ như cất giữ “Lưu bút ngày xanh” vậy. Tờ chương trình nào có in bản nhạc là chúng tôi tập hát ngay. Những nhạc khúc được ưa chuộng lúc bấy giờ là Rivière Sans Retour, Bernadine, Letters In The Sand, Soyonara, Only you, v. v... Nhắc đến những ca khúc này không làm sao tôi không nghĩ đến bác Nguyễn-Hữu-Dưỡng, giáo sư toán và cũng là ngón đàn vĩ cầm cùng thời với Ba tôi trong Hội Mỹ-Thuật Nha-Trang.
Cách rạp Tân-Tân chỉ vài căn phố là ngã tư Độc-Lập và đường Nhà-Thờ. Nơi đây lúc nào lời ca và nhạc Ấn-Độ cũng vang dội từ máy khuyếch đại âm thanh đặt ngay trước rạp Tân-Tiến. Vốn không thích nhạc và phim Ấn-Độ và cũng không thích thưởng thức nhạc một cách ồn ào, không bao giờ tôi đến rạp Tân-Tiến để xem xi-nê mà chỉ đến vì... hủ tiếu, mì, sâm bổ lượng và các món chè. Nếu Sài-Gòn có Chợ-Cũ với những món ăn vặt rất hấp dẫn của mấy chú Ba-Tàu thì Nha-Trang có khu vực chung quanh rạp xi-nê Tân-Tiến.
Rời khu vực Tân-Tiến, chỉ cần qua khỏi Garage Charner, tôi thấy lại cái quán nhỏ của ông Tàu già chuyên bán sữa đậu nành và pa-tê-sô, ngay ngã ba Độc-Lập và Công-Quán. Ngày xưa, mỗi khi thâu thanh hoặc phát thanh trực tiếp xong, Ba tôi thường đưa toàn ban Bình-Minh đến quán này uống sữa đậu nành. Những lần đó, chú Phan-Phi-Phụng, giáo sư trường trung học Kỹ-Thuật và cũng là người chơi Banjo Alto với cả ngón út của bàn tay trái, thường kể những mẫu chuyện rất ý vị.
Từ quán ông Tàu già, thấy ánh đèn sáng rực trước rạp xi-nê Minh-Châu, tôi bùi ngùi nhớ lại giọng hát, tiếng đàn của những nghệ sĩ tài tử của trường Võ-Tánh cũng như của ban Bình-Minh vào những dịp tổ chức xi-nê có phụ diễn tân nhạc để gây qũy. Những lần đó, Thanh-Điệp độc tấu phong cầm những nhạc khúc Conserto của J. Rosas, Ivanovici, J. Strauss, v.v..., và Nguyệt-Thu không bao giờ đơn ca Sérénata mà không có tiếng vĩ cầm réo rắc của Phạm-Đình-Phê. Một lần, cũng tại rạp xi-nê Minh-Châu, Thanh-Điệp, Bích-Khuê, Bích-Khê cùng Thọ và Luân trong trường ca Hội-Trùng-Dương của Phạm-Đình-Chương, hòa âm của Nghiêm-Phú-Phi, đã đem giải nhất trong cuộc thi văn nghệ toàn miền Trung về cho trường Võ-Tánh.
Qua khỏi rạp Minh-Châu, nơi góc đường Công-Quán và Yersin, hàng cây khuynh diệp trước ngôi nhà của nhạc sĩ Minh-Kỳ đang lã mình trong gió. Giờ đây Minh-Kỳ không còn nữa, thảo nào hàng khuynh diệp thì thầm tiếc thương!
Từ nhà nhạc sĩ Minh-Kỳ có thể nghe tiếng Dalida trong bản Bambino phát ra vang dội từ máy khuếch đại âm thanh nơi rạp Tân-Quang, ngay ngã sáu Nhà-Đèn. Xeo xéo Nhà-Đèn, trên đường Quang-Trung, là ngôi nhà của Hoàng-Cầm, tiếng hát nhà nghề.
Từ nhà Hoàng-Cầm trở ra đường Độc-Lập, quẹo phải là đầu đường Phan-Bội-Châu; nơi có căn lầu hai tầng của Trần-Nam, người có biệt tài xử dụng Tây-Ban-Cầm giả tiếng Đại-Hồ-Cầm mà bất cứ người nào có trình độ thẩm âm cao thế mấy đi nữa cũng khó có thể phân biệt. Nhưng đó chỉ là sở đoản của Trần-Nam thôi; sở trường của Trần-Nam là tiếng Clarinette trầm và đục.
Qua khỏi nhà Trần-Nam khoảng vài căn phố là ngôi nhà hai tầng của Thérèse Scott; người đã đơn ca Giòng Sông Xanh, phát thanh trực tiếp vào hôm khai mạc đài phát thanh Nha-Trang. Hôm đó Thanh-Điệp cũng đơn ca Trở Về Thôn Cũ của Nhị-Hà. Sát bên nhà Thérèse Scott là cửa hàng của gia đình Thúy-Minh và Hoàng-Thu, hai giọng nữ trong ban ca nhạc Bình-Minh.
Xuôi theo đường Phan-Bội-Châu, qua khỏi rạp Modern, là khu phố sầm uất nhất của Nha-Trang. Vào những ngày trước Tết, chợ Tết thường được tổ chức trong lòng phố này, chiếm hẳn khoảng đường từ rạp Modern đến Toà án. Ban ngày chợ Tết thường đông người lớn tuổi đi mua sắm. Ban đêm là thời gian của người trẻ và lính. Cứ mỗi chiều, xe GMC từ các trung tâm huấn luyện Không-Quân, Hải-Quân, Đồng-Đế kéo về, “đổ” xuống cạnh chợ Tết không biết bao nhiêu là sinh-viên sĩ-quan và lính. Nhờ vậy, lúc nào chợ Tết cũng mang sắc thái vui tươi, nhộn nhịp.
Mỗi lần đi chợ Tết, chúng tôi thường chọn những chiếc áo dài vừa ý nhất, những chiếc áo lạnh hợp thời nhất và thế nào cũng choàng những chiếc khăn voan hợp với màu áo. Chúng tôi thích đi từng hai hay ba đứa với nhau, vừa đi chầm chậm vừa cắn hạt dưa vừa nói chuyện thầm thì. Thời đó, trong nhóm chúng tôi ít đứa được phép trang điểm, cho nên chúng tôi rất thích cắn hạt dưa cho môi hồng hồng. Chúng tôi, và hầu như tất cả mọi người đi chợ Tết ban đêm, cứ lượn lên lượn xuống dọc theo hai hè phố tràn ngập ánh sáng, rực rỡ lụa là, thơm mùi bánh mứt và lanh lảnh tiếng chào mời của mấy cô bán hàng xinh xinh. Khi nào biết “bị” người khác phái để ý và đi theo, chúng tôi thích thú trong lòng nhưng không hiểu tại sao lại cứ lẫn vào mấy cửa hàng để... trốn!
Một trong những nơi chúng tôi thường lẫn trốn là căn phố hai tầng của Mầu, ngay trước chợ Đầm. Mầu là “tay” Saxophone nồng cốt của ban Bình-Minh. Nếu ai đã nghe tiếng Saxophone Alto của Mầu nức nở từng hồi trong sầu khúc J’ai Rêvé De Vous thì người đó sẽ không còn muốn nghe tiếng Saxo. của ai khác nữa – ngay như của Louis Amstrong hay là Kenny G.!
Cách nhà Mầu một con đường nhỏ dẫn ra biển là cửa hàng và khách sạn của gia đình chú Huỳnh-Anh, người sử dụng Đại-Hồ-Cầm độc nhất của Nha-Trang thời bấy giờ. Ngày xưa, mỗi tối đi học Anh-Văn ở Thanh-Thương-Hội, gần Tòa Tỉnh, tôi thường đạp xe đạp qua đây và thấy chú Huỳnh-Anh ngồi đọc sách hoặc hút thuốc ngay dưới trụ đèn đường. Về sau, các lớp Anh-Văn ở Thanh-Thương-Hội không còn nữa, cũng như chú Thu-Hoài -- giọng ca nồng nàn, ấm áp nhất của Nha-Trang vào thời điểm đó -- đã giã từ tiểu đoàn Bảo-An phòng vệ Tòa Tỉnh.
Vì đài phát thanh nằm trong khuôn viên Tòa Tỉnh cho nên, ngày đó, trước hay sau khi thâu thanh hoặc phát thanh trực tiếp, tôi thích lang thang quanh những con đường rợp bóng cây bàng để thỉnh thoảng nghe tiếng trái bàng rơi trên mặt đường.
Trước đài phát thanh, bên trái, cuối giải cát vàng là Xóm-Cồn; nơi có Đài thiên-văn Yersin. Bên phải, con đường Duy-Tân uốn mình bên dải cát mềm và hàng thông cằn cỗi.
Cạnh những hàng thông này, dạo vừa cùng gia đình từ Dalat dời về Nha-Trang, mỗi chiều chủ nhật, tôi thích đến để nghe ban nhạc “Kèn đồng” (quân nhạc) của Hải-Quân hòa nhạc. Thỉnh thoảng khán giả cũng “nổi máu nghệ sĩ”, tình nguyện hát một bản. Lúc ấy tôi chỉ hơn mười tuổi. Nhưng khi nghe một người hát ca khúc Viễn-Du tôi vẫn hiểu bản ấy không nên hát với ban nhạc “Kèn đồng” và trong khung cảnh này. Tuy vậy, lời ca, tiếng nhạc cũng dẫn dắt hồn tôi đi thật xa. Nhìn trời lồng lộng, nhìn biển mênh mông và nhìn quân phục tiểu lễ trắng của nhạc công, tôi thích. Tôi buồn. Và tôi ước mơ!
Dọc theo đường Duy-Tân là viện Pasteur, Khu Công-Chánh, nhà hàng Beau Rivage, Grand hotel, v. v... Nhưng nơi tôi thích nhất là ngã ba Duy-Tân và đường Bá-Đa-Lộc; vì đường Bá-Đa-Lộc chạy ngang ngôi trường thân yêu của tôi: Trường Trung Học Võ-Tánh.
Trường Võ-Tánh là tòa nhà đồ sộ hai tầng, mái lợp bằng ngói đỏ, tường sơn màu trứng sáo. Trong sân trường trồng nhiều cây sao, nhưng cây còn nhỏ, chưa tỏa được bóng mát um tùm như hai hàng cây sao dọc theo đường Bá-Đa-Lộc. Trường tôi không giàu cho nên sân trước không được tráng xi-măng mà chỉ được “nện” bằng đất đỏ, sân sau là bãi cát trống, đầy hoa giếng và cây thồn bồn. Trên bãi cát này, ngày xưa, học sinh thường dựng sân khấu lộ thiên để trình diễn văn nghệ vào những dịp bãi trường hoặc mừng Xuân.
Đối diện với trường Võ-Tánh, cách một khoảng đất trống và đường Yersin, là sân vận động; nơi tôi thường theo Ba tôi đi xem đá banh, để thấy Ba tôi lăng xăng phỏng vấn, viết bài cho báo Đuốc-Thiêng.
Từ sân vận động, theo đường Yersin ngược lên phía ga xe lửa, tôi bỗng lặng người khi thấy lại ngôi nhà cũ - nơi chị em tôi lớn lên trong vòng tay thương yêu của người Mẹ rất đẹp và trẻ cho đến độ ai cũng tưởng Bà là chị tôi; và người Cha mang giòng máu nghệ sĩ nhưng sống khắc khổ như vị chân tu!
Cách nhà tôi độ vài gốc cây muồng là khách sạn Phụng-Hoàng; nơi Hàn-Phong-Cao đã lớn lên, đã ca vang những ca khúc tình tự dân tộc và đã đưa tiếng ca ngọt ngào ấy theo từng vết lăn của đoàn Kỵ-Binh.
Xéo góc với khách sạn Phụng-Hoàng, trên đường Gia-Long, là ngôi nhà của Thanh-Hoa, người có giọng soprano cao vút, cũng trong ban Bình-Minh. Cùng với tiếng vĩ cầm lảnh lót của Phạm-Đình-Phê, tiếng hát Thanh-Hoa đã làm say đắm không biết bao nhiêu tâm hồn yêu nhạc trong sầu khúc bán cổ điển Sénérade của Schubert.
Trong nỗi nhớ khôn cùng, tôi tưởng như tôi thấy lại tôi của những lần chơi vũ cầu trong sân, hoặc tập xe đạp trên đường Yersin, té lăn nhào trong tiếng cười rộ của đám bạn cùng lứa. Ngày đó, nếu đường Yersin cho tôi những tràng cười hồn nhiên của tuổi ấu thơ thì khi tôi lớn hơn một chút, đường Gia-Long lại cho tôi những bâng khuâng, nhung nhớ ngập lòng, vì tiếng còi của những chuyến tàu đêm.
Đối với tôi, Nha-Trang tươi thắm nhất là khi những tia nắng đầu ngày vừa le lói cuối vùng biển xanh, và Nha-Trang dịu dàng nhất là thời gian trước khi màn đêm về. Vì lẽ đó, tôi thích lang thang một mình trên ngọn đồi sau chùa Hải-Đức để nhìn những tia nắng cuối cùng của một ngày còn bịn rịn trên ngọn Corniche de Cauda trong khi cả một vùng không gian rộng lớn đang từ từ chìm vào màn đêm.
Bây giờ, tuy đã xa Nha-Trang gần nửa thế kỷ, nhưng đôi khi, từ vùng “a-lại-gia-thức” sâu thẳm, tôi tưởng như vẫn thấy được những tia nắng hấp hối trên đỉnh Corniche de Cauda. Những lúc ấy, hồn tôi rỗng lặng để cảm nhận được tất cả vẻ đẹp hùng vỹ của Quê Nội thân yêu.
 
Trăng Lạnh
 
         Chiều nào cũng vậy, sau khi dùng cơm tại phòng Romeo and Juliet, Kiều-Lam thích đợi ánh hoàng hôn về để lên phòng Windjammer Café nơi tầng 9 của du thuyền Legend of the Seas nghe anh chàng người Gia-Nã-Đại độc tấu Tây-Ban-Cầm; dù du thuyền có đến ba khu vực khác nữa để các nghệ sĩ luân phiên trình diễn mỗi đêm.
         Tối nay trong phòng Windjammer Café này chỉ còn lác đác vài người và Kiều-Lam, vì đa số du khách đã đi bờ (danh từ của Hải-Quân, có nghĩa là rời tàu, rời đơn vị để đi phố) từ sau khi du thuyền cặp bến. Vậy mà anh chàng Canadian vẫn không để ý, chỉ say sưa đàn, thỉnh thoảng lại tự tạo những biến âm rất lạ, dễ cuốn hút người hiểu nhạc. Điều Kiều-Lam thích nhất nơi kỹ thuật chơi đàn của anh chàng Canadian này là anh đàn bằng móng tay thật của anh nên tiếng đàn nghe rất ngọt ngào, rất quyến rũ.
         Vì ít người, thừa bàn nên Kiều-Lam chọn chiếc bàn nơi góc, gần chỗ người nhạc công tài hoa đang ngồi, để nhìn mái tóc dài màu cát vàng của anh lóng lánh dưới ánh đèn spotlights. Anh vẫn ngồi trên bục gỗ cao. Đầu anh nghiêng nghiêng, mắt nhìn vào phím đàn nơi bàn tay trái và mái tóc anh lay động nhẹ theo từng chuỗi âm thanh. Thỉnh thoảng đôi kính mắt của anh lóe lên vì ánh đèn phản chiếu lúc anh ngẫng lên để hất nhẹ mái tóc ra phía sau. Đôi khi vai anh cũng lắc nhè nhẹ theo những cung đàn vui. Khi dạo những đoản khúc buồn, đầu anh hơi cúi xuống để ánh đèn nhạt nhòa từ trên trần cao tạo nên những nét khắc khổ, rã rời trên khuôn mặt hơi dài của anh. Nếu màu tóc của anh đậm hơn một tý, Kiều-Lam nghĩ nàng sẽ nhầm anh với John Lennon, một thiên tài về âm nhạc của The Beatles.
          Nhân lúc anh bồi bàn đến mời dùng thức uống, Kiều-Lam nhờ anh yêu cầu anh chàng Canadian độc tấu bản La Cumbasita(1). Kiều-Lam lắng nghe, tưởng như tiếng đàn quyện với hồn nàng. Và trong thoáng chốc, nàng cảm thấy hồn nàng vượt cao, cao hơn hẳn mọi phủ phàng và tệ bạc mà đời đã vùi dập nàng bấy lâu nay. Kiều-Lam vui và lòng thanh thảng như ngày bé thơ, thường lắng nghe người anh họ, Phạm-Đình-Phê, đệm đàn tập cho nàng hát. Bây giờ nàng không hát được nên nàng chỉ gật gật nhè nhẹ theo điệu Tango rộn rã.
         Khi bản nhạc sắp dứt, Kiều-Lam nhìn anh chàng Canadian. Lúc anh ngẫng lên, vô tình hướng về phía nàng, nàng khẽ cúi đầu, mỉm cười và đưa bàn tay hơi cao hơn bình hoa Pansy trên bàn một tý rồi vẫy nhẹ để tỏ dấu cảm ơn. Anh cũng mỉm cười, nhắp nháy mắt tỏ dấu nhận hiểu. Sau đó anh chuyển sang điệu Moderato với bản Second Piano Concerto (2). Từ bản nhạc này anh tiếp luôn bản khác một cách liên tục và tài tình cho đến nổi phải đến vài phân đoạn Kiều-Lam mới nhận ra được đó là đoản khúc Melody In F (3). Anh cứ tiếp tục đàn những bản quen cho nên Kiều-Lam vừa ngân nga theo rất nhỏ, chỉ đủ một mình nàng nghe, vừa lơ đểnh nhìn ngọn núi Mt. Juneau sừng sững ngang tầm mắt.
          Trong thoáng chốc, dáng vẻ hùng vỹ của Mt. Juneau và những ngọn núi xa xa chìm vào màn đêm; chỉ còn những vùng tuyết ẩn hiện lờ mờ trên đỉnh núi cao, từ xa trông như những áng mây không di động. Dưới xa, sát chân núi Mt. Juneau là nhà hàng và cửa hàng bán quà kỷ niệm. Du khách nhàn tản bước dọc theo những cửa hàng bán quà kỷ niệm. Kiều-Lam nghĩ, nếu không có ánh đèn từ các cửa hàng và của những trụ đèn đường soi rõ con đường nhựa duy nhất và bãi đậu xe nhỏ nhắn chia cách khu phố và du thuyền thì nàng khó có thể phân biệt được bên nào là biển và bên nào là núi Mt. Juneau.
Từ sau khi rời tảng băng Hubbard Glacier cho đến bây giờ, Kiều-Lam không thể nhớ được du thuyền đã len lõi qua bao nhiêu chân núi. Nhưng không hiểu tại sao nơi chân núi này, với khu phố hẹp mang tên Juneau, nàng lại cảm thấy bồi hồi như nàng vừa đánh mất hoặc là vừa tìm lại được cái gì rất thân thương, rất gần gủi.
          Trong khi Kiều-Lam chưa phân tích được tâm trạng của mình thì nàng chợt nhận ra tiếng Tây-Ban-Cầm của anh chàng Canadian lại chuyển sang một điệu Tango. Nghe quen lắm, nhưng nàng không nhớ được tựa đề của bản nhạc. Mãi đến lúc anh ngẫng lên, mái tóc vàng lay động hơi dồn dập và nét mặt anh phảng phất niềm vui như nét mặt của một người vừa trở về sau một chuyến viễn du, Kiều-Lam mới nhớ ra, đó là bản La Paloma (4). Bản nhạc này, khu phố hẹp và mặt nước lóng lánh ánh đèn dưới xa như gợi lại trong hồn Kiều-Lam một vùng biển xưa; nơi đó nàng đã để lại những ngày thơ ấu êm đềm, những mối tình một chiều, một mối tình câm, mà sau này vô tình nàng mới hiểu được, và chỉ mang theo được một cuộc tình nhiều đắng cay!
          Những ngày thơ ấu nơi vùng biển xưa đó, cuối tuần, nhóm bạn cùng lứa thường rủ Kiều-Lam đạp xe đạp xuống một khu phố hẹp sát chân núi, bên kia con dốc nhỏ, cuối con đường sát bờ biển để ngắm những chú cá âm thầm bơi lội trong tủ kính của hải học viện. Nhiều khi các bạn và nàng đạp xe xuống khu phố đó không phải để ngắm cá trong hải học viện mà chỉ để đi cà-rơ dưới mấy cây bàng cằn cỗi dọc theo con đường nhựa duy nhất chia cách dãy phố buồn hiu và những ghềnh đá chơ vơ của một vùng biển nghèo.
Một chiều nọ, trong lúc cùng nhóm bạn lựa mua cái kẹp bằng đồi mồi nơi cửa hàng bán quà kỷ niệm, Kiều-Lam nghe một giọng nam rất êm ái: “Cô ơi, cô! Xin lỗi, cô làm ơn cho tôi hỏi thăm...” Cả nhóm vội ngẫng lên, vì không biết ông ấy hỏi đứa nào. Kiều-Lam nhận ra đây là một thanh niên cao, đeo kính cận, dáng vẻ rất chững chạc. Anh nhìn Kiều-Lam, tiếp: “Có phải cô là người có tấm ảnh chưng trong tủ kính nơi hiệu ảnh Mai-Ngôn không?” Kiều-Lam thoáng bối rối, chưa biết nên nhận hay nên chối; nếu nhận thì hơi mắc cỡ mà chối thì khó quá, vì không quen nói dối. Các bạn đều biết tính nàng nhút nhát, bây giờ thấy rõ nàng đang lúng túng nên vài đứa đáp hộ: “Dạ, nó đó. Nó đó. Nó là... thủ phạm đó.” Nói xong mấy đứa tựa vai nhau, cười một cách thích thú. Thanh niên cũng cười. Kiều-Lam chưa kịp làm mặt giận với các bạn thì bà chủ cửa hàng bán quà kỷ niệm từ ngoài bước vào. Thấy thanh niên đang cười vui với mấy cô học sinh, bà vồn vả: “    
         Trời, Vũ! Sao con không mời các cô ấy vào trong nhà mà chuyện trò ? Ở ngoài khách khứa ồn ào lắm, con.”
         Các cô nhìn nhau, không biết thối thoát bằng cách nào. Thanh niên cũng nhìn các cô rồi cười chứ chưa biết phải đáp lời Mẹ như thế nào. Xoay sang Các cô, bà tiếp, giọng rất hãnh diện: “Con thứ hai của tôi đấy. Anh ấy học ở Saigon, thỉng thoảng về thăm Mẹ vài hôm rồi lại trở vào Saigon học. Anh ấy hiền, ít nói mà lại chăm học lắm nên chẳng quen biết nhiều. Quen được với các cô là quý lắm đó.” Bà quay sang Vũ, tiếp: “Con mời các cô ấy vào trong xơi nước, đi con.”
          Vũ mời nhóm bạn của Kiều-Lam và nàng vào phòng khách, ngay sau bức rèm cửa được làm bằng giấy của những tấm vé số kiến thiết vo tròn và xâu thành chuỗi. Kiều-Lam không hiểu vô tình hay cố ý, Vũ ngồi cạnh nàng.
          Sau khi mọi người tự giới thiệu Kiều-Lam mới biết Vũ đang theo học Y-Khoa, năm thứ tư. Các bạn “láu cá” của nàng hỏi Vũ về sự khác biệt giữa đại học Saigon, Huế và Dalat; về những phân khoa nào thích hợp cho con gái; về một Saigon mà các cô luôn luôn ước mơ sẽ có ngày được đặt chân tới. Vũ giải đáp rất tường tận và từ tốn. Thấy Kiều-Lam không nói gì, Vũ hỏi: “Còn Kiều-Lam? Sao không nói gì hết vậy?” Vũ hỏi hơi bất ngờ khiến nàng mất bình tĩnh. Để che dấu sự mất bình tĩnh và sự nhút nhát của mình, Kiều-Lam chỉ guitar trong bọc vải, treo trên tường và hỏi một câu rất lạc đề: “Ai chơi guitar vậy, anh?” Vũ cười rất hiền hòa: “Tôi, nhưng còn non lắm.” Chỉ vậy, rồi Kiều-Lam lại ngồi im để các bạn trổ tài ngoại giao. Một lúc sau Vũ lại nói với Kiều-Lam: “          Từ khi gặp Kiều-Lam tôi mới biết tôi không phải là người ít nói như bà cụ của tôi thường bảo.” Trong khi Kiều-Lam chỉ cười e thẹn thì nhóm bạn nhao nhao lên phá: “Nó để dành hơi để hát đó.” Vũ cười, nhìn Kiều-Lam. Nàng nhìn xuống đôi guốc Dakao màu trắng, tay vân vê quai nón màu hồng nhạt.
          Khi tiễn các cô ra chỗ dựng xe đạp, Vũ nói nhỏ với Kiều-Lam trong khi nàng đang loay hoay mở khóa xe: “Ước gì tôi được nghe Kiều-Lam hát, dù chỉ một câu thôi.” Kiều-Lam chỉ biết cười và lý nhí cảm ơn.
          Trên đường về, nhóm bạn gái chia tay nhau trước Grand Hotel. Kiều-Lam đạp xe chầm chậm dọc con đường sát bờ biển để nhìn những cụm thông im lìm, để thấy lá bàng bay bay, để nghe tiếng sóng thì thầm hoà với tiếng guitar độc tấu phát ra từ những máy khuyếch đại âm thanh do đài phát thanh gắn trên mỗi cây bàng. Máy khuyếch đại âm thanh này thường bị rè nên đã làm giảm đi rất nhiều giá trị nghệ thuật. Nhưng không hề gì. Đối với Kiều-Lam, lúc đó, giá trị nghệ thuật không cần thiết; nàng chỉ muốn, cùng một lúc, được nhìn lá bàng bay, được nghe tiếng sóng rì rào để tiếng Tây-Ban-Cầm-không-đối-thủ của Phạm-Đình-Phê trong những nhạc khúc ngoại quốc, dẫn dắt hồn nàng đến những bến bờ xa xăm mà khối óc đầy mơ mộng của nàng cứ nghĩ trong đời có lẽ không bao giờ nàng có thể đến được. Không ngờ, sau khi đến được những bến bờ mà ngày xưa nàng từng mơ ước thì Kiều-Lam mới ý thức được rằng chỉ có một nơi không thể nào nàng tìm lại được, đó là bến xưa!
         Vì muốn tìm lại bến xưa, Kiều-Lam đã trở về chốn cũ, nhưng không còn gì; có còn chăng là một eo biển vắng với những gốc cây bàng sần sùi cố bám rễ vào con đường nhựa lỡ lói trước một dãy phố lụp xụp, tiêu điều. Juneau ơi! Kiều-Lam tự nhủ, nếu Juneau có được vài cây bàng, nếu ngọn núi mà Juneau tựa lưng vào hơi nhỏ hơn một tý và nét kiến trúc của Juneau bớt diêm dúa đi thì nàng sẽ quyến luyến Juneau biết dường nào, vì Jeneau mang được nhiều nét thân thương của một bến xưa mà hồn nàng luôn luôn trân quý!
         Dòng ý tưởng của nàng vừa đến đây, Kiều-Lam chợt nghe một âm điệu rất thiết tha, rất dạt dào và rồi tiếng hát hơi khàn và đục của anh chàng Canadian: “Feelings, nothing more than feelings, trying to forget my feelings of love...”(5) Đây là bản nhạc nàng đã yêu cầu anh chàng Canadian độc tấu ngay đêm đầu tiên khi du thuyền vừa rời hải cảng Seward. Đêm đó anh chỉ đàn. Đêm nay anh vừa đàn vừa hát. Lời ca quyện với tiếng đàn khiến hồn nàng chơi vơi trong dòng kỷ niệm ngập ngụa ưu phiền.
          Tự dưng Kiều-Lam thảng thốt nhận ra trạng thái tình cảm này dường như cũng đã đến với nàng, nhưng không nhớ vào thời điểm nào. Phải một lúc khá lâu Kiều-Lam mới nhớ được, đó là một buổi chiều chủ nhật, khi nàng đang treo máy sưởi trong nhà ươm lan. Lúc treo xong cái máy sưởi cuối cùng, trong khi nàng đang nhìn khoảng cách từ máy sưởi đến giò Dendrobium gần nhất để lượng định ảnh hưởng của hơi nóng từ máy sưởi đến giò lan thì chợt nghe tiếng hát trong suốt, ngọt ngào văng vẳng trong không gian im vắng: “...Đêm nghe tiếng thở dài. Đêm nghe những ngậm ngùi...” Kiều-Lam đứng lặng, nhìn ra khoảng sân rộng với cõi lòng rưng rức như cõi lòng của người vợ trẻ, ngày xưa, thường lên sân thượng, nhìn về phương trời xa mong chờ bóng dáng một người...Tiếng hát của cô gái vẫn êm ái mượt mà nhưng hồn Kiều-Lam lại giao động từng hồi. Sau này vô tình nàng mới biết người hát bản nhạc đó là ca sĩ Diễm-Liên, nhưng Kiều-Lam không nhớ tựa đề của bản nhạc và nhà sản xuất CD lại không ghi tên tác giả.
          Kiều-Lam không nhớ chiều hôm đó nàng có đủ can đảm nghe Diễm-Liên hát hết bản ấy hay là nàng phải đóng cửa vườn lan để khỏi bị tiếng hát khơi lại nỗi đau xưa; nhưng bây giờ, trong trạng thái tình cảm này, nàng muốn nghe lại tiếng hát ấy để tìm lại chút dư vị đắng cay mà nàng không hiểu nghị lực nào đã giúp nàng chịu đựng được suốt thời gian dài!
          Trở về phòng, trong khi tìm cassette, earphone và những cuộn băng có Diễm-Liên hát, Kiều-Lam thầm nghĩ đến các con, dâu và rể của nàng - những người đã, không những tặng nàng vé du lịch mỗi năm mà còn sắp sẵn vào va-li những gì nàng cần và những gì nàng thích.
          Vừa rời thang máy Kiều-Lam vừa nghĩ, trời lành lạnh, đi lang thang trên vùng đất mang nhiều nét thân thương của một vùng đất xưa và lắng nghe giọng ca tha thiết của Diễm-Liên sẽ là niềm thú vị vô biên. Bằng lòng với niềm vui nhỏ nhoi đó, nàng gắn earphone vào tai, mở nút “on” nơi cassette rồi cho cassette và hai tay vào túi áo lạnh.
Chưa kịp đặt chân lên tấm thảm đỏ dẫn ra cầu thang, Kiều-Lam nghe ai nói gì đó rồi một cánh tay lực lưỡng, màu nâu sậm, chận nàng lại. Kiều-Lam vội lấy earphone ra, nhìn người đã chận nàng: “Xin lỗi, ông nói gì?”Anh chàng Mỹ đen cười vui, chỉ vào cái máy kiểm soát, pha trò: “Có lẽ bà đang thưởng thức một đoạn nhạc tuyệt vời cho nên bà quên cho thẻ an ninh của bà vào máy trước khi bà rời du thuyền.” Không bận tâm về tính đảng trí của mình, Kiều-Lam lý nhí lời xin lỗi rồi làm theo lời nhân viên kiểm soát an ninh.
          Xoay người ra cầu thang, bước ngược chiều với những du khách trở về, Kiều-Lam nghe loáng thoáng lời chúc của anh chàng kiểm soát an ninh: “Hãy có một buổi tối tuyệt đẹp mà không biết anh chúc nàng và những người rời du thuyền hay anh chúc những người vừa đi bờ về.
          Trong khi du khách đi dần về hướng phố thì Kiều-Lam đi dọc theo cầu tàu, nơi du thuyền đang cập, để được thảnh thơi một mình, lắng hồn vào tiếng hát, lời ca.
Kiều-Lam đến bên chiếc cầu gỗ dẫn xuống bến tàu; nơi đó vài chiếc du thuyền nhỏ và mấy chiếc canoes đang nhấp nhô như đợi thủy triều dâng. Kiều-Lam nhìn lại hướng chiếc Legend of the Seas và thấy cả vùng ánh sáng rực rỡ trên du thuyền phản chiếu trên mặt nước xanh thẫm. Tự dưng nàng cảm thấy nặng nơi lồng ngực và như có điều gì rưng rức trong hồn nàng! Phải một lúc sau Kiều-Lam mới nhận biết được rằng chính vùng ánh sáng trên du thuyền phản chiếu lung linh trên mặt nước đã gợi nơi hồn nàng nỗi cô đơn vô tận của những đêm lang thang một mình trên bến Bạch-Đằng.
         Những đêm đó, ánh đèn từ câu-lạc-bộ-nổi của Hải-Quân, từ những chiến hạm đang cập trước Bộ Tư Lệnh Hải-Quân và từ nhà hàng Mỹ-Cảnh, cũng phản chiếu lung linh trong dòng nước lặng lờ. Trong khi từng cặp từng cặp sánh bước bên nhau trên bến Bạch-Đằng thì Kiều-Lam lang thang một mình để gậm nhắm nỗi đau riêng!
          Bây giờ, nỗi đau đã rơi vào trạng thái bảo hòa, nhưng tiếng hát thiết tha và giọng ngân êm ái của Diễm-Liên vẫn gợi lại trong lòng Kiều-Lam nhiều nỗi xót xa: “...Đêm từng đêm thức trắng nhớ thương cuộc tình chìm trong hoang vắng. Ôi! Tình yêu bay xa vẫn chưa phai nhòa ...(6) Kiều-Lam không còn gì để nuối tiếc về một cuộc tình đầy giông bão ấy nữa; nhưng không hiểu tại sao khi nghe đoạn nhạc này nàng vẫn không nén được tiếng thở dài!
         Kiều-Lam ngồi lên phiến đá nhỏ cạnh chiếc cầu gỗ. Trong trạng thái vô thức, nàng đưa tay mơn man khóm fireweeds màu hồng nhạt mọc quanh phiến đá. Kiều-Lam hơi ngạc nhiên tại sao nàng có thể nhận ra màu hồng nhạt của fireweeds khi mà nàng đã đi xa du thuyền, xa khu phố và mấy ngọn đèn đường. Nhìn quanh, nàng cũng ngạc nhiên khi thấy được, xa xa, vùng nước xanh mà lúc sáng chiếc tàu nhỏ đưa du khách đi tìm xem cá voi, hải cẩu và gấu. Khi nhìn lên bầu trời trong vắt Kiều-Lam mới nhận ra là trăng đã lên.
Nhìn ánh trăng tự dưng Kiều-Lam nhớ đến ánh trăng của đêm họp mặt tại nhà Vũ. Tối hôm đó, ánh trăng soi rõ khoảng sân rộng có cây ngọc lan và mấy cây mai tứ quý trong chậu kiễn. Vũ hái mấy đóa ngọc lan và trao tận tay nhóm bạn của Kiều-Lam. Khi Vũ đến cạnh, Kiều-Lam cũng xòe bàn tay sẵn sàng đón nhận đóa ngọc lan, nhưng Vũ không để đóa hoa vào lòng bàn tay của nàng mà Vũ lại gắn lên cái kẹp trên mái tóc nàng. Nhóm bạn hay phá phách của  kiều-Lam ồ lên cùng một lúc. Vũ chỉ tủm tỉm cười. Kiều-Lam mắc cở quá, chỉ biết ngồi im, cúi mặt, cười.
         Đến phần văn nghệ, nhóm bạn của Vũ đàn và hát rất sôi nổi khiến nhóm bạn của Kiều-Lam buộc nàng phải “đối phó” để khỏi bị...quê! Sau khi Kiều-Lam miễn cưỡng nhận lời, mọi người bảo Vũ thiên vị khi tặng hoa, bây giờ phạt Vũ, buộc Vũ phải đàn cho Kiều-Lam hát. Vũ ôm đàn, nhìn nàng, cười cười, chờ đợi. Kiều-Lam nói nhỏ: “Dạ, anh dạo cho Do Majeur, slow.” Kiều-Lam cất tiếng hát bản Trăng-Lạnh của Điệp-Linh: “   
          Trăng lã lướt, biết bao thu mùa ru lá rụng. Chiếc lá vàng rơi trong tối mênh mang. Cùng thời gian lắng trong tiếng thu tàn. Nhớ lại chăng đêm nào chiếc lá rơi. Người ơi! Nhẹ bước. Lạnh lùng thân chiếc là vàng khô rơi không tiếng vang...” Khi nghe Vũ đệm cho nàng hát Kiều-Lam mới biết Vũ là người rất thành thật khi xác nhận chàng không có ngón đàn Tây-Ban-Cầm điêu luyện. Và sau đó Kiều-Lam cũng hiểu Vũ rất thành thật khi chàng đột ngột và vụng về tỏ tình với nàng. Kiều-Lam chỉ cúi đầu, câm lặng.
          Mấy mươi năm qua Kiều-Lam vẫn không hiểu nguyên nhân nào nàng câm lặng. Mấy mươi năm qua Kiều-Lam cũng vẫn không thể hiểu được tại sao nàng không yêu Vũ! Và cũng mấy mươi năm qua, không biết bao nhiêu lần Kiều-Lam đã niệm và đã nghe niệm Gate Gate Paragate, Parasamgate. Bodhi Svaha...” (Hãy qua, hãy qua bên bờ bên kia...) nhưng nàng cũng không hiểu tại sao nàng vẫn mãi hoài ngụp lặn trong vũng sầu! Dù chìm ngập trong vũng sầu, Kiều-Lam cũng không hiểu tại sao chưa bao giờ nàng hối tiếc là nàng đã câm lặng và đã không yêu Vũ mà nàng chỉ hối tiếc là nàng đã gửi thiệp thành hôn của nàng đến cho Vũ!
           Bây giờ, cả vùng không gian miền Bắc bán cầu này nhuốm lạnh trong ánh trăng mơ thì trong hồn Kiều-Lam niềm hối tiếc về hành động ngây ngô, thiếu suy nghĩ của nàng ngày xưa cũng ngập tràn! Kiều-Lam thở dài ngẫng nhìn những phiến băng trên đỉnh Mt. Juneau lấp lánh dưới trăng.
          Ánh trăng soi rõ những phiến đá dị hình chia cách những khe núi thâm u. Ánh trăng soi rõ những vạt sương mong manh ẩn hiện trong rừng thông bạc ngàn. Ánh trăng soi rõ những tòa buildings nơi vùng thị tứ của Juneau, ở phía xa. Ánh trăng soi rõ mặt nước xanh thẫm của Gastineau Channel. Ánh trăng soi rõ từng lượn sóng nhấp nhô quanh mấy chiếc Canoes và du thuyền nhỏ. Ánh trăng soi rõ bóng Kiều-Lam trải nghiêng trên khóm cỏ fireweeds đẩm sương. Ánh trăng cũng soi rõ niềm cô đơn trong hồn nàng...
Kiều-Lam thoáng rùng mình, không hiểu vì lạnh hay là vì sợ hãi niềm cô đơn. Khi nàng đứng lên, muốn trở lại du thuyền để bớt lẻ loi thì giọng ca sướt mướt của Diễm-Liên đang nức nỡ ở đoạn: “...Lặng lẽ đi tìm dấu em đêm dài, nhịp nào gõ hồn tôi, cơn mưa dạt dào, vỗ về. Nhiều khi, tôi tìm trong ký ức muộn phiền bóng hình ai đã tan vào cõi huyền không...” (7) Kiều-Lam lại thở dài, nhìn bóng nàng soải dài trên nền xi-măng lạnh lẻo như nhìn vào quá khứ xa xăm để tìm xem tim nàng đã lỗi nhịp ở phân đoạn nào! Kiều-Lam bước đi, chiếc bóng câm lặng của nàng cũng bước theo; từ đó Kiều-Lam hiểu rằng dù tim nàng phải chịu thương tổn đến ngần nào đi nữa thì nàng cũng không thể tách rời cuộc đời còn lại của nàng ra khỏi một dĩ vãng nặng chĩu ưu phiền! Kiều-Lam nhìn lên triền núi Mt. Juneau. Trong vùng không gian tĩnh mịch, nàng tưởng như tiếng hát mượt mà, óng chuốt của Diễm-Liên vang xa và trở nên long lanh như những giọt sương bịn rịn trên cành thông dịu dàng.
 
Điệp Mỹ Linh
  
* Mượn tựa nhạc phẩm
1.- Của G.H. Matos Rodriguez.
2.- Của S. Rachmaninoff
3.- Của A. Rubinstein.
4.- Của Sebastian Yradier.
5.- Feelings của Morris Albert
6.- Kỷ Niệm Buồn, cassette không ghi tên tác giả.
7.- Vần Tóc Rối của Mai-Anh-Việt         

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013