Thi Ảnh

Nguyễn Thị Minh Ngọc

Đi Tìm Người Yêu - Nguyễn Thị Minh Ngọc

 
1.
Bây giờ càng dấn sâu vào bối cảnh “Sàigòn 300 năm” để kiếm ra từ đó những gì cần nói với hôm nay, tôi càng cảm thấy mình làm công việc này chẳng phải vì những lời kêu gọi vận động sáng tác nữa, mà là mình viết cho mình. Điều này gây cho tôi cảm giác lạnh lưng và biết sợ... Gặp một số văn, thi, nhạc, họa, nghệ... sĩ, tôi hỏi giữa hai đứa nói thật đi, những sáng tạo của bạn từ ai, và vì ai? Câu trả lời 100% tôi nhận được là: “Tôi làm những việc này cho chính tôi!”.
Một họa sĩ, vừa đi Paris với tôi về thì thêm: “Dĩ nhiên, sau mỗi chuyến đi, mở rộng tầm mắt, tôi không chối cãi được là có nhiều điều đã thẩm thấu qua tâm hồn tôi, và hắt trả ít nhiều trong tác phẩm”. Một đạo diễn có tác phẩm bị cấm (đây là loại người cho tời nay vẫn ngơ ngác không hiểu tại sao lại sửa tới sửa lui cái tác phẩm như một tấm lòng thành của mình) cho biết rằng: “Trong tôi dường như lúc nào cũng có một nhu cầu bức bách cần chia xẻ với những người dân thất thế bất hạnh chung quanh và sáng tác của tôi dường như có bị ám ảnh bởi nhu cầu ấy...
 
2
Câu hỏi này càng gay go hơn cho những người hoạt động trong lãnh vực sân khấu và điện ảnh, mà yếu tố khán giả vô cùng quan trọng. Nhiều người khư khư tôi làm tất cả vì tôi, nhiều người nhún vai tỏ ý bất lực, nhiều người im lặng thở dài. Có người mạnh bạo hơn: Mỗi đợt tham gia hội diễn, tôi ngạc nhiên không hiểu tại sao người ta lại có thể “hèn” đều đến như thế, dường như họ không phải sáng tạo cho chính họ nữa mà đang phấn đấu cho một nền văn hóa văn nghệ lấy ‘Ban Giám khảo’ làm gốc...”.
Một nhà văn đứng tuổi, có chỗ đứng khá quan trọng trong văn giới, lắc đầu: “Không với sân khấu nữa vì không như đọc giả, khán giả của sân khấu thì ‘dã man, sát thủ’ tức thì”. Ông đã từng len lõi ngồi lẫn vào khán giả để trực tiếp đón nhận thái độ phủ phàng không chấp nhận vở kịch ông viết của họ. Và có lẽ đó là vở kịch độc nhất của đời ông.
Có những phim Việt-Nam tốn kém hàng tỉ đồng, hôm chiếu ra mắt với một công chúng miễn phí, cũng bị họ tỏ thái độ bằng cách rút lui từ từ để đến khi đèn sáng chỉ còn vài nhúm khán giả. Dù không bị mất tiền họ vẫn tiếc điều họ đã đang bị đánh cắp: thì giờ... Nhiều đoàn nghệ thuật xập xệ, đi diễn ở những vùng xa chỉ với giá rẽ mạt nhưng họ đã không cấm được nhiều khán giả trách chê: “Biết vầy để mấy đồng đó mua bịch muối ăn cả năm còn có lý hơn nhiều.
 
3
Khi trả lời những câu hỏi đó, có thể các bạn tôi đã không nói dối, nhưng có vẻ như họ đã nói lên ước muốn của mình hơn là cái hiện tại đang có. Nhiều nghệ sĩ cải lương khi được xem một tác phẩm “sạch sẽ” với một công chúng tương đối lý tưởng đã nói rất thật lòng (nhưng hình như chị thật lòng được trong giây phút đó): “Ôi! được diễn trong môi trường này, chết cũng thỏa. Tiền chẳng là cái đinh gì đối với chúng tôi!”. - Bởi vì, thử đôi lần nhập cuộc với nhau, có đêm thất thu, xin bớt chút đỉnh thù lao là mặt lạnh như tiền. không bớt được đâu mấy đứa à, còn đợt diễn sắp tới chắc kẹt về quê giỗ chạp...
Một đạo diễn sân khấu học vị cao, đã có nhiều tác phẩm có giá trị, cho hay trong bối cảnh nhiễu nhương hậu bao cấp, tiền cơ chế thị trường của sân khấu, ông đã chọn thái độ nói không với mọi lời mời mọc, yêu cầu ông phải bớt phần nghệ thuật nghiêm túc đi để vở diễn có công chúng rộng rãi hơn. Một đạo diễn sân khấu có nhiều tác phẩm đàng hoàng khác cũng truyền một kinh nghiệm máu xương thời ông ta còn trẻ: “Hiếm có một kịch bản Việt Nam nào có thể cầm lấy làm ngay. Nếu cảm được hạt nhân xúc cảm của vở và nhắm nó trên trung bình một chút thì hãy đổ máu trút xương vào mà sửa...”.
Nhưng chúng tôi, những người làm nghề không còn trẻ nữa, cũng nhắc với nhau, từ đây đến cuối đời, liệu còn cầm được bao nhiêu vở trung bình khá trong tay để chúng tôi có thể trút hết máu xương...
 
4
Trong những lần tiếp xúc với độc giả, khán giả, chúng tôi du bị chất vấn: “Sao chương trình sân khấu của cơ quan X tệ vậy?” - “Sao kịch bản ông T. hay ghê lại chẳng thấy ai làm?”. - “Sao chẳng thấy vở kịch Việt Nam nào coi được từ khi ông V. mất?”.
Làm sao nói cho người ngoài hiểu đây, nếu những điều đó khiến độc giả, khán giả của chúng tôi buồn một thì chúng tôi, những người trong cuộc đau đến gấp mười... Ai cũng biết, cho đến giờ, vẫn không dễ gì mua được vé xem vở “Dạ cổ hoài lang”. Hiện tượng này lẽ ra khuyến khích được nhiều kịch tác gia thì lại khiến họ chùng tay, bởi sau khi tổng hợp các phân tích, anh em được yêu cầu phải sáng tác bằng hoặc hơn một tác phẩm đã đạt đỉnh cao của ba mặt: “Nghệ thuật để chinh phục khán giả, doanh thu để yên tâm tái sản xuất và bù đắp thêm cho những tiết mục kém hơn và cuối cùng, phản ánh đúng đường lối, chủ trương chính sách để các cấp lãnh đạo đều nhất trí ủng hộ hoan nghênh...”.
Tiếc rằng đa số các người viết kịch sau đó đều nhận ra mình đức mỏng, tài hèn... phấn đấu tối đa cũng chỉ đạt được hai trong ba yêu cầu đó; nên lòng tự trọng đã khiến họ cất giữ tác phẩm của mình trong ngăn kéo hoặc đi bán đổ bán tháo ở những chỗ vừa bán thuận mua để độ nhật mưu sinh.
 
5.
Nếu ví người nghệ sĩ sáng tác như “chàng tuổi trẻ gan dạ trên BA chiếc đu bay” như vậy thì trong lúc nôn nả tìm cách đưa tác phẩm ra công chúng, nhiều người trong chúng tôi ưa quên rằng dưới ba chiếc đu quay ấy không có lưới an toàn. Nhiều đạo diễn cho rằng loại kịch tôi viết rất khó bán vé và khó được lòng nhiều người nhưng thôi, lối nhỏ, tuy không an toàn, vẫn là lối của ta. Tôi lại nghĩ khác, cứ làm hết sức mình, khán giả sẽ không bỏ ta và lãnh đạo nào nỡ dẹp đi một tác phẩm không vi phạm luật pháp, lại được công chúng đồng tình.
Thực tế thì không vậy. Không phải tôi mà bạn bè tôi. Vở đang ăn khách lại phải bị ngưng. Khi nghe thắc mắc tại sao cũng kịch bản đó, tác giả đó, diễn viên đó mà địa phương khác vẫn sản xuất băng vidéo phát hành toàn quốc, chúng tôi được  một vị quản lý văn hóa hắt trả “Bộ thấy người ta đi ăn cướp, làm đĩ rồi bắt chước theo sao?”. - “Có những vở ông khen tràn cung mây thì chúng tôi, những người làm nó lại vô cùng xấu hổ (nhưng không hoang mang). Có khi ông nói giọng tâm sự: “Mai mốt anh nghĩ hưu rồi tụi em mới thấy thiệt thòi và nghĩ lại thương anh. Hiếm có người liêm khiết, trấn thanh long đao nơi cửa ải mà không để lọt lưới bọn “diễn tiến hòa bình” trong sân khấu chúng ta!”. Mỗi lần gặp ông tôi cứ nhớ câu chuyện về một vị linh mục cứ hùng hục làm những chuyện phản đạo mà cứ ngỡ mình đang bảo vệ đạo. Khi ông quỳ xuống tượng chúa kể công, trong câu chuyện hài hước ấy, chúa nói rất tiếc là chân ta đã bị đóng đinh, không thì ta sẽ đá cho con không còn ở làng này mà phá đạo”.
 
6
Nếu không có gì thay đổi, bạn tôi, Geoff Gillham, đạo diễn và tác giả người Anh sau hai năm ròng rã thủ tục giấy tờ, sẽ đến Việt Nam để dựng và diễn vở “Bone Cage”. Tôi đã được xem vở này trong đợt hội thảo về “Sân khấu giáo dục cho thiếu nhi”. Một cô bé bị nhốt trong chiếc lồng để làm những trò vặt, mưu sinh... Cuối cùng, khi cánh cửa được mở rộng rồi, như sống đã quen, cô không có nhu cầu bước ra ngoài lồng sắt nữa... Geoff sống du mục như một nhà hoạt động sân khấu tình nguyện, khi Jordani, khi Kenya, đã từng ở trong những nhà hát lớn và đã từng bỏ hết mà đi... Geoff kêu đã chán rồi những “Miss Sàigòn”, những “Con ma nhà hát Opera” và cả những Shakespear hoành tráng, mỹ lệ... Anh chỉ muốn làm sân khấu cho những người chân đất, không có tiền đến những nhà hát sang trọng mà xem, dù anh biết, anh sẽ rất dễ dàng xin được tiền của Hội đồng Anh nếu anh chọn những đề tài màø Hội đồng Anh ưa chuộng.
 
7.
Đợt đó, Geoff mời miền Nam sang 5 người. Tôi chuẩn bị vở “Người lãng mạn cuối cùng” kể chuyện một nhà hát rệu rã, đến giờ đi phục vụ chỉ còn năm người nên chuẩn bị làm một trích đoạn năm ngưởi. Bất trắc lại đến 5 còn 4, còn 3, rồi còn 2, còn 1... Cái người còn sót lại ấy vẫn cố diễn những trích đoạn một mình vì không nỡ phụ lòng mong đợi của những khán giả của một vùng sâu đang mõi mòn trông đợi.
Giờ chót, Geoff báo chỉ xin được đủ tiền cho một người. Tôi đành phải chuyển tập mấy tiết mục rối que, dây, kết hợp rối người như anh Văn Hợp vẫn làm. Và đem theo một số băng hình ca nhạc cổ tích cho thiếu nhi. Trong đó có vở “Những đứa trẻ lạc loài” của tôi mà Hoa Hạ đạo diễn và đài truyền hình vẫn phát trong những ngày 1/6. Xem đến đoạn cô giáo và anh công an khu vực cùng góp tay lo lớp học tình thương cho lũ trẻ bụi, một bạn người Việt đã tỏ ý không tin chi tiết này có thật. Thật ra trong nguyên tắc, tôi đã không nhấn mạnh điểm này nhưng phải sống trong những ngóc ngách Sàigòn mới thấy tinh thần từ thiện của thành phố này khá cao với số lượng thầy cô tự nguyện chăm lo cho lớp học tình thương như vậy đã nhiều ngoài sức tưởng tượng của những người sống ở những địa phương khác.
 
8.
Lại nhớ chuyện tôi đưa học sinh mình đi diễn ở những điểm đóng quân của Thanh niên Xung phong, đốt đuốc lồ ồ hay pha đèn xe hơi đề có ánh sáng, vạt giường cài hoa phong lan làm tạm cánh gà... Bài ký của tôi chỉ phác vài nét nhỏ về những chuyến đi lãng mạn ấy. Báo Tuổi Trẻ đã đăng cách đây hơn mười năm nhưng báo một địa phương khác thì đã không đăng với lý do rằng tôi đã tưởng tượng ra điều không có trong sự thật.
Như thế, người yêu của chúng tôi đâu? Cái sự thật nào phải bóp méo đi để tác phẩm được ra đời? Và cái giả nào cần tô vẽ để chìu lòng ai đó, không phải ta... Và khi đó, có còn nữa không, cái gọi là phẩm tiết của người nghệ sĩ? Khi những người rao giảng, chưng bằng “tiết hạnh khả phong” lại chính là những người đạp lên phẩm hạnh chính mình và người khác.
 
9.
Bước chân ra ngoài, ai cũng có vẻ ghen tỵ với những chất liệu sống ngồn ngộn mà chỉ những người Việt Nam, bấu chân, luồn rễ vào đất nước này mới chiêm nghiệm được. Còn mình lại so bì sự thoải mái sáng tạo của những bạn cùng nghế! Ai may mắn hơn ai? Tôi chỉ biết mình đã hạnh phúc biết bao trong những giây phút được chia xẻ với những đọc giả, khán giả sống cùng thời với mình dù trong hay ngoài nước.
Và dù cũng đã lắm lúc trơ lì mặt đá khi ở trong nước bị dán tem “có sạn trong đầu, không chính chuyên lắm về chính trị” và khi ra khỏi nước thì bạn cũ khước từ, nhắn với “Xin đừng đến nhà tôi, đồ Việt cộng con!”
 
10.
Và như thế: “Tôi là ai? Tôi từ đâu đến? Đến để làm gì? Và khi xong tất cả mọi chuyện thì tôi sẽ về đâu?”.
Viết, diễn hay dựng, dạy chi rồi cũng để cho tôi tìm cách tự trả lời những câu hỏi ấy. Đó cũng là nội dung một bài học tôi đã được học cách đây đâu cũng 25 năm.
Bây giờ, nói với những người bằng tuổi tôi lúc ấy, biết đâu họ sẽ nói: “Chuyện xưa quá rồi, Diễm ơi” hay “Quên đi, bà ngoại!”. Thì đây cũng như chúng tôi xưa, cứ “sức mấy mà buồn, bỏ đi Tám!”.
Nhưng bây giờ sắp là mùa Xuân mà, tôi có buồn không, trên con đường tìm hoài không gặp?.
Và phải chăng, Tám đó chính là tôi!..
 
Tiểu Hà  
 
Cô chú ý số máy 9969 ngay khi nó mới bắt đều hoạt động. Câu đầu tiên được nhờ nhắn tới số máy là: “Tôi ơi! Ðừng tuyệt vọng!”.
- Cô hỏi theo thông lệ:
- Xin cho biết ai là người nhắn tin này?
- Dạ! Tôi!
Cô khựng lại một giây:
- Nghĩa là sao ạ?
Bên kia giọng vui đánh vần từng chữ:
- Dạ! Tờ ô tô i tôi!
Cô nén bực bội, hỏi tiếp:
- Dạ thưa còn người nhận là ai ạ?
- Tôi!
- Dạ, nghĩa là sao?
Bên kia một tràng cười giòn giã:
- Dạ! Nghĩa là tôi nhắn cho tôi. Cô không hiểu gì sao?
- Tôi mới sắm máy và báo cho mọi người biết số này nhưng chờ mãi chẳng ai gọi đến. Tôi phải nhắn câu trên để tự dỗ dành mình ráng đợi.
 
Lại cười. Giọng cười này quen lắm. Dường như cô đã được nghe hoặc xem ở đâu đó trong một tiết mục hài. Dường như 9969 là một nghệ sĩ biểu diễn.
 
Mà cái thế giới của những người biểu diễn này, rất thường có những câu nhắn kỳ quái như bỡn đùa, khác hẳn với ngôn phong đứng đắn của những người làm các nghề nghiệp khác. Chẳng hạn:
“Trăm con chim mộng về bay đầu giường chưa?”.
“Trăm con hạc trắng đã bay về bồng lai!”.
“Sao không đến dự đám tang chồng thứ năm của Võ Tắc Thiên tại Bá Lạc Ðài!”.
“Nhóm Hồng Lâu Mộng họp kiểm điểm ở nhà hàng Ngàn Sao trước giờ diễn hai tiếng”.
“Chia buồn cùng Người Bị Ăn Cắp Giấc Mơ!”.
“Làm sao giết được người trong mộng?”.
“Hãy tập thể dục trước khi ngủ”.
“Người ơi, người ở đừng về!”.
“Bán miệng nuôi con nhanh lên. Các con đang đợi mẹ ở nhà”.
“Mẹ Can Ðảm đã bị Gã Khờ quyến rũ mất rồi”.
Có lần nghe một câu hơi quá trớn:
- Con Thị Mầu kia, chồng còn sống đấy!.
Cô đã lễ phép thưa:
- Dạ, xin phép bớt chữ “CON” ở đâu được không ạ?
Bên kia rộ lên năm, sáu giọng cười và một giọng nói nghiêm chỉnh:
- Chị ơi, chính là chữ quan trọng nhất trong câu mật mã riêng của chúng tôi mà!
 
Những lời nhắn tin của 9969 sau đó thì rất hiếm hoi những câu nhắn như vậy. Ða số chỉ là những tin tức về giá xe cúp xuống lên, giá vàng, đô-la lên xuống.
 
Cô hình dung về 9969 như một nhân vật bán buôn là chính, còn nghệ thuật chỉ là một sinh hoạt rất phụ nhưng cái phụ này là hỗ trợ lớn cho cái chính ố như một vài nhân vật cô vẫn thấy xuất hiện trên màn ảnh nhỏ với những lời xì xào từ phía khán giả rằng người đó “mua vai”.
 
Nhưng chẳng dính dáng gì tới cái sinh hoạt bạc tiền ngày một của anh ta với câu nhắn ngày đầu tiên. Tôi ơi, đừng tuyệt vọng. Và nếu không có câu nhắn ấy thì có lẽ cô đã xóa ấn tượng về 9969 ngay sau khi rời khỏi chỗ làm.
 
Ngoài giờ đến trung tâm nhắn tin, cô đi học thêm vài lớp ngoài giờ. Tánh cô ít giao du bạn bè. Có lẽ khối lượng tin phải nhận và đưa trong giờ làm việc đã khiến cô mỏi mệt đến độ không còn tha thiết đến chuyện phải quen biết thêm ai nữa. Ðã có lần cô thử chơi trò kết thân bằng thư tín nhưng rồi cũng chẳng đến đâu. Giờ rảnh cô thích đọc sách hơn. Những nhân vật trong truyện đôi khi tạo cho cô cảm giác gần gũi hơn những người cô đã gặp ngoài đời.
 
Tháng tư năm nay, bắt đầu xuất hiện một nhân vật mới thường gọi về số máy 9969: Tiểu Hà!.
“Em chúc anh một giấc ngủ đầy mộng đẹp”.
“Anh ơi! Nhớ mang theo áo mưa! Tháng này mưa nhiều lắm đó!”.
“Anh ơi! Ráng ăn thêm chén nữa, cho em”.
“Em không học được. bỗng nhớ đến độ muốn bỏ hết để chạy vô trong đó với anh”.
 
Cô thấy mừng vì xen kẽ những câu ngắn quẩn quanh dream, cub, màu ngọc, đậu, lý... hột xoàn ngọc huyết còn là những câu nhắn êm ả chân tình này cho 9969. Và cô bỗng nhận ra có cái gì đó khác thường khi cô để tâm lắng nghe ngữ điệu để hình dung ra một Tiểu Hà. Lúc giọng Nam, khi giọng Bắc, khi là phụ nữ, lúc lại con trai nhưng âm sắc lộn xộn ấy lại luôn mang một cái tên chung là Tiểu Hà.
 
Cô thử vẽ ra một câu chuyện. Tiểu Hà ở một nơi rất xa. 9969 quen được Hà trong một chuyến đi xa (để bán buôn hay lưu diễn chưa biết!). Hà rất quý mến anh, nghe những lời nhắn thiết tha thì biết. Còn anh thì thế nào? Gặp một cô gái như vầy và nếu cả hai đều chưa lập gia đình thì cũng không thể không thương. Sau đó, anh về Sàigòn. Ngoài thư từ, Hà còn gọi điện thoại vào đây nhờ những người thân quen như cô dì chú bác nhắn tin giùm đến số máy của anh bằng những lời Hà dặn sẵn.
 
Về một mặt nào đó, cô thấy mình vi phạm đạo đức của một người nhận tin. Lẽ ra cô không nên suy diễn lan man về những mẫu đời riêng của khách hàng. Nhưng khốn thay cô cũng có nỗi buồn chán của riêng cô, một cô gái nhút nhát, nhan sắc trên trung bỉnh một chút, chưa có người yêu, cô lẽ cũng không nên cấm cô mơ mộng vẩn vơ về những mẫu chuyện tình của người khác.
 
Một hôm, cô nghe Diệp số 28 ngồi nói chuyện với Yến số 13.
 
“Chưa thấy ai vô duyên như cái ông số 9969, cứ gọi điện thoại lại đây dặn nếu ai tên Tiểu Hà nhắn tới 9969 thì đừng truyền đi nữa, ông không muốn nhận. Ông cằn nhằn rằng sao đã gọi rồi mà không nghe. Mình phải giải thích là tụi mình gồm rất nhiều người, có khi ông ấy dặn mình thì người khác không biết, vẫn phải truyền đi tin của Tiểu Hà.
 
Ðúng rồi, cô là một trong những “người khác” ấy. 9969 chưa trực tiếp dặn cô thì cô vẫn còn nhận những lời thủ thỉ của Tiểu Hà:
“Anh ơi, bộ không còn thương em nữa hả?”.
“Kệ anh, dù sao thì em vẫn thương anh...”.
 
Lời lẽ thiết tha đến tội tình. Nhưng họ gặp trục trặc gì vậy kia? Có lẽ 9969 đã có người yêu khác, thích hợp với nghề buôn bán tay mặt (hay tay trái) phức tạp của anh hơn.
 
      Rồi đến lúc 9969 gọi trúng ngay ca trực của cô. Không vui vẻ như hôm nào nhắn “Tôi ơi, đừng tuyệt vọng!” mà giọng giận:
- Tôi nói hoài sao không nghe! Làm ơn đừng báo cho 9969 biết gì về Tiểu Hà nữa.
Cô biết trước nên ôn tồn giải thích:
- Anh ơi! Mấy hôm trước chắc anh dặn bạn tôi, còn tôi mới được nghe yêu cầu này lần đầu.
Giọng bên kia ngớ ra:
- Ủa, vậy là có nhiều cô, nhưng sao giọng các cô giống nhau quá vậy?
Cô nói cho anh an tâm:
- Ðược rồi, tôi sẽ báo các bạn đều biết. Nhưng anh ơi, sao nỡ cắt tin của một người dễ thương như vậy?
Giọng 9969 bỗng nghẹn:
- Dạ! Chuyện phức tạp lắm. Không phải ai cũng tử tế như cô đâu! À, cô tử tế ơi, tên cô là gì?
Cô nói nhanh, như sợ cvó ai đó bắt gặp cô vừa làm một điều không phải:
- Tôi mang số 18.
9969 trở lại giọng vui của ngày đầu tiên:
- Vậy là cô Chín Nút. Cô sẽ gặp hên. Chiều nay, giờ tan sở tôi xin phép được mời cô đi uống nước...
 
Lâu lắm rồi cô mới được một người đàn ông mời cô đi uống nước. Chẳng biết anh ta là người như thế nào. Ít ra cũng có một cô gái dễ thương tên Tiểu Hà mê anh. Hy vọng những mẫu chuyện vui vẻ của anh ta sẽ làm cô tạm quên đi một buổi chiều buồn bã trở về phòng riêng một mình!.
- 18 ơi! Có người nhà cần gặp.
 
9969 đến sớm hơn giờ hẹn. Anh cười ranh mãnh:
- Dạ! Vậy mới dễ tìm ra cô. Chờ lúc tan sở chẳng lẽ chận từng cô lại hỏi: “Dạ không biết trong các cô ai là người mang số 18”.
 
Anh mời cô đến một quán nước lộ thiên nằm ở gần một quảng trường lớn. Anh cao và ốm lỏng khỏng như tre. Mặt tối nhưng mắt sáng. Cô nhớ đã được xem anh diễn rồi. Có một người mập tròn cùng diễn với anh. Họ giúp vui cho một đám cưới bạn cô. Hai người chủ yếu khai thác hình thể tương phản của họ hơn là sử dụng ngôn ngữ hài.
 
Anh gọi nước cho hai người rồi ngồi nói huyên thuyên đủ chuyện, có vẻ vui lắm nhưng cô vẫn cảm được một cái gì đó buồn bã ở hai hàng lông mi rủ, ở chiếc nón vải mân mê trên tay anh, ở chiếc áo sơ-mi hai vạt bên nâu bên lục, hai tay áo bên lục bên nâu, ở chiếc quần cao hơn mắt cá chân đã nối một tầng ống. Cô khơi chuyện Tiểu Hà. Hai hàng mi rủ chớp nhanh, giọng chợt buồn sũng:
- Dạ! Mấy nhóm tấu hài tụi tôi theo bầu sô ra Ðà Nẵng diễn, đứa nào cũng cặp được một cô khán giả ái mộ. Phần tôi chỉ có một con bé bán bắp rang ở Chợ Cồn theo. Nó bị té sông mấy lần nên không bình thường. Trẻ con gọi nó là con gái của Hà Bá. Về tới Sàigòn, tôi được tin của nhỏ Hà nhắn hoài. Lúc đầu tưởng thiệt, mừng lắm, sau thấy tụi nó cười rần mới biết bị chọc. Muốn khùng luôn vì không biết thủ phạm là đứa nào. Cuối cùng mới biết cả đám luân phiên nhau ghẹo tôi.
 
Cô thắc mắc về những tin tức xe cộ đô-la, mắt nhung lại rủ:
- Dạ! Chị gái tôi buôn ngọc. Em trai tôi bán xe. Họ bỏ tiền ra sắm máy cho tôi đeo để nhận tin cho họ. Họ muốn kiếm chuyện để tôi làm, khi nhận tiền của họ không bị mặc cảm.
- Trong gia đình còn ai theo nghề này như anh không?
 
Anh lắc đầu, chớp mi rồi dụi mắt. Chẳng biết bụi bay hay nước mắt? Cô chuyển sang chuyện khác cho vui:
- Anh có quen nhóm “Hồng Lâu Mộng” không? Có biết điểm hẹn Ngàn Sao?
 
Anh lấy lại nụ cười:
- Dạ! Ðó là nhóm mấy anh chị danh hài hạng A. Thỉnh thoảng họ cũng có ghé “Khách sạn Ngàn Sao” của dân tấu hài hạng C, D như chúng tôi. Ðó là dãy quán cóc vỉa hè gần tụ điểm Tiên Rồng!
- Nè, mà sao nói cái gì cũng dạ hết vậy? Coi chừng người nghe bị tổn thọ!
 
9969 cười bẽn lẽn:
- Dạ, lỡ quen rồi! Lớn nhỏ gì cũng phải dạ! Má tôi nói như vậy tốt, đỡ bị người ta ăn hiếp. Nghe nói hồi có mang tôi, má giận ba định bỏ, nhưng không hiểu sao tôi vẫn ra đời. Hồi nhỏ tôi khờ nhất nhà, nhất xóm. Sau này thấy tôi đi tấu hài ai cũng ngạc nhiên. Ðầu tiên má tôi gởi tôi theo gánh Hồng Hà làm hậu đài. Ai cũng chọc ghẹo nên tôi đi đến đâu là có tiếng cười tới đó. Tới lúc túng hề, người ta đẩy tôi ra. Riết rồi thành nghề. Ðoàn rã, tôi thất nghiệp một thời gian. May nhờ có chị Hồng bên vũ đoàn Hồng Dạ bị phát phì không múa được, ráp với tôi nên thành nhóm tấu hài Một Không...
 
Tới lúc trả tiền, 9969 nhất định không cho cô trả. Anh nói cô đừng làm nhục anh. Rồi anh lượm cái nón vải chụp lên đầu như một thói quen dù trời đã xẩm tối sau khi nhắc tới nhắc lui nhớ nói giùm với bọn mạo tên nhỏ Hà rằng đừng đem anh và nhỏ ra chọc ghẹo nữa, tội nghiệp nhỏ.
 
Mấy tuần sau, tháng cao điểm, cô và bạn bè nhận tin không kịp thở, nhưng ở những phút rảnh rang hiếm hoi, cô vẫn luôn mong ngóng một Tiểu Hà mạo danh nào đó để thực hiện lời dặn của anh. Cô hỏi thăm bạn bè thì họ cũng bảo không hề nhận được tin Tiểu Hà nữa dù chưa ai kịp thực hiện yêu cầu của 9969. “Tiểu Hà” dường như biến mất từ lúc anh đến gặp cô.
 
Ðã vậy, gần đây, máy 9969 chỉ chuyên nhận tin về những dịch vụ bán buôn, không còn một dòng nào của cái thế giới bỡn cợt trước đây cho riêng anh. Ðọc báo, cô biết nhóm Một Không đã rã, cô số Không xuất hiện trong một liên doanh mới: Vuông Tròn. Vuông là một anh chàng cắt tóc ca-rê, nhỏ con như một đứa bé mắc bệnh còi, và mặt dữ dằn như con cá tai tượng trong bồn cá đặt ở nhà bà giám đốc.
 
Nhiều lúc bỗng trở về trong trí cô cái bóng lêu nghêu đổ dài trong chiều tà của 9969 khi chia tay, dáng nghiêng xiêu về trước như đã bị quá tải bởi những lời trêu ghẹo của người đời đổ xuống hai vai. Có lẽ bây giờ 9969 đang rãnh rang ố mà không biết hiện tại anh có còn được mang cái máy ấy trên người hay không? Có lẽ giờ đây anh đang thèm biết bao được nghe lại những lời lẽ chọc ghẹo của Tiểu Hà mạo danh, thuở anh còn là một diễn viên hài dù chỉ cỡ hạng C hay D gì đó!
 
Một buổi tối, trở về nhà sau ca trực, cô ghé một trạm điện thoại công cộng nhờ nhắn tin đến máy 9969: “Số Một ơi! đừng tuyệt vọng!”. Bên kia, có vẻ như là giọng của Liễu số 25:
- Dạ, xin chị cho chúng tôi biết tên của người nhắn ạ.
Không suy nghĩ, 18 đáp thật nhanh để rồi cúp máy ngay sau đó: “Tiểu Hà”.
 
 Trăng Huyết  
 
      Biển ngợp ngụa trong màu đỏ của trăng. Tôi ngợp ngụa trong cái thứ nước mặn tanh đó. Ðêm lặng gió, sóng nhỏ, những cù lao đen đủi ngoài kia khiêu khích. “Lúc nào buồn em sẽ bơi ra đó bứt một nhúm rong mơ rồi quàng lên cổ bơi về”. Tôi thường nói câu đó với Huyên nhưng chưa bao giờ tôi thực hiện cả. Bởi mọi sự với tôi chưa có gì trầm trọng để gọi là buồn. Sự lỳ lợm đã như một món quà Huyên tặng riêng tôi trong những ngày sinh nhật vào mùa trăng huyết tháng tám. Huyên có cái lối trui luyện em gái như tập tục của một giống dân da đỏ ở vùng hàn đới, nhúng đứa trẻ sơ sinh vào nước suối, và lớn lên một chút, xô nó xuống dòng sông cá sấu, nếu nó chịu được lạnh và cá sấu không ăn được thì coi như trời đã nhận. Tôi sẽ không cãi nếu có ai bảo Huyên không biết thương em. cãi làm gì. Nói ra chẳng ai hiểu đâu. Mà cũng chẳng cần ai hiểu.
       Huyên hơn tôi gần mười tuổi nên khi chơi với Huyên, tôi có cái dáng lúc thúc của một con gà con. Ðúng hơn là con gà què. Một chuyến lên núi Tà Cú nhân dịp Trung Thu, cái bánh xe đạp sau quấn nghiền bàn chân tôi, Huyên cõng tôi vào bỏ trong bụng ông Phật nằm, dài 49 thước, để đi kiếm thuốc. Trăng đêm đó cũng là trăng huyết. Hơi trăng hắt sáng qua khe mắt Phật rọi trên gót chân bầm tím của tôi lạnh như ai rắc băng trong tủy. Sau này tôi đi hơi cà nhót. Sao chẳng lúc nào tôi tỏ ý - dù ý thầm - oán giận Huyên. Nhà chúng tôi ở gần một cái đầm nước mặn, dưới chân một đồi cát, kề một nghĩa trang. Bên kia đầm là một vườn rau xanh ngắt ẩn dưới bóng cau rợp lá loáng thoáng thấy được bóng người. Một chỗ nửa chợ nửa quê. Bọc ngoài đồi cát đầy dứa dại táo gai là biển, nơi cung cấp những trò chơi không chán. Ngay trong nhà chúng tôi cũng đã có nhiều thứ để giải trí rồi. Con mèo chột là của Huyên. Con heo vá đen là của tôi. Con nhồng kêu được tiếng người là của Huyên. Ðàn vịt có bệt sơn xanh đánh dấu trên lưng là của tôi. Chúng tôi còn chia nhau nhiều thứ. Cây đu đủ đực, giàn bầu, cụm hoa tường, chậu xương rồng hoa trắng muốt... Có một cái mà chúng tôi không thể chia. Ðó là má. Cũng chẳng biết được má thương đứa nào nhiều hơn. Ðôi lúc thấy Huyên “hành hạ” tôi quá, như là má cũng xót xa, nhưng ít khi nghe bà la anh về việc đó.
       Mà mọi sự, rõ ràng còn là sự tự nguyện của tôi, Huyên đâu có ép. Tôi hân hoan được sai khiến hướng dẫn trong mọi trò của Huyên. Ðóng một cái nhà cho con heo sắp đẻ. Dựng thêm giàn cây. Ði quơ cây khô trên đồi về nhà chụp lửa. Khi tôi đang tuổi lớn, Huyên đi học xa. Nên trong một năm đối với tôi mùa hè là mùa thần tiên nhất. Có những chuyến phiêu lưu xa hơn giang san chúng tôi đang ở. Ðến rừng dương lăn trên những nệm đá xanh óng ánh trên triền suối chảy ở Ðá Ông Ðịa. Leo tận đồi mai rừng quanh đồi Lầu Ông Hoàng. Chân vẹo xiu lẻo đẻo theo anh khắp nẻo. Kỳ diệu nhất là đi trên nước biển. Thuở mới tập bơi, tôi đau đớn lùng bùng với cái chân xiêu vẹo. Cuối cùng, Huyên phải rứt tay tôi bám, xô mạnh. Cứ ngỡ chìm mất mình thì Huyên nắm cổ kéo lên.
       Thường, cuối một dịp hè, Huyên thường có cái lối chào tạm biệt tôi bằng những cái xô thật bạo tàn mà một đời tôi khó quên. Vì nó thường trùng với mùa trăng sinh nhật của tôi. Lần tập bơi đó là một. Lần thứ hai trong một dịp đi hái dừa vườn hoang với anh. Trời lạnh và đầy sao. Một năm, trăng rằm lớn nhất vào tháng tám, đầy, to. tròn và đỏ như máu, nhuộn khắp cảnh vật một màu u uất, tóc tang mà hoang dã, đục mờ. Những rằm khác trăng trong thì sao biến đi. Nhưng tháng tám ở đây thì đặc biệt sao đầy dù đêm rằm. Tháng tám ma quái của tôi! Huyên mang theo một cuộn dây dừa lớn để thòng trái xuống cho tôi tháo. Rồi như thường lệ, hai anh em chọn hai gốc cây ngả lưng nói lung tung chuyện hay không nói gì hết. Gió thổi xô đẩy lá dừa rào rào không phân nổi với tiếng sóng ngoài kia. Hai tay tôi chắp sau ót thì Huyên gỡ ra, nói thầm vào tai: “Ngày xưa có thằng cha kia ăn xong trái vườn hoang buộc tiền vào gốc cây trả chủ. Bây giờ tao cột mày vô đây để trả tiền mấy trái dừa”. Huyên nói và Huyên làm. Rồi Huyên đi. Tôi định nói, thôi em không chơi cái trò kỳ cục này đâu nhưng sự lỳ lợm khớp miệng tôi lại. Tay Huyên trói không chặt nhưng chắc chắn. Cọng dây dừa nhột nhạt cổ tay tôi. Nước mắt tôi chảy ào nhưng răng cắn nhất định không kêu. Có những người đi đánh vó khuya sóng sánh đèn bảo ngoài bãi. Từng nhóm tới lui ẩn hiện như ma trơi. Tiếng cười nói lất lây trong cụm lá dừa này, bụi gai nọ. Sao vẫn nhiều và dầy. Trăng tươm ứa thêm màu máu sẩm. Vẫn còn một chút yên tâm rằng Huyên lẩn quất đâu đó, sẳn sàng ào ra nếu sinh vật nào ăn hiếp em gái anh.
       Lần xô thứ ba này thì hết hy vọng đó rồi. Sau khi đỗ đầu trong kỳ thi ra trường, Huyên về nhà tuyên bố: “Sẽ lấy vợ trước khi trình luận án và... đi lính. Cái xô dứt tình, dứt nghĩa. Thôi thế là em sẽ bơi ra cù lao đó. Quàng mớ rong lên cổ rồi bơi về. Bơi về rồi làm gì nữa đây. Chị dâu tương lai của tôi quá đẹp. Ðiều đó khiến tôi hơi ngạc nhiên. Con người Huyên cứng cỏi, không có dấu vết của sự thường tình. Chính cái nhan sắc kia khiến cảm nghĩ đầu của tôi là mình bớt nhìn Huyên cao ngất như xưa. Bớt nhưng không hết. Làm sao hết! Có những ngày tôi không làm gì hết. Tôi nằm khềnh ra trên nệm lá dương khô, ngủ cho no, cho muồi hai mắt. Cũng có lúc thả mình nổi trôi lênh đênh trên mặt nước. Tôi đen như cục đất thó. Tóc cháy vàng chẻ đôi ngọn khô gẩy. Mặc dầu đám cưới chưa cử hành nhưng tôi tránh đi chơi với Huyên.
       Tôi hân hoan khi thấy những đóm buồn trách thoáng ẩn hiện trong mắt anh. Sự độc ác lạnh lùng Huyên truyền thụ cho tôi được tôi thực tập với vài người quen. Nhưng họ hơi đần khiến tôi không còn hứng thú. Ðâu dễ gì trời phát cho ta một đối thủ vừa tay. Những buổi đi chơi tay ba bề ngoài có vẻ thật dễ thương. Tần là người mềm mỏng, có cố gắng trong sự chìu chuộng tôi. Sau đó thái độ dửng dưng của tôi vẫn không thay đổi gì hết. Nhưng cũng có lúc bất thần nằm dưới vòm keo nghe tiếng chim líu lo, bỗng dưng tôi xấu hổ với con chim vô danh nào đó. Nên về nhà cố gắng thân ái lại với Huyên, sốt sắng phụ tay vào việc dựng thêm một gian nhà mới cho đôi vợ chồng sắp cưới. Huyên cũng cười cầu hòa, chọc thẳng vào vết thương tôi: “Làm gì mấy ngày nay mày phịu mặt thế con nhỏ? Tần sẽ thay mày đi chợ, sẽ cho heo ăn, sẽ chia xẻ gần hết những việc nặng lâu nay của mày”. Tôi nói thầm: “Nhưng tôi đâu có ham. Tôi đâu có cần được như vậy”. Huyên chọc thêm: “Rồi bộ mi không lấy chồng sao? Trong đám đó tao ngó bộ có mấy thằng trông được lắm”. Nghe Huyên nói giọng buông xuôi chưa. Ngày nào lũ bạn trai của tôi còn khổ sở vì những trò hề của Huyên để trắc nghiệm từng đứa. Bây giờ thì đâm ra dễ dãi như vậy. Tôi bỗng nói to: “Thôi tốt hơn là Huyên đừng nói gì nữa cả thảy”.
       Trời mưa bay bay ngoài nghĩa trang. Người xà ích nạt nộ tôi tránh lối cho xe mang gạch hồ vào xây một ngôi mộ mới. Ðám ma này khi sáng tôi có gặp. Thằng nhỏ chết trạc tuổi tôi. Má nó khóc mùi mẩn. Ba nó mặt lạnh như đá. Như là ông có ngồi trên xe ngựa. Và ngó châm bẩm tôi. Tôi không nhìn lên nhưng tôi biết. Theo Tần kể, thằng nhỏ tự tử vì bực bội trước mối bất hòa của ba má nó. Tự tử bằng một cây súng của ông. Có vẻ như đó là một người có chức phận và danh vọng. Dĩ nhiên, từ đó sẽ kéo theo nhiều mối bận tâm khác. Phải chăng tôi bị quyến rũ từ đầu bởi nét khổ tâm trong mắt ông và nét quý phái sang trọng nơi người đàn bà vợ ông. Buổi chiều đó, tôi đứng dưới gốc cây đào ngắm người thợ hồ xây mộ và ngắm người đàn ông có nỗi khổ nát lòng ngụt trong hai mắt. Thỉnh thoảng ông có nhìn lại tôi, ánh dịu xuống. Nhưng mắt tôi không hề chớp. Tôi quan sát người cũng như quan sát vật để quên buồn. Vì trời mưa, tôi chưa thấy hứng thú bơi ra cù lao Hống.
       Ngày cưới kề, Huyên đi xa một chuyến, lấy cớ mua một ít đồ cần cho đám cưới. Chắc chắn đó là cái cớ. Tần vẫn đến nhà dịu dàng với má và tôi. Bỗng tôi thấy tội nghiệp cho cái nhan sắc đó phải về sống ẩn nhẩn giữa chốn đầm lầy loang lạnh như thế này. Tôi sợ sẽ có lúc chị hối hận. Thì có bao giờ tôi kêu ghét Tần đâu. Nhưng lâu nay thấy dửng dưng. Dịp đi xa của Huyên mới thấy chớm lên chút hào cảm dành cho chị. Tôi nghi ngờ như có một điều gì toan tính giữa hai người.
       Sáng mai là ngày Huyên về, Tần đến xin phép má cho tôi đi với chị trong một buổi tiếp tân. Tôi ngồi cho Tần trang điểm. Tần nói nhỏ: “Hải sẽ là người nổi nhất trong đêm nay”. Có lẽ, nhờ cái chân cà thọt của tôi. Chị cho tôi mượn cái maxi vàng óng - để phủ che chút chân tật nguyền, phải thế không? - Phải lắc đầu với nhiều người mời ra sàn nhảy, tôi nghĩ mình giống như một nhân vật cổ tích, con nhỏ công chúa cá thích lên bờ phải đổi cái lưỡi lấy đôi chân người để gặp hoàng tử. Nó phải câm, mất đi tiếng hát tuyệt vời đã làm hoàng tử mê mệt nếu không sẽ biến thành bọt nước. Hình như cuối cùng con nhỏ không ngăn nổi mình vì tựa truyện là Bọt Nước Chung Tình. Như bao giờ, tôi đứng một chỗ riêng - ở đâu cũng có một chỗ riêng cho tôi - nhìn ngắm từng người. Ai sẽ là hoàng tử của tôi đêm nay. Chỗ này là chỗ người lớn. Không có lấy một tên nhóc bạn tôi. Nhưng trong mắt nhìn, tôi biết những người kia không coi tôi nhỏ. Họ đến từng tốp hai ba người rồi đi. Tôi thích như thế. Thật là thoải mái. Trời trong sáng và đầy sao trên những lùm cây như đêm nào Huyền trói tôi vào gốc dừa. Trăng mới nhú. Kéo lướt thướt cái bóng ngầu đục của nó qua những tàn lá thấp. Phải cám ơn Thể Tần mới được. Ban đầu ngỡ Tần đẹp nhất đêm nay. Nhưng rồi mới thấy. Sang trọng quý phái trên tất cả vẫn là bà Hạo, cái người đàn bà ảo nảo trong đám ma hôm nào. Tôi ngắm bà không chớp mắt và buột miệng nói với người đàn ông đứng cạnh: “Ngó cái bà trong áo nhung đen kìa. Tôi mê bà ta quá”. Có tiếng cười ngắn: “Bà ta là vợ tôi...”.
       Tôi quay hẳn người lại. Nhìn trừng trừng người đàn ông lạ lùng đó. Mắt ông ta vẫn buồn dù nụ cười còn giữ trên môi. Tôi tự nghĩ người đàn ông này dù có nghe những gì người ta xầm xì về vợ chồng ông thì chắc đó cũng chẳng phải là nguyên nhân khiến ông phải buồn thêm. Nỗi buồn như thấm tự đời thuở nào trong xương tủy ông. Chẳng hiểu vì sao tôi muốn bắt tay ông để chút buồn nhỏ của tôi lẫn hòa trong buồn rộng. Rồi tôi nói về cù lao nhỏ. Ông có bao giờ thấy cù lao đó chưa. Tôi cứ nhạo anh tôi bao giờ buồn tôi sẽ bơi ra đó. Hái rong mơ choàng lên cổ rồi về. Ông ta nghiêm trang: “Ngày mai tôi sẽ thực hiện giấc mơ đó giùm cô”. - “Sợ ông bơi không nổi”. - “Tôi có vẻ bệ rạc lắm sao?”. - “Không, nhưng ông có vẻ nặng nề vì một nỗi buồn nào đó. Ðâu có ai mang khối đá trên lưng mà bơi nổi”. - “Thế thì tôi sẽ cất tạm nó ở nhà”. - “Tại sao không ném quách đi cho rảnh, ông còn tiếc rẻ lắm sao?”. - “Ðó là một phần của tôi. Không ai cắt bỏ được thịt da mình. Vì nó sẽ nẩy chồi mọc ra cái mới. Trừ khi tôi chết đi...”.
       Im lặng một lát, đột nhiên tôi hỏi: “Chắc ông yêu bà ghê lắm?”. Tiếng ông lạnh lẽo: “Cô có cần biết lắm không?”. Tôi xin lỗi: “Có lẽ vì bà ta đẹp quá. Tôi bị mê hoặc bởi bà ta. Và hơi phiền lòng khi thấy họ không được hạnh phúc. La Rumeur!”. - “Cô tin những lời đồn lắm sao?”. - “Tôi ghét chúng nhưng dầu gì cũng không chối được là có một chút gì thật trong đó”. Ông bỗng kéo tay tôi. Mà tại sao ta phải nói về những điều đó trong một đêm thế này. Ði! Tôi mời cô bản này. Tôi từ chối. Tôi nói thẳng vì chân tôi hơi cà nhót. Ông Hạo à à. Ra đó là nguyên nhân nỗi kiêu ngạo của cô. Tửu lượng của ông ta làm tôi ngán. Ðó là người thứ nhì tôi nể vì chuyện này, sau Huyên. Họ nhà tôi có máu háo thắng, nên dễ lì lợm trong mọi trò đùa. Ông Hạo nói tôi chẳng phải vì đùa như ông anh của cô mà uống nhiều đâu. Ông biết Huyên à. Biết chớ. Thằng cha nổi tiếng lì rượu. Năm đầu tiên ra nghề, tôi có dạy Huyên. Chúng tôi thuê phòng ở gần nhau. Ðêm đầu Huyên đến H., chúng tôi đã uống với nhau những giọt rượu đầu tiên. Tôi ôm cái mặt nứt nẻ sau trận đòn của du đảng xứ ấy, lết về phòng Chuyện đó tôi có nghe Huyên kể. Té ra là ông sao. Sao ông có con lớn thế. Tôi lấy vợ sớm, Cẩm Lai học lớp tôi. Dạo còn ở D., chúng tôi thường ôm nhau lăn từ đỉnh cỏ cao mượt mà xuống chân đồi. Mẹ Cẩm Lai hỏi tôi có ba triệu không? Cách đây mười bảy năm, ba triệu không phải dễ kiếm. Nhưng cuối cùng tôi cũng cưới được Cẩm Lai vì chúng tôi đã có con với nhau. Tôi thường nghe Huyên nhắc về cô. Hải Ðường! Té ra chúng ta quen nhau mười lăm năm nay rồi mà không hay. Tôi nhỏ nhẹ: “Hãy gọi tôi là Hải thôi. Tôi không thích phải mang tên thứ hoa đó”.
       Ông Hạo lái xe đưa tôi về. Cô có vẻ khôn ngoan trước tuổi. Kiêu ngạo, tự tin, lúc nào cũng ở một thế thủ vững chắc. Tự rót uống lấy mình. Cô chưa uống một giọt rượu tôi mời. Lúc ở trên xe, gió lộng làm tôi nhớ mình chưa cho Tần hay mình sẽ về xe ông Hạo. Ông cũng chưa cho bà ấy hay. Thế cô nghe người ta đồn thế nào. Chúng tôi đang ở thời kỳ ly thân. Nghe giọng nói như là ông vẫn còn yêu bà. Tôi nhắm mắt và cảm thấy có một cái gì đó nát tan không cứu vãn nổi. Cái cảm giác của một người bị đẩy truồi tử đỉnh xuống chân một đồi cát. Mình sao thế này. Tôi kêu ông Hạo cho tôi xuống. Ông thắng xe và nắm tay tôi. Cô sao thế. Chẳng sao hết. Sắp đến nhà tôi. Tôi muốn đi bộ một quãng. Ông Hạo khóa xe. Tôi muốn đi với cô. Những lời nói như truyền lệnh này là của Huyên. Huyên mà tôi sắp mất. Thốt nhiên tôi cảm thấy chán nản và rã rời mọi sự. Còn hay mất. Sống hay chết. Ðời sống lung linh những nỗi không tưởng. Chúng tôi im lặng đi chậm rãi bên nhau. Như một đôi bạn già. Kỳ dị nhỉ. Sao giờ tôi lại ở đây. Tiếng ve thống thiết trong những những bụi cỏ. Gió hất tóc tôi sang vai ông Hạo. Jupe dài làm vướng víu những bước chân lướt thướt trên cỏ của tôi. Rồi một lúc nào không rõ. Chúng tôi lạc lối đến nghĩa địa. Lẩn quẩn đến ngôi mộ người con ông Hạo. Ông đứng lại một chút. Trăng hắt lênh láng màu đỏ sậm trên mặt ông tỏ lộ một điều gì đó thê thiết khôn tả. Tôi đứng im như tượng nhìn một bức tượng khác là ông. Rồi một lúc nào không rõ. Chúng tôi hôn nhau. Nụ hôn nhẹ tưởng như không có. Nhưng mà lâu. Lâu như nỗi buồn. Một pho tượng hôn một pho tượng. Lạnh biết mấy. Sau đó cảm được một chút gì yên tâm và vơi bớt chán nản. Hôn, thay cho bắt tay, như một dấu hiệu chào nhau để nỗi buồn vỡ ra, chảy bớt. Tôi chảy nước mắt. Cô từ đâu đến thế này. Tôi ở đây. Thế sao tôi không biết cô. Vì tôi không biết ông. Chúng ta không biết nhưng cây cỏ biết. Mả mồ biết. Sao trăng biết. Và đứa con của tôi sẽ chứng giám rằng... Tôi sẽ thường ra thăm cậu ta. Mong tình cờ gặp lại. Bây giờ nên chia tay ở đây. Lúc này người truyền lệnh là tôi. Ông đứng đó. Tôi quay thoắt đi sau những hàng lau sậy dẫn vào nhà. Lọt vào trong nhà mới biết mình đánh rơi đâu đó một chiếc giày. Như con bé lọ lem chưa! Nhưng nằm ngoài dự liệu của Huyên và Tần, Lọ lem không gặp hoàng tử mà lại gặp ông già của hoàng tử. Tần ngồi chờ tự bao giờ. Má tôi đang trách sao để lạc tôi thì tôi vào. Con về đây. Con về nguyên vẹn nè má. Nhưng mất mát rơi rớt theo nhịp chạy rất nhiều. Làm sao má biết. Làm sao má đếm được hồn con.
       Rồi ngày qua ngày. Sóng làm đôi lúc tôi tưởng điên lên được. Nhưng nước biển làm tôi dịu lại. Tôi vẫn chưa bơi ra cù lao Hống. Chưa có gì trầm trọng mà. Một đôi lần tôi suýt chạm mặt bà Hạo nơi mộ cậu bé. Bộ đồ đen làm tăng vẻ đẹp não nùng của bà. Cẩm Lai! Tên một thứ gỗ quý. Tôi biết ông Hạo còn yêu bà ghê lắm. Chẳng thế mà ông buồn. Mà liên can gì đến tôi. Cô có cần biết lắm không. Ông Hạo đã hỏi. Nếu là bây giờ, tôi sẽ trả lời. Cần lắm. Ðể làm gì tôi cũng không hiểu nhưng cần lắm.
       Có đêm tôi mơ thấy mình bơi ra cù lao. Ðó là những hòn đá sắc cạnh màu huyết lởm chởm hào hến. Huyên đứng trên đỉnh tự bao giờ. Anh gỡ tay tôi nhoi lên bám đá. Ðá sắc cào xướt một bên ngực, vẫn mạnh bạo như một con kình ngư, tôi thong dong bơi vào bờ. Có tiếng ông Hạo gọi sau lưng. Ông ta vừa bơi vừa giơ cao một nhánh rong mơ định trao cho tôi. Nhưng sóng dạt, chẳng bao giờ chúng tôi chụp bắt được nhau. Rồi tôi thấy mình đứng trước một tấm kiếng lớn. Áo toạt ra, tay cầm bông băng định băng vết thương, nhưng vết sướt đẹp quá khiến tôi cứ đứng ngắm hoài hủy. Máu tươm một đường đỏ, chấm dứt ở đầu vú trông như một nhánh hồng đầy gai máu. Rồi tôi hôn tôi. Cánh hồng đỏ vỡ nhòa. Nụ hôn lạnh lẻo mùi ngân thủy của gương.
       Cũng có lúc tôi lờ mờ thấy cậu con của ông Hạo tìm tôi. Tại sao chị thường đến thăm mộ tôi. Vì tôi mê má cậu và tôi đã hôn ba cậu. Tôi không thích thế, tại sao chị không đến vì chị thích đến với tôi. Thế thì tôi không đến được đâu, cậu bé! Nhưng đó là mơ! Thật ra tôi vẫn đến ngôi mộ ấy thường và lánh mặt mỗi lần thấy người ở đó. Có lần ông Hạo nhìn thấy tôi. Ông đuổi theo nhưng bao giờ cũng lạc lối giữa những hàng lau sậy. Những con chim vịt động ổ bay lên quang quác kêu rợp trời. Lẩn lộn trong đó tiếng kêu trầm, nhỏ, yếu ớt của ông Hạo: “Hải! Hải! Em ở đâu, cho tôi gặp một chút”. Không khác tiếng kêu trong giấc mơ tôi đã nghe bao nhiêu.
       Bốn chúng tôi, Huyên, Tần, má và tôi vẫn sống êm đềm và có vẻ hạnh phúc. Chúng tôi sắp rời khỏi nơi đây. Huyên vào lính. Tôi được gởi đi học xa. Thể Tần bị thuyên chuyển về vùng cao nguyên. Má sẽ theo sống với Tần. Những buổi tối tôi ngồi sành soạn những món quà ngày xa xưa của Huyên. Một đốt ngón tay ướp formol. Bàn tay cán mỏng thành hình hoa pensée. Pensée à moi. Ðiều đó cần thiết chăng. Ðêm, gió vẫn hú dài trên những đồi cát hoang dã sau nhà rồi lướt chân vòng qua những bụi bờ lau sậy giữa đầm lầy và nghĩa trang. Rồi sóng, sóng vẫn rên xiết những lời tuyệt vọng một cách nhàm chán. Và sao, sao lâm chân dày đặc âm ui. Ðã qua mùa trăng huyết cuối cùng của tôi ở P.
       May mắn tôi là người rời nhà đầu tiên. Huyên có tổ chức một buổi rượu tiễn. Dành cho tôi bất ngờ, anh có mời ông Hạo. Huyên kiêm luôn chức đầu bếp. Món thịt nướng anh làm thật tuyệt. Ðủ cả tỏi, quế, ngũ vị hương, cà-ri cay... Mấy chai Mai Quế Lộ được đào lên... càng về khuya tôi càng sợ hãi trước sự bình tĩnh của Huyên và vẻ mặt ngây ngô của ông Hạo. Dưới sự điều động của Huyên, ông khóc cười như một đứa trẻ. Lòng tôn quý của tôi đối với ông tiêu tan như nỗi buồn không còn đọng vết trong mắt ông. Huyên bây giờ độc ác như một gã phù thủy. Mắt anh đỏ những đường gân chằng chịt, cơ hồ rượu đổ ngụt vào hai cái hố khủng khiếp ấy.
          Tôi chịu hết nổi. Chạy vòng ra sau nhà. Thấy Tần ngồi khóc bên đống lông chuột, tôi nghĩ rằng chị đã hiểu lờ mờ. Nhưng tôi thì hiểu thấu suốt mọi sự. Tôi cào nát cổ vẫn không ói được khối thịt thơm phức đã nuốt vào khi nãy. Ông Hạo đang chệnh choạng múa may bước ra cổng và ngã sóng soài giữa bậc đá. Má tôi mang khăn ướt ra lau vết bầm trên trán cho ông. Huyên liệng ra một tấm mền. Tôi ngẩng lên. Không phải hai con mắt lửa. Mà đó chính là hai vầng trăng huyết độc ác và thê lương sẽ theo đuổi tôi suốt cả cuộc đời. Trong chuyến đi xa ngày mai, tôi sẽ không còn lo phòng những bất trắc. Ðánh đổi lại, sẽ là những mãnh tình không. Ông Hạo! Ông Hạo! Và những ai sau này nữa. Hãy tha thứ cho tôi. Hãy tha thứ cho anh em tôi...
 
Nguyễn Thị Minh Ngọc

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013