Thi Ảnh

Khuất Đẩu

Áo Trắng - Khuất Đẩu

 
* Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong.
                                                          Huy Cận
 
Chiếc áo tôi muốn nói, nhìn xa tưởng đâu em gói mây trong áo, tới gần mới biết là hai phần gió thổi một phần mây.
Một phần mây thôi, nhưng cũng đủ làm choáng váng vì áo em trắng quá nhìn không ra.
Đó là chiếc áo đồng phục của nữ sinh. Người ký cái lệnh xinh tươi đó, trước khi là nhà mô phạm cũng đã là một nhà thơ. Không chừng còn là một họa sĩ nữa. Nhờ vậy, từ những ruộng đồng xa xôi đến những phố phường rộn rã, ngập tràn những làn mây trắng đẹp.
 
Nhà thơ Hoàng Trúc Ly một lần nằm mộng thấy nữ sinh đã phải buột miệng:
Ô hay con gái bay nhiều quá
Những cánh tay mềm như cánh chim!
Tưởng không còn hình ảnh nào bay bổng đẹp hơn được nữa.
Không chừng những khách du lịch, cả những chính khách ưa cái đẹp (và gái đẹp) như Clinton cũng nằm mộng như thế giữa ban ngày, khi thấy các em tan trường về.
 
Một chiếc áo đơn sơ, không cứ gì phải lụa Hà Đông để nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát, cũng không lòe loẹt kiểu cọ, chỉ thuần một màu trắng tinh khôi, cùng với quần trắng, nón trắng. Nó bay bổng lên được, đương nhiên nhờ hai phần gió thổi, nhưng nhẹ đến thế, mềm đến thế vì nó được mặc bởi những nàng con gái.
Tôi không chối cãi rằng, có một thời ngồi ở bến Thừa Phủ chỉ để nhìn những nữ sinh trong thành nội, đúng là mềm như cánh chim, ríu rít như chim, rủ nhau xuống đò cho kịp giờ vào lớp ở trường Đồng Khánh.
Thuở nọ, tôi là một anh học trò cả ngố chín năm kháng chiến ở đất Bình Định, được nhắc nhở rằng màu trắng là màu có lý lịch xấu. Địch đã từng dùng những mảnh gương soi ra hiệu cho máy bay bắn phá kho thóc, trường học. Các cô gái chỉ có một cái kẹp tóc thôi để làm dáng, cũng phải che cái lấp lánh đi, nếu không muốn bị kết tội là Việt gian! Còn nón trắng thì quét lọ nghẹ hay bùn! Nên chi tôi cứ đứng ngẩn ngơ suốt cả buổi mà trông vời, tuy rằng ở thành nội, đâu phải ai cũng là tiểu thư.
Với một làn áo trắng như mây đó, trông ai cũng đẹp, cũng thơm tho tinh khiết, là nét xinh rất chung của tuổi em tuy mới mười lăm mà đã lắm người thăm.
Thăm thì mặc họ, em vẫn cứ mộng bình thường. Em chưa mộng nhà lầu xe hơi, chưa mộng lấy chồng bác sĩ kỹ sư hay làm người yêu của sĩ quan trẻ tuổi đẹp giai.
Em chỉ mộng, mà mộng gì em cũng không biết nữa, có thể là bay lên như chim, có thể là lạc vào một hoang đảo, hay mộng thấy mình bất ngờ thành con giai để xem bọn họ nghĩ gì về con gái. Nói chung là mộng trắng trong như nhà thơ Huy Cận đã nói quá hay và quá đủ.
Chính vì mộng trắng trong nên em nào cũng hồn nhiên trong sáng. Hồn em như tủ mới, các ngăn đều trống thênh thang, chưa phải xếp đầy những lo toan chất chồng khi phải nghiêng vai gánh nặng tuổi đời. Các em bay lên là phải.
 
Nói về cái bay bổng, cái thướt tha, cái tinh khôi của chiếc áo nữ sinh, có lẽ một ngàn năm sau cũng vẫn có người còn nói. Tôi có nói thêm nữa cũng bằng thừa. Tôi muốn dành những dòng này để nói về một thoáng buồn.
Một thoáng là so với một ngàn năm sau, chứ với những ngày sau tháng tư đáng nguyền rủa, cũng khá là dài, nhất là với các cô bé mười lăm hay mười bảy.
Các cô được “rải phóng”, không còn phải mặc áo dài. Kẻ thắng cuộc “ní nuận” rằng, đi học chứ đâu phải đi ở tù mà phải mặc đồng phục!
“Thế thì cho chúng em xin mặc một ngày thứ hai thôi!”
“Đó là pháp lệnh! Mặc là để học và lao động chứ không phải để làm đẹp”
Không phải chỉ một vài em nài nỉ xin với thầy cô như thế, mà ít ra cũng đến cả triệu nữ sinh của bên thua cuộc, nếu cho các em khóc xả láng chắc cũng đủ nước để làm thủy điện!
Chưa bao giờ các em buồn như hôm chiếc áo trắng bị tuyên án tử. Nhiều em bỏ học nằm miết trên giường. Buổi sáng đầu tiên không đồng phục, các em thấy ngỡ ngàng xấu hổ, như thể vừa bị lột mất áo.
Cái lệnh đó cũng giống như vua Minh Mạng cấm quần không đáy!
Sau này, các em mới hiểu ra, chỉ có bốn tấc vải một năm, vừa đủ che những chỗ cần che, cấm là phải. Lúc đầu cất kỹ, lâu lâu lại đem ra ướm thử cho đỡ nhớ. Nhưng bao nhiêu áo mặc thường ngày, cứ mòn dần rồi rách te tua. Thì đành mua thuốc nhuộm, cắt hai tà may thêm được một chiếc. Rồi cũng thành giẻ rách!
Từ đó, các em không còn mộng trắng trong, mà đục ngầu vì bị đẩy lên kinh tế mới hay lênh đênh giữa trùng khơi vô định.
Đến nay, các nữ sinh ấy nếu không vùi thây trong rừng sâu hay nằm trong bụng cá, cũng đều ngấp nghé ở tuổi sáu mươi. Cũng đã là bà nội bà ngoại, nhưng kỷ niệm một thời áo trắng vừa đẹp vừa buồn ấy, không một ai quên được.
 
Giờ, dẫu sao cũng có cái ăn cái mặc, người ta lại ra pháp lệnh mới, đồng phục nữ sinh. Thế là chiếc áo trắng tưởng bị chôn vùi cùng chế độ cũ nay đội mồ sống dậy.
Nhưng nó không còn là mây dù màu cũng trắng. Nó chỉ có xác chứ không hồn, khi người mặc nó dù trời nóng hay lạnh cũng đều khoác thêm một chiếc áo lụng thụng có mũ trùm đầu, chân mang giày và mặt thì che khẩu trang kín mít. Ăn mặc như thế, còn tệ hơn là chim cánh cụt.
Đâu còn cảnh tung tăng, nói cười nhí nhảnh. Đâu còn tiếng guốc khua trên hè phố nghe động tận tim ai. Và đâu còn cảnh nữ sinh bay nhiều quá/ những cánh tay mềm như cánh chim.
 
Áo đã như thế nên mộng cũng không còn trắng trong. Chiếc tủ hồn em chật ních những ước mơ làm người mẫu chân dài, làm ca sĩ, lấy chồng đại gia, có tệ lắm cũng phải là một anh Đại Hàn nhà quê.
Thế thì áo trắng ơi, sống lại mà làm gì. Đã là mây thì xin mây cứ bay đi. Bạch vân thiên tải không du du!*
 
Khuất Đẩu
 
Lữ Quỳnh,
Buồn Như Ly Rượu Cạn
 
Tôi gặp anh lần đầu ở tuổi ngoài bảy mươi. Anh từ Sài Gòn ra, tôi từ Ninh Hòa tới, trong căn nhà lộng gió của Nguyễn Lệ Uyên, ở Tuy Hòa.
 
Gặp nhau lần đầu nhưng không bỡ ngỡ. Vì trước đó, chúng tôi đã từng biết nhau qua những trang viết. Mà những trang viết của mỗi người, tuy không nói về mình, nhưng cái “hồn” của người viết vẫn cứ hiện ra: tôi, dữ dội, cay chua, anh thâm trầm, nhân ái.
 
Trong buổi gặp đó, tuy không uống rượu (vì bệnh), nhưng anh vẫn lấy từ trong túi xắc ra một chai whisky, có lẽ mang từ Mỹ về để mừng cho buổi gặp mặt.
 
Chúng tôi, uống ít thôi, nhưng nói khá nhiều. Nói đủ thứ chuyện, không đâu vào đâu.
 
Khoảng 2 giờ tôi xin xuống ga, về Ninh Hòa (vì đã lấy vé khứ hồi). Nhưng các anh bảo về chi vội, để tối cùng đi với Quỳnh và Minh, tôi thấy cũng được, nên ở lại.
 
Chiều, Nguyên Minh đi thăm sui gia, rồi chúng tôi cùng đến nhà Trần Huiền Ân, ăn Tết muộn.
 
Ga ngày Tết đông cứng người, tôi định nếu không mua được vé, thì cứ leo đại lên tàu, chịu phạt vậy. Nhưng không ngờ, anh lại lấy được vé cho tôi, mà là ghế ngồi có số đàng hoàng chứ không phải ghế “súp” như của anh và Nguyên Minh .
 
Lên tàu, rất may có các cô gái nhường chỗ. Tôi và Minh nói chuyện cùng với tiếng tàu chạy rì rầm. Anh chỉ yên lặng.
 
Xuống Nha Trang, anh rủ tôi và Minh lên ngồi uống nước trên Book-coffee ở gần ga, đợi tiễn tôi về lại Ninh Hòa.
 
Có thể nói, suốt một ngày dài, anh nói rất ít. Mà lại nói rất nhỏ nhẹ. Nhẹ đến nỗi có lúc tôi giật mình, tưởng cái bóng của anh nói chứ không phải anh.
 
Đêm đó tôi tưởng các anh ngủ ở một khách sạn ven biển, rồi sáng dậy sớm ra bãi ngắm mặt trời mọc. Ai ngờ, đi mỏi cẳng chẳng tìm ra khách sạn nào còn phòng. Đành lên ga, quay về Sài Gòn. Mà nghe đâu chỉ đứng chứ không có chỗ ngồi. Mấy ngày sau, lại nghe anh vào viện để giải phẫu gì đó.
 
Viết đến đây, tôi lại nhớ đến các cụ ngày xưa, chống gậy đi tìm nhau chỉ để uống một chén rượu mùa thu. Anh từ Mỹ, ngồi trên máy bay hơn 20 giờ, rồi lại ngồi xe lửa ngày Tết chật cứng người, đến những mười mấy tiếng nữa, mang theo chai rượu chỉ để nhìn bạn uống. Cái tình của anh còn dài rộng hơn các cụ ngày xưa rất nhiều.
 
Không phải vì một cái vé tàu Tuy Hòa-Ninh Hòa, mà tôi quý anh. Mà vì cái lo kín đáo của anh, lo vì ở lại với anh, nên tôi có thể không lên được tàu. Một điều nữa, giá như xuống ga Nha Trang, anh và Nguyên Minh kêu taxi đi tìm khách sạn, thì thế nào cũng kiếm được một chỗ qua đêm. Đàng này, anh không nỡ bỏ tôi ở lại ga một mình để chờ chuyến tàu khuya. Cơ sự như thế nên mới ra cái nông nỗi, hai ông bạn già lang thang trong thành phố biển đã bắt đầu say ngủ!
 
Cái “buổi ban đầu ấy” đọng lại trong tôi rất nhiều. Đương nhiên, anh cao lớn hơn Minh, nhưng trông anh, tôi thấy sao giống Thạch Lam quá. Giống ở đôi mắt to, sâu và buồn. Và nhất là giống những trang viết. Giản dị, nhẹ nhàng nhưng buồn kín đáo.
 
Ở Thạch Lam, là nỗi buồn ga nhỏ, buồn của nhà mẹ Lê. Ở anh là buồn với “Những cơn mưa mùa đông” xứ Huế, buồn vì mất bạn cũng mồ côi*, vì quán hoa giấy chiều nay lãng đãng/uống ngụm nắng tàn trong chiếc ly không.
 
Dường như có rất nhiều người đến tưới rượu lên mộ Trịnh Công Sơn, nhưng chỉ là để nhớ một bạn nhậu chứ không phải nhớ tiếng đàn, tiếng hát của Trịnh.
 
Anh, nhớ bạn, vào quán một mình, kêu một ly rượu đầy và một chiếc ly không. Lặng lẽ ngồi, lặng lẽ uống. Hết ly mình, đến ly bạn. Mà ly bạn chỉ có ngụm nắng tàn.
 
Cái cảnh một ly mình và một ly không, tôi cho là buồn và thật đẹp. Đẹp vì cái tình bạn sóng sánh trong ly rượu. Đẹp vì chiếc ly không đựng chút nắng tàn.
 
Nhưng anh không phải là con người của trầm tư, hay làm ra vẻ trầm tư. Anh là con người của công việc, của gia đinh vợ con. Không ai dám phê phán anh điều gì.
 
Nhưng sao anh cứ buồn, không phải cái buồn vạn cổ, cũng không phải cái buồn thời đại, một cõi buồn riêng có vẻ bơ thờ lạc lõng, buồn của một điếu thuốc lá ngậm hoài thấy nhạt.
 
Giờ đây đã đến lúc chống gậy đi tới nơi phải tới, biết đâu, tôi hay anh, sẽ là người đựng chút nắng tàn trong chiếc ly không.
Dù, chỉ có vậy, cũng xin uống cạn.
 
*thơ Đinh Cường
In nghiêng: thơ Lữ Quỳnh
 
Những Đứa Trẻ Tháng Tư
 
Thủa ấy, thế hệ chúng tôi thường ca cẩm đầu thai nhầm thế kỷ!. Cái thế kỷ mà chúng tôi ngán ngẩm là thế kỷ hai mươi, với thế chiến thứ nhất, thế chiến thứ hai, rồi chiến tranh lạnh, chiến tranh qui ước và cuộc nội chiến lê thê suốt hai mươi năm dài.
 
Kêu trong chán nản, trong hờn dỗi nhưng không tuyệt vọng. Vì còn kêu được kia mà. Chỉ có một chút tấm tức, sao không được sinh ra trong những thế kỷ yên bình. Có nghĩa rằng, dù thế nào chăng nữa, thì được sinh ra làm người vẫn hơn là không được sinh ra.
 
Khác hẳn với những đứa trẻ sinh ra trong tháng tư, bảy lăm, sau chúng tôi một thế hệ. Chúng không kêu mà hỏi: sinh chúng tôi ra làm gì?
 
Đó là những đứa trẻ mẹ mang đầy bụng, mẹ không thở ra hơi mà vẫn phải bết bát chạy.
 
Chạy từ cầu Ái Tử qua cầu Tràng Tiền. Rồi từ cầu Tràng Tiền lê lết trèo qua đèo Hải Vân. Rồi từ đèo Hải Vân qua đèo Mẹ Bồng Con. Sau cùng đến giữa trái tim thủ đô Sài Gòn, vẫn phải giẫm đạp lên nhau để xuống bến Bạch Đằng, hay chen lấn nhau đến nghẹt thở để chui vào phi cảng Tân Sơn Nhất. Một cuộc chạy Marathon dài nhất trong lịch sử.
 
Và rồi mẹ sinh. Không phải trong nhà thương Từ Dũ với sự giúp sức của các bác sĩ và cô đỡ mát tay để mẹ tròn con vuông.
 
Mà sinh, có thể là lúc đang chạy trối chết, con rớt trong quần mà mẹ không hay.
 
Cũng có thể là lúc mẹ mệt quá cái đôi chân này đang ngồi tựa lưng vào một bức tường lỗ chỗ dấu đạn. Rồi con lặng lẽ chui ra mà mẹ không cần phải rặn, đúng hơn là không còn hơi sức đâu mà rặn.
 
Có thể trong thùng xe chất cứng người, suýt nữa con bị người ta đạp cho nát bét.
 
Có thể trên con tàu mấp mé sắp chìm, người ta đang ném những xác chết và những người sắp chết xuống biển cho nhẹ bớt. (Cũng may họ không ném những người đàn bà chửa)
 
Có thể trong khoang trực thăng mà viên phi công bị đạn dưới đất bắn lên, xuyên qua ghế ngồi khiến anh ta đầm đìa máu, vẫn cố sức giữ cho máy bay khỏi rơi.
 
Có thể mọi lúc, mọi nơi, mọi giờ, mọi phút.
Ngay cả phút cuối cùng của giờ thứ hai mươi lăm, khi tông tông Dương Văn Minh vừa nói xong mấy tiếng “đầu hàng không điều kiện”.
 
Mẹ sinh, không có cha bên cạnh.
Có thể cha đã chết trong chiến hào, có thể đang chiến đấu mà súng bị gãy, có thể bị thương, bị bắt, cũng có thể cởi bỏ quân phục lẫn lộn giữa đám thường dân đói khát trên quốc lộ số 1
 
Người ta đi biển có đôi
Còn tôi đi biển mồ côi một mình.
 
Mẹ sinh con ra chỉ mình ên, quạnh hiu lắm con ơi!
Mẹ sinh con ra, chính mẹ, cũng không biết để làm gì!
Không biết để làm gì nhưng vẫn muốn con được sống.
Giữa chốn đông người, mẹ vẫn cứ vạch áo ra cho con bú. Tuy chỉ uống nước lã cầm hơi, mẹ cũng hãy còn một ít máu. Những giọt máu hiếm hoi màu đỏ khi chảy qua miệng con vẫn  thành màu trắng thơm tho.
 
Và kỳ diệu làm sao, con vẫn sống được.
Nghĩa là con vẫn thở trong khi khắp nơi đậm đặc mùi xác chết thối rữa, mùi khói, mùi xăng, mùi nhà cháy. Và con vẫn khóc được trong tiếng đại bác ì ầm, tiếng A.K cọc cọc, tiếng xe tăng rít trên mặt đường.
 
Con sống, nhưng sau cái phút cuối cùng của giờ thứ hai mươi lăm, mẹ ngơ ngác không biết đang ở đâu, rồi sẽ đi về đâu giữa rừng cờ nửa xanh nửa đỏ.
 
Sau cùng, mẹ cũng hiểu ra rằng lịch sử đã sang trang. Không chỉ riêng mình mẹ mà nửa nước đều thấy xa lạ với chính thành phố, xóm làng  của mình. Ngay cả con phố, căn nhà, mảnh vườn cũng không còn là của mình nữa.
 
Mẹ bị đuổi về quê làm xã viên hợp tác xã. Mẹ lội xuống ruộng, mặc dù rất sợ đỉa, để cấy, gặt. Đôi lúc mẹ trần vai để kéo cày thay trâu. Mẹ làm ra lúa ra khoai đầy kho đụn, nhưng mẹ và những người đội nón lá chỉ làm cho nón cối hưởng, nên con vẫn đói khát, bủng beo.
 
Mẹ bị hốt trong đêm quẳng lên rừng thiêng nước độc, gọi là kinh tế mới. Mẹ phải sống chung với rắn rít và cả cọp beo, khi ấy hãy còn nhiều lắm. Mẹ bẻ  măng rừng, hái nấm ăn cho đỡ đói. Nhiều lần ăn phải nấm độc suýt chết. Cả con và mẹ đều bị sốt rét rừng, bụng ỏng da vàng khè.
 
Chịu hết xiết, mẹ cõng con trốn về thành phố. Mẹ vay mượn chút ít chạy chợ trên, lộn chợ dưới. Bị mắng là con buôn, bị quản lý thị trường rượt đuổi còn hơn mã tà. Một đôi lần bị cướp sạch cả vốn. Đến nổi, nói ra thật xấu hổ, chỉ còn cái vốn trời cho. Để làm lại cuộc đời mẹ đã thử theo bè bạn đi đứng đường. Nhưng mẹ gầy yếu teo tốp quá, chẳng ai thèm rớ tới.
 
Cũng may, lúc ấy cha con chẳng phải chết, chỉ bị bắt đi cải tạo, vừa được thả ra. Cha con còn thảm não hơn cả mẹ. Nhưng nhờ cái gọi là tình chồng nghĩa vợ, mẹ cha cũng gắng gượng mà sống để nuôi con. Cha đạp xe thồ, bán cà rem, mẹ lượm lon nhặt giấy vụn trong bãi rác.
 
Rồi con cũng học đến lớp 12.
Nhưng tới đó thì thôi, cánh cửa đại học đã đóng sầm trước mặt con.
 
Con bị ném vào đời không nghề nghiệp, không vốn liếng.
Con sống lây lất cho đến hôm nay.
 
Hôm nay, những đứa trẻ tháng tư năm ấy đã bốn mươi tuổi, cái tuổi tứ thập nhi bất hoặc. Còn bi đát tội nghiệp hơn cả cha mẹ, chúng không có quá khứ để tiếc thương, không có tương lai để hướng tới, chỉ có cái hiện tại không sắc màu, không mùi vị, như một con số không chẳng biết để làm gì.
 
Trong gia đình, nhìn thấy mẹ cha co rúm, mòn cùn, tuy không nói ra, nhưng chúng thừa biết họ là những kẻ hèn. Ngoài xã hội, chúng chỉ đứng bên lề, nếu không muốn nói là đứng dưới đáy. Trong khi những đứa cùng năm sinh, tháng sinh nhưng ở nửa nước bên kia hay dưới cái dù lý lịch màu đỏ phía bên này đang được cơ cấu vào những chức vụ ngon ăn, sắp sửa đi làm đầy tớ cho những ông chủ kém may mắn nói trên.
 
Thế nên, đến chết vẫn còn nguyên câu hỏi: Sinh ra trong chết chóc, lớn lên trong đói khổ và suốt đời sống trong ô nhục, vậy sinh chúng tôi ra làm gì?!
 
17.4.2015
 
Tiếng Sáo Người Em Út
Của Dương Nghiễm Mậu
 
Dù là một nhà văn được nhóm Sáng Tạo phát hiện, nhưng Dương Nghiễm Mậu không viết như Mai Thảo, nghĩa là không cách tân lối viết, không quá chú trọng làm sao cho mỗi chữ gõ lên nghe leng keng.
 
Ông có vẻ như một “phu chữ” kiên nhẫn “gánh” những con chữ như cách Hữu Loan gánh từng tảng đá, để dựng nên ngôi nhà chữ nghĩa của mình. Ngôi nhà ấy, mới trông rất bình thường nếu không muốn nói là tầm thường.
 
Nhưng bước vào trong, cái vừa hấp dẫn vừa làm ta ngài ngại, chính là không khí trong mỗi truyện, một không khí hơi lành lạnh, hơi u uất, hơi dằng xé. Truyện nào cũng đau đau, buồn buồn, để lại hay làm bật lên trong lòng người đọc những suy nghĩ, những băn khoăn thực khó gọi tên, nhưng rất gần và rất thực.
 
Như truyện có thể gọi là rất mỏng và rất nhẹ của ông mà tôi sắp nói tới đây: truyện Tiếng sáo người em út.
 
Truyện không hơn 10 trang in, chỉ có 3 nhân vật. Người anh cả, người em út và người cha vừa mới chết.
 
Người anh cả về thăm nhà không báo trước, nghe tiếng sáo của người em út không còn thô mộc mà nay đã chín, cảm thấy rất vui. Người anh vào nhà, thấy cha đang nằm, để yên cho cha ngủ. Nói chuyện với người em đang xúc lúa từ cỗ áo quan, mới biết người em gái kề đã chết. Nói về ông nội, về mẹ. Sau cùng người em út nhờ người anh cả giúp mình khiêng cỗ áo quan lên nhà trên. Người anh nhíu mày: “Mang lên làm gì?”. “Cho cha nằm”, người em nói. Người anh lặng đi đôi mắt mở lớn nhìn người em không chớp: “cha chết rồi sao?”. “Cha đi tối hôm qua”. Người anh vụt bỏ chạy lên nhà trên, tiếng bước chân, tiếng cửa va đập rồi tiếng khóc oằn lên…
 
Những sự việc nêu trên tưởng là rất bình thường hóa ra rất kịch tính. Từng lớp, từng lớp như những cánh cửa gỗ trong một ngôi nhà cổ mở dần ra, để sau cùng dẫn người đọc tới cái nỗi đau òa vỡ của người anh cả: sau bao nhiêu năm mới về thăm nhà thì cha đã chết! Chỉ ba chữ khóc oằn lên đã cho ta thấy được cái bất hạnh nghẹn ngào của đứa con tự kết tội mình.
 
Nhưng nếu chỉ để kể lại một câu chuyện buồn như thế thì chắc tác giả cũng không muốn kể làm gì. Tác giả còn muốn hơn thế nữa. Muốn qua người em út nói đến cách sống và cách nhìn đời của người cha. Một người, cả đời không làm gì quấy, không có gì phải hối hận…cha nhẹ lòng khi nhắm mắt có con ở bên. Con hãy thổi sáo cho cha nghe. Và em đã thổi sáo từ đêm qua đến giờ…
 
Người em út , mới đọc lướt qua, tưởng đó là một người vô tâm nếu không muốn nói là không giữ tròn chữ hiếu. Cha chết mà lại đi thổi sáo! Chẳng tẩm liệm, chẵng để cha mang theo một thứ gì ngoài những hạt thóc đựng trong ruột tượng của mẹ. Tự mình bồng cha lên đặt vào cổ áo quan, để cha gối đầu lên đó. Cũng không ma chay, chỉ có bát cơm trắng mời cha cùng ăn với hai anh em. Cũng không trống kèn ỉ eo, chỉ có mỗi tiếng sáo đơn độc của mình!
 
Nhưng đó là một người con trai út rất hiểu cha, yêu cha và biết nối chí cha, dù giặc giã, dù trâu không còn một con cũng cố bám lấy đất vì đất vẫn chung tình cho họ từng hạt lúa. Khi người em thổi cơm, từng hạt gạo rơi xuống gặp phải lửa thành bỏng gạo, người em nhặt lên bỏ vào miệng chứ không để cháy thành than. Và tuy người em út bảo anh về thì em sẽ đi, nhưng cuối cùng: anh nghĩ em bỏ nơi này mà đi được sao? Ai cũng bỏ đi cả thì nơi này ai coi, ruộng ai cày và những người như anh lấy đâu nơi để trở về?
 
Người em út qua những cử chỉ, lời nói có vẻ không còn là một người em nhỏ bé nữa. Anh ta sống bên cạnh cha từ nhỏ, chứng kiến bao nhiêu cái chết, bao nhiêu đổi thay chẳng những đã trưởng thành mà còn trở nên già dặn, sâu sắc. Ta có cảm tưởng người anh cả đang nói chuyện với cha mình chứ không phải với người em út. Hay nói cách khác, chính người em út là hình bóng còn đọng lại của người cha.
 
Người anh cả, thời gian và đường xa đã dạy cho anh những gì? Chị bé đã chết, bao nhiêu người đã chết, bao nhiêu đổi thay, anh đâu có sống với những điều đó? người mà mỗi lần nhắc tới anh, cha tép miệng rồi mỉm cười: nó có còn sống thì cũng như đã chết.
Người anh trở về ít nhiều mang mặc cảm tội lỗi với gia đình. Nhưng đó không phải là một người phá gia chi tử, không đàng đúm ngược xuôi mà bỏ nhà đi vì một mộng tưởng nào đó, cho dù là lạc đường dại dột. Người cha với lòng thương con, đã bênh vực người anh cả khi nói, anh đã sống thay cho cha.
 
Trong truyện Gia tài của mẹ, người mẹ chính là hình ảnh tượng trưng của một nước Việt Nam nội chiến từng ngày. Thì ở truyện này, tôi cũng thấy một nước Việt Nam qua hình ảnh của người cha nghèo dù trải qua bao đời vẫn bám giữ lấy đất và truyền lại ý nguyện đó cho thế hệ mai sau.
Truyện được viết tại Sài Gòn, 1974. Gần 40 năm sau, đọc lại mà giật mình. Những ruộng đồng Việt Nam, giờ rất thiếu đàn ông, chỉ có đàn bà và các người già là còn cố bám lấy đất.
 
Người anh cả ấy, giả dụ như ra đi từ sau 75 liệu lúc này trở về có còn được nghe tiếng sáo của người em út? Một tiếng sáo rất nhẹ nhàng nhưng là tiếng sáo nhẫn nhục của người ở lại. Tiếng sáo không than van, không óan trách, nhưng sao nghe rất bùi ngùi.
 
Vì bỏ nơi này mà đi được sao, nên tác giả sau 75 không ngờ lại là “người em út”, người sống với bao nhiêu đổi thay, bao người đã chết, quyết trụ lại nơi này dù biết rằng ô nhục, tù đày vì nếu không thì những người như các anh lấy đâu nơi để trở về?
 
Trên tôi đã nói, những con chữ của tác giả rất thô mộc. Không kéo lê thê với những tính từ trùng lắp không cần thiết. Tôi có cảm giác những con chữ ấy là những hạt gạo trên sàng, nghĩa là tác giả đã lọc lựa rất kỹ, nhất là những hạt sạn. Người khác, có thể vì tiếng sáo mà kết thêm hoa lá cành để có thể là tiếng sáo của Trương Lương, hay của Trương Chi. Nhưng ở đây: tiếng sáo không còn thô mộc, non nớt, chập chững những bước đầu đời mà nay tiếng sáo đã chín. Từ thô mộc/non nớt/chập chững đến đã chín là cả một khoảng thời gian dài. Những lần tiếng sáo cất lên, đều vui tươi thanh thoát, chỉ sau cùng, khi chôn cha xong, mới bi thiết.
 
Tiếng sáo ấy tuy phát ra từ hơi thở của người con út, nhưng thực sự là tiếng lòng của người cha. Vì thế, khi thổi xong, người em út đã cắm chiếc sáo trên mộ cha. Cử chỉ này gợi nhớ đến người xưa trả kiếm bên mộ. Lòng hiếu thảo của người em út thật khác người, bi tráng.
Tác giả cố ý không đặt tên cho các nhân vật. Chỉ nhắc đi nhắc lại, người cha, người anh cả, người em út. Vậy nên, người nào cũng có thể là người cha, người anh cả và người em út trong mỗi gia đình Việt Nam. Có nghĩa rằng ít nhiều người đọc bồi hồi thấy thấp thoáng hình bóng của mình trong đó.
 
Tiếng sáo nói lên được tiếng lòng của người cha, thì cỗ áo quan lại nói lên cả một khoảng thời gian dài từ ông nội với cái án xử bắn, với đứa con gái chết chùm một lúc bốn người không nhặt được xác để chôn, nó gợi nhớ đến một cuộc chiến tranh quá dài, dài đến nỗi không còn làm ai xúc động được nữa trước cái chết. Và tấm nhiễu đỏ, được chôn theo cha, phải chăng là máu và nước mắt từ nay hãy tan vào lòng đất để cho cây lúa lại mọc lên tươi tốt?
 
Nhiều người thường nói tới cái hiện sinh mà Dương Nghiễm Mậu chịu ảnh hưởng của các trào lưu phương tây. Tôi nghĩ, cũng chỉ là một chiếc áo mà chính họ cho là đẹp, là mới, muốn khoác lên tư tưởng Dương Nghiễm Mậu, thế thôi. Tư tưởng của ông rất Việt Nam, rất nhân hậu. Có ảnh hưởng chăng là cách viết, cách dùng câu chữ, cách dựng truyện của ông. Mỗi chi tiết đều phải thật cần thiết, phải sắp xếp sao cho thật khoa học. Từ chiếc sáo đến cỗ áo quan, cái ruột tượng của mẹ, bát cám lợn, bát cơm…đều được đặt đúng lúc đúng chỗ. Vì vậy, truyện không lan man mà chặt chẽ như một kịch bản phim. Trọng tâm của truyện là tâm hồn và nhân cách của người cha được bao quanh những lớp vỏ như một củ hành. Cái lõi cay nhất, nồng nhất nằm ở lớp vỏ tận cùng. Chỉ một cái ruột tượng của mẹ đựng đầy lúa để gối đầu cho cha, cũng đủ cho ta thấy ông yêu vợ đến thế nào. Và cũng chỉ có người con út mới hiểu được tình yêu đó của ông.
 
Tôi thấy cách viết đó phảng phất như E.Hemingway viết Lão ngư ông và biển cả. Cái bộ xương cá bên cạnh chiếc thuyền tơi tả kia nếu tác giả không đưa vào truyện thì coi như đã không có một Lão ngư ông và biển cả làm xúc động cả thế giới.
 
Truyện cũng gợi nhớ đến Malentendu của A. Camus, ở đó người em gái Martha đã nguyền rủa người anh vắng mặt của mình với tất cả căm hận, vì thế mới đưa đến ngộ nhận đến nỗi người mẹ giết con. Ở đây, người em không kết án người anh, tuy có ít nhiều trách móc anh đã bỏ nhà đi. Vì vậy, toàn bộ câu chuyện tuy có vẻ buồn nhưng không đến nỗi trở thành bi kịch. Vẫn có chỗ cho tình anh em, tình cha con, có chỗ cho sự dung thứ. Và đó là cái khác biệt giữa một Âu châu đổ nát sau thế chiến thứ hai với một Việt Nam sau một cuộc chiến tương tàn quá dài.
 
Chỉ với một truyện ngắn này thôi, ta cũng đã nhìn ra được tầm vóc của một bậc thầy. Phải chăng vì vậy mà Vũ Hạnh đã dùng cái mã tấu “phản động” để “chặt” ông khi thấy tác phẩm này được tái bản?
 
Khuất Đẩu

Về Nhà Văn Khuất Đẩu - T. Vấn

Khuất Đẩu. Đó là một cái tên rất mới trong làng văn chương cả hải ngọai lẫn trong nước. “ Mới “ không theo cái nghĩa ngày xưa nhà văn Mai Thảo dùng để chỉ “ những người viết mới “, tức những cây viết mới nổi nhờ vào vài bài thơ, vài truyện ngắn được đăng trên các báo văn học. Đúng hơn , “ người viết mới Khuất Đẩu “ chỉ mang một phần trong cái ý nghĩa “ mới “ mà Mai Thảo đã từng ám chỉ.
 
Khuất Đẩu không còn trẻ. Ông sinh năm 1940 tại Bình Định. Tên thật là Trương Đẩu. Nhưng lại có cái tên mọi người thường gọi là Trương Thanh Sơn. Khi tác phẩm “ Những tháng năm cuồng nộ “ của ông xuất hiện trên trang mạng Talawas tháng 3 năm 2010 dưới bút hiệu viết tắt K.Đ, người đọc đã bị “ bất ngờ “, cái bất ngờ gây cảm giác “ thú vị “ cho cả người đọc lẫn người viết. Bất ngờ là vì cái giọng văn già dặn, từng trải, chắc nịch, gọn và khô ấy đã thể hiện thật xuất sắc nội dung những điều ông muốn gởi đến người đọc. Tác phẩm chinh phục người đọc, nhưng không ai biết tác gỉa là ai, như nhà văn Nguyễn Lệ Uyên đã viết “ K.Đ, cái bút danh mới toanh và lạ hoắc “. Theo ghi chú về tác phẩm trên Talawas, thì “ Những tháng năm cuồng nộ “ được sưu tầm bởi Thư Quán Bản Thảo của nhà văn Trần Hòai Thư, không thấy nói gì thêm về tác giả. Sau đó, một số truyện ngắn ký tên Khuất Đẩu được Talawas giới thiệu, một cách gián tiếp cho biết K.Đ là hai chữ viết tắt của Khuất Đẩu. Gần đây, khi trang T.Vấn & Bạn Hữu đặc biệt giới thiệu nhà văn Khuất Đẩu và tác phẩm qua bài viết của anh Đỗ Xuân Tê và sự góp nhặt của anh Ngộ Không với chuyên mục Tác Giả Tác Phẩm, chúng tôi nhận được sự liên lạc từ chính nhà văn Khuất Đẩu hiện sinh sống trong nước. Qua bản thảo mới nhất vừa được hiệu đính lại “ Những tháng năm cuồng nộ “, chúng tôi ghi nhận tác phẩm này do Khuất Đẩu viết xong năm 2004, hiệu đính lần thứ hai năm 2009 ( tức bản do Thư Quán Bản thảo sưu tầm và gởi đến Talawas ), và hiệu đính lần cuối năm 2011 ( bản này do nhà văn Khuất Đẩu gởi đến T.Vấn & Bạn Hữu , đã được dùng để thay thế bản năm 2009 trong chuyên mục Tác Giả Tác Phẩm – Khuất Đẩu).
 
Vừa xuất hiện, cái tên Khuất Đẩu đã tạo được cho mình một vùng ánh sáng khiến nhiều con mắt để ý tới.
 
Trước hết, là ở đề tài ông lựa chọn. Đó là số phận của người dân quê ở liên khu V, Nam, Ngãi, Bình, Phú qua 9 năm kháng chiến rồi qua thời “hai mươi năm nội chiến” và sau 75. Những gì xẩy ra chung quanh ông trong suốt 70 năm làm người, đã trở thành những mối ám ảnh khôn nguôi. Những mối ám ảnh ấy không phải là chỉ có ông mới phải chịu đựng. Rất nhiều người khác, sống ở trong nước hay nơi xứ người, cũng có cùng những mối ám ảnh mà ngay cả cái chết cũng không giải tỏa được. Sự khác biệt chỉ là ở chỗ, ông đã nói được thay họ một vài trong những điều họ muốn nói. Với khả năng sử dụng chữ nghĩa văn chương tích lũy hơn 60 năm, khi nói ra, chữ nghĩa của ông đã mang đủ sự trưởng thành già dặn cần thiết để chuyên chở tâm tư của ít nhất hai thế hệ người Việt, ở cả hai bên bờ Thái Bình Dương.
 
Kế đến là tính cách kẻ sĩ nơi Khuất Đẩu, thể hiện ở chi tiết ông hiện còn sinh sống ở Việt Nam. Cái đảm lược tóat lên từ những trang sách viết dưới giá treo cổ mà ông cay đắng gọi là “ sự liều mạng “ ấy quả thật đáng được ngưỡng mộ. Vì thế, mỗi trang viết của Khuất Đẩu, đều biểu trưng cho một sự chấp nhận, nếu không muốn nói là dũng cảm. Có lẽ, thái độ ấy có sự nâng đỡ từ những nỗi thống khổ cao nhất mà những nhân vật của ông đã can đảm chịu đựng.
 
Truyện vừa “ Lão Tiền Bối “, tác phẩm viết xong năm 2006 và được hiệu đính lần cuối năm 2011 trước khi gởi đến T.Vấn & Bạn Hữu ( chúng tôi đã giới thiệu tác phẩm này trong mục Góc Văn ) của Khuất Đẩu là một bằng cớ khác của “ sự liều mạng “. Đọc truyện này, người ta liên tưởng ngay đến một nhân vật khác có thật ở ngòai đời và những màn kịch vừa xẩy ra  khiến tác phẩm “ Lão Tiền Bối “ viết từ năm 2006 có vóc dáng một “ kịch bản nay mới được dàn dựng”. Tôi nhớ có một nhà văn nào đó ở trong nước đã cho rằng nhà văn là “ con chim báo bão “. Cũng chẳng sai bao nhiêu so với “ kịch bản Lão Tiền Bối “ nói đến ở đây.
 
Theo lời nhà văn Khuất Đẩu, với truyện vừa Lão Tiền Bối , hợp cùng truyện dài Những Tháng năm cuồng nộ và truyện vừa Người giữ nhà thờ họ, ông đã hòan thành xong bộ Trio về cùng một chủ đề . Qua 3 tác phẩm này ( hiện được lưu trữ trên T.Vấn & Bạn Hữu), người cùng thời và các thế hệ mai sau sẽ có cơ hội hiểu và biết thêm nhiều điều về những tháng năm cuồng nộ của một giai đọan lịch sử não lòng.
 
Ngoài bộ ba truyện dài và truyện vừa nêu trên, còn có Người Tử Tù viết năm 1970, các truyện ngắn và một số thơ không vần, đã được đăng tải trên Thư Quán Bản Thảo, Talawas, Tiền Vệ, Thông Luận và Văn Chương Việt.
 
Thay mặt người đọc, thay mặt những người đã từng chịu thống khổ trong giai đọan lịch sử ấy, chúng tôi xin cám ơn nhà văn Khuất Đẩu.
 
Ngộ Không,
Lão Điên Chữ
 
1.
 
Tôi biết Ngộ Không Phí Ngọc Hùng trong một dịp hết sức tình cờ. Mùa hè năm 2010, tôi đưa con gái đi thăm trường Rice University ở Houston để chuẩn bị cho năm đầu tiên nhập học. Ở thành phố ồn ào bụi bậm này, ngoàii vài người bạn cùng xuất thân ở một quân trường trên Đà lạt năm xưa, tôi còn biết có anh bạn tù chung trại Vĩnh Quang ngoài Bắc hồi đầu những năm 1980s. Đó chính là nhà thơ Ngọc Tự quen thuộc của chúng ta kể từ ngày trang T.Vấn trở thành sân chơi chung T.Vấn & Bạn Hữu. Chúng tôi hẹn gặp nhau ở một quán cà phê trong khu phố Việt Nam. Vừa tay bắt mặt mừng, vừa hỏi thăm nhau đôi câu về gia đình, công ăn việc làm, Ngọc Tự vừa lôi con di động cũ mèm ra bấm số lia lịa. Anh bảo “có ông bạn già điên chữ này hay lắm, mình muốn Vấn làm quen !”. Chỉ vài phút sau, ông bạn già điên chữ của Ngọc Tự xuất hiện. Chẳng là nhà ông ở ngay trong khu dân cư trước mặt, bước qua một con đường là tới quán cà phê quen thuộc của nhiều người Việt ở Houston. Tôi được biết tên ông là Phí Ngọc Hùng, ngọai hiệu Ngộ Không. Đó là lần đầu tiên tôi nghe đến cái tên Ngộ Không. Nhìn ông, mặt tôi hẳn là “cứ đực ra như ngỗng đực” (chữ của Ngộ không). Ông già trước mặt tôi kia trông không có vẻ gì là “điên chữ” cả. Ông nhanh nhẹn, họat bát, tay móc thuốc, tay khuấy ly cà phê một cách hết sức tỉnh táo và điệu nghệ. Ông vốn là một người tốt nghiệp và làm việc trong ngành kiến trúc (cùng lớp với nhà văn nữ Trùng Dương). Bỏ của chạy lấy người dạt đến Mỹ năm 1975. Sau mấy chục năm làm việc, nay ông về hưu, suốt ngày ông ăn với chữ, “tửu lạc vong bần” (lại chữ của Ngộ Không) với chữ, suốt đêm ông ngủ với chữ, hễ mở miệng ra là nói chữ, nên con “trâu chậm uống nước đục” Ngọc Tự (mới đến Mỹ chưa được vài năm) vốn vẫn còn phải đánh vật với cơm ăn áo mặc hàng ngày bèn độc mồm độc miệng gọi ông là “lão điên chữ”.
 
Chỉ vài phút gặp gỡ, cái cởi mở họat bát của Ngộ Không đã chinh phục ngay được tôi. Và câu chuyện giữa những người bạn có chút lòng với chữ với nghĩa không thể tránh khỏi không nói đến chữ đến nghĩa. Ngay từ buổi gặp gỡ đầu tiên đó, tôi đã nhìn thấy trước mặt tôi một con người không phải chỉ gặp một lần rồi quên.
 
Thế nên, vào mùa hè năm sau, khi trang Web cá nhân T.Van.Net trở mình thành sân chơi chung cho nhiều bạn hữu, tôi đã trịnh trọng gởi đến Ngộ Không lời mời tham dự. Với phong cách rất đáng yêu của một người coi trọng nghĩa bằng hữu hơn bất cứ thứ hư danh, hão danh nào, ông mau chóng nhận lời.
 
2.
 
Từ cái mốc sau biến cố ngày 30 tháng 4 năm 1975, về lãnh vực văn học nghệ thuật ở hải ngọai, chúng ta được biết đến rất nhiều những cây bút mặc dù tuổi không còn trẻ nhưng lại chưa hề được nghe nói đến ở miền Nam hồi trước biến cố lịch sử nói trên. Nói theo nhà văn quá cố Mai Thảo, chúng ta phải gọi những cây bút này là “ những người viết mới”. Mới theo nghĩa so sánh với “những người viết cũ”, tức những người ít nhiều đã thành danh trong bối cảnh văn học nghệ thuật miền Nam trước năm 1975. Tuy mới viết, nhưng tuổi đời không còn trẻ, lại đã kinh qua nhiều thăng trầm cùng với đất nước, nên những tác phẩm của “ những người viết mới “ này mang vóc dáng khác hẳn với tác phẩm của những cây bút trẻ (cả tuổi nghề lẫn tuổi đời) sau này (phần nhiều là ở trong nước). Có thể nói, khó mà so sánh sự “ hơn thua “ giữa tác phẩm của “những người viết mới” và tác phẩm của “những người viết cũ “. Mặt khác, những tác giả đã thành danh từ trước biến cố lịch sử 1975, sau này, dù đã ra sinh sống ở hải ngọai, phần lớn đều không có những họat động viết lách đáng kể, cụ thể là những tác phẩm được phổ biến, nên bộ mặt văn học nghệ thuật Việt Nam hải ngọai có sự hiện diện của nhiều tên tuổi “Mới” hơn là “ Cũ”.
 
Ngộ Không Phí Ngọc Hùng, người chưa hề có bất cứ một tác phẩm nào xuất bản nhưng lại sở hữu một gia tài chữ nghĩa đồ sộ hơn rất nhiều nhà văn đã từng thành danh , là một trong “những người viết mới” ấy.
 
Hơn mười năm nay, kể từ ngày về hưu, “ông già điên chữ” quay qua làm việc “ tòan thời gian” (fulltime) với chữ. Ông viết ngày viết đêm, viết không ngày nghỉ, viết không ngày lễ, viết như chưa bao giờ được viết, viết như sợ ngay ngày mai cái chết sẽ đến bắt ông đi.
 
Hơn mười năm tích lũy, gia tài chữ nghĩa của ông khiến người đọc (tôi – T.Vấn ) , mới chỉ lướt qua đã muốn ngộp thở.
 
Chỉ với sơ sơ những gì tôi “thu họach” được ở lần gặp gỡ mới đây, lợi dụng lúc chén ông chén tôi chuyếnh chóang, tôi đã “dụ” ông bỏ vào thanh nhớ (memory stick) của tôi những bài ưng ý nhất và đã được gọt dũa xong xuôi. Về nhà, mở ra coi, tôi tá hỏa tam tinh. Không kể những sưu tầm đầy tính bác học về “ Chữ Nghĩa Làng Văn”, về “Tác Giả Tác Phẩm”, chỉ riêng những bài viết ( tạm gọi là truyện ) , nếu in ra trên khổ giấy 11×8, cỡ chữ 10, cũng phải trên ba ngàn trang. Đó là chưa kể những bài vở dành riêng cho trang TV&BH . Bài cho năm 2013, ông đã hòan tất từ cuối năm 2012. Mỗi năm ông chỉ gởi bài cho người chủ biên một lần vào dịp cuối năm.Tất nhiên, trong năm, nếu có những nhu cầu, theo đề nghị của người chủ biên, ông vẫn luôn luôn đáp ứng nhiệt tình và… nhanh chóng. Mới đây, ông thông báo đã hòan tất xong tòan bộ bài vở (của riêng ông) năm 2014, 2015 cho trang TV&BH.
 
Hèn gì anh bạn Ngọc Tự gọi ông là “lão điên chữ”. Còn người bạn trẻ Lưu Na thì gọi ông là lão Khọm (theo tên một… con khỉ, nhân vật trong Bản Lai Diện Mục Ký, mà nhiều phần người đọc nghĩ là chính tác giả Ngộ Không). Khọm theo nghĩa đen là khòm. Ngồi gõ máy hàng ngày từ mười năm nay, lưng ông đã khòm theo sức nặng của những con chữ lúc nào cũng háo hức tuôn ra trên đầu các ngón tay.
 
Ông còn ngồi như vậy được bao lâu nữa? Thất thập cổ lai hy. Ngộ Không Phí Ngọc Hùng đã vượt qua ngưỡng cửa “cổ lai hy” rồi. Thời gian đâu phải là… bạn ông để đùa cợt mãi được.
 
Ở cái tuổi quá lão này, ông viết để làm gì ? Chắc chắn không phải là phương cách mưu sinh. Ông đâu cần phải mưu sinh bằng chữ nghĩa. Vả lại, dù muốn, ông – cũng như hầu hết người viết ở hải ngọai – chẳng thể mưu sinh bằng chữ nghĩa. Hình như cũng không phải lấy cái danh hão “nhà văn”, hay nhà này nhà nọ. Cho đến nay, chính thức, ông chưa từng có tác phẩm nào được in thành sách, được xuất bản bày bán trên các kệ nhà sách hẳn hoi. Có người bảo, chưa có văn, chưa có thơ in thành sách, chưa thể thành nhà văn nhà thơ. Có lẽ vì vậy nên có nhiều người viết cố gắng bằng mọi cách in cho được một tập văn, một tập thơ, rồi hì hục gởi biếu hết ông nhà văn này, bà thi sĩ kia, mãi mà đống sách in ra chưa vơi đi được một nửa, làm chật cả nhà để xe.
 
Vậy thì động cơ nào thúc đẩy Ngộ Không Phí Ngọc Hùng cặm cụi từ hơn mười năm nay bên cạnh chiếc máy tính, quên hết tất cả mọi sự trên đời , ngọai trừ tủ rượu lúc nào cũng đầy ắp và lòng nhiệt tình với anh em bằng hữu xa gần?
 
Thì đây, chúng ta đã có Bản Lai Diện Mục Ký, bản “tự thú trước bình minh” của lão điên chữ Ngộ Không Phí Ngọc Hùng.
 
Trong bản (tạm cho là hòan chỉnh nhất, vì Ngộ Không chưa bao giờ ngừng hòan chỉnh những bài đã viết của mình) đã giới thiệu trên T.Vấn &BH hồi tháng 10 năm 2011 có đọan mở đầu như sau :
 
“ . .. Tôi bắt đầu chuyện viết lách như cái nghiệp dư vào cái tuổi có hơi trễ nải. Vào cái lúc những người khác đã bẻ bút cáo lão về hưu, thong dong với ngày trời tháng Bụt thì tôi lực đực với cái bàn gõ và gõ lóc cóc như…mõ sớm chuông chiều. Chẳng phải là nhà văn, không dây dưa với những câu hỏi cùm nụm cùm nựu là viết cho ai? Viết để làm gì?. Thú thực một điều, tôi viết để dối già và tự cảm thấy thích viết vậy thôi. Vậy mà bạn bè vẫn hay nắc nỏm hỏi là chuyện có thật không? Nói cho ngay, tôi lấy cái thật của mình để làm cái giả và lộng giả thành chân là thế. Hoặc như gặp bằng hữu trong lúc tửu lạc vong bần, rồi góp nhặt sỏi đá qua những chuyện họ kể lể, hiểu theo nghĩa chẳng là như thị ngã văn…” (Ngộ Không – Bản Lai Diện Mục Ký).
 
Thế là chúng ta có câu trả lời từ chính cửa miệng ông: tôi viết để dối già và tự cảm thấy thích viết vậy thôi.
 
Nhưng chữ nghĩa Ngộ Không không đơn giản như cái cách chúng ta thường hiểu. Chỉ trong một đọan văn ngắn, ông đã manh nha cho thấy đó chưa hẳn là câu trả lời… đích thật.
 
Chúng ta đọc tiếp, ngay sau đó là: Vậy mà bạn bè vẫn hay nắc nỏm hỏi là chuyện có thật không? Nói cho ngay, tôi lấy cái thật của mình để làm cái giả và lộng giả thành chân là thế.
 
Nếu đọc hết Bản Lai Diện Mục Ký (có thể gọi là Tự Truyện như ông đã xác định đó là truyện có thật), chúng ta sẽ thấy không phải ngẫu nhiên mà ông có bút hiệu Ngộ Không. Và bút hiệu ấy bộc lộ thêm một điều: ông viết không phải chỉ để dối già.
 
Hãy đọc một đọan:
 
“. . . Một ngày như mọi ngày, đến bữa ăn có chú tiểu đem một phần cơm rau tập tàng bỏ trước cửa cốc, lấy đũa gõ nhẹ lách cách rồi lặng lẽ bỏ đi. Cơm chay đạm bạc nhưng cũng chẳng đến nỗi nào như ăn cá bị chứng hóc xương. Tôi cố gắng nuốt một ngày một bữa như sư, nếu ăn cơm không hết thì để ở cửa. Ở đấy có cả một bầy khỉ, nào ông nội, bà ngọai, chú dì cô bác, họ hàng hang hốc nhà khỉ dành ăn kêu chí choé. Trừ một con khỉ đã già, đã khọm, lần mò tới ngồi bên cửa chăm chú dòm tôi đang đọc sách. Nó là giống khỉ đít đỏ mầu nâu sẫm, chứ không phải là… mầu xám u ám của cảnh chùa.
 
Tả chân về nó cũng dễ thôi: Nó có cái mặt ốc tiêu thu lu trong đám lông lưa thưa, khiến ai cũng thấy thấy đôi mắt tinh anh của nó với cái mũi chun chun rất…khỉ. Cái đuôi ngắn ngủn như cái chổi cùn, lúc nào cũng khoe khuẩy một cách tháo động. Nói chung thì với bộ lông thưa thớt, không che dấu nổi lớp da mốc bạc vì mưa nắng cùng cái tuổi…lá vàng với rừng lá thay chưa. Cũng có thể vì vậy, nó lười biếng không dành ăn với đám trẻ, thản nhiên dòm…tôi, rồi từ từ tới sát và đưa tay ra khều tôi làm quen. Quen rồi nó đưa tay khỉ của nó lên tóc tôi, mầy mò tìm chấy, rận và bỏ vào miệng nhóp nhép. Bá ngọ nó chứ…Chẳng lẽ có chấy rận thật. Tôi cũng thò tay lên đầu…như nó.
 
Xế trưa hôm sau, chú tiểu lên cốc nhắn sư bác thỉnh tôi xuống thọ trai và tụng kinh chiều. Tôi dựa theo dốc đá, bám theo các thân cây lò dò xuống. Nó nhảy qua nhăm nhánh cây để dẫn đường, đến một mõm đá, ngồi gãi đầu, gãi cằm, chờ tôi. Khi đến cửa chùa, sư đã chờ sẵn, nó chạy tới nắm tay sư trụ trì lắc lắc ra cái điều xập xoài chào hỏi. Sư gọi nó là…“Ngộ Không”. Bản lai diện mục, thấy mặt đặt tên, tôi gọi nó là…Lão khọm.
 
Tôi hỏi cớ sự gì nó có cái tên nghe ngộ, sư cho biết trước nó ma lắm. Từ ngày thửa được cái tên đầy…thiền tính, nó như…thuần tính hẳn ra, ai nó cũng kết thân, lại thích làm quen với…”ngộ nhân” mới đến chùa…như tôi. Ngộ tiếng Bắc kỳ cũ còn có nghĩa là dở người, chẳng giống ai. Thế nên mặt tôi bẹt ra như bánh đa nhúng nước, hay tôi cùng giuộc với giống… khỉ. Sư làm như không hay, vì còn đang bận bịu với tích xưa.
 
Chuyện Tu Bồ Đề tổ sư hỏi con khỉ dẫn đường cho thầy Tam Tạng đi thỉnh kinh, lúc ấy còn là hầu vương, rằng: “Ngươi ở đâu mà ra”. Hầu vương thưa: “Nguyên nơi núi Hoa Quả có hòn đá lớn, kết tinh nhật nguyệt lâu ngày, rồi một đêm mưa vang lên tiếng nổ, đá nứt hai và sinh ra tôi”. Nghe nói sư tổ tiếp “Vậy là thiên địa sinh ra ngươi, thôi để ta đặt tên cho”. Sư tổ gật gù “Ta đặt cho ngươi họ là Tôn, bỏ bộ khuyển, còn chữ tử, chữ hệ, tức còn trẻ, còn khôn”. Sư tổ chép miệng: “Phật pháp có trí, tuệ, chơn, như, hải, đĩnh, “ngộ”, v..v..Trong 12 chữ đó, tính tới tính lui thì ngươi nằm vào chữ Ngộ, thôi thì ta đặt tên ngươi là… Ngộ Không”.
 
Chả hiểu ăn mắm ăn muối gì, cái lưỡi tôi đá cái miệng với sư rằng ắt hắn Ngộ Không là…không ngộ chăng. Vừa cãi chày cãi cối xong thì có tiếng chày…” (Ngộ Không – Bản Lai Diện Mục Ký)
 
Ngộ Không là… Không Ngộ.
 
Tôi ngờ rằng cái lẽ “không ngộ” cũng có liên quan đến “câu hỏi cùm nụm cùm nựu là viết cho ai? Viết để làm gì?” của ông. Cuối đời, người ta hoặc tìm đến tôn giáo để được an ủi vì sống bao nhiêu năm mà vẫn không hiểu tại sao mình sống chỉ để đợi chết, hoặc tìm đến sách vở chữ nghĩa để tham khảo suy nghĩ của nhân lọai tân cổ về ý nghĩa làm người.
 
Mười năm sống “toàn thời gian” bên bàn máy, nghiền ngẫm đã thiên kinh vạn quyển, bằng con mắt của kẻ đã kinh qua biết bao những thăng trầm vinh nhục của một đời người, vui cũng lắm mà khổ cũng nhiều, thế mà vẫn… không ngộ, nên ông vẫn còn mê mải lặn ngụp trong mớ chữ nghĩa… chết tiệt, thì không gọi là “lão điên chữ” thì gọi là gì?
 
Lời Tình Cuối
Gởi New Orleans
 
Cuối cùng , thì tôi cũng đã trở lại New Orleans, với nỗi thôi thúc của một người đi tìm thời gian đã mất và tâm tưởng đậm nét một New Orleans thuở trời đất chưa nổi cơn gió bụi. Con đường dẫn vào thành phố vẫn thế. Vẫn tấp nập người qua kẻ lại. Vẫn cái nóng hừng hực của mùa hè nhiệt đới và hơi gió biển ướt át rậm rịt. Chiều đang xuống dần. Sinh họat một ngày cuối tuần đang rục rịch những chỉ dấu nhộn nhịp. Cho đến khi chúng tôi tìm được một bãi đậu xe khá khuất nẻo thì trời đã tối hẳn. Khu French Quarter đèn đuốc đã sáng rực. Khách bộ hành bước kín lòng đường. Tiếng nhạc ồn ào trổi lên từ mọi góc phố, quán bar, nhà hàng, khiêu vũ trường. Những đôi trai gái nhún nhẩy trên hè phố với trang phục tươi mát như chính số tuổi của họ. Giữa đám đông cuồng nhiệt ướt đẫm đam mê ấy, tôi có cảm tưởng mình là kẻ lạc lõng. Bước đi giữa sự ồn ào cố hữu của New Orleans mà tâm tư tôi cứ đắm chìm trong những hồi ức ngày này bao năm trước. Hệt như những cố nhân chia tay nhau thuở mắt sáng môi tươi, cuối đời bỗng do những tình cờ định mệnh ngẫu nhiên gặp lại . Cả hai bên đều ngơ ngẩn nhìn nhau, cố tìm trong khuôn mặt già nua thảm não ấy của nhau những âm hao ngày cũ . Càng cố tìm càng khiến nhau thêm thảm hại. Biết vậy nhưng làm sao mà cưỡng lại được.
 
Ôi cố nhân ! Ôi New Orleans ! Ôi những hồi ức vừa dịu dàng, vừa đanh đá đâm những mũi kim đau buốt . Tôi đã gặp lại New Orleans sau 7 năm từ lần gặp gỡ đầu tiên đầy kỷ niệm và sau 6 năm từ trận bão thế kỷ Katrina tàn phá thành phố khởi nghiệp của Louis Armstrong, người nhạc sĩ Jazz vĩ đại nhất của mọi thời đại. Và trong đáy cùng tiềm thức, câu thơ cũ của Linh Vũ được trích dẫn trong một bài viết về thành phố này năm 2008 , bỗng bật lên như có ai đưa tay chạm vào nút bí ẩn trong đầu : “Mai gió sớm có đêm nào ghé lại / Thổi Blues xanh phố cảng một nốt buồn .. .”
 
Đêm nay, có tôi ghé lại. Ngóng tìm những điệu Blues buồn từ những nhạc sĩ cong người trên cây kèn đồng sáng lóang dưới ánh vàng vọt của ngọn đèn đường cuối phố.
 
Như kẻ mộng du, tôi thấy mình đứng trước cửa quán Café Du Monde. Như 7 năm trước, chúng tôi phải vất vả lắm mới kiếm được chiếc bàn trống. Sau cơn hồng thủy, quán cà phê lừng danh với hương vị cà phê đặc thù Pháp quốc và chiếc bánh bọc đường Beignets có vẻ như vẫn giữ được phong độ cũ. Tôi ngó quanh quất, cố tìm hình bóng người hầu bàn da đen năm xưa, đã cho tôi được chụp chung một bức hình . . . kỷ niệm. Cũng có vài người da đen , nam và nữ, chạy lăng xăng bận rộn, nhưng không phải người tôi muốn tìm. Tôi tự hỏi mình, anh chàng hầu bàn đẹp trai và duyên dáng năm xưa, có còn bám trụ New Orleans không hay đã lưu lạc phương nào. Đang còn ngẩn ngơ hình dung trong trí khuôn mặt người hầu bàn 7 năm trước, thì một cô gái còn rất trẻ bước lại , nở một nụ cười thật xinh, hỏi chúng tôi muốn uống gì, bằng một giọng nặng âm hưởng khiến tôi nhận ra ngay cô là một người Nga. Quả đúng vậy. Cô tên Vanessa, sinh viên du học tại trường đại học nổi tiếng của thành phố. Cũng như người hầu bàn da đen 7 năm trước, cô vui vẻ chụp chung với tôi một bức hình.
 
Tôi biết, rồi đây bức hình chụp với cô gái sinh viên người Nga hầu bàn ở quán Café Du Monde sẽ lại trở thành một thứ kỷ niệm , tuy không khó quên nhưng cứ mỗi lần nhắc đến New Orleans hẳn là tôi sẽ nhớ đến cô, như giờ đây tôi đang cố tìm trong đám đông người chộn rộn chung quanh hình bóng anh chàng da đen năm nào. Vanessa đã bưng ra cà phê và dĩa bánh Beignets. Hai con gái của tôi vội vã bốc bánh ăn thử, để xem bánh có mùi vị như thế nào mà bố chúng đã nhiều lần viết về những chiếc bánh phủ bột đường trắng xóa. 7 năm trước, chúng còn quá nhỏ để hôm nay nhớ đến bất cứ điều gì, dù chúng đã từng ngồi tại quán này, từng ăn chiếc bánh này, kể cả nhấp môi vào ly cà phê này.
 
Hình như, với tôi, cà phê đã bớt thơm, bánh đã bớt vị ngọt hấp dẫn. Tôi cũng chợt nhận ra nét xô bồ của một tiệm bán thức ăn đông người ra vào. Điều mà 7 năm trước đây tôi đã không cảm thấy. Trong không khí, mùi mồ hôi người đã làm hơi gió biển bớt tinh khiết, cộng thêm với cái nóng khác thường của mùa hè năm nay , làm trí não tôi không còn được cảm giác thỏai mái mà tận hưởng những giây phút tái ngộ thành phố tôi hằng nhắc đến trong suốt 7 năm qua.
 
Hay là , chỉ vì tôi đã thất vọng với những gì tôi nhìn thấy. New Orleans sau cơn bão tàn phá Katrina, dù đã 7 năm vẫn không hồi phục được sự mất mát quá lớn lao. Đằng sau những đường phố màu sắc, bên trong những âm thanh cuồng nhiệt của đêm hè nhiệt đới, tôi vẫn nhận ra nét thảm não của khuôn mặt người chưa hết nỗi kinh hòang.
 
Theo bước chân tíu tít của hai con, tôi thấy mình đứng đối diện với con đường Bourbon lừng danh. Tôi cố tìm trong không khí chút hơi nóng của những bộ ngực trần nhẩy nhót khêu gợi. Hoặc mùi nước hoa của những mỹ nhân đến từ khắp nơi cho ngày hội Mardi Gras đêm trước ngày vào mùa chay hãm mình cho thân xác đền tội, thứ tội tổ tông truyền không ai dạy ai mà ai cũng rất thành thục trong việc . . . phạm tội. Chẳng thấy gì ! Chẳng ngửi được gì ! Chỉ nghe những âm thanh cuồng nhiệt, tiếng người cười nói, và hơi nóng hực lửa mùa hè hắt lên từ lòng đường sau một ngày tắm đẫm mặt trời bây giờ là lúc tỏa ra cơn giận dữ.
 
Hết rồi sao ? Những người muôn năm cũ giờ ở đâu ? Lại nhớ bài thơ viết từ năm 1999 của Phan Xuân Sinh:
………
những tay nhạc Jazz trong phòng
những chiếc ngực trần trên phố
đêm Bourbon, vội vàng tiếng thở
những người con gái sống về đêm
giữa New Orleans, đứng dựa cột đèn
môi em cuộn vòng từng hơi thuốc
người đến, người đi, giữa khuya hiu hắt
mà sao em vẫn đứng đợi ai ?
nghe như em, bật tiếng thở dài
người con gái da đen topless
giọt mồ hôi trên sàn. Thấm mệt
đôi vú xệ dài, u uất gái làng chơi
ta. khách lạ lạc xứ người
mang hồn phương đông, văn vật
……..
 
(Chào New Orleans – Phan Xuân Sinh 1999)
 
Bỗng dưng, tôi bật tiếng thở dài. Hàng chữ Bourbon trên tấm bảng tên đường dường như đang nhẩy múa theo điệu nhạc rập rình phát ra từ những quán rượu chung quanh. Tôi chưa uống ly rượu nào từ lúc đặt chân đến New Orleans. Phải chăng vì vậy mà tôi không cảm thấy mình có chung một tần số với những gì đang diễn ra chung quanh . Tôi giật mình tự hỏi : Mình đến đây để tìm những kỷ niệm đã đánh mất hay đến đây để hưởng những ngày nghỉ mùa hè cùng với gia đình ? Nhìn vợ tôi cần mẫn một cách cam chịu, luôn chăm sóc hai con và đáp ứng những nhu cầu của chúng mà tôi nhận ra mình quả là một con người ích kỷ.
 
Chỉ tại mi đó, hỡi New Orleans ! người tình già nua xơ xác.
 
T.Vấn
(Kỷ niệm đúng 6 năm ngày cơn bão thế kỷ Katrina tàn phá New Orleans )
 
Tái Bút:
Năm 2005, khi cơn bão Katrina nhận chìm New Orleans trong biển nước, tôi đã viết : Lời tình buồn gởi New Orleans. Rồi từ đó, mỗi năm, cứ đến mùa bão tháng 8 , tôi lại tưởng nhớ đến New Orleans trên trang viết của mình. Có lẽ, bài viết này của năm 2011 sẽ là bài viết cuối cùng của tôi gởi đến New Orleans, như lời chia tay với cái hồn của thành phố. Tại sao ? xin trích đọan cuối bài viết về New Orleans của năm 2007 (New Orleans : Gởi thêm một chút tình buồn ) :
 
. . . Cũng như Sài Gòn thân yêu của tôi đã được mệnh danh là “ Hòn Ngọc Viễn Đông “, thành phố New Orleans đã được văn hào Mỹ Mark Twain nhắc đến trong tác phẩm của mình với bí danh lâu đời “ the city that care forgot “ nhằm ám chỉ cái phong cách tự nhiên, không cầu kỳ khách sáo của thành phố cũng như nhấn mạnh đến tính cách “ buông thả “ ( carefree nature ) của phần lớn cư dân của New Orleans. Trong bầu không khí luôn hừng hực nỗi đam mê cháy bỏng của nhạc Jazz, hòa lẫn cùng hơi nóng của đêm nhiệt đới, hơi nóng từ thân thể đầy nhựa sống những cô gái có nước da cháy nắng và khét mùi nước biển , thành phố lúc nào cũng có tư thế sẵn sàng cho những buổi lễ hội. Nhưng đó là ấn tượng về New Orleans những ngày Pre-K. Thứ ấn tượng đã khiến cho du khách không thể lẫn New Orleans với bất cứ thành phố nào khác mà họ đã đặt chân tới, thứ ấn tượng mà khi rời khỏi New Orleans người ta sẽ phải nhớ để mang theo, và trong mỗi chặng dừng chân trên đường lữ thứ, người ta sẽ phải giở ra, “ ngửi “ lại để ngậm ngùi.
 
Cái không khí đặc thù ấy, nay có còn không?
 
Anh bạn tôi, cư dân hơn 20 năm của New Orleans, người cương quyết bám trụ ngay từ những ngày thê thảm nhất của thành phố, người có cảm quan nhậy bén với từng vùng đất , con người nơi anh bước qua, đã cho tôi câu trả lời buồn bã không kém. Có lẽ đã hết rồi một New Orleans của lịch sử, của truyền thống, của thứ biểu tượng văn hóa thuần khiết và hoang dã . Anh bảo tôi hãy so sánh Sài Gòn của những năm 80s với những năm tháng chúng ta hãnh diện về Sài Gòn như “ Hòn Ngọc Viễn Đông “ của thế giới, rồi đem cảm gíac đó liên tưởng đến New Orleans bây giờ so sánh với New Orleans thời Pre-K. Làm tôi lại nhớ đến một bài hát của người bạn nhạc sĩ, mà  Sài Gòn với anh như là một phần máu thịt không thể tách rời  . Khi xa Sài Gòn những năm 80s, anh đã viết về Sài Gòn, có những câu : “ . . . còn đâu hồn công viên, còn đâu hồn giáo đường, còn đâu . . . còn đâu hồn người Sài Gòn “ ( Thành phố Lá me Bay – Trần Lê Việt ). Những năm tháng ấy, Sài Gòn đã không còn là Sài Gòn , vì hồn người Sài Gòn đã theo với những chuyến xe lửa chuyển tù cải tạo đi khắp vùng đất nước, đã theo với những chiếc ghe vượt biên lênh đênh trên biển cả mênh mông, đã theo với những đòan người bị cưỡng bách rời bỏ thành phố về những vùng kinh tế mới rừng thiêng nước độc. Như vậy là tôi đã hiểu rằng, thể xác của  New Orleans bây giờ vẫn còn đó, buồng ngực French Quarter đã gần lấy lại được nét phong độ xưa, nhưng trái tim – cái hồn người New Orleans – hình như vẫn chưa quay trở về, chưa muốn quay trở về hay sẽ không muốn quay trở về.
 
Thế là quá đủ cho một trận thiên tai. Không có cái hồn của người Sài Gòn thì Sài Gòn cũng chỉ là một thành phố hãnh tiến như bao thành phố khác ở Châu Á. Không có cái hồn của người New Orleans thì New Orleans cũng chỉ là một thành phố ồn ào như bao thành phố khác của nước Mỹ.. .
 
T. Vấn

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013