Thi Ảnh

Đoàn Nhã Văn

Lời Nguyền Trên Đỉnh Đèo Rù Rì - Đoàn Nhã Văn

Doan Nha Van

Tôi khom người xuống. Chiếc xe đạp đổ đèo mỗi lúc một nhanh. Đường vắng. Đến gần khúc quẹo đầu tiên, tôi đạp nhẹ chân thắng phía sau, vừa đủ để bẻ một vòng cua thật hách. Xe tiếp tục đổ nhanh, đợi gần đến miếu, tay bóp thắng trước, chân đạp thắng sau, nghe phựt, rồi phựt, bóp mạnh thắng tay, gót chân phải đè xuống thắng chân phía sau. Tất cả đều nhẹ hều, chiếc xe như một mũi tên bắn, cứ lao nhanh về phía trước, tôi gập người xuống đến mức tối đa, lạng xe qua khúc quành, chiếc xe vượt khỏi tầm kiểm soát của tôi, lao thẳng giữa hai bệ chắn, mũi tên đã đạt tốc độ tối đa, vút về phía trước. Bên dưới là thung lũng đen ngòm. Tôi bay, bay, bay ... từ trên cao độ gần 50 mét, so với mặt đường bên dưới chân đèo. Tôi nhắm mắt, hét lớn. Vùng dậy... Cả người vã mồ hôi.

Giấc mơ trở đi trở lại nhiều lần, làm cho tôi, dù cố gắng quên đi lời nguyền, nhưng không thể nào thoát khỏi. Vâng, đó là một lời nguyền hết sức cay độc, từ xa xưa lắm, đã được ông Cố tôi đích thân chôn xuống trên đỉnh đèo Rù Rì.
***
Ba Má tôi quyết định đưa gia đình về sống tại một vùng thôn quê hẻo lánh này từ đầu năm 1970. Từ đỉnh đèo Rù Rì, nhìn về hướng đông bắc, một eo biển nhỏ hiện giữa những đồi núi chập chùng. Eo biển đó là eo biển Lương Sơn, trên đường ra Ninh Hòa. Làng quê đó, chính là làng Lương Sơn như mọi người thường gọi. Đây là một làng nhỏ, cách chân đèo Rù Rì khoảng 3 km và trung tâm thành phố Nha Trang chừng 12 km. Lưng dựa vào núi, mặt nhìn về hướng biển, nên dân trong làng sống chủ yếu vào nương rẫy trên núi và tôm cá ngoài biển khơi.

Từ lúc hiểu được, tôi đã nghe, đã biết về những tai nạn thảm khốc trên đèo Rù Rì. Lên 6, 7 tuổi, tôi đã nghe những lời than khóc buồn bã từ thân nhân của những người mất, bị tai nạn trên vùng đèo này. Lớn lên tí xíu, tôi đã chính mắt nhìn thấy những thân thể đầy máu, sau những tai nạn nơi đây. Khi tôi bắt đầu vào Trung học, mỗi ngày dắt xe đạp lên đèo, xổ đèo, những hình ảnh đó luôn ám ảnh tôi. Tôi lo một, nhưng ba má tôi lo đến mười.

Mỗi năm, ít nhất một vụ tai nạn khủng khiếp xảy ra. Ngôi miếu nhỏ nằm giữa lưng chừng đèo, ở mặt Nam, luôn là nỗi ám ảnh mỗi khi một mình dắt xe đạp đi qua. Tôi sợ, nên thường đi chung với các bạn. Hoặc khi đạp xe đến tận chân đèo, nhưng chưa thấy ai, thế là ngồi chờ. Chờ có người nào đó cùng dắt xe lên đèo. Năm 1983, số tai nạn quá nhiều, mà hai tai nạn thảm khốc, một vào giữa năm, xảy ra ngay miếu thờ, và một vào cuối năm, những ngày cận tết, bên kia dốc đèo, tại hướng ngã ba: một đường lên Thành, và đường hướng kia về Nha Trang. Tai nạn này, đã cướp đi mất một người bạn mà tôi quen biết, học trên tôi một lớp. Có lẽ, nhiều tai nạn quá khủng khiếp xảy ra liên tiếp, và chúng tôi cũng đã khôn lớn, Ba tôi, quyết định kể một chuyện hệ trọng mà ông giấu từ lâu. Câu chuyện đó liên quan đến ông Cố tôi và lời nguyền cay độc ngày xưa ấy.
***
Ba tôi kể rằng, vào những năm đầu 1900's, người Pháp mở đường xá từ miền Nam ra tận miền Trung. Mở ra rộng hơn, tạo cho môt vóc dáng mới cho quốc lộ 1. Ông Cố tôi, là một người nhà quê, giỏi chữ nho từ nhỏ, nhưng thi nhiều lần không đỗ nên ông chỉ làm một ông giáo làng. Nhưng điều ngạc nhiên là không biết ông học từ đâu, mà có thể đọc và hiểu được ít nhiều tiếng Pháp. Và khi người Pháp vừa ép buộc, vừa tuyển mộ khắp nơi để mở đường, vì kinh tế gia đình, ông cố tôi quyết định gác nghề dạy học, và tham gia đoàn người đi mở đường này. Thông thạo chữ nho, và hiểu ít nhiều tiếng Pháp, ông được giao cho việc phụ sổ sách. Dần dần, tạo được tín nhiệm với viên sĩ quan Pháp đứng đầu công trình này, ông được giao phó nhiều công việc quan trọng hơn. Cuối cùng, ông được trọng dụng như là một người giúp việc gần gũi và tín cẩn.

Từ thành Diên Khánh, đường được mở rộng xuống Nha Trang. Rồi từ Nha Trang ra Ninh Hòa. Nỗi vất vả của những người mở đường này là đoạn đèo Rù Rì. Đường dốc quanh co. Không ít người đã bỏ mình ở đó. Một hôm, trong lúc đang đào đất, những người phu đã phát hiện một hầm lớn bên chân đèo phía Bắc. Khi ông Cố tôi đến, người ta phát hiện trong hầm này có nhiều lọ cổ. Trong đó có 1 cái lọ lớn và 13 cái lọ nhỏ hơn. Tất cả đều làm bằng sành. Cái lọ lớn, cao hơn nửa mét, màu xanh lá cây đậm, dạng như cái trống, chính giữa phình, hai đầu hơi nhỏ lại. Trên mặt lọ, có cái nắp đậy kín, không một khe hở. Với kích cở và hình dáng này, khi tôi còn nhỏ, nghe mọi người gọi là cái "thạp" hay "khạp". Xung quanh thân lọ, nửa dưới là những hoa văn, phần trên là những hình thù nửa thú, nửa người, trông rất kỳ quái. Mười ba cái lọ còn lại, cùng một kích cở, cao khoảng ba tấc. Dưới chân thật nhỏ, rồi phình ra lớn hơn khi lên cao. Chỗ phình cao nhất khoảng hai phần ba từ chân lọ. Phần trên cùng hơi túm lại, nhưng vẫn lớn hơn phần đáy. Lọ không có hình thù quái gở, những ngược lại là một màu đỏ sẫm, trên khắc những hoa văn tỉ mỉ. Tất cả đều có nắp đậy và dán kín. Không ai biết bên trong lọ có gì. Ông Cố tôi cho trình lên viên sĩ quan người Pháp. Lúc đó, viên sĩ quan này đang trên đường từ Phan Thiết ra. Ba ngày sau, y mới được dịp chiêm ngưỡng những chiếc lọ cổ quái này.

Tối hôm đó, vị sĩ quan cho người mở ra. Có hai người VN được chứng kiến, người thông dịch và ông Cố tôi. Bắt đầu từ cái lọ nhỏ. Thoạt đầu, không làm sao mở được cái nắp lọ. Một chất keo đặt biệt đã dán kín, không một khe hở. Vị quan người Pháp được cố vấn là nên nung nó lên, rồi mới mở, nhưng cũng không thành công. Sau đó, vì nóng lòng, chiếc lọ bị đập bể trên miệng. Bên trong chẳng có gì, ngoại trừ một ít tro xam xám. Cái thứ hai cũng thế. Cái thứ ba cũng thế. Viên sĩ quan Pháp ra hiệu ngừng. Đến lượt chiếc lọ lớn, hai tay cầm hai đầu, y giơ lên rồi rung nhè nhẹ. Bên trong dường như có tiếng gì khua động, nhẹ nhàng. Tuy nhiên, cũng không cách nào mở được nắp lọ. Vị quan Pháp cho dừng tay và sai thủ hạ tìm cách khoang miệng lọ. Khi miệng lọ được mở ra, hai miếng da dày, màu xám đen, chồng lên nhau, cuốn tròn lại. Ngoài ra không còn một thứ gì khác. Mọi người đều ngạc nhiên, nhất là viên sĩ quan Pháp. Ông cầm lên ngắm nghía rồi trải hai miếng da thú lên bàn. Mỗi miếng da có chiều dài khoảng gần 1 thước, chiều ngang khoảng 3 tấc. Khó đoán biết được là da dê hay da trâu. Miếng da thứ nhất có nhiều hàng chữ nhỏ dọc ngang. Miếng thứ hai, vẽ những hình thù quái gở. Những hình người nam cụt đầu, những hình người nữ không lành lặn. Đằng sau miếng da thứ hai như có dấu triện, màu đỏ, và bốn con số viết rời nhau. Tất cả nhìn nhau, im lặng. Viên quan Pháp hỏi ông Cố tôi về ý nghĩa của hai tấm da này, vì biết ông Cố tôi thạo chữ nho. Ông Cố tôi lắc đầu. Đó không phải là tuồng chữ nho. Tuy nhiên, trong ông, bừng lên một ý nghĩ. Đó là chữ của người Chăm Pa. Và ông trình bày ý nghĩ của mình. Muốn hiểu, phải tìm cho bằng được những người còn đọc được lối chữ cổ này. Và sau đêm đó, ông Cố tôi xuôi Nam, mang một sứ mệnh quan trọng trong đời.
***
Những hình nhân kỳ dị không thể là những điềm lành. Biết, nhưng vẫn phải đi. Tôi và bốn người tùy tùng lên ngựa ngay sáng hôm sau, ngược về hướng Phan Rang. Một người mang chiếc bao dày trên lưng, bên trong chứa hai miếng da kỳ dị. Ba người còn lại mang lương thực. Tôi như một người trưởng nhóm. Đi, nhưng trong lòng không chút hy vọng. Ngay ở ngày thứ hai, một chuyện lạ đã xảy ra. Người mang hai tấm da đột nhiên ngã quỵ sau khi nghĩ trưa. Anh ôm bụng, mặt mày tái ngắt. Một hồi sau, anh ngưng thở. Sự việc xảy ra quá nhanh, mà không ai trong đoàn biết lý do tại sao và phải làm gì. Chúng tôi chôn anh ta lại, và chiếc bao được giao lại cho một người khác trước khi tiếp tục lên đường. Chúng tôi đến Phan Rang vào một buổi chiều mưa buồn bã. Mưa rã rích suốt đêm. Sáng hôm sau, vào chợ, gặng hỏi nhiều người. Hầu như ai cũng lắc đầu, không hiểu. Có người chỉ cho chúng tôi đi về những khu xa vắng khác, dò tìm. Chúng tôi đi xa hơn về phía Nam. Lòng vẫn còn mang một chút hy vọng. Qua nhiều ngày tìm kiếm, hỏi thăm, vô vọng, lại một việc kỳ lạ khác xảy ra. Người mang hai miếng da đó, bị tiêu chảy. Chúng tôi kiếm những người thầy thuốc trong khu vực gần đó, vẫn không chữa nỗi. Anh ta ra đi mà đôi mắt còn trợn lên một màu trắng dã. Hai người còn lại, không ai dám mang hai miếng da này. Ba chúng tôi đều nghĩ, những chuyện xui xẻo, chắc phải đến từ hai miếng da này. Tối hôm đó, cả ba nhìn chiếc bao đựng hai miếng da mà ngán ngẩm. Ai cũng mang trong lòng những ý nghĩ riêng tư nhưng không nói ra. Tôi quyết định mang hai miếng da này, dù gì mình cũng là trưởng đoàn. Tôi khấn vái thiên địa, thánh thần cùng linh hồn những người đã khuất rằng: chúng tôi chỉ phụng mệnh đi tìm ý nghĩa những gì ghi lại trên hai miêng da này mà thôi. Chúng tôi không có một ý nghĩ gì xấu cả. Xin thiên, địa, thánh thần phù hộ cho chúng tôi được bình an, tai qua nạn khỏi, mà trở về với gia đình. Chúng tôi sẽ cúng tạ trời đất khi an toàn trở về. Vẫn tiếp tục dò hỏi. Vẫn vô vọng. Lương thực cạn dần. Hy vọng đã lùi xa. Chắc phải quay về. Về? làm sao ăn nói với viên sĩ quan?

Sáng hôm cuối cùng, trước khi trở về, chúng tôi chậm chạp trở ra con đường lớn. Bất ngờ, gặp một bà lão, người khô khốc như một thanh củi đang ngược hướng chúng tôi. Điều ngạc nhiên là khi bà cụ chận chúng tôi lại và hỏi rằng: có phải chúng tôi từ xa đến và đang đi tìm một cái gì đó phải không? Tôi thuật lại cho bà cụ nghe đầu đuôi câu chuyện. Bà nhìn cả ba, rồi nhìn tôi kỷ hơn. Sau đó bảo ba chúng tôi đi theo bà. Bà dẫn chúng tôi qua một đoạn đường khá xa, dẫn tới một quả đồi nhỏ. Trên đồi là một nóc nhà cũ kỹ và có phần xiêu vẹo. Chúng tôi được bảo ngồi chờ phía trước sân. Bà lão đi ra sau, thì thầm chuyện gì đó với ai, khá lâu. Một lúc sau, một người đàn ông già, nhỏ thó, chòm râu bạc trắng, dài ngang tận bụng đi lên. Ông cụ gọi chúng tôi ra sau, mời chúng tôi ngồi xuống những hòn đá được kê làm ghế, dưới một tàn cây. Tôi tháo chiếc bao, lấy hai miếng da ra. Ông cụ nhìn ngang, thất sắc. Một hồi sau, định thần, ông cụ bắt đầu kể...
***
Tôi cũng không biết chi tiết những dòng chữ nhảy múa này. Ông chỉ vào tấm da thứ nhất. Rồi tiếp. Nhưng ý nghĩa của nó và những hình thù trong tấm da kia, thì tôi hiểu. Bộ tộc chúng tôi khi nhìn vào hình ảnh vẽ trên miếng da đó, hiểu được người vẽ muốn nói gì. Còn tấm da có viết chữ... Ông lão như nghẹn lời. Đôi mắt buồn hiu, như muốn khóc. Trời đứng gió. Ai nấy nhễ nhại mồ hôi. Nhìn xa xa, những đồi cát như bốc lên từng đợt, từng đợt lửa, muốn thiêu đốt cả một vùng rộng lớn. Ông già đưa tay quệt mồ hôi rồi kể tiếp...

Tôi là một đứa trẻ mồ côi. Tôi sống với Thầy tôi, khi còn nhỏ lắm. Thầy tôi không dạy tôi những chữ cổ này. Ông dạy tôi, thứ chữ mới mà người ta đang dùng bây giờ. Tôi học được nhiều điều ở thầy, từ việc thờ phượng, cúng bái, đến việc ăn ở; từ chuyện lịch sử hưng thịnh đến sự suy vong của Chăm Pa nói chung và của bộ tộc tôi nói riêng. Khi tôi khôn lớn, thầy bảo: nếu một mai ông mất, hãy đem tất cả gia sản trong cái hòm gỗ mà đốt đi với ông. Tôi cúi đầu vâng dạ. Tôi cũng không hỏi Thầy là trong đó có chứa đựng những gì. Chúng tôi ngồi im lặng, nhưng cảm nhận được dường như ông già đang nấc lên theo từng hơi thở.

Sau đó vài hôm, Thầy tôi bảo: trong cái hòm gỗ đó, không có tài sản gì quí giá về tiền bạc, nhưng nó chứa đựng mồ hôi, nước mắt và máu của dòng họ ông. Đó là những bộ da thú, ghi chép về gia phả của Thầy. Một gia phả đẫm máu. Những người đi trước muốn ông phải trả thù. Nhưng vì biết mình là hậu duệ cuối cùng và không làm được, nên ông muốn đốt đi những tấm da thú ghi lại những máu và nước mắt ấy.

Thầy tôi dạy rằng: hơn hai trăm năm mươi năm trước, giặc phương Bắc đã đánh vào tận nơi này. Vua của chúng tôi vì thế yếu, đầu hàng và đồng ý dâng đất để cầu hòa. Trước khi rút lui, nhiều phần thành quách bị đập phá. Những vị tướng lãnh và thuộc hạ của họ, dù đã qui hàng vẫn bị đưa lên ngọn đầu đài. Chỉ riêng gia tộc ông có tất cả 14 người bị chém cùng một kiểu, một dao lìa đầu. Người phương Bắc nói rằng: chém để làm gương! Ngày mà họ bị đưa lên ngọn đầu đài là một ngày đen tối trong lịch sử Chăm Pa. Sau đó, rất nhiều thanh niên bị bắt làm nô lệ. Nhiều phụ nữ bị hành hạ, bị bắt đi làm những kẻ hầu. Sử sách người Chăm Pa có ghi chép, số người bị chết trong trận chiến, bị chém sau khi qui hàng, bị bắt đi làm nô lệ, không dưới nửa vạn. Tiếng khóc than oán hờn dậy đất. Nước mắt ông lão trào ra theo từng lời kể, cùng với mồ hôi, chảy xuống thành từng dòng. Ba chúng tôi cũng không cầm được nước mắt.

Trước khi sứ thần chính thức mang lệnh Vua dâng đất cho giặc phương Bắc, vị Vua của chúng tôi đã cho người chuẩn bị rất kỷ càng. Vua sai người viết một lời nguyền trên một tấm da thú. Tấm thứ hai vẽ lại những cảnh chém đầu mà giặc phương Bắc gây nên cùng những cảnh phụ nữ bị làm nhục, làm nô lệ. Đây chính là hai miếng da lịch sử mà thầy tôi kể lại vào những ngày cuối đời. Người viết lời nguyền này là một vị pháp sư nổi tiếng cả nước lúc bấy giờ.

Thầy đã dạy rằng: tấm da thú ghi lại lời nguyền được chôn ở một nơi hẻo lánh. Để xuôi về phương Nam, người ta phải bước qua nó. Vị Vua của chúng tôi hiểu rằng mình đang trong thế yếu. Trước sau, đất đai này, bá tánh này cũng sẽ rơi vào tay giặc. Vì thế, lời nguyền có chủ ý mong người phương Bắc đối đãi tử tế với bá tánh chúng tôi. Tôi không nhớ chính xác từng chữ. Đại ý, lời nguyền nói rằng: mai này, khi bất cứ ai vượt qua lời nguyền để xuôi về Nam, người đó phải có một tấm lòng rộng mở, phải sống tử tế với người khác. Là dân thường, sau khi bước qua lời nguyền này, mà lòng của họ còn mang những dã tâm, thì chính bản thân hay người thân sẽ bị bao nhiêu điều xấu xảy ra, có khi phải bỏ xác nơi đèo heo gió hút này. Là quan, sau khi bước qua lời nguyền, xuôi về Nam, thì phải có một tấm lòng bao dung, mới mong giữ được hòa thuận trong bá tánh, mới giảm được máu và nước mắt của dân tình. Nếu làm trái lại, dòng họ hay bá tánh dưới sự cai quản của người này phải gánh chịu những hậu quả trùng trùng. Là Vương, sau khi bước qua lời nguyền này để xuôi Nam, lòng Vương phải như trời biển, thương dân như thương con, đối với kẻ cựu thù như đối với trăm họ của chính mình, cứu vớt những người cùng khổ bất chấp họ là ai; phải mang lại cơm no áo ấm cho người người, thì mới mong xã tắc vững bền, giang san mới hưng thịnh. Ngược lại, là Vương mà lòng dạ hiểm độc, coi bá tánh như ngọn cỏ, xem kẻ cựu thù như loài thú, trong lòng chỉ nghĩ đến hận thù, thì muôn đời, lời nguyền vẫn còn đó. Máu của bá tánh không bao giờ ngưng chảy. Máu sẽ chảy dài từ nơi này đến bất cứ nơi nào mà có dấu chân của người hiểm độc đứng đầu xã tắc đã bước qua. Và chính gia đình hay hậu duệ của Vương, phải gánh lấy những điều tệ hại nhất... Trong bá tánh, ai có lỡ tay, đào thấy lời nguyền, phải chôn ngay lại tức khắc, nếu không, hậu quả sẽ không lường...

Sau đó, nhà vua cho làm một buổi lễ tế thần linh. Trong buổi lễ đó, hai tấm da được đặt vào trong cái lọ lớn. Vị Pháp sư cho rằng: phải có người theo giữ lời nguyền này, thì lời nguyền mới mãi được linh thiêng. Nhà vua nghe theo và lựa chọn 13 dũng sĩ dám hy sinh vì bá tánh. Nhà Vua bảo đảm bổng lộc cho gia đình họ đến suốt đời.

Hôm đó, trời nóng như thiêu đốt. Đến gần giữa ngọ, khi vị pháp sư tụng niệm những điều bí ẩn vừa chấm dứt, những hồi trống rền rã gióng lên, 13 dũng sĩ chuẩn bị bước lên giàn thiêu, thì gió ở đâu bỗng nổi lên ào ạt. Cờ, phướn bay phần phật như muôn ngàn âm binh đang lũ lượt kéo về. Những hồi trống chấm dứt, gió mới ngưng. Vạn vật như im lặng. Mười ba dũng sĩ, từng người, từng người bước lên giàn thiêu. Đó đây, tiếng thút thít của các người thân, cùng những người tham dự, nhỏ nước mắt cho những người hy sinh vì đại nghĩa. Khi họ bước lên giàn thiêu, cả 13 người cùng đứng trong thế tấn, nhìn xuống cả quảng trường rộng với một sự bình thản lạ lùng. Một viên quan đọc những lời châu ngọc của Vua, ca tụng lòng hy sinh của họ cho bá tánh. Rồi lửa bốc lên, bốc lên. Tiếng khóc đó đây trong đám đông càng lúc càng lớn. Lửa hận thù. Lửa hy sinh, Lửa cứu độ... Xác thân còn lại của họ được bỏ trong 13 cái lọ nhỏ. Lời nguyền cùng tro bụi của 13 người dũng sĩ, sau đó, được chôn tại phía bắc của một ngọn đèo. Sau đó, Vua mới sai người mang lệnh Vua đi về phương Bắc, lòng đau đớn cắt đất tiền nhân dâng cho cường địch, để nhận lấy sự an bình trong giai đoạn nhất thời...
Ông già người Chăm, nước mắt rưng rưng sau khi kể xong: Những tranh giành lịch sử, dù thành công hay thất bại, luôn luôn nhuốm máu của bá tánh.
***
Trong lúc ông Cố tôi mãi mê đi tìm ý nghĩa của hai mảnh da đó, thì viên sĩ quan người Pháp, nhận được điện tín từ Pháp quốc, cho biết vợ ông bịnh nặng. Công việc chăm coi mở đường, giao lại cho người sĩ quan mới. Khi ông Cố tôi về, trình bày tường tận chuyến đi, cùng những lời giải thích của ông già người Chăm, viên sĩ quan mới lắc đầu. Trong đầu y nối kết những tai họa vừa xảy ra, và nhanh nhẩu bảo rằng y không muốn nhìn nó nữa. Hãy chôn lại, theo như lời ông già người Chăm đã nói. Ngay sáng hôm sau, ông Cố tôi cho người chôn lời nguyền cùng 13 cái lọ nhỏ trở xuống, tại một nơi nào đó trên đỉnh đèo Rù Rì. Sau đó, ông xin được nghỉ việc, trở về nhà, cúng tạ trời đất, thần linh như đã hứa và tiếp tục công việc của ông, công việc của một thầy giáo làng cho đến cuối đời.

Sau khi biết được lời nguyền đó, tôi đi tìm những dấu tích lịch sử theo lời ông già người Chăm đã kể. Tôi tìm được một chút đầu mối liên quan. Sử sách cho biết, năm Mậu Tý (1648), khi Chúa Nguyễn Phúc Lan đột ngột qua đời, Nguyễn Phúc Tần lên ngôi ở tuổi 29, thường được gọi là Hiền vương. Năm 1653, Hiền Vương, sai quan cai cơ Hùng Lộc đem quân vượt đèo vượt núi Thạch Bi (đèo Cả), đánh Chăm Pa. Lực lượng mạnh, cộng thêm yếu tố bất ngờ, Hùng Lộc đã đánh đến tận Phan Rang. Vua Chiêm đại bại dâng thư xin hàng và cắt châu Kaut Hara của Chiêm Thành từ sông Phan Rang ra đến Đèo Cả dâng cho. Chúa Nguyễn đặt dinh Thái Khang với 2 phủ, 5 huyện. Hai phủ là Thái Khang (Ninh Hòa) và Diên Ninh (Diên Khánh). Năm huyện là Phước Điền, Hòa Châu, Vĩnh Xương thuộc phủ Diên Ninh; Tân Định, Quảng Phước thuộc phủ Thái Khang. Hùng Lộc được cử làm Thái Thú cai trị 2 phủ, dinh đóng tại Thái Khang tức Ninh Hòa bây giờ. Đây cũng là thời điểm Chăm Pa nộp cống xưng thần với các chúa Nguyễn. Tuy vậy, sự trả thù vẫn luôn luôn là một nỗi niềm thao thức của các vì vua Chăm Pa. Gần 40 năm sau, năm 1692, Chúa Chăm, tên Bà Tranh, đã tấn công vào phủ Diên Ninh và dinh Thái Khang, nhằm chiếm lại núi sông đã cắt dâng từ thuở trước. Cuộc tấn công này đã thất bại. Quân Chăm bị tướng Nguyễn Hữu Cảnh đánh tan tác vào năm 1693. Chúa Nguyễn đổi tên Chăm Pa thành Thuận Thành Trấn, sau đó đổi Thuận Thành Trấn thành Bình Thuận Phủ.
***
Sau này, tôi hỏi Ba: Vậy chứ lời nguyền ấy, được ông Cố chôn tại địa điểm nào trên đèo Rù Rì? Ba bảo rằng, gia phả không ghi lại đích xác. Chỉ biết, trước khi ông Cố mất, có bảo chôn trên đỉnh đèo, ngọn núi cao nhất, ở phía tây, dưới chân cây cổ thụ già, cách đỉnh khoảng 15-20 thước.

Thời gian đã bào mòn tất cả. Bây giờ, trên ngọn đèo Rù Rì không còn một cây cổ thụ nào cả. Tuy vậy, tôi không suy nghĩ nhiều về địa điểm chôn giấu lời nguyền, mà lại bị ám ảnh về một đoạn trong lời nguyền: "Là dân... Là Quan... Là Vương...". Suy nghĩ lại, tôi thấy lời nguyền không cay độc như lần đầu mình được nghe. Nó chỉ cay độc, khi bất cứ ai sau khi vượt qua nó, xuôi về Nam, mà không sống tử tế với đời, với người. Bao nhiêu năm rồi, lời của ông già Chăm, nói với ông Cố tôi, được ghi lại trong gia phả, luôn luôn đeo đuổi tôi: Những tranh giành lịch sử, dù thành công hay thất bại, luôn luôn nhuốm máu của bá tánh.

Hy vọng, sau khi viết ra những dòng chữ này, tôi sẽ thoát khỏi giấc mơ hãi hùng đó và máu sẽ thôi chảy trên ngọn đèo Rù Rì này.

Đoàn Nhã Văn

Nguyễn Xuân Hoàng, Người Đi Trên Mây - Đoàn Nhã Văn

 
Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng có những tác phẩm xuất bản trước 1975. Ở ngoài nước, ông viết thêm bốn tác phẩm khác, gồm bộ Người Đi Trên Mây, hai tập: tập I - Người Đi Trên Mây, tập II - Bụi và Rác, cùng tiểu thuyết Sa Mạc và tập truyện Căn Nhà Ngói Đỏ. Trong những tác phẩm viết sau 1975, theo tôi, bộ Người Đi Trên Mây có thể xem là tác phẩm tiêu biểu của ông. Vì thế bài viết này phần lớn sẽ dựa vào đó để rọi sáng phần nào văn chương của Nguyễn Xuân Hoàng trong giai đoạn ở ngoài nước, dù rằng tài liệu trong những tác phẩm khác có được đề cập đến, nhưng mục đích cũng chỉ nhằm làm sáng tỏ những vấn đề thuộc về văn chương trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Hoàng.
Người Đi Trên Mây (NĐTM) bắt đầu những năm 70 ở Sài Gòn.  Nhân vật chính, Trần Lâm Thăng, người quen biết nhiều với giới văn nghệ sĩ thời đó.  Thăng có cơ hội tiếp xúc với một khuôn mặt chính trị sáng giá lúc bấy giờ, cũng như một sự đam mê quyền lực tột cùng, ông Phan.  Cũng có lúc Thăng nằm trong gọng kìm tiền bạc của ông Lý, mà chỉ cần một cái gật đầu Thăng sẽ có tất cả.  Thăng có cái cơ may trong đời: lúc nào đàn bà đẹp cũng ở bên cạnh anh. Từ Lan - con gái ông Lý; đến Uyên –  con gái ông Phan; cho đến Quỳnh, rất quyến rũ, người đã dám bước trên những mũi nhọn của dư luận mà sống chung với Thăng giữa một Sài Gòn đầy rẫy những dị nghị, những tin đồn, và dĩ nhiên không phải không ít lần ác ý. Trong những ngày tháng chuẩn bị chờ ra tòa ly dị với Lan, Thăng bước vào biệt thự của ông Phan để tránh những sức mạnh vô hình bắn ra từ phía Lan và ông Lý. Tù túng và ngột ngạt trong một không gian thừa mứa mọi thứ cùng sự chăm sóc quá ân cần và chu đáo của bà Phan và cô Uyên, Thăng dứt khoát bước ra khỏi ngôi biệt thự này và chung sống với Quỳnh sau đó, ở một khu thuộc loại tồi tàn của thành phố.
Bụi và Rác (BvR) tiếp theo những ngày cuối tháng tư 1975, khi thành phố hỗn loạn trước cơn lốc đổi thay của lịch sử.  Thăng và Quỳnh, như bao người khác, chứng kiến những cảnh đổi đời, không những của riêng mình, mà của cả một thành phố hơn bốn triệu dân lúc bấy giờ.  Người khác gọi đây là một cuộc cách mạng, nhưng chính cái tên gọi này làm cho một người, với những kinh điển triết Tây, như Thăng, phân vân.  Cách mạng?  “Cách mạng có phải là giật ngôi nhà của người này, đuổi họ ra đường để cho một tay tự xưng là từng đổ máu xương cho chủ nghĩa dọn vào. Cách mạng có phải là làm trống trải những căn nhà – kể cả những căn nhà không còn có gì để làm trống trải thêm nữa – để làm đầy những căn nhà khác. Cách mạng có phải là hạ thấp mức sống của một xã hội đang không cao gì cho lắm xuống cho bằng một xã hội mà cuộc sống đã bị ngưng đọng suốt hai mươi năm?” (BvR, trang 207).  Giữa đất trời lồng lộng, Thăng chỉ thấy “một bầu không khí đầy những “hơi gió” nghi ngờ.”  (BvR, trang 66).  Thậm chí, anh chỉ thấy mình như bụi giữa những đống rác hay rác giữa cuộc đời đầy bụi bặm.  Không thể sống với cái đổi thay mà người ta gọi là “cách mạng”; không thể hòa nhập vào cái không khí đầy “nghi ngờ” ám chướng mà những người mới cố tình tạo ra, bao trùm cả đất nước, nên Thăng tìm mọi cách ra đi như bao người khác.  Sau lần bị bắt ở miền Tây, về lại Sài Gòn, Thăng thấy cửa nhà trống rỗng, biết Quỳnh đã ôm con lao ra biển đông tìm anh, vì Quỳnh nghĩ rằng anh đã không còn thương nghĩ về hai mẹ con nữa.  Anh hết chỗ dựa, sống như một bóng ma, vất vưỡng, nhưng lòng luôn phập phồng cho những dự định ra đi.
***
Nguyễn Xuân Hoàng dựng tiểu thuyết bằng những nhân vật thật ngoài cuộc đời, những người chung quanh ông, bạn bè ông và những người thân của họ. Bằng lối hư cấu từ chất liệu thật này, nhà văn dễ dàng “thấy” được mặt mạnh, yếu cùng những nét đặc thù của từng nhân vật. Nhờ thế, những trang chữ của Nguyễn Xuân Hoàng lôi cuốn bởi những chất liệu sống ngoài đời và cùng những hư cấu rất lý thú về đời sống của họ. Dười ngòi bút của ông, mỗi nhân vật có một vị trí, một chỗ đứng riêng trong tiểu thuyết.  Họ như những mắc xích nối liền nhau, mà ở đó, nếu thiếu bóng họ, bức tranh tổng thể sẽ khiếm khuyết và cái điều ông muốn nói đến, dù đẹp, vẫn không thể trọn vẹn.
Người đọc dễ dàng nhận ra những nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn Xuân Hoàng. Những Ký, Lộc mà ông nhắc đến rãi rác trong truyện chính là Tạ Ký, Lê Tấn Lộc ngoài cuộc đời. Khô Khốc Thiền Sư mang nhiều nét của Huỳnh Phan Anh. Vinh, dĩ nhiên là Ngô Thế Vinh với vụ hầu tòa truyện ngắn Mặt Trận Ở Sài Gòn.  Nhật cũng mang máu thịt, những phần đời của Phan Nhật Nam. Đình, ắt hẳn ít nhiều dính dáng đến Nguyễn Đình Toàn.  Nhơn, cũng là Hà Thúc Nhơn, ngoài một trái tim của một thầy thuốc còn là một chiến sĩ xã hội, một mũi tên trong phong trào chống tham nhũng, đã chọn một thế đứng, chọn một cách ngã, giữa quân y viện Nguyễn Huệ, Nha Trang v.v...  Có một nhân vật được Nguyễn Xuân Hoàng nhắc đến rất nhiều lần, trong nhiều chương sách, từ Người Đi Trên Mây đến Bụi và Rác, chính là nhạc sĩ Nguyễn Giang, với nhạc phẩm Nối Vòng Tay Lớn  được loan đi trên đài phát thanh Sài Gòn vào lúc giao thời của tháng tư, 1975.  Dĩ nhiên ai cũng hiểu ông dựng hình ảnh Nguyễn Giang từ người nhạc sĩ nào ngoài đời.
Những người mà Thăng quen biết, phần lớn đều là những văn nghệ sĩ của miền Nam, được khá nhiều người biết đến.  Tuy vậy, có một người mà anh tình cờ quen được sau năm 1975, một nhà thơ sống và lớn lên từ miền Bắc, một nhà viết kịch mà tên tuổi của anh không xa lạ gì với mọi người trong nước sau 1975, nhất là những năm cuối thập niên 80. Người đó chính là Vũ, Lâm Quốc Vũ. Thực ra, Lâm Quốc Vũ trong tiểu thuyết cũng chính là Lưu Quang Vũ ngoài đời, mà những vở kịch của ông đã là những ngọn gió đầu mùa, làm chính quyền đương thời rất e dè.  Sau đó, ông cùng gia đình mất đi trong một tai nạn giao thông đầy nghi vấn.  Nhưng đó là chuyện sau này, không dính dáng đến Vũ rất nhạy bén và phóng khoáng của Bụi và Rác ở những năm đầu sau 1975.
***
Điểm nổi bật đầu tiên ở tiểu thuyết Nguyễn Xuân Hoàng: cung cách xây dựng nhân vật khá đặc biệt.  Ông không nói nhiều về nhân vật của mình. Những dòng chữ ngắn đủ làm độc giả “bắt” được ngay hình ảnh và nhân cách một con người. Xin được trích dẫn ở đây hình ảnh một vài nhân vật để thấy rõ hơn điều này.
Ông Phan, một người đam mê quyền lực:
 “Tôi thấy cằm ông Phan bạnh ra, hai hàm răng nghiến lại, đôi mắt nhỏ dưới chiếc kính lão nheo lại và thỉnh thoảng sáng lên một thứ ánh sáng kỳ lạ. (...)
Ông đặt ống nói xuống.  Hai tay xoa vào nhau.  Ông cắn một hớp rượu.  Các thớ thịt ở gò má ông cuộn lại. Tôi có cảm tưởng ông đang có một quyết định quan trọng trong đầu.(...)
Ông Phan bắt tay tôi. Cái bắt tay chặt chẽ thân mật, nhưng những ngón tay mập và nhão của ông vẫn không làm tôi bớt ghê sợ.” (NĐTM, trang 23-24)
Hiếm nhà văn dùng chữ “cắn một hớp rượu” như Nguyễn Xuân Hoàng.  Diễn tả như vậy đủ để chở một toan tính lớn giữa những thay đổi dồn dập của thời cuộc và qua đó, người đọc có thể hình dung một cách khá rõ ràng về một “chính khách” lúc bấy giờ.
 
Ở hình ảnh của ông Lý, chỉ bằng một câu thôi, Nguyễn Xuân Hoàng cho người đọc thấy một sức mạnh ghê gớm của một nhân vật đại diện về tài chánh ở Nam Việt Nam trước 1975:
“không có cánh cửa nào của chính quyền còn được coi là kiên cố dưới sức gõ của bàn tay ông” (NĐTM, trang 118)
 
Lan, người vợ cũ của Thăng, một người chỉ biết có tiền và tiền:
“...người đàn bà lớn lên trong một gia đình mà đồng tiền ngự trị trên tất cả, đã có lần nói với tôi rằng nếu phải đổi tất cả danh dự và phẩm giá con người để có được trong tay cái tài sản trở thành người giàu nhất Saigon cô ta sẽ không do dự đặt danh giá dưới gót chân mình.” (NĐTM, trang 53)
 
Nhạc sĩ Nguyễn Giang:
 “Giang nói mặc dù âm nhạc của anh luôn luôn được quần chúng ưa thích, nhưng Mười Tân đã có lúc cho người gọi anh đến và nói rằng âm nhạc của anh chẳng qua chỉ là một thứ “nhân đạo chủ nghĩa”. Đó là một loại hình văn học “kết án chiến tranh mà không cần phân biệt loại chiến tranh nào, kết án bạo lực mà không cần hiểu xuất xứ, tính chất mục đích của mỗi bạo lực.”
“Âm nhạc của anh”, Mười Tân nói, “có chứa đựng những lời than thở phản chiến nhưng nó cũng làm đảo lộn mọi thứ, nó lẫn lộn trắng đen, trung và nịnh, yêu nước và cướp nước. Coi chừng âm nhạc của anh cũng là một hình thức tiếp tay cho bọn phản loạn.”  Nguyễn Giang rùng mình khi nhắc lại chuyện trên.  Lúc đó tôi nhìn thấy hai bàn tay Giang run giật như người mắc kinh phong (...). Có lúc Giang thở ra, “Tôi như đứa trẻ tìm nơi nương tựa mà sao vẫn cứ lạc loài ... Đừng tin tôi nhé, vì tiếng cười.” Đó là những lúc tôi thấy khuôn mặt Giang vốn đã nhỏ và nhô xương, hai con mắt sâu núp dưới đôi kính trắng, tối sầm lại.” (BvR, trang 130-131)
 
Không bao nhiêu con chữ nhưng làm nổi bật được hai điều.
Thứ nhất, hình ảnh bên ngoài và đáy sâu tâm tư của người nhạc sĩ rõ mồn một. Hai bàn tay run giật như người mắc kinh phong là một hình ảnh động. Cái động tìm thấy từ một người nghệ sĩ trầm lặng.  Cái động đã bứt ra khỏi con tim, làm đôi bàn tay run bần bật, chính là dấu hiệu của một sự kinh sợ, ghê hồn.  Người nghệ sĩ vào đời, cho đời bằng trái tim, nhìn đời bằng đôi mắt. Trái tim đã giật thót. Đôi mắt đã tối xầm. Chỉ còn lại xác thân, gởi nhờ cõi tạm, mà lòng lúc nào cũng phập phồng, hoang mang.
Thứ hai, tất cả những phản ứng bên ngoài nối tiếp nhau của người nhạc sĩ cho thấy một sức mạnh ghê gớm đang diễn ra bên trong: quyền sinh, sát của những “con người mới” đáng ghê rợn, mà điển hình là Mười Tân.  Dùng hình ảnh này để tạo nên sự liên tưởng khác là một trong những điểm đặc thù của Nguyễn Xuân Hoàng.
Nhưng quan trọng hơn và nổi bật hơn tất cả những nhân vật khác, chính là: Trần Lâm Thăng.  Thăng học triết, rồi dạy triết. Mớ triết lý mà Thăng thâu lượm được từ trường lớp là thứ triết lý kinh điển Tây Phương. Chính những thứ triết Tây còn lợn cợn trong dòng suy nghĩ, nên Thăng chỉ là một kẻ: sống lông bông, lêu bêu; không quyết định dứt khoát, không lập trường rõ ràng. Trong lúc mọi người lo cho cuộc sống hiện tại thì Thăng trôi giữa cuộc đời vô phương hướng. Trong khi người khác đạp chân xuống đất để sống, thì Thăng bước những bước vô hồn trên mây.
***
Xã hội miền Nam vào những năm 70 là một xã hội mang đầy sắc thái của chiến tranh.  Chiến tranh không xảy ra ngay tại Sài Gòn, nhưng chiến tranh có thể “chen vào làn môi của những cặp tình nhân”.  Tiếng súng không vọng về thành phố, nhưng hàng hàng lớp lớp thanh niên giã từ người thân, ra trận. Trong rừng người này, có biết bao bạn bè của Thăng, những người như Vinh, như Nhật.  Một Vinh, vừa mang trên mình trái tim của người thầy thuốc, vừa mang một tấm lòng nhiệt huyết của một chiến sĩ xã hội vào đời.  Một người mang ba lô dẫm nát núi rừng nhưng lúc nào cũng canh cánh trong lòng: mặt trận lớn nhất vẫn là mặt trận ở Sài Gòn.  Một Nhật, người mũ đỏ với hào khí bừng bừng, sẵn sàng chịu đựng mọi nghịch cảnh chung quanh, cùng đồng đội dựa lưng nỗi chết, mở bừng con mắt vẫn thấy chập choạng tù binh và hòa bình, rong ruỗi dọc đường số một, mà nghe từng tấc lòng quặn thắc. Tuổi trẻ thời loạn ly với một ý thức rõ ràng về cuộc sống, về chính trị là thế.  Còn Thăng? Thuở mới bước vào đời, Thăng hạnh phúc bên Lan. Khi gia đình lộn xộn và chờ đợi thủ tục ly dị với Lan, Thăng bám vào ông Phan để tránh những áp lực vô hình từ phía ông Lý, để có dịp nghe những phần thân thể rung động bên Uyên.  Khi quá ngột ngạt với gia đình bà Phan, anh bám víu vào Quỳnh. Khi Quỳnh ôm con lao vào biển, Thăng như một kẻ mất hồn. Trong suốt bộ tiểu thuyết, Thăng chỉ hừng hực nhựa sống trước thân thể phụ nữ. Thăng chỉ tỉnh táo trước mùi hương phấn đàn bà. Thăng sống bám vào người khác, như một thứ dây leo.  Không có người khác, anh chênh vênh bên này, nghiêng ngã bên kia. Vì thế, người đời nhìn Thăng như một thứ người không bình thường. Thậm chí, ngay cả Thăng, anh cũng từng tự nhận mình là một thứ bóng ma lởn quởn giữa đời thường:“Có lần Mười Tân nói thứ người như tôi giống như bóng ma chập chờn trong một nghĩa trang những đêm tháng bảy. Cái bóng ma ấy chẳng làm hại được ai, nhưng chắc chắn xã hội không cần. Ông ta nói đúng.” (BvR, trang 173)
Thứ người nhếch nhác như anh, chỉ “như một thứ cây mọc ven sông, nhìn giòng nước chảy miết, liên tu hồ tận”, chẳng làm được cái “giải” gì cho những đứa con của chính mình, huống hồ gì là người thân, là cuộc đời.
Và không ai hiểu mình bằng chính mình:
“Tôi biết tôi là một tên lười biếng.
Tôi chỉ đọc những gì liên hệ đến công việc tôi đang làm, chỉ ăn những thức ăn đã dọn sẵn lên bàn, chỉ trò chuyện với những ai đụng vào trái tim tôi, chỉ yêu những ai can đảm yêu tôi.  Tôi không biết sục sạo, bươi móc như con gà tìm kiếm chút hạt gạo thừa ngoài sân.
Tôi là tên đàn ông thụ động trong tận cùng xương tủy.” (NĐTM, trang 70)
Với một lối sống như vậy, dĩ nhiên người đời, ngoài bạn bè anh, hầu như người người đều nhìn anh mà ngán ngẫm. Không chán sao được, khi chính anh cũng chán lấy bản mặt của mình mỗi khi soi gương. “Đừng tưởng tôi không chán tôi.  Tôi chán tôi như người ta vẫn thường chán những thức ăn thừa phải hâm đi hâm lại mãi nhiều lần trong nhiều ngày.” (NĐTM, trang 70)
    Dưới mắt người thường, Thăng là một kẻ không bình thường. Bởi người bình thường, nếu không có những toan tính xa, thì cũng phải có những lo lắng gần.  Nhưng với Thăng, tuyệt nhiên là không.  Thăng bảo: “Hiện tại tôi sống chưa xong, chưa hết, việc gì tôi tìm kiếm tương lai.” (BvR, trang 144). Vì thế, người đương thời với anh, khó lòng chấp nhận. Người đọc sau này cũng dễ dàng bực mình vì cá tính hợm hĩnh của anh.  Nhưng Thăng là ai?  Hãy nghe anh tự khai một phần tiểu sử của mình.
“Tôi là người đàn ông lang bang, lêu bêu. Tôi đang là cái tôi cách đây mười năm khi mới vừa tốt nghiệp ra trường. (...)  Tôi đang bắt đầu từ âm số. Dưới con số không nhiều bậc kia. Tôi đã bị trừ đi cái mười năm của tuổi trẻ phung phí vào một người đàn bà gian trá. Tôi đã bị trừ đi cái mười năm của một sự trống trơn về tai tiếng.  Tôi đang bắt đầu từ những âm số của nợ nần, của những lời thị phi, của nụ cười đã tắt, niềm vui đã chết, hi vọng đã tan hoang.” (NĐTM, trang 70 - 71)
    Đó là Thăng, là cái tôi, trong truyện. Từ tiểu thuyết nhìn ra cuộc đời, bóng dáng Thăng lẩn quẩn, chập chờn. Hình ảnh của Thăng thời nào cũng có, xã hội nào cũng tồn tại, nhất là một xã hội xô bồ trong chiến tranh như miền Nam trước 1975. Thăng không còn là hình ảnh của một nhân vật, mà là hình ảnh của cả một lớp người sống trong các thành phố lớn của miền Nam. Lớp người này được trang bị bằng một thứ cá nhân chủ nghĩa, thờ phụng cái tôi học được từ những mớ triết lý chưa tiêu hóa hết từ phương Tây.  Lớp người này coi chuyện nóng hổi thời sự là chuyện của người khác; xem chuyện binh lửa đốt cháy quê hương một cách dửng dưng; thấy cái đau của đồng bào vẫn bình chân như vại. Họ là những kẻ đi trên mây!
Song song với lối sống và cá tính “chẳng ra con giáp nào cả” của Thăng, Nguyễn Xuân Hoàng còn dựng nên một khía cạnh khác trong cuộc sống của Thăng, đó là sự tỉnh táo. Tỉnh táo đến độ ngay cả trong những giây phút choáng ngợp khi đối diện người bên cạnh, dù họ là đại diện của cái đẹp đầy quyến rũ hay họ là trọng tâm của quyền lực.  Hầu như ở mọi hoàn cảnh, Thăng nhận xét từng đường nét biến chuyển bên ngoài và đánh giá họ bên trong một cách sâu sắc. Anh quan sát người khác một cách hết sức tinh tường, như một cái máy quét, xuyên qua một lần là thu gọn hình ảnh người đang liên hệ, sự kiện đang diễn ra chung quanh. Mà ở những hình ảnh này, cá tánh của nhân vật, của người đối diện nổi bật lên, rõ nét.  Đây không chỉ là biểu hiện về bản năng sinh tồn của kẻ thụ động, mà xa hơn thế, nó ẩn chứa bề sâu của một cuộc đời, nằm đằng sau cái bộ mặt có vẻ hời hợt, nguội lạnh của Thăng.
Sau khi đọc xong bộ Người Đi Trên Mây, độc giả thấy Thăng dường như mang nhiều phần đời của Nguyễn Xuân Hoàng.
Này nhé, Thăng học triết, rồi dạy triết. Thăng là một người đi trên mây. Thăng bị “tẩu hỏa nhập ma” với những tư tưởng triết học, nhiều lúc đối chọi nhau, từ cổ chí kim như Platon, Aristote, Descart, Kant, Hegel, Heidegger, Nietzche v.v.  Đứng bên bờ này mà mắt cứ đăm đắm nhìn sang bờ kia; khi đứng ở bờ kia thì lòng lại tham lam nhìn qua chân trời khác. Choáng, ngợp.  Mất tự tin, xa lạ với cuộc sống. Cùng hít thở trong một bầu khí quyển như mọi người nhưng lại bước đi bên lề cuộc đời.
Còn Nguyễn Xuân Hoàng? Ông cũng học triết. Vậy ông có thuộc loại người đi trên mây không?  Ở một tác phẩm khác, trong một bài tùy bút, Nguyễn Xuân Hoàng đã cho biết: “Thứ triết mà Đà lạt nhét vào đầu tôi là thứ triết học kinh điển, thuần túy kinh điển đến tội nghiệp. Nó là động cơ thứ nhất vẽ vời trong trí tôi cái hình ảnh quá xa lạ với cuộc sống. Nó thổi tôi bay lên trời. Và từ đó tôi đi giữa những đám mây.” (Căn Nhà Ngói Đỏ, trang 180)
Thường, nhà văn, người tạo ra những nhân vật, nhất là nhân vật chính, cho các tác phẩm của mình, thường đắn đo, do dự. Cũng dễ hiểu, vì nhân vật chính thường ảnh hưởng đến sự thành bại của tiểu thuyết. Và dù nhân vật chính được dàn dựng thế nào đi nữa, họ phải mang những nét hết sức điển hình. Hay nói một cách khác: họ là người đại diện của tầng lớp mà họ xuất hiện trong tác phẩm. Một Chí Phèo của Nam Cao, cũng là tập hợp của dăm ba Chí Phèo ngoài đời. Một Xuân Tóc Đỏ của Vũ Trọng Phụng cũng là tổng hợp của năm bảy Xuân trong cuộc sống. Ngược dòng thời gian, đi ngược trở về trước một chút, chúng ta đã từng biết, sau tác phẩm Chiến Tranh và Hòa Bình, khi được hỏi Natasa là ai, Tolstoi trả lời rằng: Natasa là một phép cộng của phu nhân Tolstoi và em gái của bà ta.
Qua bộ Người Đi Trên Mây, ta dễ dàng nhận thấy rằng: Thăng và Nguyễn Xuân Hoàng có mẫu số chung.  Không chỉ là mẫu số chung bình thường, mà là một mẫu số chung lớn: cả hai đều liên hệ với Triết.  Vâng, triết Tây. Nhưng Trần Lâm Thăng, trước và sau chỉ là một nhân vật tiểu thuyết, chứ không phải là Nguyễn Xuân Hoàng dù Thăng mang dáng dấp và một phần đời của ông.
Nguyễn Xuân Hoàng dựng nên mẫu nhân vật thuộc loại đi trên mây này, theo tôi, không có nghĩa là ông chủ trương hay cổ xúy cho lối sống như vậy trong cuộc sống.  Dù nhân vật và nhà văn có mẫu số chung, giữa họ vẫn có một đường ranh giới.  Cũng như để có được hình ảnh độc đáo của một gã say, thì bắt buộc người dựng nên hình ảnh đó phải ở trong khoảnh khắc tỉnh táo. Và quan trọng hơn hết, không vì hình ảnh gã say đó mà cho rằng nhà văn cỗ vũ cái say quên đất, quên trời. Vì thế, dựng được nhân vật đi trên mây một cách ngoạn mục, nhà văn phải là người đạp chân xuống đất, tinh tế nhìn quanh cuộc đời, gạn lọc thật kỹ lưỡng, mới nhào nặn được mẫu người tiêu biểu này, dù rằng cái tiêu biểu này có khi rất đáng ghét đối với không ít độc giả.
***
Đọc Nguyễn Xuân Hoàng, độc giả dễ làm một sự so sánh, dù vẫn biết chẳng có so sánh nào là hoàn hảo. Cùng một “lớp” với Nguyễn Xuân Hoàng, người đọc dễ liên tưởng đến những nhà văn khác, những người ông đã từng nhắc đến trong tác phẩm của mình, như Ngô Thế Vinh, như Phan Nhật Nam chẳng hạn.  Thì cứ lấy họ làm ví dụ.
Sự khác biệt giữa Ngô Thế Vinh và Nguyễn Xuân Hoàng rõ rệt. Cái xông xáo vào đời cũng như sự chọn lựa ở những nhân vật của Ngô Thế Vinh là cách thế biểu lộ mình với thời cuộc.  Cái sống ở những nhân vật của Ngô Thế Vinh là cái nhập cuộc, bừng bừng. Cái sống ở những nhân vật của Nguyễn Xuân Hoàng là cái đứng bên lề, nguội lạnh.
Sự khác biệt giữa nhân vật của Phan Nhật Nam và Nguyễn Xuân Hoàng cũng tương tự.  Ở Phan Nhật Nam, nhân vật ông hừng hực một ngọn lửa vào đời và cho đời. Ở Nguyễn Xuân Hoàng, ngược lại, nhân vật của ông hững hờ với thế sự, thờ ơ với thời cuộc, lãnh đạm với tha nhân, và để ngoài tai tất cả những gì không trực tiếp chạm vào tim mình. Ở Phan Nhật Nam, nhân vật của ông đạp lún mặt đường-số-một, chạy đua với từng tích tắc đồng hồ để mưu tìm sự sống.  Ở Nguyễn Xuân Hoàng, họ có thừa mứa thời gian để nhẫn nhơ, hầu như trong mọi tình huống; họ sống bám vào kẻ khác ở những nơi chốn an toàn quanh quẩn Sài Gòn.
          Sự so sánh giữa nhân vật của nhà văn này với nhân vật của nhà văn kia không phải để tìm cái đồng thuận, mà là để nẩy lên cái khác biệt.  Tuy nhiên, không vì cái khác biệt này mà cho rằng văn chương người này hay hơn người kia.  Sự so sánh chỉ góp phần làm sáng tỏ thêm một điều: nhân vật của Nguyễn Xuân Hoàng thuộc lớp người ngủ đứng.  Nói một cách nôm na, họ thuộc lớp người xé khô mực theo chiều dọc, chẳng giống ai và cũng chẳng ai giống.
***
Ở Người Đi Trên Mây, Thăng là một kẻ lơ là với chuyện chính trị. Thăng là một kẻ ghê tởm chiến tranh.  Anh chỉ như con đà điểu chôn đầu dưới cát, chạy trốn sự thực (NĐTM, trang 144). Ở Bụi và Rác Thăng lại có ý thức rõ rệt về chính trị. Không những rõ rệt mà còn sâu sắc. Mâu thuẫn chăng?  Thực ra không phải thế.  Thăng đã thay đổi cách nhìn về thời thế.  Bởi thời thế đã tạo nên những cảnh ngộ đau lòng chạm vào tim anh.  Thời thế đã mở ra những thay đổi lớn, những thay đổi chỉ có xấu đi chứ không hề tốt hơn, ở thế nhìn của Thăng. Thời thế đã khoát cho mọi người một chiếc áo lạ lùng.  Thời thế đã khắc trên từng khuôn mặt của mỗi người dân những đường nét quái gỡ, tạo cho “ mỗi khuôn mặt của người Sài Gòn luôn luôn có một chữ vô hình nhưng rõ nét. Ngụy! Ngụy! Ngụy!” (BvR, trang 205). Vinh và Nhật mang trên vai những năm lính, lội nát núi rừng: Ngụy. Ký và Lộc mang thân phận biệt phái: Ngụy. Trần Lâm Thăng đứng trên bục giảng, ấm ớ với chủ đề hợp tác xã: Ngụy. Cả một thành phố, hay nói rộng hơn là cả miền Nam, chỗ nào người ta cũng thấy Ngụy và CIA. Sự nghi ngờ của chính quyền mới bao trùm lên cả xã hội tạo ra những nỗi bất an.  Người ta sợ một ánh mắt lạ, e dè trước một tiếng gõ cửa.  Sau những tháng ngày đầu chờ đợi trong phập phồng, người ta rõ dần với “cách mạng”. Và rồi, người ta bàn tính chuyện lao ra biển đông bất chấp mọi hiểm nguy đang chờ chực. Bởi nếu không ra đi, họ “phải cúi xuống gánh tiếp những tai ương còn đầy rẫy trong một thời đại của “Chủ Nghĩa”.” (BvR, trang 76).  Cuộc sống mới sau 1975, đầy nghi ngờ và gãy đổ niềm tin giữa người với người như thế, không phải là chỗ dung thân cho những văn nghệ sĩ đúng nghĩa. Càng không phải là chốn nương tựa cho những người đi bên lề cuộc đời như Thăng. Khi vào đường cùng, bản năng sinh tồn phải tìm lối thoát.  Khi vào ngõ cụt, con người phải cố xoay sở để tìm đường sống. Vì thế, cái khác biệt trong ý thức chính trị của Thăng ở giai đoạn trước và sau 1975 là một hiển nhiên. Nhưng trước và sau: Thăng vẫn là Thăng, một kẻ bước đi trên những đám mây.
Có thể nói Nguyễn Xuân Hoàng đã giữ được điều tâm huyết của mình: không để chính trị lấn áp văn chương, trong một tác phẩm văn chương, điển hình là nhân vật chính, Trần Lâm Thăng.
***
Cuộc sống mới sau 1975 thực ra là một cuộc sụp đổ khá đớn đau của dân tộc Việt. Sụp đổ về kinh tế, đã đành. Sụp đổ về niềm tin mới đáng sợ. Không ai còn tin được ai, ngay cả những người thân quen, ngay cả những người tưởng là bạn bè xưa cũ. Khi mất niềm tin, con người như mất tất cả. Xã hội như cạn kiệt nhân tình. Con người như mất dần nhân tính. Quan hệ giữa những người tự xưng là bạn dân và người dân chẳng khác nào quan hệ của quan lại và dân đen trong thời đại phong kiến. Quan hệ giữa người và người trong xã hội không còn là mối quan hệ bình thường. Mà dường như đằng sau đó thường là những mối trục lợi, nếu không thì  cũng e dè, khiên cưỡng. Tuy phần lớn là thế, nhưng cuộc đời luôn có những ngoại lệ. Bụi và Rác cho thấy những ngoại lệ đó. Và dù là bình thường hay ngoại lệ, Nguyễn Xuân Hoàng đã gần như đi đến đích trong những điều ông muốn diễn tả. Nói rõ hơn, cuộc sống sau tháng tư 1975 dưới ngòi bút của Nguyễn Xuân Hoàng rất rõ nét. Ông đã đi vào thế giới nội tâm của nhân vật thật xuất sắc, từ những người cũ như Tâm, Nguyễn Giang, Phước v.v. đến những “con người mới của thời đại mới” như Mười Tân, Nhị Hà, Lê Hiên, chẳng hạn.
***
Nguyễn Xuân Hoàng viết đều tay và cẩn trọng với chữ nghĩa của mình, ngay cả ở những dấu chấm, dấu phẩy. Đặc biệt ông có lối diễn tả rất bắt mắt: đầy hình tượng và giàu âm sắc. Nói một cách khác: văn chương của Nguyễn Xuân Hoàng đẹp.  Không những đẹp mà còn đầy chất sống. Ở nhiều chỗ, ông có những hình ảnh so sánh lạ, tạo nên những liên tưởng mạnh, hiếm thấy các nhà văn khác sử dụng. Tất cả những điều này giúp cho những trang sách của ông chống lại sự bào mòn của năm tháng.
Có một nét khá đặc thù trong chữ nghĩa của Nguyễn Xuân Hoàng, tưởng cũng nên nhắc ở đây.  Ông thường dùng chữ “rất” đứng đằng trước một danh từ để diễn tả những điểm riêng tư, hay cá tính của một nhân vật mà ông muốn nói, như: rất đàn bà (NĐTM, trang 22, 74, 77), rất con gái, rất phụ nữ (NĐTM, trang 76), rất Sài Gòn (BvR, trang 209), rất Hà Nội (BvR, trang 213) v.v...
Không phải chỉ ở bộ Người Đi Trên Mây, mà trên những trang sách khác, ở những tác phẩm khác của ông, người đọc cũng thấy cách diễn đạt này.  Chẳng hạn như:
“Ba má Đông đã già.  Đó là một gia đình người Nam rất Nam kỳ quốc.” (Căn Nhà Ngói Đỏ, trang 121)
Và không chỉ trên những trang sách của mình, mà khi viết về những người khác, Nguyễn Xuân Hoàng cũng dùng một lối diễn tả như vậy.  Như trong bài bạt cho một tập truyện của Đỗ Kh. chẳng hạn, ông viết:
“Bằng một làn điệu riêng, ông hát những ca khúc của chính ông sáng tác, rất Đỗ Kh., và thuần túy Đỗ Kh.” (Không Khí Thời Chưa Chiến, trang 162).
Ở khía cạnh sử dụng “rất+danh từ” này, nhiều trường hợp Nguyễn Xuân Hoàng cô đọng được điều mình muốn nói.  Tuy nhiên, cũng có nhiều chỗ, cụm chữø “rất+danh từ”, không chở nổi điều ông muốn diễn đạt. Nó chỉ như một hình thức khái-quát-hóa, chung-chung-hóa. Nó chưa bẫy lên được cái riêng tư của nhân vật, chưa tách được họ ra khỏi đám đông.
Đẩy một danh từ ra khỏi vị trí thường hằng của nó để làm thành một tính từ, không những một, mà là nhiều lần, gần như làm thành một đường dây nối liền tác phẩm này qua tác phẩm kia trong thế giới chữ nghĩa của Nguyễn Xuân Hoàng, cho thấy một khía cạnh về cá tính của nhà văn: khi ưng ý một cách diễn đạt nào, nhà văn thường lập lại cách diễn đạt đó. Nhưng cũng có thể đây là một thói quen của người viết: lười. Cái lười đi tìm một chữ nghĩa riêng, một hình ảnh riêng để diễn tả cho từng trường hợp. Trong cái lười này, trước tiên, ông là một người thiệt thòi. Nhưng người thiệt thòi nhiều hơn, chính là độc giả, những người đọc đã “lỡ” yêu văn chương của ông, yêu nhiều hình tượng bén nhọn mà ông từng dựng nên, muốn tìm thấy thêm những lối so sánh mới lạ, độc đáo như ông đã từng, trên những trang sách khác.
***
Qua Người Đi Trên Mây, chúng ta dễ dàng nhận thấy ngay một điều: văn chương để đấu tranh giai cấp, không có Nguyễn Xuân Hoàng. Văn chương để tải đạo, hiểu theo nghĩa “chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm”, không có Nguyễn Xuân Hoàng.  Văn chương để ca tụng lãnh tụ và dựng nên những anh hùng, không có Nguyễn Xuân Hoàng. Vì thế bản sắc của Người Đi Trên Mây càng trở nên đặc biệt.  Nó như một thứ tuyên ngôn, mà người đọc thấy được, của Nguyễn Xuân Hoàng: văn chương của Người Đi Trên Mây là văn chương vì văn chương. Và ở đó, nhân vật chính, Trần Lâm Thăng, đã bứt ra khỏi cái chờ đợi trong lối thưởng ngoạn quen thuộc. Kết quả cuối cùng: hình ảnh và cá tính của Thăng rất dễ làm người đọc dị ứng.
Trong khu vườn tiểu thuyết Việt Nam, có muôn vàn nhân vật được dựng nên.  Trong số đó, có rất ít ở lại với người đọc. Đó là những nhân vật, dù yêu hay ghét, mà mỗi khi được nhắc đến, người ta nghĩ ngay đếân nhà văn, và ngược lại. Ở bộ Người Đi Trên Mây, dù quyển III chưa được xuất bản như dự định, Trần Lâm Thăng của Nguyễn Xuân Hoàng cũng nằm trong con số không nhiều này.
 
Lời Nguyền
Trên Đỉnh Đèo Rù Rì
 
     Tôi khom người xuống. Chiếc xe đạp đổ đèo mỗi lúc một nhanh. Đường vắng. Đến gần khúc quẹo đầu tiên, tôi đạp nhẹ chân thắng phía sau, vừa đủ để bẻ một vòng cua thật hách. Xe tiếp tục đổ nhanh, đợi gần đến miếu, tay bóp thắng trước, chân đạp thắng sau, nghe phựt, rồi phựt, bóp mạnh thắng tay, gót chân phải đè xuống thắng chân phía sau. Tất cả đều nhẹ hều, chiếc xe như một mũi tên bắn, cứ lao nhanh về phía trước, tôi gập người xuống đến mức tối đa, lạng xe qua khúc quành, chiếc xe vượt khỏi tầm kiểm soát của tôi, lao thẳng giữa hai bệ chắn, mũi tên đã đạt tốc độ tối đa, vút về phía trước. Bên dưới là thung lũng đen ngòm. Tôi bay, bay, bay ... từ trên cao độ gần 50 mét, so với mặt đường bên dưới chân đèo. Tôi nhắm mắt, hét lớn. Vùng dậy...  Cả người vã mồ hôi.
 
Giấc mơ trở đi trở lại nhiều lần, làm cho tôi, dù cố gắng quên đi lời nguyền, nhưng không thể nào thoát khỏi.  Vâng, đó là một lời nguyền hết sức cay độc, từ xa xưa lắm, đã được ông Cố tôi đích thân chôn xuống trên đỉnh đèo Rù Rì.
 
     Ba Má tôi quyết định đưa gia đình về sống tại một vùng thôn quê hẻo lánh này từ đầu năm 1970. Từ đỉnh đèo Rù Rì, nhìn về hướng đông bắc, một eo biển nhỏ hiện giữa những đồi núi chập chùng. Eo biển đó là eo biển Lương Sơn, trên đường ra Ninh Hòa. Làng quê đó, chính là làng Lương Sơn như mọi người thường gọi. Đây là một làng nhỏ, cách chân đèo Rù Rì khoảng 3 km và trung tâm thành phố Nha Trang chừng 12 km. Lưng dựa vào núi, mặt nhìn về hướng biển, nên dân trong làng sống chủ yếu vào nương rẫy trên núi và tôm cá ngoài biển khơi.
 
      Từ lúc hiểu được, tôi đã nghe, đã biết về những tai nạn thảm khốc trên đèo Rù Rì. Lên 6, 7 tuổi, tôi đã nghe những lời than khóc buồn bã từ thân nhân của những người mất, bị tai nạn trên vùng đèo này. Lớn lên tí xíu, tôi đã chính mắt nhìn thấy những thân thể đầy máu, sau những tai nạn nơi đây. Khi tôi bắt đầu vào Trung học, mỗi ngày dắt xe đạp lên đèo, xổ đèo, những hình ảnh đó luôn ám ảnh tôi.  Tôi lo một, nhưng ba má tôi lo đến mười.
 
      Mỗi năm, ít nhất một vụ tai nạn khủng khiếp xảy ra. Ngôi miếu nhỏ nằm giữa lưng chừng đèo, ở mặt Nam, luôn là nỗi ám ảnh mỗi khi một mình dắt xe đạp đi qua. Tôi sợ, nên thường đi chung với các bạn. Hoặc khi đạp xe đến tận chân đèo, nhưng chưa thấy ai, thế là ngồi chờ. Chờ có người nào đó cùng dắt xe lên đèo. Năm 1983, số tai nạn quá nhiều, mà hai tai nạn thảm khốc, một vào giữa năm, xảy ra ngay miếu thờ, và một vào cuối năm, những ngày cận tết, bên kia dốc đèo, tại hướng ngã ba: một đường lên Thành, và đường hướng kia về Nha Trang. Tai nạn này, đã cướp đi mất một người bạn mà tôi quen biết, học trên tôi một lớp. Có lẽ, nhiều tai nạn quá khủng khiếp xảy ra liên tiếp, và chúng tôi cũng đã khôn lớn, Ba tôi, quyết định kể một chuyện hệ trọng mà ông giấu từ lâu. Câu chuyện đó liên quan đến ông Cố tôi và lời nguyền cay độc ngày xưa ấy.
 
      Ba tôi kể rằng, vào những năm đầu 1900's, người Pháp mở đường xá từ miền Nam ra tận miền Trung. Mở ra rộng hơn, tạo cho môt vóc dáng mới cho quốc lộ 1. Ông Cố tôi, là một người nhà quê, giỏi chữ nho từ nhỏ, nhưng thi nhiều lần không đỗ nên ông chỉ làm một ông giáo làng. Nhưng điều ngạc nhiên là không biết ông học từ đâu, mà có thể đọc và hiểu được ít nhiều tiếng Pháp. Và khi người Pháp vừa ép buộc, vừa tuyển mộ khắp nơi để mở đường, vì kinh tế gia đình, ông cố tôi quyết định gác nghề dạy học, và tham gia đoàn người đi mở đường này. Thông thạo chữ nho, và hiểu ít nhiều tiếng Pháp, ông được giao cho việc phụ sổ sách. Dần dần, tạo được tín nhiệm với viên sĩ quan Pháp đứng đầu công trình này, ông được giao phó nhiều công việc quan trọng hơn. Cuối cùng, ông được trọng dụng như là một người giúp việc gần gũi và tín cẩn.
 
     Từ thành Diên Khánh, đường được mở rộng xuống Nha Trang. Rồi từ Nha Trang ra Ninh Hòa. Nỗi vất vả của những người mở đường này là đoạn đèo Rù Rì. Đường dốc quanh co. Không ít người đã bỏ mình ở đó.  Một hôm, trong lúc đang đào đất, những người phu đã phát hiện một hầm lớn bên chân đèo phía Bắc. Khi ông Cố tôi đến, người ta phát hiện trong hầm này có nhiều lọ cổ. Trong đó có 1 cái lọ lớn và 13 cái lọ nhỏ hơn. Tất cả đều làm bằng sành. Cái lọ lớn, cao hơn nửa mét, màu xanh lá cây đậm, dạng như cái trống, chính giữa phình, hai đầu hơi nhỏ lại. Trên mặt lọ, có cái nắp đậy kín, không một khe hở. Với kích cỡ và hình dáng này, khi tôi còn nhỏ, nghe mọi người gọi là cái "thạp" hay "khạp".  Xung quanh thân lọ, nửa dưới là những hoa văn, phần trên là những hình thù nửa thú, nửa người, trông rất kỳ quái. Mười ba cái lọ còn lại, cùng một kích cở, cao khoảng ba tấc. Dưới chân thật nhỏ, rồi phình ra lớn hơn khi lên cao. Chỗ phình cao nhất khoảng hai phần ba từ chân lọ. Phần trên cùng hơi túm lại, nhưng vẫn lớn hơn phần đáy. Lọ không có hình thù quái gở, những ngược lại là một màu đỏ sẫm, trên khắc những hoa văn tỉ mỉ. Tất cả đều có nắp đậy và dán kín. Không ai biết bên trong lọ có gì. Ông Cố tôi cho trình lên viên sĩ quan người Pháp. Lúc đó, viên sĩ quan này đang trên đường từ Phan Thiết ra. Ba ngày sau, y mới được dịp chiêm ngưỡng những chiếc lọ cổ quái này.
 
     Tối hôm đó, vị sĩ quan cho người mở ra. Có hai người VN được chứng kiến, người thông dịch và ông Cố tôi. Bắt đầu từ cái lọ nhỏ. Thoạt đầu, không làm sao mở được cái nắp lọ. Một chất keo đặt biệt đã dán kín, không một khe hở. Vị quan người Pháp được cố vấn là nên nung nó lên, rồi mới mở, nhưng cũng không thành công. Sau đó, vì nóng lòng, chiếc lọ bị đập bể trên miệng. Bên trong chẳng có gì, ngoại trừ một ít tro xam xám. Cái thứ hai cũng thế. Cái thứ ba cũng thế. Viên sĩ quan Pháp ra hiệu ngừng. Đến lượt chiếc lọ lớn, hai tay cầm hai đầu, y giơ lên rồi rung nhè nhẹ. Bên trong dường như có tiếng gì khua động, nhẹ nhàng. Tuy nhiên, cũng không cách nào mở được nắp lọ. Vị quan Pháp cho dừng tay và sai thủ hạ tìm cách khoang miệng lọ. Khi miệng lọ được mở ra, hai miếng da dày, màu xám đen, chồng lên nhau, cuốn tròn lại. Ngoài ra không còn một thứ gì khác. Mọi người đều ngạc nhiên, nhất là viên sĩ quan Pháp. Ông cầm lên ngắm nghía rồi trải hai miếng da thú lên bàn. Mỗi miếng da có chiều dài khoảng gần 1 thước, chiều ngang khoảng 3 tấc. Khó đoán biết được là da dê hay da trâu. Miếng da thứ nhất có nhiều hàng chữ nhỏ dọc ngang. Miếng thứ hai, vẽ những hình thù quái gở. Những hình người nam cụt đầu, những hình người nữ không lành lặn. Đằng sau miếng da thứ hai như có dấu triện, màu đỏ, và bốn con số viết rời nhau. Tất cả nhìn nhau, im lặng. Viên quan Pháp hỏi ông Cố tôi về ý nghĩa của hai tấm da này, vì biết ông Cố tôi thạo chữ nho. Ông Cố tôi lắc đầu. Đó không phải là tuồng chữ nho. Tuy nhiên, trong ông, bừng lên một ý nghĩ. Đó là chữ của người Chăm Pa. Và ông trình bày ý nghĩ của mình. Muốn hiểu, phải tìm cho bằng được những người còn đọc được lối chữ cổ này. Và sau đêm đó, ông Cố tôi xuôi Nam, mang một sứ mệnh quan trọng trong đời.
 
       Những hình nhân kỳ dị không thể là những điềm lành. Biết, nhưng vẫn phải đi. Tôi và bốn người tùy tùng lên ngựa ngay sáng hôm sau, ngược về hướng Phan Rang. Một người mang chiếc bao dày trên lưng, bên trong chứa hai miếng da kỳ dị. Ba người còn lại mang lương thực. Tôi như một người trưởng nhóm. Đi, nhưng trong lòng không chút hy vọng. Ngay ở ngày thứ hai, một chuyện lạ đã xảy ra. Người mang hai tấm da đột nhiên ngã quỵ sau khi nghĩ trưa. Anh ôm bụng, mặt mày tái ngắt. Một hồi sau, anh ngưng thở. Sự việc xảy ra quá nhanh, mà không ai trong đoàn biết lý do tại sao và phải làm gì. Chúng tôi chôn anh ta lại, và chiếc bao được giao lại cho một người khác trước khi tiếp tục lên đường. Chúng tôi đến Phan Rang vào một buổi chiều mưa buồn bã. Mưa rã rích suốt đêm. Sáng hôm sau, vào chợ, gặng hỏi nhiều người. Hầu như ai cũng lắc đầu, không hiểu. Có người chỉ cho chúng tôi đi về những khu xa vắng khác, dò tìm. Chúng tôi đi xa hơn về phía Nam. Lòng vẫn còn mang một chút hy vọng. Qua nhiều ngày tìm kiếm, hỏi thăm, vô vọng, lại một việc kỳ lạ khác xảy ra. Người mang hai miếng da đó, bị tiêu chảy. Chúng tôi kiếm những người thầy thuốc trong khu vực gần đó, vẫn không chữa nỗi. Anh ta ra đi mà đôi mắt còn trợn lên một màu trắng dã. Hai người còn lại, không ai dám mang hai miếng da này. Ba chúng tôi đều nghĩ, những chuyện xui xẻo, chắc phải đến từ hai miếng da này. Tối hôm đó, cả ba nhìn chiếc bao đựng hai miếng da mà ngán ngẩm. Ai cũng mang trong lòng những ý nghĩ riêng tư nhưng không nói ra. Tôi quyết định mang hai miếng da này, dù gì mình cũng là trưởng đoàn. Tôi khấn vái thiên địa, thánh thần cùng linh hồn những người đã khuất rằng: chúng tôi chỉ phụng mệnh đi tìm ý nghĩa những gì ghi lại trên hai miêng da này mà thôi. Chúng tôi không có một ý nghĩ gì xấu cả. Xin thiên, địa, thánh thần phù hộ cho chúng tôi được bình an, tai qua nạn khỏi, mà trở về với gia đình. Chúng tôi sẽ cúng tạ trời đất khi an toàn trở về. Vẫn tiếp tục dò hỏi. Vẫn vô vọng. Lương thực cạn dần. Hy vọng đã lùi xa. Chắc phải quay về. Về? làm sao ăn nói với viên sĩ quan?
 
      Sáng hôm cuối cùng, trước khi trở về, chúng tôi chậm chạp trở ra con đường lớn. Bất ngờ, gặp một bà lão, người khô khốc như một thanh củi đang ngược hướng chúng tôi. Điều ngạc nhiên là khi bà cụ chận chúng tôi lại và hỏi rằng: có phải chúng tôi từ xa đến và đang đi tìm một cái gì đó phải không? Tôi thuật lại cho bà cụ nghe đầu đuôi câu chuyện. Bà nhìn cả ba, rồi nhìn tôi kỷ hơn. Sau đó bảo ba chúng tôi đi theo bà. Bà dẫn chúng tôi qua một đoạn đường khá xa, dẫn tới một quả đồi nhỏ. Trên đồi là một nóc nhà cũ kỹ và có phần xiêu vẹo. Chúng tôi được bảo ngồi chờ phía trước sân. Bà lão đi ra sau, thì thầm chuyện gì đó với ai, khá lâu. Một lúc sau, một người đàn ông già, nhỏ thó, chòm râu bạc trắng, dài ngang tận bụng đi lên. Ông cụ gọi chúng tôi ra sau, mời chúng tôi ngồi xuống những hòn đá được kê làm ghế, dưới một tàn cây. Tôi tháo chiếc bao, lấy hai miếng da ra. Ông cụ nhìn ngang, thất sắc. Một hồi sau, định thần, ông cụ bắt đầu kể...
 
      Tôi cũng không biết chi tiết những dòng chữ nhảy múa này. Ông chỉ vào tấm da thứ nhất. Rồi tiếp. Nhưng ý nghĩa của nó và những hình thù trong tấm da kia, thì tôi hiểu. Bộ tộc chúng tôi khi nhìn vào hình ảnh vẽ trên miếng da đó, hiểu được người vẽ muốn nói gì. Còn tấm da có viết chữ... Ông lão như nghẹn lời. Đôi mắt buồn hiu, như muốn khóc. Trời đứng gió. Ai nấy nhễ nhại mồ hôi. Nhìn xa xa, những đồi cát như bốc lên từng đợt, từng đợt lửa, muốn thiêu đốt cả một vùng rộng lớn. Ông già đưa tay quệt mồ hôi rồi kể tiếp...
 
      Tôi là một đứa trẻ mồ côi. Tôi sống với Thầy tôi, khi còn nhỏ lắm. Thầy tôi không dạy tôi những chữ cổ này. Ông dạy tôi, thứ chữ mới mà người ta đang dùng bây giờ. Tôi học được nhiều điều ở thầy, từ việc thờ phượng, cúng bái, đến việc ăn ở; từ chuyện lịch sử hưng thịnh đến sự suy vong của Chăm Pa nói chung và của bộ tộc tôi nói riêng. Khi tôi khôn lớn, thầy bảo: nếu một mai ông mất, hãy đem tất cả gia sản trong cái hòm gỗ mà đốt đi với ông. Tôi cúi đầu vâng dạ. Tôi cũng không hỏi Thầy là trong đó có chứa đựng những gì.
 
     Chúng tôi ngồi im lặng, nhưng cảm nhận được dường như ông già đang nấc lên theo từng hơi thở.
Sau đó vài hôm, Thầy tôi bảo: trong cái hòm gỗ đó, không có tài sản gì quí giá về tiền bạc, nhưng nó chứa đựng mồ hôi, nước mắt và máu của dòng họ ông. Đó là những bộ da thú, ghi chép về gia phả của Thầy. Một gia phả đẫm máu. Những người đi trước muốn ông phải trả thù. Nhưng vì biết mình là hậu duệ cuối cùng và không làm được, nên ông muốn đốt đi những tấm da thú ghi lại những máu và nước mắt ấy.
 
     Thầy tôi dạy rằng: hơn hai trăm năm mươi năm trước, giặc phương Bắc đã đánh vào tận nơi này. Vua của chúng tôi vì thế yếu, đầu hàng và đồng ý dâng đất để cầu hòa. Trước khi rút lui, nhiều phần thành quách bị đập phá. Những vị tướng lãnh và thuộc hạ của họ, dù đã qui hàng vẫn bị đưa lên ngọn đầu đài. Chỉ riêng gia tộc ông có tất cả 14 người bị chém cùng một kiểu, một dao lìa đầu. Người phương Bắc nói rằng: chém để làm gương! Ngày mà họ bị đưa lên ngọn đầu đài là một ngày đen tối trong lịch sử Chăm Pa. Sau đó, rất nhiều thanh niên bị bắt làm nô lệ. Nhiều phụ nữ bị hành hạ, bị bắt đi làm những kẻ hầu. Sử sách người Chăm Pa có ghi chép, số người bị chết trong trận chiến, bị chém sau khi qui hàng, bị bắt đi làm nô lệ, không dưới nửa vạn. Tiếng khóc than oán hờn dậy đất.
 
     Nước mắt ông lão trào ra theo từng lời kể, cùng với mồ hôi, chảy xuống thành từng dòng. Ba chúng tôi cũng không cầm được nước mắt.
 
     Trước khi sứ thần chính thức mang lệnh Vua dâng đất cho giặc phương Bắc, vị Vua của chúng tôi đã cho người chuẩn bị rất kỷ càng. Vua sai người viết một lời nguyền trên một tấm da thú. Tấm thứ hai vẽ lại những cảnh chém đầu mà giặc phương Bắc gây nên cùng những cảnh phụ nữ bị làm nhục, làm nô lệ. Đây chính là hai miếng da lịch sử mà thầy tôi kể lại vào những ngày cuối đời. Người viết lời nguyền này là một vị pháp sư nổi tiếng cả nước lúc bấy giờ.
 
     Thầy đã dạy rằng: tấm da thú ghi lại lời nguyền được chôn ở một nơi hẻo lánh. Để xuôi về phương Nam, người ta phải bước qua nó. Vị Vua của chúng tôi hiểu rằng mình đang trong thế yếu. Trước sau, đất đai này, bá tánh này cũng sẽ rơi vào tay giặc. Vì thế, lời nguyền có chủ ý mong người phương Bắc đối đãi tử tế với bá tánh chúng tôi.  Tôi không nhớ chính xác từng chữ. Đại ý, lời nguyền nói rằng: mai này, khi bất cứ ai vượt qua lời nguyền để xuôi về Nam, người đó phải có một tấm lòng rộng mở, phải sống tử tế với người khác. Là dân thường, sau khi bước qua lời nguyền này, mà lòng của họ còn mang những dã tâm, thì chính bản thân hay người thân sẽ bị bao nhiêu điều xấu xảy ra, có khi phải bỏ xác nơi đèo heo gió hút này. Là quan, sau khi bước qua lời nguyền, xuôi về Nam, thì phải có một tấm lòng bao dung, mới mong giữ được hòa thuận trong bá tánh, mới giảm được máu và nước mắt của dân tình. Nếu làm trái lại, dòng họ hay bá tánh dưới sự cai quản của người này phải gánh chịu những hậu quả trùng trùng. Là Vương, sau khi bước qua lời nguyền này để xuôi Nam, lòng Vương phải như trời biển, thương dân như thương con, đối với kẻ cựu thù như đối với trăm họ của chính mình, cứu vớt những người cùng khổ bất chấp họ là ai; phải mang lại cơm no áo ấm cho người người, thì mới mong xã tắc vững bền, giang san mới hưng thịnh. Ngược lại, là Vương mà lòng dạ hiểm độc, coi bá tánh như ngọn cỏ, xem kẻ cựu thù như loài thú, trong lòng chỉ nghĩ đến hận thù, thì muôn đời, lời nguyền vẫn còn đó. Máu của bá tánh không bao giờ ngưng chảy. Máu sẽ chảy dài từ nơi này đến bất cứ nơi nào mà có dấu chân của người hiểm độc đứng đầu xã tắc đã bước qua. Và chính gia đình hay hậu duệ của Vương, phải gánh lấy những điều tệ hại nhất... Trong bá tánh, ai có lỡ tay, đào thấy lời nguyền, phải chôn ngay lại tức khắc, nếu không, hậu quả sẽ không lường...
 
      Sau đó, nhà vua cho làm một buổi lễ tế thần linh. Trong buổi lễ đó, hai tấm da được đặt vào trong cái lọ lớn. Vị Pháp sư cho rằng: phải có người theo giữ lời nguyền này, thì lời nguyền mới mãi được linh thiêng.  Nhà vua nghe theo và lựa chọn 13 dũng sĩ dám hy sinh vì bá tánh. Nhà Vua bảo đảm bổng lộc cho gia đình họ đến suốt đời.
 
      Hôm đó, trời nóng như thiêu đốt. Đến gần giữa ngọ, khi vị pháp sư tụng niệm những điều bí ẩn vừa chấm dứt, những hồi trống rền rã gióng lên, 13 dũng sĩ chuẩn bị bước lên giàn thiêu, thì gió ở đâu bỗng nổi lên ào ạt. Cờ, phướn bay phần phật như muôn ngàn âm binh đang lũ lượt kéo về. Những hồi trống chấm dứt, gió mới ngưng. Vạn vật như im lặng. Mười ba dũng sĩ, từng người, từng người bước lên giàn thiêu. Đó đây, tiếng thút thít của các người thân, cùng những người tham dự, nhỏ nước mắt cho những người hy sinh vì đại nghĩa. Khi họ bước lên giàn thiêu, cả 13 người cùng đứng trong thế tấn, nhìn xuống cả quảng trường rộng với một sự bình thản lạ lùng. Một viên quan đọc những lời châu ngọc của Vua, ca tụng lòng hy sinh của họ cho bá tánh. Rồi lửa bốc lên, bốc lên. Tiếng khóc đó đây trong đám đông càng lúc càng lớn. Lửa hận thù. Lửa hy sinh, Lửa cứu độ... Xác thân còn lại của họ được bỏ trong 13 cái lọ nhỏ. Lời nguyền cùng tro bụi của 13 người dũng sĩ, sau đó, được chôn tại phía bắc của một ngọn đèo. Sau đó, Vua mới sai người mang lệnh Vua đi về phương Bắc, lòng đau đớn cắt đất tiền nhân dâng cho cường địch, để nhận lấy sự an bình trong giai đoạn nhất thời...
Ông già người Chăm, nước mắt rưng rưng sau khi kể xong: Những tranh giành lịch sử, dù thành công hay thất bại, luôn luôn nhuốm máu của bá tánh.
 
       Trong lúc ông Cố tôi mãi mê đi tìm ý nghĩa của hai mảnh da đó, thì viên sĩ quan người Pháp, nhận được điện tín từ Pháp quốc, cho biết vợ ông bịnh nặng. Công việc chăm coi mở đường, giao lại cho người sĩ quan mới. Khi ông Cố tôi về, trình bày tường tận chuyến đi, cùng những lời giải thích của ông già người Chăm, viên sĩ quan mới lắc đầu. Trong đầu y nối kết những tai họa vừa xảy ra, và nhanh nhẩu bảo rằng y không muốn nhìn nó nữa. Hãy chôn lại, theo như lời ông già người Chăm đã nói. Ngay sáng hôm sau, ông Cố tôi cho người chôn lời nguyền cùng 13 cái lọ nhỏ trở xuống, tại một nơi nào đó trên đỉnh đèo Rù Rì. Sau đó, ông xin được nghỉ việc, trở về nhà, cúng tạ trời đất, thần linh như đã hứa và tiếp tục công việc của ông, công việc của một thầy giáo làng cho đến cuối đời.
 
      Sau khi biết được lời nguyền đó, tôi đi tìm những dấu tích lịch sử theo lời ông già người Chăm đã kể. Tôi tìm được một chút đầu mối liên quan. Sử sách cho biết, năm Mậu Tý (1648), khi Chúa Nguyễn Phúc Lan đột ngột qua đời, Nguyễn Phúc Tần lên ngôi ở tuổi 29, thường được gọi là Hiền vương. Năm 1653, Hiền Vương, sai quan cai cơ Hùng Lộc đem quân vượt đèo vượt núi Thạch Bi (đèo Cả), đánh Chăm Pa. Lực lượng mạnh, cộng thêm yếu tố bất ngờ, Hùng Lộc đã đánh đến tận Phan Rang. Vua Chiêm đại bại dâng thư xin hàng và cắt châu Kaut Hara của Chiêm Thành từ sông Phan Rang ra đến Đèo Cả dâng cho. Chúa Nguyễn đặt dinh Thái Khang với 2 phủ, 5 huyện. Hai phủ là Thái Khang (Ninh Hòa) và Diên Ninh (Diên Khánh). Năm huyện là Phước Điền, Hòa Châu, Vĩnh Xương thuộc phủ Diên Ninh; Tân Định, Quảng Phước thuộc phủ Thái Khang. Hùng Lộc được cử làm Thái Thú cai trị 2 phủ, dinh đóng tại Thái Khang tức Ninh Hòa bây giờ. Đây cũng là thời điểm Chăm Pa nộp cống xưng thần với các chúa Nguyễn. Tuy vậy, sự trả thù vẫn luôn luôn là một nỗi niềm thao thức của các vì vua Chăm Pa. Gần 40 năm sau, năm 1692, Chúa Chăm, tên Bà Tranh, đã tấn công vào phủ Diên Ninh và dinh Thái Khang, nhằm chiếm lại núi sông đã cắt dâng từ thuở trước. Cuộc tấn công này đã thất bại. Quân Chăm bị tướng Nguyễn Hữu Cảnh đánh tan tác vào năm 1693. Chúa Nguyễn đổi tên Chăm Pa thành Thuận Thành Trấn, sau đó đổi Thuận Thành Trấn thành Bình Thuận Phủ.
 
       Sau này, tôi hỏi Ba: Vậy chứ lời nguyền ấy, được ông Cố chôn tại địa điểm nào trên đèo Rù Rì? Ba bảo rằng, gia phả không ghi lại đích xác. Chỉ biết, trước khi ông Cố mất, có bảo chôn trên đỉnh đèo, ngọn núi cao nhất, ở phía tây, dưới chân cây cổ thụ già, cách đỉnh khoảng 15-20 thước.
 
      Thời gian đã bào mòn tất cả. Bây giờ, trên ngọn đèo Rù Rì không còn một cây cổ thụ nào cả. Tuy vậy, tôi không suy nghĩ nhiều về địa điểm chôn giấu lời nguyền, mà lại bị ám ảnh về một đoạn trong lời nguyền: "Là dân... Là Quan... Là Vương...". Suy nghĩ lại, tôi thấy lời nguyền không cay độc như lần đầu mình được nghe. Nó chỉ cay độc, khi bất cứ ai sau khi vượt qua nó, xuôi về Nam, mà không sống tử tế với đời, với người. Bao nhiêu năm rồi, lời của ông già Chăm, nói với ông Cố tôi, được ghi lại trong gia phả, luôn luôn đeo đuổi tôi:  Những tranh giành lịch sử, dù thành công hay thất bại, luôn luôn nhuốm máu của bá tánh.
 
      Hy vọng, sau khi viết ra những dòng chữ này, tôi sẽ thoát khỏi giấc mơ hãi hùng đó và máu sẽ thôi chảy trên ngọn đèo Rù Rì này.
 
Chữ Nghĩa Bật Ra
Từ Những Vết Sẹo Đời
 
Vài dòng về Lâm Chương: Ông sinh năm 1942 tại Gò Dầu Hạ Tây Ninh. Cựu sĩ quan quân lực VNCH. Ở tù từ 1975-1985. Vuợt biển năm 1987, định cư tại Boston, Massachusetts Hoa Kỳ. Tác phẩm đã xuất bản: Loài Cây Nhớ Gió (thơ, Việt Nam); Ðoạn Ðường Hốt Tất Liệt (tập truyện, Hoa Kỳ); Lò Cừ (Tập truyện, Hoa Kỳ); Gió về phố biển (Truyện vừa, Hoa Kỳ) và Đi giữa bầy thú dữ (Truyện vừa, Hoa Kỳ)
 
Trên bàn viết lữ thứ của mình, Lâm Chương bắt đầu lại những trang viết khi bóng chiều đã ngã trên vai. Nói bắt đầu lại, bởi vì trước kia, ở trong nước, ông làm thơ. Một chặng đường bầm dập đã qua, một khoảng thời gian nát vỡ tình người đã trải, khởi điểm từ con số không, nhưng lòng lại giục giã, lên đường. Một lên đường rất cô đơn nhưng đầy khẳng khái, tạo nên những tiếng vang tốt.
 
Trong cõi viết mới của mình, Lâm chương đã khởi đi bằng truyện ngắn. Rồi từ truyện ngắn, ông viết truyện vừa, mà tiêu biểu là “Gió về phố biển” và “Ði giữa bầy thú dữ”. Rồi, càng về sau này, ông càng “ưa” thể loại “đoản văn”. Ðẩy ngòi bút vào cả ba thể loại nhưng lại cùng phảng phất một điều: gom góp những vụn vỡ của đời sống, thu nhặt những mất mát trong cõi nhân sinh, và soi rọi nó bằng một tấm lòng của một người tha thiết với quê hương, quặn đau theo những vết sẹo của cuộc đời.
 
Lâm Chương là người lính thực thụ, đối diện với sống chết từng phút từng giây. Ði lính, nhưng không hề nuôi thù hận. Ði lính, như một sự sắp đặt của tạo hóa, không tránh khỏi. Mũi tên đã khởi đi từ chiếc cung. Chỉ có phóng tới, chứ không thể thu về. Ðó là thế chẳng đặng đừng của những người trai trẻ trong thời loạn ly của đất nước. Giữa trận tiền, dù có muốn dừng lại sự bắn giết lẫn nhau cũng chẳng được. Ông viết: “Những thằng đi trận của cả hai phe đều ở vào cái thế của tên giác đấu. Mình không giết nó, nó giết mình. Ðâu cần chi phải hận thù?”. “Ðâu cần chi phải hận thù?” Nghe, thật đơn giản, nhưng tự đáy lòng, không phải ai vào cuộc cũng mang một nỗi niềm như thế.
 
Sau tháng 4 1975, quân nhân, công chức chính quyền miền Nam, được lệnh tập trung mười ngày. Mười ngày, rồi mười tháng, rồi mười năm, rồi nhiều năm tiếp theo nữa. Ðó là giai đoạn tang thương. Không phải chỉ có Lâm Chương, cũng không phải chỉ có những người lính cũ, mà là cả miền Nam bị nhốt vào nhà tù lớn. Người khác gọi là “cải tạo”, nhưng với ông tù là tù! Làm sao cải tạo được. Mà cải tạo cái gì? Viết về những ngày tháng như thế, Lâm Chương đã dùng chất liệu thật, để tạo nên những trang văn nói lên cái bi thảm của tù tội giữa núi rừng Việt Bắc rất lôi cuốn qua nhiều truyện ngắn. Cái bi thảm đó, có trải qua mới thấm cái cùng khổ của những người bại trận với: đói, rét, gông, cùm, bệnh, tật, và lao động khổ sai. Ðọc những trang viết của ông ông trong giai đoạn này, tôi lại nhớ đến Cung Trầm Tưởng, một người lính, một nhà thơ, một người tù, một kẻ lưu vong, từng có những vần thơ tù làm ray rứt người đọc:
 
“Áo tù thẫm máu đôi vai
Bàn chân nứa chém, vành tai gió lùa
Ngó tay bỗng thấy già nua
Cứa êm thân xác mấy mùa thu qua
Môi cằn, má hóp thịt da
Ngô vơi miệng chén, canh pha nước bùn
Ðêm nằm ruột rỗng vai run
Ðầu kề tiếng suối, chân đùn bóng đêm”
 
                                            (Nguyện Cầu Mùa Thu)
 
Vết sẹo của tù đày đã lành miệng theo thời gian, nên LC đã viết về giai đoạn này với một tâm thế hết sức bình thản mà mà không hề hằn học. Không phải ông không đau về cuộc chiến vừa qua; không phải ông không tiếc nuối về những tháng ngày tuổi trẻ bị giam cầm nơi rừng rú; không hẳn ông đã giác ngộ triết lý nhà Phật; và cũng chẳng phải ông có cái tâm lớn như Bồ Tát để quên đi những trận đòn dã man đã giáng xuống thân thể gầy còm của những người tù, nhưng, theo tôi, ông “hiểu”. Cái quan trọng nằm ở chỗ ấy. Như một con đinh ốc nằm trong một guồng máy, làm sao một con đinh ốc đã bị khóa chặc, lại có thể ngưng nỗi một guồng máy đang vận hành với một vận tốc chóng mặt. Xa hơn nữa, bao nhiêu năm đã trôi qua, bao nhiêu mùa trăng khuyết lại tròn, bao nhiêu nước từ nguồn ra biển, người Việt Nam bị đầu độc bởi hận thù đằng sau những chiếc bánh vẽ, thì hằn học, oán hờn nằm trên những trang chữ lẻ loi, có lay chuyển được điều gì? Dĩ nhiên, ông cũng không hề “quên”. Làm sao quên được những mồ hôi và máu đã thấm vào mạch đất? Làm sao quên được những những nấm mộ sơ sài của bạn bè sau cuộc chiến, nơi rừng thiêng, nước độc. Không, không hề. Ở ông, nhớ nhưng không bóc trần, biết nên không truy vấn, và, hiểu nên không biểu lộ thù hận trên những trang chữ của mình.
 
Không những thế, với ông, những kẻ “bên kia” vẫn có dăm người, với chút tình người còn xót lại. Ông không ngần ngại nói lên những điều ấy, dựng lại những hoàn cảnh đầy nhân tính, chẳng hạn như truyện “Cận kề biên giới tử sinh” hay truyện “Những ngày mắc cạn”. Nghĩ về một gã quản giáo đã nới tay trong những trận đòn, và cũng giúp đỡ ông trong những cơn thập tử nhất sinh, ông viết:
 
“Cũng vẫn con người ấy, nhưng bây giờ, tôi thấy dưới lớp băng đông giá, còn tiềm ẩn cái hơi ấm tình người. Nhìn qua bên kia hàng rào trại, cây rừng đang xanh tốt mùa mưa. Lòng tôi cũng bắt đầu xanh lại. Trong khi chờ người bạn tù nấu cháo, tôi nằm xuống chiếc sạp nứa. Có tiếng mọt kẽo kẹt nghiến gỗ trong vách. Trước kia, đêm trằn trọc trong trại cải tạo, nghe tiếng mọt, lòng tôi ray rứt như nghe đời mình đang bị gặm nhắm hao mòn dần theo những tháng ngày lưu đày. Bây giờ, cũng tiếng mọt, nhưng tôi lại nghe như tiếng đời sinh động.” (Những ngày mắc cạn)
 
Ông nhìn rõ “Khi biết mình đã hiểu lầm bữa cơm bồi dưỡng, thành bữa cơm ân huệ cuối cùng cho tử tội, bao nhiêu nỗi buồn rầu trong tôi vụt tan biến. Và cơ thể đang ê ẩm rã rời, bỗng khỏe lại như vừa được uống một liều thuốc hồi sinh. (…)…tôi nghiệm ra rằng, người Cộng Sản dù ác độc gian trá, nhưng họ cũng là con người, thì một lúc hiếm hoi nào đó, họ cũng biết nói thật và cũng động lòng trắc ẩn” (Cận kề biên giới tử sinh)
 
Thời gian ra khỏi tù cũng gian nan, nhọc nhằn không kém. Ðó là quãng thời gian đi giữa quê hương như một người xa lạ, “bị quê hương ruồng bỏ, giống nói khinh” (Thơ Vũ Hoàng Chương). Hiếm người dám chứa chấp những kẻ về từ tù ngục. Kiếm được một việc làm, mà làm gì cũng được, là trăm đắng, ngàn cay. Họ làm đủ mọi thứ để kiếm sống. Họ làm muôn nghề để nuôi thân. Họ sống trong cảnh “Anh về cụt mất hai tay / Còn nghe thiên hạ chê bai đủ điều” (Thơ Trần Nghi Hoàng). Cái cụt mất hai tay, không là cụt mất theo nghĩa đen, mà là cụt mất hai tay trong một thân thể lành lặn. Lành lặn, nhưng ăn bám cuộc đời. Lành lặn nhưng vô dụng. Ðó là bước đường cùng của những tấm thân gầy còm về từ tù ngục. Ðó là nỗi đau cụt mất hai tay trong một thân thể lành lặn. Mỗi truyện ngắn nằm trong mạch này, của LC, đều phảng phất những nỗi đau như thế, từ những nhân vật xưng “tôi”.
 
Lâm Chương viết về những người ra tù, bị giạt về các vùng quê khá rõ nét. Nhà quê vốn đã nghèo. Cái giàu ở họ, mà ai cũng nhìn thấy, đó là cái giàu về cơ cực. Tuy vậy, những người về từ tù ngục, bị giạt ra chốn quê mùa này, càng cơ cực hơn. Viết về ruộng đồng, thôn dã, người đọc cảm được cái “thế” của người nông dân trong những ngày mùa. Ðó là thế mặt nhìn đất, lưng phơi giữa trời. Theo chân những người đào giếng nơi những thị trấn khô cằn, người đọc thấy từng giọt mồ hôi của họ đổ xuống theo từng nhát xuổng. Bám theo những người làm công, khuân vác, ta cảm được sức nặng đè lên những đôi vai gầy, thiếu ăn, mất ngủ.
 
Viết về thôn quê, Lâm Chương như con cá lội trong nước, tha hồ. Chữ nghĩa ông về những vùng đất này cũng mộc mạc, đơn sơ như lòng người dân chất phác, hiền hòa. Viết về núi rừng, văn chương ông tự nhiên, tuôn chảy. Không những thế, người đọc còn học được nhiều thứ, biết thêm nhiều phong tục, ngay trên những trang sách ấy. Tuy nhiên, phải nói thêm rằng, ở thế mạnh của mình, ông vẫn chưa lột tả đến kỳ cùng những điều còn ẩn chứa ở những vùng thôn dã đó.
 
Ðịnh cư tại Mỹ, gia tài họ (những nhân vật của LC) là con số không. Vì thế, họ cố gắng bương chải để sống. Họ cố gắng lao động cực nhọc để nuôi thân, để tạo một chỗ đứng cho thế hệ thứ hai. Và xa hơn, lòng của họ luôn ngóng về bên kia biển lớn. Nỗi chịu đựng của họ cũng lớn không kém những gì họ đã chịu đựng bên quê nhà. LC còn dựng nên nhiều cảnh sống, sau khi trở lại thăm quê hương. Những nhân vật của ông va chạm nhiều thứ “trái tai gai mắt”. Và dường như, mỗi lần về lại quê hương cũng là mỗi lần cõng thêm nhiều nỗi buồn trên lưng, khi qua lại Mỹ. Ðây là thời gian mà ông đẩy ngòi bút vào thể loại “đoản văn”. Sự chuyển hướng này cũng tạo nên sự thay đổi trong phong cách nghệ thuật. Những trang viết càng về sau, người ta càng thấy chữ nghĩa của LC như hướng về sự đơn giản. Nó làm cho ta có cảm tưởng như tác giả đã bỏ lại những cồng kềnh, đã gạt ra những ôm đồm không cần thiết. Ðơn giản trong dựng truyện, đơn giản trong cấu trúc câu, và đơn giản trong cách dùng chữ. Hiếm thấy những chữ lạ, cầu kỳ. Cái đơn giản ấy chạm vào cái sần sùi của đời sống, đụng cái thô nhám của nhân gian, và rờ được cái trần trụi của tình đời. Trong cái đơn giản ấy, người đọc bắt gặp những chi tiết đắc địa. Sự thay đổi trong nghệ thuật đó đã hình thành một phong cách. Dẫu vậy, ông đã cài đặt nhiều phần triết lý trong đối thoại, của nhiều nhân vật, từ nhiều khuôn mẫu khác nhau, trong đời. Nhiều chỗ, những câu đối thoại chưa làm nổi bật được cá tính của nhân vật.
 
Thiển nghĩ, cũng cần nói thêm về hai truyện vừa: “Ði giữa bầy thú dữ” cùng “Gió về phố biển”. Ðây là hai truyện vừa khá lôi cuốn. Riêng truyện “Ði giữa bầy thú dữ” mang tầm vóc của tiểu thuyết, nếu ông khai triển nó rộng hơn, trên bề diện nhân vật, cũng như trên bề diện không gian. Hai truyện này đều chứa đựng những phần đời tang thương, bầm dập. Và cũng ở đó, hé lộ nhiều hơn tư tưởng của nhà văn.
 
Hai truyện vừa cùng nhắc về một nơi chốn: Nha Trang. Nếu ở “Gió về phố biển”, Nha trang là nơi ẩn náu, dung thân, nơi có những bàn tay chìa ra, vực dậy, thì trong “Ði giữa bầy thú dữ”, Nha trang là nơi thọ nạn, dã tâm lọc lừa giấu đằng sau mặt nạ thương người. Cùng một thành phố, lúc lâm nạn, thời tuổi trẻ, của “tôi”, đã được người người sẵn lòng giúp đỡ. Cũng cùng thành phố, sau những tháng ngày tù tội, trở về, tìm đường vượt thoát, “tôi” lại bị người ta lường gạt đến tận đường cùng. Cái gì làm nên sự khác nhau ấy? Một giai đoạn những năm 1960’s đầy tình người. Và, một giai đoạn những năm 1980’s đầy nghi kị, toan tính, sẵn sàng hại nhau vì những phần vật chất nhỏ nhoi. Nếu đặt hai tác phẩm trong ngữ cảnh liên văn bản, người đọc sẽ dấy lên nhiều câu hỏi. Nhưng một câu hỏi quan trọng không thể thiếu: Có phải thời gian hai mươi năm đã làm một xã hội băng rã về đạo đức? Và nguồn gốc của sự băng hoại này?
 
Tình người, ở xứ mình tìm mãi không ra, nhưng như một phép lạ, tình người đã cứu vớt “tôi” khỏi rơi xuống những tầng địa ngục ngay trên xứ người, nơi đất Chùa Tháp. Cho nên, đoạn kết của “Ði giữa bầy thú dữ” là một đoạn kết hay. Ở đó, oán hờn đã lắng xuống, thù hận đã trôi đi, những vết sẹo ngày xưa đã lành miệng. Cái duy nhất còn lại là: làm sao tìm lại được một cánh chim trong trời đất bao la. Cánh chim đó là hình ảnh thật đẹp của người từng bị gọi là “con đĩ ngựa”. Cánh chim mang tên Nga, một người phụ nữ lưu lạc trên xứ người, hy sinh thân xác để cứu một gia đình bị nạn, đưa họ rời nơi địa ngục để về chốn thiên đường. Giúp, mà không mong người khác biết. Cứu vớt, mà không nghỉ đến việc trả ơn. Cái gì rồi cũng qua đi. Chỉ có tình người ở lại. Tư tưởng của tác giả nằm ở những dòng chữ cuối cùng, mang lại một ấn tượng lớn cho độc giả.
 
Nếu phải chọn một hình ảnh cho Lâm Chương, tôi hình dung ra một gã nông dân kiệm lời, ít nói, nhưng lại rất miệt mài trên cánh đồng chữ nghĩa của mình. Trên cánh đồng đó, Lâm Chương đưa những mảnh đời vụn vỡ, những nỗi đau hun hút, những vết thương tướm máu, vào trang sách, truyền cho nó những hơi thở, biến thành những “cuộc sống” khác. Ðó là bản lãnh nghệ thuật. Tuy vậy, đọc ông, người đọc vẫn có cảm tưởng rằng, vì mãi mê đi tìm những mảnh vỡ đó, nên cõi viết của ông chưa khai triển những chủ đề lớn đúng mức, chưa đẩy mình vào những chặng đường dài, thử thách.
 
Chữ nghĩa của Lâm Chương, nói cho cùng, là chữ nghĩa bật ra từ những vết thương đã lành miệng, của chính mình, và của tha nhân.
 
Đoàn Nhã Văn

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013