Thi Ảnh

Phan Trang Hy

Tiếng Lòng Trong “Co Vào Ký Ức” - Phan Trang Hy

Phan Trang Hy

Cái tình của văn chương muôn đời là cái tình của tri âm, tri kỉ. Cái tình ấy có thể chợt đến, rồi đi, nhưng rồi cũng để lại ấn tượng nào đó trong “cõi người ta” này. Cầm trên tay tuyển tập thơ “Co vào kí ức” (Nxb Thanh niên, 2016) của ba nhà thơ là Hàn Quốc Sinh, Chiêu Dương và Hàn Quốc Vũ, rồi đọc, và theo tôi, cái đọng lại trong tôi là tình yêu và sự chiêm nghiệm của lòng thơ.
Trước tiên, tình yêu trong “Co vào kí ức” là những hoài niệm, nhớ thương, là một thời khắc khoải tim yêu, là những mong chờ dáng mộng. Mãi tình yêu cứ đẹp, cứ sầu:
“Tình yêu như chiếc lá vàng mỏng mảnh
Lòng giếng sâu e héo úa trăng ngà
Anh thảng thốt nghe tiếng cười nửa miệng
Mộng tắt đời nghiêng, buồn đến xót xa!”
(Thương nhớ, tr23)
Nói đến tình yêu là nói đến tiếng lòng mãi dễ gì quên mối tình thơ ngây con gái, đâu dễ gì quên mối tình tuổi ngọc, tuổi ngà? Sợ ai kia, sợ tình kia có còn? Sợ ai kia lãng quên một khối tình trong kí ức: “Ai sẽ mang hoa về/ Mùi hương em gái hoa?/ Ai sẽ đem nụ cười/ Cài trong trái tim em/ Ai sẽ đem bình minh/ Gieo tình ánh mắt ấy/ Xóa mờ đường đã qua/ Xóa phép màu nhung nhớ/ Tình ơi! Ta đi thật rồi.” (Lãng quên hoa quỳnh, tr 115)
Vẫn là quỳnh hoa một thuở. Vẫn là một thuở yêu nhau còn đọng lại hương thơm của quỳnh, hương thơm của đời như mộng: “Em về ngủ men say/ Hương đời ru hương quỳnh/ Làm tan ra rượu em/ Múa quay cuồng thâu đêm/ Biết em sau mùa quỳnh/ Nhạc hóa lòng em/ Trắng trinh/ Trắng trinh/ Sao tượng đá em buồn?” (Lặng lẽ hoa quỳnh, tr 127)
Còn trong “Vách đá lòng anh”, “cái tình” quả là “cái chi chi” của anh, của em, của những kẻ yêu nhau, nhưng… Cũng bởi chữ “nhưng” ngăn cách. Không biết ai trách sự cách ngăn ấy. Như là em đang trách em? Như là anh đang tự trách anh? “Ta hơn em cuộc đời/ Ta thua em cuộc tình/ Quay quắt buồn quay quắt che ngang/ Nụ cười kia nụ buồn cháy rụi/ Thiêu hồn chúng mình tan chảy đến vô duyên” (tr 104)
Đâu phải tự trách chính mình, đâu phải tự trách nhau. Trách gì nhau khi tình chưa trọn. Mà ở đời này có cái gì trọn vẹn đâu mà trách, mà hờn. Thôi thì lặng câm, nếu được: “Chợt sững sờ về lại bến sông xưa/ Trả lại nửa đời bỏng rát/ Tình thầm chưa dám ngỏ/ Lặng câm” (Lặng câm, tr 30)
Khi yêu, mấy ai muốn xa nhau. Khi yêu, anh cứ ngỡ cùng em là một, và em cũng tin rằng em và anh “tuy hai mà một”. Cả em, cả anh đều muốn tan vào nhau như ánh sáng huyền diệu của thiên hà trên kia, như dòng hơi thở bồng bềnh cột chặt em vào anh. Biết là thế, biết là “Tình dù không phân giới”, thế mà “Sao cười khóc vỡ thiên hà?”. Để rồi, biết rằng yêu là cam chịu:
“Ôm vũ trụ em chới với,
Lòng anh vũ trụ lạc loài!
Bao la dõi hoài không tới,
Khung trời sâu thẳm chia hai!”
(Hai vũ trụ, tr 78)
Cái thuở yêu, ai đã, đang và sẽ yêu thì đâu quên được cái bổi hổi bồi hồi, cái xao xuyến của “thuở ban đầu lưu luyến ấy”. Rồi, cái hồn thơ, cái hồn được yêu, thèm yêu như bay bổng, như chơi vơi, như “chếnh choáng” trong cõi yêu: “Hồn tôi chếnh choáng đi lạc lối/ Đến tận khu vườn tuyệt mật kia/ Trời ơi! Thảng thốt lời chưa nói/ Môi cứ run khúc nhạc đầm đìa.” (Hình như, tr 37).
Không những trải lòng bởi chữ yêu muôn thuở, mà “Co vào kí ức” còn thể hiện chiêm nghiệm của những tâm hồn đớn đau cho phận người.
Đời người theo vòng sinh tử của tạo hóa, có khác chi hoa nở rồi tàn, có khác chi đêm rồi ngày theo những biến thiên của đất trời, theo biến thiên của hô hấp, của từng sát na huyền nhiệm:
“Cuộc đời biến thiên hàm số phôi pha huyền nhiệm,
Ta giăng màn ngang mắt,
Mặc thế nhân!
Nhìn hoa búp – nở,
Nở - búp,
Trẻ tu oa,
Người khóc chết,
Mơ hồ!
Cuộc vô thường,
Ai hay?”
(Cuộc vô thường, tr 47)
Qua bao biến thiên cuộc đời, mới ngộ ra kiếp người là hữu hạn. Là “con ong cuộc đời” hiểu được chất ngọt của hoa. Nhưng, mấy khi hiểu được chất ngọt của “hoa quỳnh”, “hoa của mê say”. Biết bao loài hoa trên đời này, nhưng dễ gì làm “con ong” để thưởng thức hương “hoa quỳnh” trọn vẹn? Thôi thì, phải chấp nhận như là duyên kiếp chốn trần ai: “Đời tôi bước qua/ Bao thành phố lớn/ Núi non gập ghềnh/ Ai khổ, ai hơn/ Thì thôi nhé em/ Nhé em/ Nhé em đừng buồn” (Con ong, tr 124)
Đời buồn vui là vậy. Có qua kiếp buồn mới hiểu trọn niềm vui. Có qua hoan lạc mới sống trọn vẹn đắng cay, niềm đau của kiếp người mộng mị: “Kia mây trời mênh mông/ Xin lòng em mở rộng/ Thả nỗi niềm bay đi/ Thả ngục tù khắc khổ/ Gió thênh thang cười đùa” (Vui ve sầu, tr 133)
Và có qua buồn thương, tiếc nhớ mới thấy được tâm hồn đọng lại những gì, mới cảm nhận được tình người, tình yêu trong cuộc sống. Thời gian thành vết cứa trong lòng, thành nỗi nhớ thương khôn nguôi: “Thời gian rụng xuống cuộc đời/ Làm chao nỗi nhớ đầy vơi tiếng buồn/ Xin em đừng để mưa tuôn/ Cho anh chết dưới đêm sương lạnh lùng.” (Thời gian rụng, tr 19)
Trong bài “Hào quang tâm linh” (tr 56), Chiêu Dương đã thú nhận như con chiên quỳ trước Chúa sám hối, để hưởng ân phước tắm gội tâm hồn “cằn cỗi” như “sa mạc”:
“Ân tình chi tâm hồn tỉ năm chai đá?
Văn minh về những cuộc đời hoang hóa?
Vầng dương nghệ thuật nhân sinh,
Chờ hào quang tâm linh soi rạng rỡ
Tình đời!”
Cũng thế, trong “Một mai hiu quạnh” (tr 128), Hàn Quốc Vũ như đã qua cuộc đời này từ trong tiền kiếp:
“Một mai tôi bước qua cuộc đời
Hiu quạnh nào, chỉ dấu chân tôi
Một mai tôi trả hơi thở này
Thân bụi liền vùi xuống lãng quên”.
Để rồi qua những thác ghềnh của cuộc đời, của tình yêu, của những nhớ thương, của kiếp người muôn thuở, tiếng lòng lại tỏa lên đóa hoa mơ mộng, tỏa lên ánh vàng bình yên như Hàn Quốc Sinh trong “Co vào kí ức” (tr 27):
“Bao yên ắng sắc vàng bình lặng
Có ai hay dòng đời nghiệt ngã
Co vào kí ức mơ trăng”.
“Co vào kí ức” là tuyển tập thơ của ba người đồng điệu, đồng cảm, đồng tâm cất lên tiếng lòng thi ca là Hàn Quốc Sinh, Chiêu Dương, Hàn Quốc Vũ. Tuy rằng, có chỗ hình ảnh, cấu trúc, âm điệu thơ người này cảm, người kia không, nhưng đáng quý là tập thơ đã thể hiện khát vọng cháy bỏng muốn cống hiến tâm tình thơ đến với bạn đọc.

Phan Trang Hy

Trăng Hòa Vang Vẫn Thế - Phan Trang Hy

Phan Trang Hy Gốc

Gần đến Trung thu, thằng Quân háo hức chi lạ. Nghe cô nói năm ni các học sinh lớp 6 phải làm lồng đèn để chơi. Cô khuyên, đã lên học trung học rồi, nên làm chớ không nên mua. Có thế mới thấy ý nghĩa của cái Tết Trung thu. Chớ mua dù có đẹp nhưng cũng chẳng có kỷ niệm gì sau này. Nghe cô nói vậy, thằng Quân chỉ biết thế, chứ nó chưa thấy ý nghĩa, kỷ niệm gì cả. Nhưng nó nghe lời cô. Nó phải nhờ ba nó hướng dẫn nó làm mới được.
Mấy năm trước, ba mẹ thương nó nên thường mua lồng đèn bán sẵn. Có khi là lồng đèn xe hơi, con cá, hay thứ gì khác, đều là lồng đèn bằng nhựa có pin… Có thể, một thời hợp mốt đối với trẻ con. Nhưng rồi, vài năm trở lại đây, mốt lồng đèn được sản xuất tại Trung Quốc không còn hợp thời. Xu hướng chọn đồ chơi cho trẻ có khác trước.
Và qua lời cô, nó biết lồng đèn thắp bằng pin không phải là lồng đèn truyền thống. Và nó cũng từng nghe cô giáo nói có một số lồng đèn do Trung Quốc làm có chứa độc, nên nó sợ. Nhưng gần đến Trung thu rồi, lấy chi chơi đây, nên nó lại hỏi và nhờ ba:
- Ba ơi! Con không thích lồng đèn nhựa của Trung Quốc. Ba đừng mua nghe. Con thích chơi lồng đèn tự làm. Ba bày con làm nghe.
Nghe Quân yêu cầu, ba nó chép miệng:
- Tiếc thật! Ba muốn cùng con làm. Nhưng ba bận quá. Con nhờ nội đi. Nội con bày là nhất đó.
Quân năn nỉ ba, nhưng ba vẫn nói bận. Không còn cách nào khác, Quân nói lí nhí:
- Dạ. Con sẽ nhờ nội bày.
Mấy bữa nay, thằng Quân chưa dám nhờ nội. Nó đợi chiều, đi học về, nó sẽ nói với nội mới được. Trung thu gần đến rồi mà. Không nhờ nội thì làm sao có lồng đèn chơi.
Vừa vào nhà, thằng Quân thấy nội đang tưới nước mấy chậu mai, nó bèn chạy lại bên nội, nói:
- Nội ơi! Gần Trung thu rồi, nội bày con làm lồng đèn nghe!
Vừa tưới nước, lão cười nói:
- Cái thằng, bữa ni bắt nội bày làm lồng đèn, lạ ghê, Mà sao con biết nội làm được?
Nghe thằng Quân kể lại là ba nó nói thế, lão Thạc thấy vui vui. Lão cười:
- Cái thằng cha mi! Được, nếu con thích thì ông cháu ta cùng làm.
Thế là, hôm sau, lão Thạc tìm tre. May mà quê lão vẫn còn tre. Dù quê có thay đổi, làng như phố, nhưng tập tục, ruộng vườn vẫn còn. Những lùm tre bên sông vẫn còn. Chiều chiều có những con chim về đậu. Chiều chiều vẫn khói đồng sau mùa gặt. Vẫn những tiếng cười, tiếng nói mộc mạc đậm chén mắm cái chấm với rau lang, rau muống luộc. Lão gật gật cái đầu, mỉm cười một mình. Mắt lão nhìn con đường bê tông trước mặt. Quê lão có cuộc sống hiện đại hơn. Rồi điện về. Nhà lão có ti vi màn hình phẳng. Thằng con lão lại bắt cả kỹ thuật số. Nhiều kênh chi lạ. Không những phòng khách có cái ti vi to đùng, mà phòng ngủ của thằng con lão cũng có. Bọn trẻ bây giờ sướng thật. Quê mà có tủ lạnh, quê mà có máy giặt, xe hơi…
Vừa đi vừa ngẫm nghĩ, lão thấy sướng cả bụng. Chợt lão nghe tiếng gọi:
- Nè, ông Thạc ơi, đi đâu đó? Có rảnh ghé tôi uống chén nước chơi. Có
chút chè của thằng cháu mới mua.
Thì ra lão Đôn. Là bạn từ thời còn học trường làng đến giờ. Hơn 50 năm là bạn của nhau. Có chút vui, chút buồn họ đều chia sẻ cùng nhau. Thấy lão Đôn ra tận cổng đón, lão Thạc nắm tay bạn, nói:
- Được thôi. Nhưng không ngồi lâu đâu nghe. Tôi phải đi tìm tre làm lồng đèn cho thằng cháu nội.
- À, ra rứa. Tưởng chi, chứ tre nhà tôi có. Mình uống nước, nói chuyện chơi chút đã, rồi tôi đưa tre cho.
- Rứa là may cho tôi rồi.
Hai lão ngồi uống nước, nói chuyện. Chén nước chè làm tuổi già vui thêm. Tình quê đậm đà qua chén nước.
Và cái tình quê của hai lão lại rôm rả, xôm trò qua trò chuyện. Dù cảnh quê có thay đổi, nhưng tình làng xóm vẫn như ngày nào. Nhiều khi mưa gió, đúc được cái bánh xèo họ cũng đem cho. Có con cá tràu bắt được, làm mỳ, cũng mời nhau. Nhà có giỗ, cũng đem phần kỉnh hàng xóm. Nếp quê vẫn như cái thời hai lão còn con nít.
Hai lão nói không biết bao nhiêu chuyện. Nào là chuyện chuẩn bị tế Thu; nào là chuyện chuyển cơ cấu cây trồng sao cho hợp với hoàn cảnh khi Hòa Vang có chính sách hỗ trợ nông dân. Toàn chuyện vui. Mà không vui sao được, khi tuổi già thấy con cháu yên ấm, thấy làng xóm thương yêu nhau. Tình làng nghĩa xóm như hàng tre cứ xanh trên bờ sông Túy Loan, như hương lúa ngày mùa, như làng vào hội đình nhân lễ Kỳ yên, cầu quốc thái dân an… Hai lão cũng bàn chuyện năm đến làng tổ chức lễ hội. Hai lão đều ước năm đến lễ hội đình làng Túy Loan cũng được nhiều người tham dự như làng Phong Lệ ở Hòa Châu tổ chức lễ hội Mục đồng vừa rồi.
Rồi, chuyện cũng vãn. Lão Đôn tìm mấy khúc tre đưa cho lão Thạc. Cầm tre từ tay bạn, lão Thạc cười nói:
- Cảm ơn ông nghe!
Tiễn lão Thạc ra tận cổng, lão Đôn vỗ vai bạn:
- Thôi, ông về.
Những ngày sau đó, khi hai ông cháu rảnh, lão hướng dẫn thằng Quân làm lồng đèn. Thực ra, lão làm đủ thứ, nào là chuốt tre, chặt theo kích cở. Thằng Quân chỉ ngồi bên hỏi đi hỏi lại cánh làm. Nó cũng cột được vài chỗ. Đặc biệt, khi dán giấy màu trên lồng đèn, thằng Quân nói với lão:
- Ông bày con vẽ bản đồ Việt Nam có quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nghe ông.
- Được thôi. Ông sẽ bày.
Rồi lão hướng dẫn thằng Quân vẽ đường cong hình chữ S. Tiếp đến lão chỉ cách tạo thành 2 quần đảo với những chấm nhỏ xinh xinh. Nhìn cũng được. Rõ ràng trước mắt hai ông cháu là hình ảnh nước Việt Nam thân yêu với hai quần đảo như châu ngọc trên biển Đông. Nhìn cây cọ chấm màu trên tay thằng Quân, lão như thấy đó là bàn tay của lão khi còn bé, học ở trường làng. Ngày xưa, ngày xưa, đối với lão như mới đây. Lão cũng làm lồng đèn, nhưng giấy dán chỉ là giấy vở, đâu đẹp như bây giờ. Còn màu thì lấy nào than, nào gạch, nào nghệ, lá cây... giã ra, cho tí nước vào. Thế là cũng thành hoa, thành chim, gà, cá… được vẽ cho lồng đèn thêm đẹp.
Đến Trung thu, thằng Quân đem lồng đèn cùng mấy đứa trẻ dạo chơi quanh xóm. Trống múa lân rộn ràng. Lão Thạc cũng rộn ràng theo nhịp trống. Lòng lão rộn lên lời hát: “Bóng trăng trắng ngà, có cây đa to, có thằng Cuội già ôm một mối mơ…”.
Quê lão còn biết bao chuyện còn phải làm. Lão mơ như thằng Cuội già năm nào. Giấc mơ của lão không là tiếng hát xẩm của con dế mèn. Mà giấc mơ của lão là thấy quê thay đổi. Càng già, lão càng hiểu sự thay đổi nào cũng phải trải qua những trở trăn, lột xác. Có trở trăn, lột xác nào được êm ả?
Tiếng trống vẫn rộn ràng. Trăng trên trời ngời sáng. Trước mắt lão là xóm làng lão, là ngôi nhà lão, là con cháu lão. Và trên tay thằng Quân là ánh đèn ngôi sao lung linh. Trên tay bọn trẻ là những ánh sáng nhảy múa theo nhịp trống múa lân. Lão thấy hình bóng của lão, hình bóng của lão Đôn, của bạn bè trong làng ngày xưa hiện về. Tất cả đang rước đèn mừng Trung thu.
Lão thấy bản đồ Việt Nam có cả Hoàng Sa, Trường Sa trên lồng đèn. Quê lão mừng Trung thu trong ánh đèn con trẻ. Hòa Vang quê lão rộn ràng trong tiếng trống múa lân.
Đêm khuya. Trăng sáng dịu hơn. Cả làng yên bình dưới trăng ngà như mọi khi. Trăng Hòa Vang đêm nay vẫn thế!

Phan Trang Hy

Phóng Sinh Chữ Nghĩa - Phan Trang Hy

 
- Được cái con la hán này tạp ăn lắm! – Thắng, em vợ tôi, giọng hồ hởi nói tiếp – Anh biết không, mỗi lần em cho nó ăn, nó lượn lên, lượn xuống ra chiều thích thú lắm. Ăn xong, nó gật gật cái đầu ra vẻ biết ơn. Lạ thật, cái giống này cũng khôn chi lạ!
Tôi nghe chỉ mà nghe. Quả thật, tôi chẳng có cái thú nuôi cá cảnh. Vả lại, thời gian đối với tôi, ngoài chuyện đi dạy ở trường, về nhà, tôi còn phải bươn chải, kiếm tiền lo cho con, cho vợ. Hết đi kèm ở Liên Chiểu, đến Ngũ Hành Sơn, hết Hải Châu tới Cẩm Lệ. Tôi tất bật, nên đâu còn thời gian thưởng thức thú vui cá cảnh. Mặt khác, tôi thú thật là tôi chẳng có tí kinh nghiệm gì về việc nuôi cá cảnh; không có kinh nghiệm thì dễ gì nuôi! Cá cảnh đắt giá lên tới 5, 7 triệu một con, chớ đâu có phải củ sắn luộc đâu. Bằng cả tháng lương của tôi, chớ chẳng chơi đâu. Chưa hết, ngoài chuyện lo cho cá ăn, làm vệ sinh hồ, gắn ống ôxy, lọc nước, còn biết bao công đoạn phức tạp. Mà những việc ấy đối với tôi như là cực hình vì thời gian đâu nhàn nhã.
Nhìn con la hán đang bơi, ra bộ biết ơn khi được ăn những miếng thịt bò, tôi nghĩ lời của cậu em vợ có cái đúng. Rồi cậu em tôi khoe với tôi là từ khi có con la hán này, gia đình cậu vui lắm. Trước đây, vợ của cậu không thích hát, dù cô ấy dạy nhạc ở một trường tiểu học. Phụ huynh than phiền, học sinh thấy chán môn nhạc, hiệu trưởng phê bình..., nhưng cô ấy chẳng tỏ vẻ đam mê âm nhạc. Thế nhưng, từ ngày có con la hán, vợ cậu ta bắt đầu hát hò. Lạ lắm, giọng cô ấy càng ngày càng hay ra. Khi nấu ăn, cô ấy cũng vui vẻ hát, có lúc vừa ăn vừa hát. Đặc biệt, khi làm vệ sinh, cô ấy cũng cất tiếng hát khe khẽ. Luôn miệng hát. Cô ấy hát vui theo mùa. Vui ra phết. Mùa nào có bài hát ấy, đúng đề tài. Dần dần, cô đi hát thêm trong các lễ cưới. Thu nhập cũng tăng dần lên. Đời sống ngày càng khấm khá. Rồi đùng một cái, cậu em tôi hí hửng khoe với tôi rằng cậu ta được lãnh đạo cất nhắc lên làm trưởng phòng.
Công việc cậu em tôi cũng chẳng khó gì. Là trưởng phòng, suốt ngày chỉ đi họp. Mọi việc có cấp dưới phụ trách từng bộ phận lo. Cậu ta chỉ có việc đọc lướt công văn, tài liệu, còn thì chỉ có kí các giấy tờ. Hàng tuần công văn cao hàng tấc. Lỡ hôm nào văn thư ốm, cậu cũng chẳng biết hết nội dung các công văn đi, đến được. Nhưng, cậu em tôi cho rằng chẳng có gì mệt óc cả. Nếu có mệt là chẳng biết mình phải làm gì trước, làm gì sau. Công việc lúc thì thấy trọng tâm, lúc thì then chốt, lúc thì cốt lõi, lúc thì cơ bản... Đủ thứ quan trọng! Lúc thì thi đua phong trào này, phong trào nọ. Công việc nói thế cũng có lúc làm cho con người mệt mỏi. Có khi, cậu em tôi than: “ Em cứ tưởng làm trưởng phòng là phải có kế hoạch đột phá để công việc tiến triển. Ai ngờ công việc cứ phải làm theo sự chỉ đạo của cấp trên. Nếu vậy, thì ai làm trưởng phòng cũng được. Không biết em có hồ đồ không?”. Tôi cười trừ. Ngẫm lời nói của cậu ấy cũng có cái đúng. Không mợ chợ cũng đông kia mà. Kể cả tôi ở cõi đời này.
Hồi còn trẻ, khi bước vào nghề dạy học, tôi nghĩ mình ghê gớm lắm. Chữ nghĩa như thấm vào da thịt, toát ra ngoài. Có thời, chữ nghĩa làm xơ xác mướp thân xác tôi. Nhìn là biết tôi đam mê nghề dạy học đến cỡ nào. Này nhé, chiếc xe đạp cà rịch cà tàng, lốp phải bó, may lại triên, như thế mới là người chuyên chở chữ nghĩa đầy tính giai cấp tiên tiến. Chưa hết, là nhà giáo phải thanh bần, nghĩa là sống khổ sở mà vẫn lạc quan, ra vẻ trí thức của thời đại. Không thanh bần cũng không được. Nhà giáo chúng tôi, một thời, cùng nhóm với nhà văn, nhà thơ, nhà báo và... nhà nghèo.
Cuộc đời mãi là chuỗi thời gian của công việc. Và tôi mãi là thầy giáo dạy Trung học cơ sở. Bạn tôi, có đứa phấn đấu làm hiệu trưởng, có đứa bỏ nghề, hoặc chuyển ngành nghề, kiếm việc làm có thu nhập khá hơn nghề dạy học. Mấy đứa rời khỏi nghề dạy khỏi phải nói. Chúng dóc tướng lắm. Những lần gặp mặt nhau, chúng thường chép miệng như thể thông cảm cho tôi phải chịu kiếp làm anh giáo “quèn”. Nhiều lúc tôi thấy rõ chúng thương hại tôi. Thôi, kệ chúng! Còn những thằng bạn làm hiệu trưởng, mỗi lần gặp nhau cũng có chút thông cảm cho nhau. Bởi cùng ngành nghề mà. Chúng tôi hiểu rõ nỗi khổ của nhau trong nghề. Trực tiếp giảng dạy có cái cực của giảng dạy. Làm hiệu trưởng có cái cực của hiệu trưởng. Chúng tôi đều cảm nhận được cuộc họp nào ở các trường cũng từng ấy thứ việc. Một mớ công văn phải phổ biến cho giáo viên. Không thể không phổ biến. Còn phải ghi vào biên bản để làm chứng cứ khi có sự cố, hoặc ở trên về kiểm tra, đánh giá, xếp loại... Nào là phong trào thi đua dạy tốt, học tốt, thi học sinh giỏi, hội khỏe Phù Đổng, phòng chống thuốc lá, phòng chống HIV/AIDS, phòng chống tệ nạn xã hội, giữ vệ sinh môi trường, thực hiện việc tiết kiệm điện, tiết kiệm nước, thi vẽ tranh về thành phố thân yêu, thi viết thư UPU, thi giải toán trên mạng, thi soạn bài giảng E-learning... luôn thúc giục chúng tôi. Rất nhiều thứ. Có những thứ không đâu vào đâu. Biết không liên quan đến chất lượng dạy và học mà vẫn phải làm, phải thực hiện. Không làm thì bị cấp trên phê bình dù cấp trên biết việc đó là không cần thiết.
Tiếng cậu em làm tôi thức tỉnh:
- Nè! Anh xem chữ trên mình con la hán đẹp không? - Vừa nói cậu ta vừa chỉ con cá đang lượn nhẹ trong hồ. Không đợi tôi trả lời, cậu ta hỏi tiếp – Theo anh, đây là những chữ gì?
Tôi nhìn kĩ con cá. Đèn điện chiếu sáng, nước đang được lọc. Con cá ung dung đớp những lát thịt bò. Trên thân nó hiện lên dòng chữ. Mỗi bên có bốn chữ thì phải. Chữ ẩn hiện như thư pháp. Lúc tôi thấy như chữ Quốc ngữ, lúc như chữ Hán, lúc thì như chữ Ả-rập. Tôi vẫn không thể hiểu đó là những chữ gì. Gọi là chữ Hán cũng không phải vì không lẽ mình là người Việt lại sính chữ Hán nên cho nó là chữ Hán. Không lẽ cái tư tưởng lệ thuộc văn hóa Tàu vẫn còn trong đầu óc của tôi. Nhiều lần tôi thầm nghĩ cớ sao một số người chẳng biết một tí gì về chữ Hán, lại treo trong nhà một số chữ Hán như ra vẻ quân tử? Cớ sao một số đền, chùa, đình, miếu mới xây dựng, hoặc tu sửa lại vẫn để câu đối viết bằng chữ Hán? Sao không là chữ Quốc ngữ để ai cũng có thể đọc được, ai cũng có thể biết được?
Bỗng có tiếng điện thoại reo. Cậu em tôi xin lỗi tôi. Cậu nghe máy. Tôi nghe tiếng cậu nó. “Được!... Nếu được giá thì tôi để cho anh. Hẹn mai gặp lại”. Khi tắt điện xong, cậu ta khoe với tôi: “Có một đại gia muốn mua con la hán này để lấy hên. Mai họ đến xem”...
Bẵng đi một thời gian, một buổi sáng chủ nhật, tôi vừa ngủ dậy, có tin nhắn. Tôi vội mở. Cậu em nhắn tin mời tôi uống cà phê. Vệ sinh, mặc áo quần xong, tôi đến chỗ hẹn. Đến nơi, tôi thấy cậu em tôi ngồi cùng bốn người khác. Sau khi bắt tay các vị khách, tôi được cậu em giới thiệu họ là những người có máu đam mê cá cảnh, đang săn lùng cá lạ. Cái mốt chơi cá cảnh hiện nay thật là lạ. Cá cảnh cũng có thời. Mỗi thời, mỗi khác. Lúc thì cá rồng, lúc thì cá dĩa, lúc thì cá mập... Tôi ngồi nghe họ bàn chuyện cá cảnh. Ngẫm lại mình sao “lạc hậu” thế không biết. Không có cái thú nuôi cá cảnh thì quả là chẳng sành điệu, chẳng sang trọng trong thời buổi hiện nay. Nhà cửa cao ráo rồi, đẹp sang rồi thì phải có hồ cá trong nhà cho hợp phong thủy. Có thế mới đúng điệu của kẻ có của. Mà có của, giàu có, ai không kính nể. Khối kẻ gặp thời, tiền vào tiền ra, trở nên giàu có, người ngoài nhìn vào muốn lé cả mắt. Tôi như lạc lỏng giữa những người cùng bàn.
Chuyện qua chuyện lại cũng là chuyện cá. Rồi chia tay. Cậu em tôi rủ tôi về nhà cậu. Cũng lâu hơn cả tháng thì phải, tôi chưa ghé nhà cậu, nên nhận lời. Tôi điện về nhà cho vợ biết là tôi ghé nhà cậu, tiện thể thăm ba mẹ vợ, chẳng là nhà em vợ tôi sát bên nhà ba mẹ vợ.
Đến nhà cậu em vợ, tôi vừa dựng xe vừa nói: “Chắc cậu mi khoe cá với anh?”.
Cậu em tôi cười hề hề: “Anh biết cả rồi mà còn hỏi”. Rồi cậu ta dẫn tôi đến hồ cá. Cậu khoe: “Anh thấy con la hán đẹp không?”
Tôi hỏi lại: “Mới mua con khác hả?”.
Cậu em vợ tôi chép miệng: “Đâu có mua bán gì. Vẫn con cũ. Lần trước, tưởng bán được, ai dè họ trả bèo quá. Với lại, khi họ đến xem cá, xem đi xem lại, cuối cùng lại nói thích nuôi cá mập chớ không phải là la hán. Thôi, đành chịu vậy”.
Tôi an ủi: “Cậu mi chịu thế là được đấy. Nuôi con chi cũng có duyên với mình thì mới nuôi được. Nó không muốn xa mình thì bán sao cho đành”.
Nghe tôi nói thế, cậu em tôi tiếp lời: “Mà con này cũng lạ lắm anh à. Nghe nói bán, nó không chịu ăn. Hai, ba ngày sau nó mới chịu ăn lại. Nghĩ cũng tội”.
Vừa nghe cậu em phân trần, tôi vừa nhìn con la hán. Nhìn kĩ nó, tôi thấy hiện lên những dòng chữ thật đẹp. Cả hai bên mình cá đều có chữ. Tôi loáng thoáng thấy những chữ. Lúc là chữ này, lúc là chữ nọ. Tôi không dám khẳng định đó là những chữ gì. Cậu em tôi chỉ vào mình cá, nói:
- Anh có thấy chữ trên mình nó không?
- Ừ, có thấy.
- Hồi mới nhìn những chữ ấy, em hoa cả mắt. Em thấy như những chữ trong công văn, giấy tờ ở cơ quan. Nhưng rồi dần dần cũng quen. Và từ đó, đối với em con la hán mang trên mình nó những chữ thật là ý nghĩa. Anh thấy bên này có bốn chữ “phúc lộc thọ toàn” không? Tuyệt quá phải không anh?
Tôi nhìn theo tay cậu em chỉ thấy loáng thoáng. Lúc con cá bơi ngược lại thì cậu em tôi nói đó là “tấn tài tấn lộc”. Tôi nhìn thấy loáng thoáng, có lẽ là “tấn tài tấn lộc”. Tôi nói:
- Cá có những chữ như thế chắc là cá quí, Xin chúc mừng!
Nói xong, tôi loáng thoáng thấy đâu đó những chữ, những chữ như làm nát đầu tôi. Những chữ la liệt trong giáo án của tôi. Rồi tôi thấy lúc thì “từ, bi, hỉ, xả”, lúc thì “công bằng, bác ái”, lúc thì “anh hùng, liệt sĩ”, lúc thì “vì nước, vì dân”...
Tôi chưa kịp định hình đó là những chữ gì, thì cậu em tôi tiếp lời:
- Từ ngày phát tín hiệu chữ nghĩa, con la hán chẳng ăn thứ gì cả. Lạ lắm anh à! Một buổi sáng, như lệ thường, em bỏ thịt bò vào cho nó ăn, nó bơi bơi lên đớp. Nhưng không hiểu sao, nó lại nhả ra. Em tưởng nó ớn thịt bò, nên vớt ra và kiếm cá con, tôm con cho nó. Nhưng nó chẳng thèm đụng đến tôm, cá. Em nghĩ nó có bệnh, lo muốn chết. Nhưng nó vẫn khỏe. Em tìm thức ăn cao cấp dành cho cá cảnh nhập từ Singapore, Nhật bản, nhưng nó cũng chẳng thèm để ý đến. Kể từ đó, nó không thèm ăn gì cả. Dù không ăn, nó vẫn cứ lớn. Đặc biệt, trên mình nó càng ngày càng đổi màu sắc. Mà thật là kì lạ. Mỗi người nhìn cá đều thấy chữ mỗi khác. Không ai giống ai cả.
Nghe cậu em kể vậy, tôi chỉ làm im. Biết nói gì cho phải...
Tin con cá la hán có những chữ đẹp trên thân mình lan truyền. Ai cũng đến xem. Từ ngày con cá trổ mã, phát tín hiệu chữ nghĩa, cậu em tôi bận thêm. Ngoài công việc ở cơ quan, khi về nhà, cậu em tôi phải tiếp những vị khách hiếu kì. Cậu ta phấn khởi lắm vì ai ai cũng trầm trồ khen cậu có con cá có một không hai. Con cá quả là kì lạ. Ai cũng thấy niềm ao ước của mình hiện trên thân con cá. Nếu bạn là người buôn bán, dù buôn bán lớn hay nhỏ, nếu nhìn vào thân cá thì sẽ đọc được dòng chữ “buôn may, bán đắt” ở bên này, còn bên kia chắc là dòng chữ “phi thương bất phú”. Nếu bạn là cán bộ tốt thì chắc hiện lên những chữ “cần, kiệm, liêm, chính”, “chí công vô tư” trên thân cá. Nếu bạn là cán bộ xấu, những chữ “cướp đêm là giặc...”, “miệng quan trôn trẻ” sẽ hiện lên lấp lánh, nhưng người khác chẳng đọc được những chữ ấy vì bị khúc xạ ánh sáng. Nếu bạn là người có quan tâm đến thời cuộc, chắc các bạn sẽ đọc được những chữ “độc lập, tự do”, “dân chủ, cộng hòa”... Rất nhiều chữ để bạn tưởng tượng cho thỏa lòng ao ước của bạn...
Một hôm, gần sáng, nằm bên vợ, tôi chợt thức giấc bởi tiếng gọi của vợ: “Ba điện em hồi hôm, nói hôm nay là giỗ Nội. Trưa đi dạy về qua luôn nghe”. Tôi ôm vợ, nói yêu: “Biết rồi! Em về trước lo nấu nướng nghe”. Tôi trở mình, hôn trán vợ, rồi dậy.
Hôm ấy, tôi trống tiết 3. Tôi xuống thư viện đọc báo mạng. Tôi mở máy. Tìm trang tin đọc. Vẫn vụ Tiên Lãng. Đã có kết luận của Thủ tướng. Ai đúng, ai sai thì đã rõ. Trong tôi lóe lên dòng chữ trên mình cá la hán: “Hoa cải Tiên Lãng”, “Dân cày có ruộng”. Tôi chuyển qua tin khác. Lại tin Bộ ngoại giao lên án hành động Trung quốc xâm phạm chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Tôi như thấy dòng chữ “Hoàng Sa, Trường Sa”, “Tổ quốc Việt Nam”, rồi đến các chữ “Bản Giốc, Cà Mau”, “Con Lạc, Cháu Hồng”...
Hết giờ dạy, tôi bần thần. Về nhà ba mẹ vợ cũng kịp giờ. Ăn giỗ xong, tôi xin phép về sớm để chiều đi kèm thêm. Tôi chẳng trò chuyện gì được với cậu em.
Tối về, trong bữa ăn, thằng con tôi nói:
- Ba ơi, cậu phóng sinh con la hán rồi.
Tôi hỏi:
- Sao lại phóng sinh?
Thằng con tôi nói tiếp:
- Dạ, con nghe cậu nói con cá khôn quá, ai nghĩ gì thì trên mình nó hiện ra chữ ấy. Cậu sợ liên lụy chữ nghĩa, nên cậu phóng sinh để cầu an.
Nghe con tôi nói vậy, tôi giật mình. Chữ nghĩa ơi! Có sống được không? Sao khổ thế không biết?
 
Và Mỗi Lần Noel Đến          
 
Cứ cuối tháng 11, đầu tháng 12, cái lạnh bắt đầu thấm trên từng cây lá, thấm vào những bàn tay, vào những nụ cười, tôi nghe được cái lạnh qua lời nói của mọi người: “Gần đến Noel rồi!”. Và tôi nghĩ về mùa Giáng Sinh với những cây thông gắn những món quà xinh xắn, nghĩ về truyện “Cô bé bán diêm” của Andersen. Tôi cảm thấy mình còn may mắn được sống trong sự đủ dùng như theo lời nguyện của người Kitô trước những bữa ăn. Dẫu tôi không theo đạo nào, nhưng tôi vẫn tin có cái Đại Ngã Vô thường tồn tại cùng cái Tiểu Ngã của tôi.
 
Nhớ năm học 1973 – 1974, tôi học lớp 12B3 trường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng. Tôi được học triết do thầy Hiền dạy. Dù tôi học ban B, thế nhưng cũng nhờ những khái niệm cơ bản về triết học, tôi nhìn nhận sự vật không chỉ duy tâm hoặc duy vật, duy lý hoặc duy tình. Môn triết là môn có thể là sở trường của tôi. Có lần, trong một giờ học, tôi đã giơ tay trình bày quan điểm non nớt, ngây ngô của mình: “Thưa thầy, theo lý thuyết thì bất cứ vật chất nào cũng bị nóng chảy ở nhiệt độ cao. Thế nhưng, mặt trời cũng là dạng vật chất, nóng đến hàng ngàn độ, nhưng sao nó chỉ có nóng mà không chảy?”. Tôi nhớ thầy không trả lời cụ thể, mà chỉ gợi cho tôi thấy rằng lý luận chỉ là lý luận. Cả thế giới vật chất này không chỉ có vật chất thuần tuý mà còn có sức mạnh vạn năng nào đó đang điều hành cả vũ trụ này. Lời thầy chỉ thoáng khơi gợi một điều gì đó trong tôi…
 
Và mỗi lần Noel đến, tôi đều tự hỏi: Sao nhạc thánh có sức mạnh lôi cuốn, nhẹ nhàng, thánh khiết như vậy? Sao tiếng chuông nhà thờ làm rung chuyển sự tỉnh thức của mỗi tâm hồn đến vậy? Sao lời của Chúa hơn hai ngàn năm vẫn là sự thật? Tôi có dịp may là đọc những lời trong Kinh thánh, nhất là phần Tân ước. Sao Chúa yêu thương con người đến vậy, trong khi con người nhân danh con người lại mạt sát, bắt bớ, cầm tù, đâm chém, hành hạ lẫn nhau? Sao Chúa bao dung đến vậy, trong khi con người vẫn nuôi thù hận triền miên? Sao Chúa lại chữa lành những vết thương của người bệnh, trong khi con người gieo rắt những mầm diệt chủng, diệt sự sống ở trần gian này? Chúa vì ai mà yêu thương, bao dung, chữa lành con người? Vì ai? Vì ai?…
 
Nghĩ đến Chúa, tôi lại nghĩ đến Darwin. Theo Darwin thì có thể thuỷ tổ của loài người là loài vượn – người. Nhưng mấy có ai, kể cả ông Darwin thờ vượn – người và gọi nó là ông tổ? Đã là thuyết thì mãi là thuyết! Có ai cho mình là giòng giống thấp hèn? Có ai cho mình là người dại? Có ai vẽ hình tượng vượn – người để thờ phụng đâu? Kiến thức của tôi có hạn, như cái sống có hạn của tôi ở cõi trần này, tôi không biết có tôn giáo nào, tín ngưỡng nào thờ vượn – người và tôn vinh nó không?
 
Và mỗi lần Noel đến, tôi như thuộc lòng câu “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dưới thế cho người thiện tâm” (có nơi cho là người thiện lương). Ngẫm đi ngẫm lại lời ca ấy sao thực tình, thực tế, gần gũi với con người đến vậy. Chỉ cần câu “Bình an dưới thế cho người thiện tâm” là thấy sướng cả bụng rồi! Cầu mong cuộc đời này, người thiện tâm được an bình là quý rồi. Nhưng cuộc đời này, chính con người đã gây ra bao tai hoạ, đã tự trút những cơn thịnh nộ của tham sân si thì làm gì có sự an bình cho chính mình và cho người khác. Thật là buồn! Buồn cho kiếp người không có bình an vì trót gây tội.
 
Nói đến tội, tôi cũng là kẻ có tội ở trần gian này. Thấy cha mẹ già yếu mà không được chăm nom, phụng dưỡng hằng ngày là có tội. Thấy anh em nghèo khó mà không giúp được, vì mình chưa giúp được mình xong, cũng là tội. Thấy mình vì tiền mà chèn ép học trò đi học thêm để mình tồn tại cũng là có tội. Thấy học trò không chăm học, không học giỏi, cũng thấy mình có tội. Thấy con cái khổ cực mà chẳng giúp được, thấy con cái lớn rồi mà chẳng có công ăn việc làm ổn định, cũng là tội. Thấy việc phải mà không dám làm vì hèn, vì sợ cũng là tội. Cái tội nó đeo đuổi mình suốt kiếp!
 
Biết bao cái tội của kiếp làm người. Nhiều lần, tôi làm điều gì sai trái, tôi cảm thấy mình cớ sao dại những một giờ như vậy? Cớ sao có lúc giận hờn? Cố chấp? Biết bao điều để tôi trở thành kẻ có tội ở thế gian này. Tôi lấy làm xấu hổ, ân hận vì những gì tôi gây nên tội. Bất chợt, trong tôi hiện lên bao gương mặt của những cô gái bán dâm nuôi miệng, đang lấy hai tay che mặt khi có người chụp ảnh, quay phim. Chắc các cô còn xấu hổ. Tôi cũng bất chợt thấy bao gương mặt của những kẻ có quyền, có thế khi gây nên tội vẫn nhơn nhơn cười đểu, lẻo mép chối tội như thách đố với người thiện tâm. Những việc ấy, những con người ấy, báo chí đăng trên những bản tin hằng ngày bên cạnh những tin tốt lành. Tin ác, tin dữ còn, tội đó do ai?
 
Và Noel đến, bên tai tôi vẳng lên khúc nhạc mừng Thiên Chúa xuống trần, làm người để chịu kiếp người ở thế gian. Tôi như thấy cái chết của Thiên Chúa trong thân phận người mới làm cho con người đến với ánh sáng, đến với sự bình an. Và khúc nhạc “Bình an dưới thế cho người thiện tâm” cứ vang lên trong lòng tôi, như vỗ về tôi, an ủi tôi những lúc tưởng như tôi bị sa ngã bởi bao ràng buộc ở cõi trần này.
 
Trong tôi cũng vẳng lên lời bài hát như tránh móc, dỗi hờn của Trịnh Công  Sơn: Chúa đã bỏ loài người – Phật đã bỏ loài người… Thế nhưng, mỗi lần Noel đến, tôi nhẩm hát theo những ca khúc Giáng Sinh. Tôi hát mà tin rằng Chúa Phật chẳng bỏ loài người. Chúa Phật vì loài người mà đến với thế gian này, đến để người bình an, để người được làm người thiện tâm, an bình dưới thế.
 
Bao La Tình Mẹ
 
Tháng Bảy lại về. Một chút nắng vàng ươm, một chút gió heo may chuyển mùa sang Thu, một chút bâng khuâng ngọt lòng thơm thảo. Nhìn các Phật tử chuẩn bị lễ gần cả tháng trời, tôi cũng náo nức lòng theo tháng Bảy Vu Lan.
Dẫu tất bật mưu sinh, dẫu nặng mang kiếp người trần thế, lòng tôi vẫn vang lên điệu Bông Hồng Cài Áo. Dẫu là người ngoại đạo, nhưng mỗi khi nghe lời bài hát, tôi luôn thấy bóng dáng Mẹ hiền. Mẹ như chuối chín cây, Mẹ như mây như gió, Mẹ như ánh nắng trời, như biển Đông ngời ngời của lục bát ca dao…
Trước mắt tôi hiện lên bao người Mẹ. Này đây nước mắt Mẹ mừng vui khi con khôn lớn, khi con nên vợ nên chồng; này đây dáng Mẹ cánh cò, cánh vạc xăm xăm sớm tối đi về; này đây bóng Mẹ liêu xiêu giữa mùa giông bão; này đây mắt Mẹ ngóng dõi mòn trông chồng, ngóng con trong mùa bão biển… Này Mẹ mừng vui khi con lớn khôn; này nước mắt Mẹ mặn xốn xang khi con theo chồng về xứ lạ… Và biết bao hình bóng của những người Mẹ trên đời này đang hiện ra trong tâm thức của tôi.
Tôi đang đi trọn kiếp người. Tóc gần trắng hết như tóc Mẹ. Nhưng tôi vẫn cứ thấy mình như trẻ con trước Mẹ. Tôi quên sao được, những lần cúng giỗ, Mẹ tất bật quán xuyến lo toan. Chỉ nhìn con cháu quây quần bên mâm cơm là Mẹ no rồi! Chỉ nhìn con cháu hiền ngoan là Mẹ mãn nguyện. Nói thế, cũng có lúc tôi và các em vẫn làm Mẹ buồn. Anh em chúng tôi có lúc bất đồng ý kiến nhau, có lúc cãi nhau, lý sự với nhau. Mẹ chỉ nhìn buồn. Mẹ như nói một mình: Sao anh em bay chẳng thương nhau? Cãi nhau mà vui được à? Cùng mẹ cùng cha sao các con lại muốn hơn thua? Nghe Mẹ nói, anh em tôi biết mình có lỗi. Mẹ nói thế, nhưng Mẹ vẫn lo cho chúng tôi, vẫn che chở cho chúng tôi.
Và trước mắt tôi, hiện lên những người Mẹ vĩ đại khoan dung, yêu thương con cháu. Biết bao bà Mẹ đã từng có những đứa con bên này, bên kia của cái gọi là ý thức hệ. Biết bao bà Mẹ có những đứa con tranh chấp gia tài, hơn thua tiền của… Mẹ chỉ buồn mà vẫn yêu thương chúng như nhau! Mẹ có thiên vị đứa nào đâu! Tất cả đều là con của Mẹ kia mà!
Và tôi nghĩ về bà Mẹ vĩ đại của dân tộc tôi: Mẹ Việt Nam! Tôi biết nói gì với Mẹ trong mùa Vu Lan. Mẹ có biết có những đứa con chửi rủa người thân? Có những đứa con làm tội làm tình lẫn nhau? Có những đứa con đạp vào mặt anh em chúng?... Tất cả chúng đều là con của Mẹ Việt Nam. Mẹ Việt Nam có riêng của đứa nào đâu?
Lòng tôi chùng xuống, thành khẩn nguyện cầu cho Mẹ Việt Nam mãi là Mẹ của chúng con.
Tôi ngồi suy tư cho đoạn kết bài viết này. Chợt có tiếng khóc của trẻ con bên hàng xóm. Và cất lên lời ru của người bà, người bà của thế kỷ XXI đang ru cháu bằng lời bài hát – chứ không phải lời ru cổ: Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào…
Mẹ của tôi ơi! Mẹ Việt Nam ơi! Mãi bao la tình Mẹ trong tôi.
 
Blogger Sợ Chữ     
 
       Những ngày Tết, ngoài chuyện đi thăm bà con, bè bạn, tôi lại lên mạng. Các trang mạng đều có lời chúc mừng năm mới, đại ý là chúc sức khỏe, chúc tấn tài, tấn lộc, hạnh phúc, an khang… Dẫu là người khó tính đến mấy đi nữa, nhưng khi đọc những dòng chữ ấy, bạn cũng cảm thấy có chút vui như được nghe lời nói, như thấy được nụ cười lịch thiệp, chân tình của người chúc Tết mình.
       Tình cờ, tôi vào một trang blog. Xin phép cho tôi được nêu tên dù có trùng tên của ai đó. Xin chớ hiểu lầm tôi. Tên trang mạng là Blogger sợ chữ. Quả là tên gây ấn tượng!
       Nếu bạn đọc những gì đã lưu trữ, liên kết trên trang mạng này, bạn sẽ thấy tay chủ blog này là tay sính chữ nghĩa, ham lý luận. Hầu hết các bài viết của tác giả đều đụng chạm đến cơm áo gạo tiền, đến con heo, con cá, đến Hoàng Sa, Trường Sa, đến chiến tranh biên giới phía Tây Nam, phía Bắc trong cuộc chiến với Pôn Pôt, với giặc Tàu để giữ từng tấc đất tấc lòng, đến phòng chống tham nhũng, đến luật đất đai… Còn liên kết thì khỏi phải nói, liên kết các tờ báo lớn trong nước, ngoài nước, liên kết với các trang văn học nghệ thuật, liên kết với các trang chính trị, trang blog khác… Nhìn chung, chỉ cần vào trang này, bạn có thể đi tất cả các trang khác. Không sợ tường lửa, không sợ bị mất mật mã, không sợ ai theo dõi, không sợ thiếu chữ nghĩa trên đời này. Kể cũng tiện lợi thiệt, nếu vào trang mạng của hắn ta. Chuyện xưa, chuyện nay đều có; chuyện Đông, chuyện Tây cũng có; chuyện đẻ, đái, chuyện đánh nhau, chuyện chiến tranh, hòa bình, chuyện thiên tai, chuyện thử vũ khí hạt nhân, chuyện hiếp dâm, chuyện bầu Giáo hoàng cũng có… Tất cả có! Nếu mệt, bạn cứ mở trang liên kết thư giãn, có thể đó là trang có những giai điệu tuyệt vời của nhạc thính phòng, có thể là giai điệu nhạc trẻ. Có thể đó là trang mạng gợi cảm, gợi dục. Kể cả chuyện bày cách làm tình, cách sử dụng sextoy, nếu bạn cần.
       Và rồi theo địa chỉ mail có trên trang Blogger sợ chữ , tôi đã liên lạc với chủ nhân.
       Ngày thứ nhất trong tháng, tôi mở mail. Nhận được mail của hắn. Cũng chỉ là lời chúc xã giao như bao người mới làm quen trên mạng. Tôi dè chừng hắn. Xem chừng, hắn cũng dè chừng tôi.
       Ngày thứ năm trong tháng, tôi gửi mail cho hắn. Tôi chờ hắn trả lời. Vẫn bặt tăm. Mãi đến cả tuần sau, tôi mới nhận được mail của hắn. Qua mail, hắn xin lỗi tôi vì sự trễ nãi trả lời của hắn. Và hắn đã nêu lý do rất chính đáng là vì hắn bận tham gia quỹ từ thiện góp công, góp sức, góp của cứu giúp những người bị bệnh “thiếu óc, “thiếu tim”. Lần đầu tôi mới biết đến thuật ngữ y học: thiếu óc, thiếu tim.
       Tôi gửi mail chúc mừng hắn tham gia làm từ thiện. Và rồi mail qua, mail lại, tôi như cởi mở với hắn; hắn cũng vậy. Tôi và hắn trải hết lòng với nhau. Tôi thầm cảm ơn Internet. Có thể, tôi e dè, khó bắt chuyện khi đối diện với ai đó. Nhưng qua mạng, tôi viết những dòng chữ bằng sự nghĩ suy chân thực của lòng mình. Tôi nghĩ qua mạng, một ai đó khủng bố bạn, nói xấu bạn, hoặc viết tốt về bạn thì đó cũng là lòng thực của kẻ ấy với bạn. Qua mạng, hầu như, dù nickname nào đi nữa, thì người ấy vẫn chính là người ấy. Tính tốt, tính xấu, tính ác, tính thiện đều thể hiện rõ qua những comment, những mail…
       Tôi lại vào mạng. Tra cứu thuật ngữ y học: thiếu óc, thiếu tim, nhưng vẫn không hiểu đó là những căn bệnh gì. Tôi chỉ còn biết tự hỏi với lòng như một đứa học trò nhỏ. Nào là: Bệnh thiếu tim là gì? Bệnh thiếu óc là gì? Tại sao có căn bệnh đó trong cõi đời này? Phải làm gì phòng, chống được căn bệnh đó? Tôi vẫn không tìm ra câu trả lời đúng nhất.
      Tôi vẫn ngồi trước laptop nghĩ suy về căn bệnh mới, lạ này. Đầu óc tôi như căng cứng. Tôi như không làm chủ được nghĩ suy của mình. Tôi thấy trước mắt tôi là bóng dáng của ai đó. Không rõ lắm! Hắn tự xưng là Blogger sợ chữ, và hắn mời tôi sáng mai uống cà phê tại quán Hương Xưa. Tôi cười và nhận lời.
       Tính tôi vẫn vậy. Không muốn trễ giờ, sai hẹn, nên tôi đến quán sớm khoảng 10 phút. Sáng nay, thấy tôi ngồi một mình, chủ quán đưa tờ Thanh niên cho tôi đọc. Tôi gật đầu, cảm ơn chủ quán. Trong khi chờ đợi hắn, tôi lật vội những tin. Tôi bắt gặp bài thơ Tổ quốc nơi biên thùy của Nguyễn Việt Chiến. Tôi thấy dòng chữ Tưởng nhớ những chiến sĩ hy sinh ở biên giới năm 1979 như đỏ lên. Ngoài trời mưa đang rắc hạt. Trời hơi se lạnh, cái lạnh của những ngày trong tiết Vũ thủy. Nhìn những hạt mưa, nhìn những cây lá trong cái lạnh đầu xuân, tôi như thấy cả một trời biên giới năm xưa qua bài thơ tôi thầm đọc. Bài thơ có giọng bi hùng. Tôi thoáng buồn, nhưng tin tưởng!
       Quán cà phê này, so với quán khác, có vẻ yên tĩnh. Quán có mở nhạc vừa đủ nghe. Khác hơn mọi khi, hôm nay, tôi được thưởng thức những bản nhạc nổi tiếng của Phạm Duy. Tôi như tắm mình trong dòng chảy âm thanh của những giai điệu quê hương. Tôi như tắm trong suối nhạc tự do của một con người đi suốt Con đường cái quan đất nước, có lúc hét to bởi những “tục ca”, gào lớn bởi những “đạo ca”, nhưng hơn hết là dạt dào, dịu dàng của những “tình ca” như có cả bóng dáng của những bà mẹ quê, những đứa trẻ chăn trâu, của năm tháng cha ông đi mở cõi... Tôi nhẩm hát theo: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời…”
       Tôi đứng lên, như một ca sĩ, tôi hát cùng Đức Tuấn, Mỹ Linh trên màn hình. Cả quán cà phê như hòa nhịp cùng lời hát… Như thể chúng tôi được cuốn vào điệu hồn dân tộc.
       Trước mắt tôi, biết bao người cùng tôi hát. Bên cạnh tôi là một cô gái. Cô mỉm cười và hát cùng tôi: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời…”.
Và rồi, cô ta tự giới thiệu cô là Blogger sợ chữ. Trời ơi, Blogger sợ chữ đây ư? Tôi không ngờ cô ta trẻ đẹp đến thế! Tôi sững sờ. Và tôi sững sờ hơn nữa khi cô ta nói nhanh, rồi đi cũng nhanh. Chỉ loáng thoáng lời cô ta: “Ông có biết căn bệnh thiếu tim, thiếu óc rồi chứ gì?... Có tim đó, có óc đó, nhưng tim có yêu nhân nghĩa đâu, óc có suy nghĩ chân chính đâu!” Tôi tự hỏi với lòng mình. Con tim yêu thương nhân nghĩa, bộ óc suy nghĩ chân chính không tồn tại trong từng con người sao?
       Các bạn có tin tôi không? Tôi mơ đấy. Chẳng có cuộc gặp ấy đâu. Tôi vẫn đang ngồi trước laptop. Đang đọc báo, tìm tài liệu, kiến thức trên mạng. Vẫn chọn lọc những tin xấu, tin tốt, tin sai, tin đúng. Tôi vào trang của hắn, dù hắn không có bài viết mới, để từ đó tôi có thể xem các trang khác. Tôi nhiều lần gửi mail hỏi thăm hắn. Nhưng tôi không nhận được trả lời.
       Ngày lại ngày, tôi vẫn phải làm việc để tồn tại. Và những khi rảnh, tôi lại lên mạng. Trước khi xem các tin, các bài viết, tôi thường mở mail. Thật là bất ngờ đối với tôi khi tôi nhận được mail của hắn. Tôi xin copy lại mail ấy để hầu các bạn.
 
        Thân gửi bạn Phan Trang Hy!
Xin bạn đọc những dòng chữ sau, xem như là tâm sự của Bloggger sợ chữ.
Có lẽ bạn ngạc nhiên, tại sao tôi sợ chữ? Có thể bạn nghĩ thầm tại lúc nhỏ tôi lười học, không thích tìm hiểu kiến thức của loài người, nên thấy chữ là sợ chứ gì? Xin bạn hiểu cho là sức học của tôi cũng tàm tạm. Đối với tôi, kiến thức, suy cho cùng cũng chỉ là những con chữ ghi lại. Những con chữ biến hóa thành ra vô số triết thuyết, chủ thuyết này, chủ thuyết nọ. Vì thế, khi học những năm đầu đại học, tôi cố đọc triết Đông, triết Tây, đọc Kant, Marx, Lénin, Tôn Dật Tiên, Mao, Gandhi… Tôi cũng có đọc Kinh thánh, tìm hiểu đạo Cơ đốc, đạo Hồi, đọc chiến tranh giữa các tôn giáo, thế chiến thứ nhất, thứ hai, đọc thủ đoạn chính trị, đọc sấm Trạng Trình, đọc tiên tri của Nostradamus, Vanga, … Chữ nghĩa như thể căng cứng trong đầu tôi.
       Thế là, tôi sử dụng cái vốn chữ nghĩa của mình để viết. Tôi viết những bài mang tính lý luận, có khi viết những bài có tính thời sự. Tôi không tô hồng, cũng không bôi đen cuộc đời. Tôi chỉ viết sự thực. Thế nhưng, sự thực ấy lại mất lòng biết bao người. Và cũng chính những bài ấy khiến tôi phải lao đao trong cuộc sống. Không  những tôi lao đao mà ông Tổng biên tập tờ báo “Không dối trá” lại phải khốn đốn, điêu đứng, bị chụp mũ là tiếp tay cho thế lực thù địch.
       Từ đó, nghe cái tên tôi, ai cũng dè chừng. Những bài tôi viết, hầu hết các báo, tạp chí không thể đăng. Dẫu tôi có lấy bút danh khác, nhưng với giọng văn như tôi, các bài tôi viết cũng không qua mắt được các tay kiểm duyệt. Tôi tự nhủ với lòng: Ai biểu viết sự thực? Nhưng rồi, lòng tôi mách bảo: Không thể dối trá với lòng mình. Không thể dối niềm vui, nỗi buồn của mình được. Không thể trá đen thành trắng được. Thôi thì cứ viết ra, gửi cho bạn bè, người thân, hoặc lập blog, thả lửng trên mạng… Có thể trăm năm sau, hoặc lâu hơn nữa, hậu thế không biết tôi là ai, nhưng có thể ai đó đọc bài của tôi, sẽ biết có một thời sự thực bị cấm đoán.
       Thôi thì thả lửng chữ trên mạng…
       Xin bạn thông cảm cho tôi.
       Blogger sợ chữ.
 
Đọc xong mail hắn gửi, tôi tự hỏi: Không biết mình có là kẻ sợ chữ không?
 
Đau Đáu Hoàng Sa                             
* Kính tặng các
chiến sĩ Hoàng Sa, Trường Sa…  
 
     Lệ thường, ngày nào cũng vậy, lão Ban lại ra biển. Không nhìn thấy biển là lão cảm thấy sao sao ấy. Lão dễ nổi cáu với vợ. Chỉ cần nhìn thấy biển, nhìn ra ngoài khơi xa là lão mới dịu đi những cáu ghét của cuộc đời. Lão đi biển không phải để nhìn thiên hạ tắm, không phải tập thể dục dưỡng sinh, cũng không phải bông lơn chọc ghẹo những mụ hồi xuân. Lão nhìn biển như thể cho vơi bớt nỗi lòng của mình, khi chẳng biết tỏ cùng ai. Thường là lão đi một mình. Nhưng lần này lại khác. Lão cùng thằng cháu nội ra biển chơi.
    Nhìn thằng cháu đang lượm những vỏ ốc, vỏ sò, những con sao biển, lão thấy hồn mình như nhập vào sóng biển. Vẫn tiếng sóng vỗ bờ, vẫn tiếng rì rào của đại dương, của hồn biển Đông muôn thuở. Vẫn đâu đây từ cõi sơ khai nước mặn, trời nồng. Bỗng thằng Phong - thằng cháu nội của lão - lên tiếng:
    - Nội ơi! Nội coi nè! Vỏ ốc này đẹp quá, nội ơi! - Vừa nói, nó vừa chạy tới khoe lão.
    - Ừ! Đẹp quá! - Lão khẽ nói.
    Nhìn vỏ ốc trên tay thằng Phong, lão lại nhớ cái vỏ ốc mà lão đã tặng cho Vũ, ba của thằng Phong. Quá khứ ấy như hiện ra trước mắt …
    Lão làm sao quên được cái ngày lão được nghỉ phép về thăm gia đình ở Đà Nẵng. Được trở về đất liền, được thăm vợ, thăm con - thăm thằng con trai, cái thằng con mà lão chưa biết mặt, lão cảm thấy sao quá tuyệt vời. Nằm thao thức, nghe sóng, gió mang vị mặn trong đêm, lão không ngủ được. Ngày mai là có tàu vào đất liền. Mừng thật! Vui thật! Nghĩ đến vợ con, lão lục tìm trong đầu nên tặng vợ, tặng con những gì? Ở trên quần đảo này có gì ngoài phân chim, cát vàng, san hô, ốc biển… Tặng gì đây cho vợ, cho con?
    Vừa về đến nhà, lão chào mọi người. Vợ lão ôm chặt lão, khóc: “Sao anh không ở ngoài đó? Anh về làm gì?”. Lão biết vợ quá thương mình nên nói vậy thôi. Chính vợ lão đã khuyên lão ra đảo nhận công tác khí tượng kia mà.
     Nhìn thằng Vũ nằm trên nôi, lão giơ hai tay ra, vừa vỗ vỗ vừa kêu lên: “Ba đây con! Cho ba bồng tí!”. Thằng Vũ nằm trong nôi khóc ré lên. Thương con, lão muốn bồng con, ôm con. Nhưng mỗi lần lão bồng nó thì nó không chịu. Một bữa, vợ lão lo sắm sửa một ít đồ dùng để lão ra lại đảo, bèn giao con cho lão. Thằng Vũ cứ khóc, không chịu cho lão bồng. Lão lấy những thứ đồ chơi bằng nhựa cho nó chơi, nhưng nó vẫn không chịu nín. Cực chẳng đã, lão bồng con và dỗ. Lão kêu kêu, cười cười; lão làm đủ trò; nhưng thằng bé vẫn cứ khóc. Khóc miết rồi cũng mệt. Mệt nên nó nín. Rồi nó đưa mắt nhìn lão, nhìn khắp phòng. Lão thấy mắt thằng bé nhìn các thứ để ở trong tủ gương như muốn khám phá điều gì đấy. Nhìn con, lão lấy làm lạ. Những thứ trong tủ có gì lạ đâu. Toàn san hô, ốc biển…, những thứ lão mang từ đảo về. Lão bồng con đứng trước tủ. Thằng bé cười - lần đầu nó nhoẽn miệng cười. Lão lấy mấy thứ nhỏ xinh cho thằng bé chơi, nhưng nghĩ lại, lão sợ thằng bé chơi, rồi nuốt bậy, nên lão cất. Thằng bé lại khóc. Cuối cùng, lão chọn cho con một con ốc to bằng nắm tay. Đây là con ốc lão lượm trên đảo đúng vào lúc nghe tin vợ ở nhà sinh thằng Vũ. Thằng bé cầm con ốc, ngậm vào miệng ra chiều thích thú.
    Kể cũng lạ! Từ khi chơi với con ốc, thằng bé lại muốn lão bồng, lão bế. Chỉ trừ lúc nó thèm sữa, còn thì nó đòi lão bồng chơi cùng con ốc cho bằng được. Nó cũng thích lão hát cho nó nghe, nó cũng thèm lão hôn nó…
    …Lão vẫn nặng nợ với đảo. Đảo là nhà, là phần cuộc sống của lão. Những lúc thương con, nhớ vợ, lão chỉ biết ngồi trên bãi san hô nhìn vào đất liền. Làm sao lão quên được những hoàng hôn. Màu sắc kỳ ảo vàng đỏ tím xanh cả biển. Mặt trời lặn dần xuống biển như thể thiên nhiên đang cất giấu viên ngọc hồng vào trong rương vũ trụ. Chỉ còn thứ ánh sáng diệu kỳ trên biển. Và trong lão sáng lên thứ ánh sáng của đêm, thứ ánh sáng gia đình, quê hương… Lão thèm được nhìn vợ, nhìn con, nhìn những gì thân thương của mình. Lão quên sao được những lần đem thư của con ra đọc. Ngó thế mà thằng Vũ cũng đã lớn rồi. Học lớp 11. Thư gửi cho lão, lúc nào nó cũng nhắc đến con ốc mà lão cho nó. Cũng từng ấy câu chữ, nó cứ viết vào những lá thư gửi cho lão: “Ba biết không? Bạn bè con, đứa nào cũng trầm trồ vì con có con ốc đẹp. Con đã từng khoe với bọn chúng là con ốc mang cả hình hài của quần đảo Hoàng Sa. Bọn chúng không tin. Nhưng con tin là thế!”.
    Lão cũng tin là thế! Lão tin quần đảo Hoàng Sa là máu thịt của quê hương. Làm sao lão quên được có lần lão đã dắt thằng Vũ về quê ở tận Quảng Ngãi. Trong lần giỗ chạp, ông tộc trưởng họ Đặng của lão đã từng nhắc rằng lão là kẻ hậu sinh đang kế nghiệp tiền nhân. Mở gia phả, lão rưng rưng đọc những dòng chữ ghi công tích của họ Đặng. Vua triều Nguyễn đã từng phái dòng tộc lão vượt đại dương trấn giữ Hoàng Sa. Lão cảm thấy như máu tiền nhân đang chảy trong cơ thể, tăng thêm nghị lực, tăng thêm tình yêu cho lão trên đảo Cát Vàng. Làm sao lão quên được lúc cúng tế, bà con tộc họ đã bỏ thức ăn, sau khi xong lễ, vào một chiếc thuyền làm bằng bẹ chuối, thả xuống biển. Mũi thuyền hướng về Hoàng Sa như thể rằng Hoàng Sa không thể quên trong hồn người đã khuất. Trong tâm tưởng lão, lúc nào chiếc thuyền bẹ chuối ấy cũng lớn như những chiếc thuyền của dòng tộc họ Đặng, họ Trần, họ Lê… ở quê lão vâng lệnh triều đình, tiến thẳng Hoàng Sa… Trong lão như trỗi dậy những bài văn tế các thủy binh thời ấy. Nhận lệnh vua, nặng nợ nước nhà, buổi ra đi đâu dễ dàng. Sóng gió trùng khơi, thủy quái dẫy đầy, đến Hoàng Sa đâu dễ. Các thủy binh được tế sống lúc lên đường như thể rằng quê hương vẫn nặng nợ với những người con. Lão bùi ngùi, run rẩy như có ai đang  bóp nghẹt trái tim. Lão khóc…
    Và lão đã khóc rất nhiều khi nghe tin thằng Vũ hy sinh trên Trường Sa năm 1988. Lão không ngờ như vậy. Kỷ vật cuối cùng của con lão là quyển nhật ký. Lão đã đọc đi, đọc lại hoài. Những dòng cuối cùng lão như thuộc lòng: “Ba ơi! Biển đảo là biển đảo của quê hương do cha ông để lại cho con cháu đời sau. Phải giữ để khỏi có tội với tiền nhân, với con cháu. Dẫu có hy sinh, con vẫn không hối tiếc điều gì vì đã thực hiện theo lời ba dạy.”. Đến giờ, lão vẫn không biết mình dạy con điều gì. Lão chỉ nhớ những việc làm, những tình cảm gắn bó với Hoàng Sa. Không biết có phải những điều ấy là lời lão dạy với con? Có lần thằng Vũ cầm con ốc đố lão - lúc nó vừa thi xong tú tài: “Đố ba, trên mình con ốc này có gì?”. Lão ngạc nhiên sao con lão đố như vậy. Nhìn con ốc, lão cười đáp: “Thì chỉ những chấm, những chấm màu vàng nâu”. Thằng Vũ cũng cười, nói: “Rứa con đố làm gì!”. Rồi nó chỉ từng cái chấm, hỏi lão có giống những đảo mà lão đã từng ở không, nhiều chấm có phải là quần đảo không… Và rồi nó kết luận: “Trên mình ốc có in hình quần đảo Hoàng Sa”. Kể cũng hay hay. Từ đó, nó để con ốc vào chỗ trang trọng nhất. Khi nhập ngũ, đi bộ đội hải quân, nó xung phong đi Trường Sa. Lão không gàn con. Nó cũng có tình yêu đảo như lão kia mà!
    Kể từ ngày thằng Vũ mất, lão như mất hồn. Cứ những đêm rằm, mồng một, lão lại ra biển. Dù nắng, dù mưa, lão vẫn ra biển thắp ba cây nhang hướng về Hoàng Sa, Trường Sa mà vái. Ngoài kia, những con thuyền thả lưới, những chiếc tàu đánh bắt cá sáng rực những ánh đèn như thành phố nổi trên biển. Trước mắt lão hiển hiện những ngư dân cần mẫn, chăm chỉ, chịu khó chịu thương. Trước mắt lão hiện lên những chàng trai giữ đảo, có cả hồn của những người như con trai lão cùng tiền nhân giong thuyền xuôi ngược biển Đông. Nhiều lúc lão lẩm bẩm một mình như đọc thơ về Hoàng Sa…
    Và rồi thành phố Đà Nẵng bổ nhiệm Chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa. Lòng lão trỗi dậy thứ tình yêu biển đảo mà bấy lâu nay ẩn trong tiềm thức. Người họ Đặng hôm nay lại nối tiếp họ Đặng, họ Trần, họ Lê… ở quê lão, như cái thuở cha ông vâng lệnh triều đình ra đảo, gánh trách nhiệm với Hoàng Sa. Lão thấy mình như trẻ lại, khỏe lại và vui hơn. Không vui sao được khi đất đảo quê hương được nhắc đến? Không vui sao được khi có người dám nhận trách nhiệm nặng mang? Lời thằng Vũ trong nhật ký sáng rực trong tâm trí lão: “Biển đảo là biển đảo của quê hương do cha ông để lại cho con cháu đời sau. Phải giữ để khỏi có tội với tiền nhân, với con cháu…”.
    Tiếng thằng Phong như đánh thức lão:
     - Nội ơi! Mai con phải vào thành phố Hồ Chí Minh.
     - Ở thêm ít ngày, được không? - Lão hỏi như trách .
     - Con phải vào để thầy hướng dẫn làm luận văn .
     - Thế thì phải vào thôi! Mà này, con làm  đề tài gì?
     - Dạ! Con làm đề tài về quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trong mối quan hệ với biển Đông.
Trầm ngâm một lúc, lão lên tiếng:
     - Gay đó con! Nhưng phải gắng thôi.
     - Dạ! Con nghe lời nội.
 
       Hai ông cháu cùng dắt tay xuống tắm. Nước biển tắm mát cơ thể lão, cơ thể cháu lão. Nước biển Mỹ Khê giống như nước biển Hoàng Sa. Lão nghe mằn mặn bờ môi. Lão đứng lên. Mặc từng cơn sóng đổ trên người, lão nhìn ra xa khơi. Đau đáu là Hoàng Sa trong nỗi nhớ…
 
Phan Trang Hy

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013