Thi Ảnh

Trần Tuấn Kiệt

Hạc Thành Hoa: Thế Giới Thi Ca Qua Thi Bản Của Hạc Thành Hoa - Trần Tuấn Kiệt

Trần Tuấn Kiệt

Sau 75, biến cố lớn lao của lịch sử, nhiều người đã ra đi, nhất là một số văn nghệ sĩ miền Nam. Có một số nhà văn, nhà thơ dường như không quan tâm đến chuyện đi là quan trọng, nhất là thi sĩ, đồi với họ, chỗ nào cũng là Đất nhân gian, chỗ nào cũng là quê hương, cũng là cố hương. Không để ý đến vấn đề thay đổi lịch sử nhiều, và cũng không để nặng vấn đề mới hay cũ trong họ. Mặc dù cuộc đổi thay đầy thảm họa và đầy máu xương đến họ và gia đình mình, những người giông giống như tinh thần Nguyễn Du đó ở lại như Bùi Giáng, như Hoài Khanh và như Hạc Thành Hoa:
Vô ngôn độc đồi đình tiền trúc
Sương tuyết tiêu thời hợp hóa long
Nguyễn Du
Cụ ngồi chờ đợi sương tuyết tiêu thời... Còn Hạc Thành Hoa thì cứ tự nhiên tự tại trước hàng hiên của mình như bài thơ tuyệt bút với những câu:
Dù cho đi khắp trăm miền
Cũng về nằm dưới hàng hiên ngắm trời
Cái hàng hiên đó thiết thân với nhà thơ đã đành, mà còn là cảnh vật vừa tự nhiên lại vừa bất tử.
Tôi còn nhớ thời trẻ, tôi chui vào rạp Long Thuận, loại rạp bụi đời ở chợ Saigon để coi phim cao bồi Mỹ đánh đấm la hét chơi... Không ngờ gặp một truyện phim của Anh quốc thật lạ... về đôi người tình. Trong truyện hai người đứng trên một chiếc cầu bắc qua dòng sông nhỏ, nước thau thau chảy bất tận.
Hai người cùng im lặng nhìn dòng sông, họ không than như Khổng phu tử: Thệ giã như tư phù bất xã trú dạ. Than ôi dòng nước chảy mãi như thế này ru! Mà người thanh niên nói với bạn tình: Chúng ta thì sẽ tan mất, còn vạn vật thì bất tử, nó bất tử như khoảng trời trước hiên của Hạc Thành Hoa
Ngày mai tôi vĩnh biệt đời
Vẫn còn lại... một khoảng trời trước hiên.
Quan điểm về thời gian, về bất tử tính, về tồn thể đã đưa tư tưởng nhân loại ra nhiều chiều kich tư tưởng khác nhau. Thi nhân xưa nay cũng vậy. Khoảng trời trước hiên, hay dấu chân kỷ niệm hay một không gian hiện ra trong tinh thần lãng mạn của nhà thơ thật phong nhiêu huyền bí vô tận.
Thơ Hạc Thành Hoa có một không khí trang nghiêm, có chiều sâu của tâm hồn đạt đến cõi thâm sâu về cái lý nhiệm màu của cuộc tồn sinh. Anh viết từ trước năm 1975, tác phẩm được các nhà xuất bản có uy tín in và được nhiều sự quý mến của bạn đọc, sự trân trọng của anh em văn nghệ đương thời.
Về thơ lục bát, đó là loại quốc thi cua VN mà trên thế giới khó có loại nào đạt tới như thế
Hạc Thành Hoa vẫn làm thơ lục bát, vẫn ngồi trước hàng hiên của mình để làm thơ, cái hàng hiên hay cái hành lang đó được Hạc Thành Hoa ghi nhận :
Lần đi dành lệ về nhà
Hành lang hay dãy bình sa cuộc đời
Lần tay tìm vết luân hồi
Thấy mình tựa lá bay ngoài phố đêm
Khiến tôi liên nghĩ đến mấy câu thơ tiền chiến của Lưu Trọng Lư
Đợi đến luân hồi sẽ gặp nhau
Cùng em nhắc lại chuyện xưa sau
Riêng nghĩ mình là chiếc lá bay ngoài phố đêm thì đìu hiu đơn độc thật. Tâm hồn Hạc Thành Hoa như thế đó. Thơ anh toàn các cảnh u hoài khá buồn, khá cô đơn. Dù người ta nói cô đơn của thiên tài : Cô đơn đỉnh núí gần trời. Thơ Mặc Tưởng, hay cô đơn của Huy Cận : Hồn đơn chiếc như đảo rời dặm biên. Suốt một đời như núi đứng riêng tây. Cô đơn là một hình tượng của con người cao vời vợi trong niềm kiêu hãnh vô song.
Thơ anh, một loại bài đượm vẻ u hoài mênh mông đó. Ta thử đọc qua các tựa thì biết như : Lặng lẽ, Lạc loài, Tiếc thầm, Không đề, Những nốt nhạc buồn, Dự cảm lúc chia ly, Bến sương mù, Nỗi buồn vàng... Đó là cái buồn của một Omar Khayyam, của một Lý Bạch : Lai như phong hề. Thệ như phi. Bất tri hà xứ hề. Hà sở chung. Cái kiếp người Đến như gió thoảng, đi như mây bay, không biết ở phương nào đến, không biết đi về đâu. Như thế quả nhiên là nó như chiếc lá ngoài trời đêm, nó cũng chẳng luân hồi muôn kiếp như quan niệm của Phật gia nữa, nó rất gần với Bùi Giáng. Đạt đến cõi bờ kỳ ảo giữa mộng và thực chỉ có Trang Chu, rồi đến thơ Hạc Thành Hoa. Ta hãy đọc bài Bến sương mù :
Chỉ có sương là sương thế thôi
Bến xa như lẫn với mây trời
Phà đưa ta trở về bên ấy
Một bóng trăng chìm giữa nước trôi
Đúng là một nhà thơ lạ ẩn mình trên bến Cửu Long Giang, hay một cánh chim dừng cánh giang hồ ở quê hương Cao lãnh bây giờ. Người làm thơ, nếu không có chân tình, không có tinh thần lãng mạn thì thơ sẽ khô khan và giới hạn ở trong các ý niệm, các công thức, nhất là các loại thơ có tính cách chiến đấu, dù chiến đấu cho mục đích nào đi nữa. Cả đến khi thơ viết theo phong trào siêu thực, siêu hinh cổ điển và lối mà lớp trẻ đang hào hứng cho là tân kỳ, nhưng cũng bắt đầu hiện ra các ngôn từ gò bó dù gò ép theo ý hướng mới, như Tân hình thức chẳng hạn. Có là sự khuôn sáo, rỗng và khô khốc như Dadaisme ngày xưa không hơn không kém. Ta thấy trong hội họa, điện ảnh mới cũng hiện ra rất nhiều kiểu của học trò Picasso, các hình thể kỷ hà học, các ngang dọc vô tội vạ như điện tử, như hình học không gian, đượm một ít triết lý khoa học, không gian ba chiều của Albert Einstein chẳng hạn.
Thơ cũng không cần âm nhạc phù trợ khi ta thấy các « đại thi sĩ » cứ đi tìm phổ nhạc cho bằng được rồi mướn ca sĩ hò hét lên các thi bản, nhạc phẩm đó của họ.
Đời xưa các cụ thơ Trung quốc, các cụ làm thơ Việt cứ hô hào « Thi trung hữu họa » rồi đi lắp ghép các tranh cảnh bên ngoài, cố sao cho có đường nét hội họa hiện ra trong thơ. Tất cả chỉ là sự khuôn sáo. Thơ tự nó có đủ rồi cần gì đến tranh vẽ dàn ra trong đó.
Ta rất mừng vì một cố thi sĩ biết tự trọng và cả tự hào về thơ và không để những vết hoen ố cho thơ mình khi dính dáng đến họa và nhạc quá « cầu kỳ và khẩn thiết » đến như vậy.
Cho nên thi sĩ thực tài, xuất bản tác phẩm một cách tự tin tự nhiên như thế. Tất nhiên, không nóí đến tình bằng hữu sự cảm thông mà trong thơ có in nhạc và họa của các văn nghệ sĩ chung. Vài nét phác thảo hay phụ bản, và tranh bìa thi bản đã là quá đủ rồi.
Có những tập thơ làm thay đổi nghệ thuật, tư tưởng đương thời hiện đại như thơ Tô Thùy Yên, Bùi Giáng, Viên Linh...
Thế giới quan nếu chúng ta cần đến bàn về một thế giới quan của nghệ thuật hiện đại. Thật sự trong ngôn từ nay đã lộ ra khuôn sáo rồi còn gì.
Có một cụ già làm thơ Đường, thơ cụ không tài hoa như người khac nhưng cụ rất trọng thơ. Cụ không thích ngồi ngoài đường làm thơ nói thơ như thằng tôi. Cụ tiếp đãi tôi có trà rượu trân trọng và nói thơ cũng hết sức trân trọng trong quán nước có cây có cảnh hay trong nhà cụ có sẵn mọi tiện nghi. Điều này thằng tôi rất ngại, mất hứng bụi bặm của mình. Nhưng tôi học được ở cụ một cung cách thật quý trọng về sống với thơ và về lời phẩm bình về những vần thơ tuyệt bút
Cụ bảo : Thơ đó, thuộc về thơ Bề Trên ! không phải loại thơ trung lưu, hạ lưu gì cả. Tôi rất đắc hứng về lời nóí của cụ. Thơ của Bề Trên ! Trên Trời hay thượng giới nào đó chứ không phải của phàm phu tục tử ! Quả nhiên thú thật.
Thơ đó thí dụ như Nguyễn Du viết :
Vô ngôn độc đối đình tiền trúc
Sương tuyết tiêu thời hợp hóa long
hay Khổng Minh với :
Đại mộng thùy tiên giác
Bình sinh ngã tự tri
Thảo đường Xuân Thụy Túc
Song ngoại nhật trì trì
Và với Hạc Thành Hoa, đong đưa chiếc võng thời gian như Tagore nằm ngoài hàng hiên nọ đó thôi.

Trần Tuấn Kiệt

***
Thơ Hạc Thành Hoa

Lạc Loài

Niềm đau không đón được buồn
Đàn khuya thiếu nốt dìu hồn xót xa
Lần đi dành lệ về nhà
Hành lang hay dãy bình sa cuộc đời
Lần tay tìm vết luân hồi
Thấy mình tựa lá bay ngoài phố đêm
Đèn đường soi rõ dáng em
Trở về mới biết mình thèm yêu đương

Bụi Vàng

Đã bao chiều đứng bên sông
Nước trôi vô tận một dòng mang mang
Bên kia gío cuốn bụi vàng
Mình ta với bóng chiều tàn trên cao.

Thức

Đêm nay phố đợi giao thừa
Cành mai cũng thức đợi giờ ra hoa
Và em cũng thức trong ta
Chút gì lãnh đãng như là sương bay
Còn ta cũng thức đêm nay
Ngồi nghe pháo nổ mà ngây ngất buồn.

Bến Sương Mù

Chỉ có sương và sương thế thôi
Bến xa như lẫn với mây trời,
Phà đưa ta trở về bên ấy
Một bóng trăng chìm giữ nước trôi.

Hạc Thành Hoa

Nỗi Buồn Việt Nam - Trần Tuấn Kiệt

 
Sáu mươi năm lại một lần
Lụt trôi hằng vạn xác chồng bãi sông
Quê hương thưa nhạt sắc hồng
Ráng chiều in đỏ trăm vùng máu xương
Biển chiều thao thiết vong hồn
Rét tê đầu lưỡi khúc trường bi ca
Mai em uống nước giang hà
Giòng sông biền biệt chảy qua linh hồn
Đắng cay trăm quả bồ hòn
Em ơi hãy nhớ nỗi buồn Việt Nam
 
BẾN NGỰA
 
Xưa kia ta đến bên thành
Cỏ cây cũng nhớ thương mình ra hoa
Vầng trăng bến ngựa giang hà
Bia thành vách mộ lòng ta chợt buồn
 
(Trích Thơ Nai)
Trần Tuấn Kiệt
 
TRĂNG XUÂN THU
 
Ví mà có chán đời
lên núi nhìn chim bay
chưa chắc lòng đã thỏa
vì thiếu một bóng người
ví mà có ước vọng
về biển ngóng triều dâng
chưa chắc lòng đã thú
vì thiếu một vầng trăng
tôi nhìn chiếc lá bay
dửng dưng như cuộc đời
gió đông chừng đã lạnh
áo nàng ôm lấy vai
tôi mơ chuyện đời xưa
ồ ! dường như đã gặp
nàng ngày trước quay tơ
trong mùa trăng hiu hắt
nay tôi nhớ đến nàng
thắp cao ngọn đèn sáng
ôi ngàn năm ngàn năm
cớ sao buồn vô hạn
tôi ngồi hết buổi chiều
khói luồn bên quán nhỏ
xa mù mây bay theo
không biết lòng mờ tỏ
mai tôi về sau núi
mà cất am tị trần
vẽ hình nàng bên gối
ngồi ngắm suốt mùa xuân
mai tôi về sau núi
suốt đời ngắm ánh trăng
tôi ngồi yên từ đó
trong bóng sáng mơ màng
tôi ngồi yên từ đó
cầu nguyện áng mây trời
vầng trăng huyền diệu lắm
xin mây dừng lại thôi
tôi nghe tiếng hát nàng
văng vẳng lùa mây trôi
và lùa cả hồn tôi
trỡ về trong dĩ vãng
từ đó hỏi trăng rằng
mai này trăng của ai
không gian vừa khẽ động
buông ra tiếng thở dài
 
NHẠC THỜI GIAN
 
Khuya vắng dạo Hạc cầm
Nào thiếu bạn tri âm
Từ ẩn vào thiên cổ
Thời gian ửng tiếng đàn
Nhẹ ru đôi cánh mỏng
Khe khẻ động ngàn thu
Ngủ say bên bờ nước
Sóng lớp giăng sương mù
Hạc ơi dừng cánh lại
Nghìn trùng mây trắng bay
Người đâu kim cổ đó
Hóa thành Hạc bên trời
 
BÊN SÔNG TRẦN GIỚI
 
Non thần xa cách ngàn xưa
Hạc về gợi tiếng sầu đưa muôn trùng
Bến bờ sóng lớp mênh mông
Trăng khuya vàng rụng mấy tầng trời xa
Con thuyền giọng hát đêm qua
Ngỡ như Thần Hạc ngân nga giữa trời
Giòng sông chảy lạnh về khơi
Mộng trường sinh cuộn bến đời ngược xuôi
 
NIỀM HOAN HỈ
 
Trăng say đêm tỏa sáng
Bừng vui đón hạc về
Lòng sông sâu vô hạn
Bóng Hạc động hồn khuya
 
DẠO CHƠI
 
Bảy miếu năm hồ mây dạo chơi
Độ bao nhiêu trí tỉnh bao người
Thi thiên tinh thể nào ai biết
Giữa bóng vườn xanh hạnh sáng ngời
 
HẠC ĐẬU
 
Bến hồng bóng hạc về khuya
Nghe như băng giá trời chia bến bờ
Trăng sao thu khói tỏa mờ
Nhành cao Hạc đậu bên bờ lau không
 
GIẤC MƠ NÀO
 
Đêm khuya dạo khúc Hạc cầm
Gió thu mát dãy sông Ngân bến bờ
Trời đầy mộng với cung tơ
Nỉ non xa vắng bụi mờ thinh không
Tóc mây ai vuốt nên giòng
Thơ bay cánh Hạc lượn vòng thời gian
Lửa hương về với cung đàn
Giấc mơ thế kỷ muộn màng về khuya
 
MÙA GIÓ THU NÀO
 
Em theo mùa gió thu nào
Để quên nửa giấc chiêm bao đêm rằm
Ta về còn nửa vầng trăng
Điểm trang mặt ngọc âm thầm bên hoa
Hạc từ viễn phố rời xa
Mênh mông trời đất sương pha ít nhiều
 
HÌNH BÓNG MẸ QUÊ
 
Lưng gầy lạnh gió đầu thu
Tóc bay theo khói sương mù bãi xanh
Cồn tiên sóng lớp vây quanh
Năm mươi năm đã dấu hình mẹ xưa
Đông buồn ngày ấy bơ vơ
Lệ không chảy động hồn thơ giữa hồn
Chiến tranh khói lửa chập chùng
Biết đâu nội chiến quê hương oan cừu
Thanh bình khúc hát vu vơ
Đêm nay nhớ mẹ bên bớ lau không
Cồn tiên bóng hạc lượn vòng
Sầu riêng cúi mặt đôi giòng lệ sa
 
Hạc Thành Hoa:
Thế Giới Thi Ca
Qua Thi Bản Của Hạc Thành Hoa     
 
Sau 75, biến cố lớn lao của lịch sử, nhiều người đã ra đi, nhất là một số văn nghệ sĩ miền Nam. Có một số nhà văn, nhà thơ dường như không quan tâm đến chuyện đi là quan trọng, nhất là thi sĩ, đồi với họ, chỗ nào cũng là Đất nhân gian, chỗ nào cũng là quê hương, cũng là cố hương. Không để ý đến vấn đề thay đổi lịch sử nhiều, và cũng không để nặng vấn đề mới hay cũ trong họ. Mặc dù cuộc đổi thay đầy thảm họa và đầy máu xương đến họ và gia đình mình, những người giông giống như tinh thần Nguyễn Du đó ở lại như Bùi Giáng, như Hoài Khanh và như Hạc Thành Hoa:
Vô ngôn độc đồi đình tiền trúc
Sương tuyết tiêu thời hợp hóa long
Nguyễn Du
Cụ ngồi chờ đợi sương tuyết tiêu thời… Còn Hạc Thành Hoa thì cứ tự nhiên tự tại trước hàng hiên của mình như bài thơ tuyệt bút với những câu:
Dù cho đi khắp trăm miền
Cũng về nằm dưới hàng hiên ngắm trời
Cái hàng hiên đó thiết thân với nhà thơ đã đành, mà còn là cảnh vật vừa tự nhiên lại vừa bất tử.
Tôi còn nhớ thời trẻ, tôi chui vào rạp Long Thuận, loại rạp bụi đời ở chợ Saigon để coi phim cao bồi Mỹ đánh đấm la hét chơi… Không ngờ gặp một truyện phim của Anh quốc thật lạ… về đôi người tình. Trong truyện hai người đứng trên một chiếc cầu bắc qua dòng sông nhỏ, nước thau thau chảy bất tận.
Hai người cùng im lặng nhìn dòng sông, họ không than như Khổng phu tử: Thệ giã như tư phù bất xã trú dạ. Than ôi dòng nước chảy mãi như thế này ru! Mà người thanh niên nói với bạn tình: Chúng ta thì sẽ tan mất, còn vạn vật thì bất tử, nó bất tử như khoảng trời trước hiên của Hạc Thành Hoa
Ngày mai tôi vĩnh biệt đời
Vẫn còn lại… một khoảng trời trước hiên.
Quan điểm về thời gian, về bất tử tính, về tồn thể đã đưa tư tưởng nhân loại ra nhiều chiều kich tư tưởng khác nhau. Thi nhân xưa nay cũng vậy. Khoảng trời trước hiên, hay dấu chân kỷ niệm hay một không gian hiện ra trong tinh thần lãng mạn của nhà thơ thật phong nhiêu huyền bí vô tận.
Thơ Hạc Thành Hoa có một không khí trang nghiêm, có chiều sâu của tâm hồn đạt đến cõi thâm sâu về cái lý nhiệm màu của cuộc tồn sinh. Anh viết từ trước năm 1975, tác phẩm được các nhà xuất bản có uy tín in và được nhiều sự quý mến của bạn đọc, sự trân trọng của anh em văn nghệ đương thời.
Về thơ lục bát, đó là loại quốc thi cua VN mà trên thế giới khó có loại nào đạt tới như thế
Hạc Thành Hoa vẫn làm thơ lục bát, vẫn ngồi trước hàng hiên của mình để làm thơ, cái hàng hiên hay cái hành lang đó được Hạc Thành Hoa ghi nhận :
Lần đi dành lệ về nhà
Hành lang hay dãy bình sa cuộc đời
Lần tay tìm vết luân hồi
Thấy mình tựa lá bay ngoài phố đêm
Khiến tôi liên nghĩ đến mấy câu thơ tiền chiến của Lưu Trọng Lư
Đợi đến luân hồi sẽ gặp nhau
Cùng em nhắc lại chuyện xưa sau
Riêng nghĩ mình là chiếc lá bay ngoài phố đêm thì đìu hiu đơn độc thật. Tâm hồn Hạc Thành Hoa như thế đó. Thơ anh toàn các cảnh u hoài khá buồn, khá cô đơn. Dù người ta nói cô đơn của thiên tài : Cô đơn đỉnh núí gần trời. Thơ Mặc Tưởng, hay cô đơn của Huy Cận : Hồn đơn chiếc như đảo rời dặm biên. Suốt một đời như núi đứng riêng tây. Cô đơn là một hình tượng của con người cao vời vợi trong niềm kiêu hãnh vô song.
Thơ anh, một loại bài đượm vẻ u hoài mênh mông đó. Ta thử đọc qua các tựa thì biết như : Lặng lẽ, Lạc loài, Tiếc thầm, Không đề, Những nốt nhạc buồn, Dự cảm lúc chia ly, Bến sương mù, Nỗi buồn vàng… Đó là cái buồn của một Omar Khayyam, của một Lý Bạch : Lai như phong hề. Thệ như phi. Bất tri hà xứ hề. Hà sở chung. Cái kiếp người Đến như gió thoảng, đi như mây bay, không biết ở phương nào đến, không biết đi về đâu. Như thế quả nhiên là nó như chiếc lá ngoài trời đêm, nó cũng chẳng luân hồi muôn kiếp như quan niệm của Phật gia nữa, nó rất gần với Bùi Giáng. Đạt đến cõi bờ kỳ ảo giữa mộng và thực chỉ có Trang Chu, rồi đến thơ Hạc Thành Hoa. Ta hãy đọc bài Bến sương mù :
Chỉ có sương là sương thế thôi
Bến xa như lẫn với mây trời
Phà đưa ta trở về bên ấy
Một bóng trăng chìm giữa nước trôi
Đúng là một nhà thơ lạ ẩn mình trên bến Cửu Long Giang, hay một cánh chim dừng cánh giang hồ ở quê hương Cao lãnh bây giờ. Người làm thơ, nếu không có chân tình, không có tinh thần lãng mạn thì thơ sẽ khô khan và giới hạn ở trong các ý niệm, các công thức, nhất là các loại thơ có tính cách chiến đấu, dù chiến đấu cho mục đích nào đi nữa. Cả đến khi thơ viết theo phong trào siêu thực, siêu hinh cổ điển và lối mà lớp trẻ đang hào hứng cho là tân kỳ, nhưng cũng bắt đầu hiện ra các ngôn từ gò bó dù gò ép theo ý hướng mới, như Tân hình thức chẳng hạn. Có là sự khuôn sáo, rỗng và khô khốc như Dadaisme ngày xưa không hơn không kém. Ta thấy trong hội họa, điện ảnh mới cũng hiện ra rất nhiều kiểu của học trò Picasso, các hình thể kỷ hà học, các ngang dọc vô tội vạ như điện tử, như hình học không gian, đượm một ít triết lý khoa học, không gian ba chiều của Albert Einstein chẳng hạn.
Thơ cũng không cần âm nhạc phù trợ khi ta thấy các « đại thi sĩ » cứ đi tìm phổ nhạc cho bằng được rồi mướn ca sĩ hò hét lên các thi bản, nhạc phẩm đó của họ.
Đời xưa các cụ thơ Trung quốc, các cụ làm thơ Việt cứ hô hào « Thi trung hữu họa » rồi đi lắp ghép các tranh cảnh bên ngoài, cố sao cho có đường nét hội họa hiện ra trong thơ. Tất cả chỉ là sự khuôn sáo. Thơ tự nó có đủ rồi cần gì đến tranh vẽ dàn ra trong đó.
Ta rất mừng vì một cố thi sĩ biết tự trọng và cả tự hào về thơ và không để những vết hoen ố cho thơ mình khi dính dáng đến họa và nhạc quá « cầu kỳ và khẩn thiết » đến như vậy.
Cho nên thi sĩ thực tài, xuất bản tác phẩm một cách tự tin tự nhiên như thế. Tất nhiên, không nóí đến tình bằng hữu sự cảm thông mà trong thơ có in nhạc và họa của các văn nghệ sĩ chung. Vài nét phác thảo hay phụ bản, và tranh bìa thi bản đã là quá đủ rồi.
Có những tập thơ làm thay đổi nghệ thuật, tư tưởng đương thời hiện đại như thơ Tô Thùy Yên, Bùi Giáng, Viên Linh…
Thế giới quan nếu chúng ta cần đến bàn về một thế giới quan của nghệ thuật hiện đại. Thật sự trong ngôn từ nay đã lộ ra khuôn sáo rồi còn gì.
Có một cụ già làm thơ Đường, thơ cụ không tài hoa như người khac nhưng cụ rất trọng thơ. Cụ không thích ngồi ngoài đường làm thơ nói thơ như thằng tôi. Cụ tiếp đãi tôi có trà rượu trân trọng và nói thơ cũng hết sức trân trọng trong quán nước có cây có cảnh hay trong nhà cụ có sẵn mọi tiện nghi. Điều này thằng tôi rất ngại, mất hứng bụi bặm của mình. Nhưng tôi học được ở cụ một cung cách thật quý trọng về sống với thơ và về lời phẩm bình về những vần thơ tuyệt bút
Cụ bảo : Thơ đó, thuộc về thơ Bề Trên ! không phải loại thơ trung lưu, hạ lưu gì cả. Tôi rất đắc hứng về lời nóí của cụ. Thơ của Bề Trên ! Trên Trời hay thượng giới nào đó chứ không phải của phàm phu tục tử ! Quả nhiên thú thật.
Thơ đó thí dụ như Nguyễn Du viết :
Vô ngôn độc đối đình tiền trúc
Sương tuyết tiêu thời hợp hóa long
hay Khổng Minh với :
Đại mộng thùy tiên giác
Bình sinh ngã tự tri
Thảo đường Xuân Thụy Túc
Song ngoại nhật trì trì
Và với Hạc Thành Hoa, đong đưa chiếc võng thời gian như Tagore nằm ngoài hàng hiên nọ đó thôi.
 
Trần Tuấn Kiệt
 
Thơ Hạc Thành Hoa
 
LẠC LOÀI
 
Niềm đau không đón được buồn
Đàn khuya thiếu nốt dìu hồn xót xa
Lần đi dành lệ về nhà
Hành lang hay dãy bình sa cuộc đời
Lần tay tìm vết luân hồi
Thấy mình tựa lá bay ngoài phố đêm
Đèn đường soi rõ dáng em
Trở về mới biết mình thèm yêu đương
 
BỤI VÀNG
 
Đã bao chiều đứng bên sông
Nước trôi vô tận một dòng mang mang
Bên kia gío cuốn bụi vàng
Mình ta với bóng chiều tàn trên cao.
 
THỨC
 
Đêm nay phố đợi giao thừa
Cành mai cũng thức đợi giờ ra hoa
Và em cũng thức trong ta
Chút gì lãnh đãng như là sương bay
Còn ta cũng thức đêm nay
Ngồi nghe pháo nổ mà ngây ngất buồn.
 
BẾN SƯƠNG MÙ
 
Chỉ có sương và sương thế thôi
Bến xa như lẫn với mây trời,
Phà đưa ta trở về bên ấy
Một bóng trăng chìm giữ nước trôi.

Bến Sông Trần Giới - Trần Tuấn Kiệt

 
Non thần xa cách ngàn xưa
Hạc về gợi tiếng sầu đưa muôn trùng
Bến bờ sóng lớp mênh mông
Trăng khuya vàng rụng mấy tầng trời xa
Con thuyền giọng hát đêm qua
Ngở như Thần Hạc ngân nga giữa trời
Giòng sông chảy lạnh về khơi
Mộng trường sinh cuộn bến đời ngược xuôi
 
Giải Lụa Điều
 
Thắt lưng với giải lụa điều
Nàng trơ vóc hạc bên triều thanh thiên
Trời cao bồng đảo nổi lên
Nhân gian từ đó xa miền thái hư
Mây giăng hải đảo xa mù
Đỉnh non trường tại thiên thu hiện hình
 
Hình Bóng Mẹ Quê
 
Lưng gầy lạnh gió đầu thu
Tóc bay theo khói sương mù bãi xanh
 
Cồn tiên sóng lớp vây quanh
Năm mươi năm đã dấu hình mẹ xưa
 
Đông buồn ngày ấy bơ vơ
Lệ không chảy động hồn thơ giữa hồn
 
Chiến tranh khói lửa chập chùng
Biết đâu nội chiến quê hương oan cừu
 
Thanh bình khúc hát vu vơ
Đêm nay nhớ mẹ bên bớ lau không
 
Cồn tiên bóng hạc lượn vòng
Sầu riêng cúi mặt đôi giòng lệ sa
 
Chiều Mưa...
 
Chiều mưa
sau khi bạn ghé thăm quay về
(Tặng Hồ Hữu Thủ
Phan Bá Thụy Dương)
 
Mông lung - chiều mưa tạnh
Bạn xa gần - viếng thăm
Chợt nghe - lòng hiu quạnh
Tri âm - đã quay về
Một mình - gác thêm vắng
Trông chừng - nơi xa thẳm
Mưa gió - thi nhau về
Nước non - sôi máu lệ
Quê hương - kiếp lưu đày
Cười vui - cùng khói thuốc
Vui gì - mà thêm say
Chùa miếu - ồn hơn chợ
Kinh kệ - khói hương trùm
Động lòng - tình dâu bể
Chiều xuống - màu hư không
Chiều nặng - chiều tận thế
Từng hạt - rơi lê thê
 
Nỗi Buồn Việt Nam
 
Sáu mươi năm lại một lần
Lụt trôi hằng vạn xác chồng bãi sông
Quê hương thưa nhạt sắc hồng
Ráng chiều in đỏ trăm vùng máu xương
Biển chiều thao thiết vong hồn
Rét tê đầu lưỡi khúc trường bi ca
Mai em uống nước giang hà
Giòng sông biền biệt chảy qua linh hồn
Đắng cay trăm quả bồ hòn
Em ơi hãy nhớ nỗi buồn Việt Nam
 
Bến Ngựa
 
Xưa kia ta đến bên thành
Cỏ cây cũng nhớ thương mình ra hoa
Vầng trăng bến ngựa giang hà
Bia thành vách mộ lòng ta chợt buồn
 
Ngày Mưa
 
Ngày Mưa 1
 
Em ôm gối mộng bên lầu
Ngủ ngoan em rụng trái sầu bên chăn
Ngủ đi mơ mộng kẻo tàn
Mà hơi sương sớm lạnh tràn xương da
 
Ngày Mưa 2
 
Mưa luồng quãng lộ về xa
Chân im lối cũ ngày qua lặng lờ
Tóc huyền em chảy trong mưa
Nghe như năm tháng sầu xưa đổ về
 
S G. Trần Tuấn Kiệt

Đêm...* Sg. Trần Tuấn Kiệt

Ðêm Lạnh Ngồi Đọc Thơ
SAY GIỮA MÙA TRĂNG
Của Bùi Ngọc Tuấn
 
Ngồi lạnh buồn trong cơn mưa bão từ chiều. Gác vắng quá đơn độc và nhớ nhung quá, nhất là khi mình giở tập thơ Say Giữa Mùa Trăng của Bùi Ngọc Tuấn ra đọc. Rồi lại khép lại, tự dưng nhớ đến một vầng trăng ngày nào còn ở trong ngục Chí Hoà. Lúc sắp chuyển trại, về sáng. Anh em tù tập trung lại để đưa đi xa. Mỗi người một vắt cơm. Cơm nhỏ đi gần, cơm lớn đi xa. Nhưng đi đâu thì đi cóc cần biết. Chỉ thấy trăng ngoài song sắt sáng ngời rọi vào trong phòng giam.
Dường như thi sĩ nào cũng có viết về trăng. Dường như xưa nay Trăng là linh hồn của thi sĩ hay là hiện thân bất tử của thi nhân với thời gian vậy. Với Bùi Ngọc Tuấn thì vừa say rượu vừa say tình mà cũng say Trăng. Mà Bùi Ngọc Tuấn say trăng, như một Van Gogh say mặt trời, với những hình ảnh siêu thực trong thơ chàng như bốc cháy cả vầng trăng thiên cổ ‘Trăng cháy đỏ, trăng đổ đầy máu lệ’ khác hẳn với vầng trăng bình yên tự thuở nào:
 
     Trăng cháy đỏ giữa trời khuya cuồng gió
     …
     Trăng cháy rồi mà gió hú khôn nguôi!
 
Trăng bốc cháy hay chính tâm linh nhà thơ đang ngút ngàn khói lửa. Lửa trời đất, lửa tâm linh và lửa của lớp lang lịch sử đã làm một cuộc phần thư ngày nào như Vũ Khắc Khoan trong Thần Tháp Rùa.
Lời của gió của trăng của thảm khốc. Thôi thì chúng ta, cũng như người đời đừng hỏi han cớ sự gì hết! Cái nỗi thảm khốc, thảm hoạ kia tự đâu mà ra! Nhưng ta có thể nghĩ rằng cái đầu nhà thơ đang bốc hoả! Và thi nhân đã hóa thân thành ánh lửa tự lúc nào!
Rồi có lúc lắng dịu để cho hồn trăng, và tiếng đàn hoà lẫn bốc hương bên trời lận đận khiến ta nhớ nhiều đến Giang Châu Tư Mã và Khúc Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị xa xưa. Có lẽ bài Ðàn Trăng tặng cho Ðào Vũ Anh Hùng một người bạn lớn của chúng ta đã lắng nghe nhiều nỗi.
 
     Tắt đèn rót rượu chờ trăng
     Tiếng đàn hàng xóm động trang thơ buồn
 
Trang thơ buồn như giòng nước trên bến Tầm Dương, như nỗi lòng của người trên bước lưu đày biệt xứ xa quê hương tự thuở trời đất nổi cơn gió bụi Tự buổi ‘đàn trăng vương nỗi điêu linh bên trời’ Sao ngậm ngùi thế ấy! Thế rồi ‘tắt đèn rót rượu chờ trăng’ cho đến lúc ‘đàn trăng rượu đã ngất ngây - Ðêm vơi, trăng xế, chống tay lặng người’… Những câu thơ lục bát không còn là thơ điệu nữa, nó bốc hơi men lung linh dưới vầng nguyệt bạch - nó hiển hiện lên hình ảnh của thi nhân như một bóng dáng liêu trai nào mờ mờ nhân ảnh, ngồi hà tư hà lự thế kia!
Trong cuộc đời có những điều hết sức oái ăm đó là tri âm tri kỷ ít khi được ở gần nhau. Trước hay sau gì đó, rồi cũng cách chia nhiều ngã đường đời. Vì thế mới có bài Lý Bạch tiễn Uông Luân, mới có nỗi buồn Bá Nha mất Tử Kỳ hay Khổng Phu Tử mất Nhan Hồi. Như Nguyễn Khuyến nhớ Dương Khuê. Một người ở muôn trùng xa nhớ về một người ở quê hương, như ngừơi đi chốn non nước quan san nhớ về cố quận. Ðó là tâm tình của Bùi Ngọc Tuấn với Nguyễn Ðức Sơn. Có một vầng trăng sáng, có rất nhiều rượu ngon, mà bạn thì ở bên trời còn nỗi niềm nào hơn nỗi khát khao hoài vọng ấy nữa.
Vả lại đời nay tình tri âm tri kỷ hầu như chỉ còn tồn tại ở trong tâm hồn của người nghệ sĩ có thủy có chung. Còn thế sự thì lao xao, khoa học tối tân điện tử máy móc tinh xảo đã đánh mất tình nghĩa của nhân loại từ lâu rồi.
 
Với Bùi Ngọc Tuấn, Rượu và Trăng và tuần trăng nữa như một thế kỷ chỉ có toàn Trăng và Rượu… Và Rượu là nguồn suối, là ngọn nguồn chảy ra từ lòng trăng sáng ảo huyền… thứ rượu có hào khí, thứ rượu của tinh thần Ðông Phương thi sĩ nó nâng ý chí cao vọi của con người, nó bốc thành sương bóng lung linh kỳ ảo dưới vầng trăng như một thuở nào ta thấy trích tiên thi sĩ ngồi trên chiếc bách, dưới ánh hào quang trên những đợt sóng thần ở bể Ðông. Từng chữ từng lời thơ những tinh thần lãng mạn sâu thẳm, siêu hình mênh mang ẩn ngữ trùng ngôn chi ngôn vô ngôn vô bờ vô bến… như kiếp người giữa đại hải đầy bão táp phong ba, và nhỏ nhoi vô cùng trước vũ trụ vạn vật… nhưng cũng cứ như các ngài triết gia ôm choàng lấy vũ trụ vạn vật không gian, thời thể thời tính ở trong quả tim của mình mà thị hiện vũ tru . Vũ trụ hiện thị ngô tâm… (Lục Tượng Sơn) thi ca tư tưởng là thế đó … Trọn bài thơ Sinh Nhật Ca, để cuối cùng thốt lên
 
     Lạnh băng ôi giòng đời
     Trôi miệt mài bất tuyệt
     Thôi, mang túi lên vai
     Ði về đâu chẳng biết
 
Trần Tuấn Kiệt xin tặng Bùi Ngọc Tuấn mấy câu thơ từ xưa của mình, thuở chúng mình, hai thằng thi sĩ lang thang ở các ngả đường ở thành phố Sài Gòn cũ …
 
     Mai sau hò hẹn xin ghi nhớ
     Ðừng để nhân gian lạnh lối về.
 
Câu hỏi đặt cho cơ sở tồn sinh một vấn đề cổ kim hận sự thiên nan vấn! Chỉ đâu đây có tiếng thở dài của Trần Tử Ngang: “Ðê đầu tư cố hương” Như là tiếng vũ trụ lên lời chào đón ngày về của thi sĩ … Nhưng dường như có tiếng nhạc của ai kia vọng lại, “Trăng nhớ Tầm Dương nhạc nhớ ngườI” - Xuân Diệu - kẻ đi người nhớ. Kẻ đi từ vạn cổ, tiếng nhạc tự ngàn thu và những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ! (Vũ Ðình Liên). Ngẫm người xưa, để nghĩ tới người đời nay, lần anh cũng đi vào thiên cổ, đi về đâu? Nó như khiêu gợi ta nhớ rất nhiều, nhớ rất đậm đến những vần điệu thiên tài kim cổ. Tôi chợt nhớ Bùi Giáng quá đỗi …
 
Rượu, Trăng, Sương khói, lầu thơ, ngấn lệ, đơn độc, hành nhân trên đường đời. Con đường của khách lữ, của kẻ lãng du, có thể đó là nẽo song hành hội thoại cùng biển dâu … dâu bể! Cũng có thể đó là lối nghịch hành tấp tểnh ngổn ngang nỗi hận sầu lịch sử điêu linh. Tâm hồn Bùi Ngọc Tuấn như 'chiếc hồ - (Le Lac ) - của Lamartine' buông cả khói cả sương, thả cả giòng sóng mênh mông trôi theo bến bờ vô định của chiếc bách giữa giòng … khiến ta hình dung ra nhà thơ dường như đang ngồi dưới gốc cây sồi nhìn ra lớp sương bóng mơ hồ của thời gian bên cạnh hồ rượu cũng bốc khói quyện vòng lên bao phủ lấy vầng trăng tình sử! Mang nỗi buồn bao la đó để mà
 
     Lang thang góc bể chân trời
     Rượu đêm khuya để ngậm ngùi vầng trăng
 
Từ lâu nay các nhà thơ lớn, thường quên cả nghệ thuật ngôn từ thi ngữ mới, để ẩn cư vào cùng vũ trụ hoang sơ nguyên tuyền của lịch sử, của cổ thi. Thơ họ Bùi cũng ngân lên điệu cổ thi mịt mùng đó sau khi đã trải qua từng cơn giông bão của hiện tiền lịch sử, của xã hội nhân gian, của đời mình … Thơ cao vọi đến Trăng, trăng hoà lẫn với thơ với rượu, rượu mang mang nỗi buồn trần thế, với những mùi hương xuân sắc lạ lùng… cho cả đến người em cũ năm nào …
 
     Trăng em vời vợi đêm trường
     Tóc thơm còn thoảng mùi hương quê nhà.
 
Ðể rồi những đêm say, mùa đổi nghe sầu vọng âm … cho đến âm hưởng cuối cùng:
 
     Ðời đã rót đầy men đắng cay
     Tiếng đinh đã đóng động quan tài
     Ngày mai nằm chết bên bầu rượu
     Tâm thể sẽ thành mây trắng bay
          (Sinh nhật ca)
 
Với bài “Trở về Ðơn Dương” có những vần điệu mà không dễ gì những nhà thơ lúc nào cũng ở quê nhà, hay nhà quê chưa chắc gì viết nổi:
 
     không còn gì nữa cả và
     nhạt hương của nắng - phai hoa của chiều
     nẻo dài gió lặng cô liêu
     rào nghiêng cửa mục cổng xiêu ngõ tàn
     cuốn mù muôn dặm thời gian
     cảnh xưa tâm cũ vút ngàn trùng khơi
     về đây vai áo tả tơi
     đường quanh đổi khúc - lá rơi lạnh lùng
     về đây chân bước ngập ngừng
     nương đồi lạc lõng - núi rừng xa xôi
     suối xanh giòng - trắng mây trời
     phải nơi cố quận! phải thời đã xa!
     không còn gì nữa cả và
     không còn sắc thể bóng tà huy xưa
 
Thơ chảy một giòng theo năm tháng, rồi cuộn lại quyện lại như vũng xoáy thời gian ngược giòng rồi lại tăm tấp trôi đi dưới bóng chiều mênh mông tịch mịch. Ðể rồi tất cả chìm vào vũ khúc đêm thâu:
 
     Sầu âm cung điệu phai tàn
     Lời vương nửa nhịp - tiếng đàn phân vân
 
Tiếng thơ Bùi Ngọc Tuấn buồn lắm! Buồn đến não lòng, buồn đến đứt ruột, buồn đến máu tuôn, hận đến nghìn đời, để rồi chuyển khúc vọng lên nỗi cuồng nộ dữ dội:
 
     Rừng phong bốc lửa điên rồ
     Trời đêm cuồng nộ cháy từ giòng trăng
 
Ðó là đêm gì, đêm của sa mạc hư vô, của loạn ly của đảo điên thế sự, của trời đất sinh, của núi sông tan tác bời bời, của tâm sự phản kháng cùng cực … cái định mệnh chó má của con người thời đại chúng ta:
 
     Lạc vào cửa quỷ nhà ma
     Ðường ngang lối dọc không ra khỏi buồn
 
Cửa quỷ, nhà ma, đường ngang, lối dọc thăm thẳm mê cung lớp lang lịch sử mà “giòng trầm luân vẫn xoay tròn tháng năm” vẫn là điệu luân vũ khúc, điệu của âm cung của hoả ngục, của trò chơi ma quỷ.
 
Các bạn tri âm tri kỷ còn ở lại bên kia trời trong đó có Trần Lam Giang, Bùi Hồng Sĩ, vợ chồng Nguyễn Khắc Nhân, Ngô Xuân Hậu, Phạm Tài Tấn, Nguyên Khai, Phạm Quốc Bảo, Phan Ngọc Diên, Hà Thúc Sinh v.v… xin mượn những vần điệu của họ Bùi để tặng nhau :
 
     Hơn nửa đời qua như chớp nhoáng
     Ðêm dài, năm ngắn chất trên vai
     Sự nghiệp? Quẩn quanh trò cơm áo
     Công danh? Trôi với gió mưa đời
 
     Rượu uống nửa đêm thêm nhớ bạn
     Mơ về nơi cũ buổi thanh xuân
     Chúng ta cười vỡ chiều bên quán
     Mà chẳng than đời, chẳng tiếc thân
          (Sầu gửi bạn)
 
"Sầu tư hương" gửi Viên Linh và Phan Nhật Nam gợi cho lòng người dù ở quê hương hay ở cõi xa xứ cũng một niềm ly hận:
 
     Cõi xa lạ hỏi nơi nào nương tựa
     Quê nhà xa vời vợi cuối tâm tư
     Sầu cay đắng đứng giữa đời điên loạn
     Ngửa mặt gào gió lộng tiếc quê xưa …
 
Bùi Ngọc Tuấn ơi quê xưa còn đâu nữa! Ta bây giờ chỉ biết trông trời mà ngâm như Nguyễn Du mà thôi “vời trông cố quốc biết đâu là nhà” Ðó chính là nguồn thơ, là bi kịch nhất của anh em chúng ta …- Và nhất định chúng ta sẽ giữ lại được quê hương mình, một quê hương chân chính, quê hương của tổ tiên từ thời Văn Lang để lại. Cũng chẳng phải đó là một quê hương siêu hình nào của Lý Bạch xa xưa … và kẻ vong quốc không phải là chúng ta đâu. Kẻ vong quốc chính là kẻ vong thân từ căn cơ tư tưởng hiện tiền ở tại đất nước hôm nay đó, của loài tà thuyết hư ngụy và bịp bợm đánh lừa trẻ thơ mà thôi - phải không Viên Linh và Phan Nhật Nam, Phương Triều, Trần Hoài Thư, Bùi Bảo Trúc, Ngô Vương Toại và Ðào Vũ Anh Hùng của tôi.
 
Dường như tôi có nói đến bài “Một Ðêm Trên Cánh Ðồng Tuyết Phủ” của Bùi Ngọc Tuấn ở đâu đó. Tôi chỉ xin ghi lại, hình ảnh này đã khiến cho tôi nhớ tới bài “Giang Tuyết” của Liễu Tôn Nguyên đời Ðường. Lâu nay tôi cứ đọc đi đọc lại bài Giang Tuyết đến thuộc lòng xin chép để tặng bạn thơ.
 
     Thiên sơn điểu phi tuyết
     Vạn kính nhân tung diệt
     Cô chu thoa lạp ông
     Ðộc điếu hàn giang tuyết
 
Có lẽ không bài thơ nói về tuyết nào đồng điệu hơn bài “Một Ðêm Trên Cánh Ðồng Tuyết Phủ” của Bùi Ngọc Tuấn - thật là kỳ thú tuyệt vời khi ta đọc lại mấy câu cuối trong đó :
 
     Cánh đồng - cánh đồng ngời tuyết phủ
     Tôi với vầng trăng cùng lạnh tê
     Bốn phía chân trời lung linh tuyết
     Gió lạc đường đi, mất lối về
 
Riêng cái thế giới ngất ngư của trăng của họ Bùi khác hẳn với trăng của Hàn Mặc Tử, của Xuân Diệu mơ màng trăng huyền hoặc, trăng ngọc bích, trăng vàng xô sóng bạc. Không phải trăng hư vô của họ Hàn, và Trăng Thiếu Phụ tuyệt vọng của Quách Thoại, trăng của Bùi Ngọc Tuấn trong cái yên lặng vô cùng đó cũng như chất men nồng càng uống càng say, càng thăm thẳm mênh mông và vĩ đại trước cái cô đơn, tạnh vắng, cái nhỏ nhoi của con người khiến cho đột nhiên, cảm nhận thấy chân lý của cuộc đời, thân phận của mình bỗng bơ vơ lẻ loi vô cùng… như những giòng thơ sau đây:
 
     Chúng tôi cùng im lặng dưới trăng thu
     Và thảng thốt, say sưa và run sợ
     (Ðêm trăng thu trên bãi biển Nhật Lệ)
 
Có một quyền năng gì đó của thiên nhiên kỳ bí chi phối đến định mệnh con người.
 
Ðọc tiếp bài “Mới ốm dậy đêm nằm nghe mưa viết gửi Trần Tuấn Kiệt” tôi tự hỏi: Một người tha hương như họ Bùi, từng cơn nhớ về cố quận, phóng những vần thơ như ánh sáng xuyên qua bốn biển năm châu về tận quê nhà có lẽ còn thú hơn một thằng tứ bề thọ địch - ở tại quê mà vẫn cứ hỏi … Trông vời cố quốc biết đâu là nhà! Không biết ai lại chịu lắm bi kịch hơn ai trong cõi hồng trần bụi bặm này nhỉ!
Phải không? “Vận nước nổi trôi” ôi nhớ làm sao những giòng nhạc của Phạm Duy, của Phạm Ðình Chương của Trầm Tử Thiêng (thằng bạn nối khố từ bé của tôi đã viết bài trường ca Áo Dài Việt Nam gì đó mà tôi được nghe một lần…)! Bùi Ngọc Tuấn ơi:  
 
     Rượu không mà tưởng say nhè
     Tay bưng mặt khóc hỏi quê chốn nào?
 
     Quê hương này đấy - hỡi người bạn thơ.
     Ta đứng lặng chìm sâu trong bóng tối
     Của hồng triều lịch sử Việt Nam
    (Trần Tuấn Kiệt - Những cành điệp cũ bên đường Lê Thánh Tôn)
      
 
Với bài Trăng Bùi Ngọc Tuấn đã lên lời đối diện với hư không. Họ Bùi nhớ trăng như nhớ người tình: 'trăng bỏ trần gian đi không về', như người trần gian nhớ cảnh thiên đường
 
     Hoa lưu động chủ ưng trường tại
     Thủy đáo nhân gian định bất hồi
          (Cổ thi)
 
Mang theo biết bao nỗi nhớ nhung biền biệt. Người đời đã ra đi. Ðã như họ Bùi bỏ thiên đường đi mãi không về nữa chỉ còn lại nỗi khao khát nhớ thương một bóng hình hư ảo
 
     Giữa trời tôi gào trăng rất lâu
     Trời ơi! Trăng chết ở phương nào
     Ðêm nay gió rú như cuồng nộ
     Ai xé ngang trời một ánh sao!
 
Những linh hồn đảo điên hoài cố hương xin hãy tỉnh lại cơn mộng, cơn say để mà sống với sa mạc trần gian thăm thẳm này. Nếu không sẽ tan thương hơn nhiều nỗi! Và hãy cứ thõng tay vào phố mà đọc thơ một mình giữa buổi chiều cuối năm như thi sĩ :
 
     Rượu rồi gõ chén ca chơi
     Năm tàn tháng tận chiều rơi nặng nề
     …
     Trông lên trăng xuống bao giờ
     Thõng tay vào phố đọc thơ một mình …
 
Như thế cũng là Tiếu Ngạo Giang Hồ lắm vậy! Lý Thái Bạch thường bảo Ðời như quán trọ bên đường! Bùi Ngọc Tuấn nhắc nhở ta:
 
     Quán đời ghé tạm chơi dăm lúc
     Mà bão giông tràn cho lệ sa
     Hỡi ơi! Trời đất nuông gian tặc
     Uất hận nghìn năm một sắc cờ!
 
Tiếng thơ càng xa xăm, càng đầy mộng, càng si mê càng đảo điên của thi sĩ họ Bùi, xin để xin nhường lại cho những người yêu thơ đón nhận …
 
Ta hãy mượn bài “Say Giữa Mùa Trăng” để tạm khép lại những cánh thơ hư hạc như mây ngàn ngoài bể Ðông cứ bay lượn cứ tuôn ra như không bao giớ ngớt. Bài thơ như sau :
 
     Trăng đêm nay chính là tôi ngất ngưởng
     Rượu đã rồi - tỏa ánh bạc nơi nơi
     Ðêm trong vắt vút sâu vào tâm tưởng
     Ðàn ai chùng cho nhạt ánh mây trôi 
 
     Tôi nằm xoãi trên đồi nhung cỏ mượt
     Cả thinh không còn lại cõi trăng vàng
     Lời thơ cổ thì thầm trong tiếng gió
     Không còn ai hiểu nghĩa của đêm trăng 
     Nàng loã thể trải mình ngời ánh nguyệt
     Da nõn nà sáng dịu cả nhân gian
     Tôi chết lặng trăm lần - tôi sống lại
     Yêu điên cuồng, say tuý luý miên man 
 
     Tôi nhảy múa khắp cõi trời hồng ngọc
     Sắc quỳnh hoa hương nguyệt quế là trăng
     Tôi chới với xuất hồn trong ảo mộng
     Bay lững lờ như một tiếng chuông vang 
 
     Ai nổi gió cho ngàn cây lóng lánh
     Tiếng ru trầm tha thiết động tâm tư
     Cánh vạc lẻ bên trời như đứng lặng
     Ðêm chưa tàn sao tôi đã ngất ngư 
 
     Trăng đêm nay chính là tôi lãng đãng
     Ðắm mình vào hương rượu ngát hương trăng
     Quên tất cả trần gian, quên mộng ảo
     Nàng với tôi là một ánh trăng vàng.
 
Nhưng tiếng thơ ấy mở phơi nhiều viễn tượng mới đưa ta về những chân trời mộng cũ. Một mối chân tình nào đó gởi gấm cho quê hương đầy giông bão đen tối hôm nay, một tấm lòng nào đó như sao băng trở lại vùng đại dương mênh mông của những ngày vuợt bể vì sự tự do tuyệt đối trong đời. Cái ngạo khí, cái hoài bão mở phơi ra từng trang thơ đầy Trăng Rượu và máu lệ và nỗi buồn như pho tượng lạnh lẽo bên bờ đại hải băng dương:
 
     Những đêm ngồi chết như hình tượng
     Tưởng đến nơi xưa, thời đã qua 
     Tưởng chuyện đổi đời là ác mộng
     Lòng chùng tâm sự, lệ buồn sa
 
Ðôi khi người ta cứ nghĩ Bùi Ngọc Tuấn như sống nửa tỉnh nửa say - nửa âm nửa dương, hư hư thực thực như để lãng quên trong rất nhiều nỗi dằn vặt khuôn nguôi - chìm đắm linh hồn sầu mang mang thiên cổ đó mãi:
 
     Rượu tàn còn lại gì không
     Gió tung cuối bãi, đầu sông trăng mờ
     Ướp hương men, ủ giòng thơ
     Cuối đường phiêu lãng, say chờ kiếp sau 
     Rồi mai bước lại từ đầu
     Vẫn tâm hiu quạnh, vẫn sầu nhân sinh
     Vòng xoay vẫn xoáy cho nhanh
     Thực hư, say tỉnh quay quanh không ngừng
     (Lòng nặng cơn say)
 
Chúng ta ở đây để tưởng nhớ đến những bằng hữu từ nơi xa xăm, nơi ấy cũng có những cơn mưa “vang giọng quê nhà” của người viễn khách, bài “Chiều Mưa Thương Nhớ” là một bài trong những kiệt tác về lục bát của thi sĩ hiện đại … Những bài lục bát đó, có thơ của Cung Trầm Tưởng, của Viên Linh, Trần Dạ Từ, Hoài Khanh, Nguyễn Ðức Sơn, Hoàng Trúc Ly v.v…
Rất nhiều bài thơ nói về đêm, về quán rượu vắng, về nỗi buồn thiếu bạn cùng say … hay là lúc thi nhân đã chạm trán quá nhiều với cuộc đời chỉ thích ngồi uống rượu một mình …Bùi Ngọc Tuấn ơi! Say Trăng, say Rượu hay say đời say tình bằng hữu tất cả chúng ta đều có lúc “Say Giữa Mùa Trăng” tất cả rồi. Mùa trăng bất tử. Mùa Trăng của một thời oanh liệt Xuân Thu … Mùa Trăng vĩnh cữu của thơ của nhạc, của trần gian của cõi bờ thấm đậm những tình nghĩa ở đời. Vì thế mà cứ như Nguyễn Du cứ để gió cây trót lá, để như Trăng ngàn ngậm gương thiên cổ cũng đã là thống thoái biết bao nhiêu rồi! Và bây giờ thì xin cùng bạn nâng chén nhé. Ta cùng Say Giữa Mùa Trăng đấy bạn!
 
SG Trần Tuấn Kiệt

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013