Thi Ảnh

Thiên Lý

Những Khóa Học Hè - Thiên Lý

 
thieutramtronggiaovientienganh
 
 
Tháng Tám đang từng bước dần tới mang theo những làn gió mát vào mỗi buổi sáng. Đàn chim trên vòm cây rúc rích đánh thức nhau dậy khi mặt trời vừa ló dạng, lấp lánh những tia nắng ban mai trên bầu trời xanh phơn phớt ánh vàng. Nắng hoà trong hơi gió thoáng mát, từ từ lan rộng ra một khoảng dài tươi đẹp cùng với tiếng hót của bầy chim sẻ mỗi lúc một ríu rít hơn. Nghe tiếng chim reo vui cho một ngày mới, tôi tưởng tượng đến tiếng reo nô nức của đàn trẻ nhỏ tíu tít chuẩn bị cho ngày tựu trường. Phải rồi, nhắc đến tháng Tám là nhắc đến tựu trường. Mùa hè chưa qua hẳn nên nơi thành phố tôi ở nắng tháng Tám chỉ tươi cười được vài giờ buổi sáng rồi hăm hở lấn gió đi xa, để mặt trời phải nhăn nhó phà hơi nóng gay gắt vào trưa đến tận cuối chiều. Cái nóng bức như lửa nung hừng hực cả đất trời đến độ ai cũng muốn ở nhà trốn nắng, vậy mà khi có việc cần phải đi ra ngoài, tôi vẫn thấy không khí rộn ràng trên đường phố từ những khuôn mặt trẻ thơ rạng rỡ theo cha mẹ đến các cửa tiệm trưng bày la liệt nào sách vở, giấy bút, sổ tay, lịch, bao nhiêu loại học cụ, các kiểu cặp đeo, quần áo, giày dép ... để sắm đồ đi học. Niềm vui của trẻ đã gợi lại cho tôi cảm giác một thời tuổi nhỏ, tôi cũng đã từng có những cảm xúc vui sướng, hồi hộp, nôn nao như thế vào những ngày chuẩn bị đến trường.
Hơn hai niên khoá rồi, tôi không còn được thong dong an hưởng những ngày hè nhàn nhã nữavì có thay đổi chút ít trong công việc. Những lớp mẫu giáo nhỏ “year around” * vừa chấm dứt năm học cũ vào cuối tháng Bảy, và các cô giáo cũng chỉ có ba tuần lễ để sửa soạn vào năm học mới. Trong ba tuần lễ đó, thì đã mất một tuần cho các buổi “ traning”, còn lại hai tuần thì phải thi nhau chạy “vắt giò lên cổ” đểhoàn tất nhiều công việc cho kịp ngày khai giảng. Tuy bận rộn như vậy tôi lại thấy thời gian trôi đi chậm chạp và uể oải làm sao! Có lẽ cảm nhận trong tôi về sự chậm chạp của thời gian bắt đầu từ những ngày “training”. Theo tâm lý chung của mọi người trong ngành thì ai cũng ngao ngán tuần lễ training vì phải ngồi thụ động tám tiếng,đau lưng, mỏi mắt và tôi cũng không là người ngoại lệ cho lý do đó. Nhưng với tôi, giữa sự ngao ngán ấy, vẫn có một chút nao nức, vui vui xen kẽ. Những khoá học cho giáo viên trước ngày khai giảng thường là vài đề tài mới liên quan đến chuyên môn như thay đổi giáotrình, cách sáng tạo portfolio trên computer, chỉnh sửa bản “report” cho “Parent teacher conferences”…tùy theo qui định mỗi năm. Những đề tài mới thì tôi còn cố vận dụng đầu óc vốn hay lơ đãng của mình để chú ý. Ngược lại, nếu phải nghe một đề tài cũ như “sexual harassment”, “health and safety”…thì tâm trí tôi lại lơ mơ về những ngày hè ở Việt Nam, những ngày tháng Tám, tôi và các bạn đồng nghiệp cũng phải tham dự những buổi học “bồi dưỡng chính trị” hoặc  “bồi dưỡng nghiệp vụ” na ná như thế này. Chút niềm vui của tôi là được thả hồn về với kỷ niệm ngay ở một nơi mà tôi đang ngồi im trong tư thế lắng nghe một ngôn ngữ khác với mình. Không biết bao nhiêu lần tôi nhìn người giảng viên rồi tự hỏi; biết bao giờ tôi sẽ được ngồi nghe một bài nói chuyện về trẻ em  bằng tiếng Việt, hoặc khi nào thì tôi có thể đứng ở vị trí người giảng viên để nói lên những ưu tư, những mơ ước của tôi cho thế hệ mầm non trên quê hương Việt Nam?
   Tôi nhớ lại khi còn đi dạy trẻ ở Sài Gòn, hàng năm vào tháng Tám là tháng toàn thể giáo viên mẫu giáo trong quận  trở lại trường “trình diện” rồi sau đó tham dự khoá học  chính trị hè. Mỗi lần có khoá học chính trị  ai cũng chán nản, cái chán chường lúc bấy giờ là phải bị nghe những điều mình không muốn nghe cho hết ngày này qua ngày nọ. Ôi,sao cùng một ngôn ngữ Việt Nam với nhau mà chuyện chính trịlại khó thâm nhập vào đầu đến thế!Những chủ nghĩa, lý tưởng xa vời ấy chẳng thu hút được một ai trong số chúng tôi bằng nhiều câu chuyện gia đình, chuyện cơm áo, vì thế trong khoá học lúc nào cũng ồn ào tiếng trò chuyện, mặc cho ông đảng viên cứ gân cổ nói. Cuối khoá làm bài “thu hoạch” thì các cô chuyền nhau những bài copy dài đặc, người viếtchẳng biết mình đã viết gì, người chép cũng không cần biết mình chép gì, cứ hí hoáy cho đầy tờ giấy để nộp. Những năm kế tiếp, khóa học chính trị hè được chúng tôi xem như một ngày hội ngộ cho tất cả các giáo viên gần xa về họp mặt, để vui vẻ kể cho nhau nghe bao nhiêu là câu chuyện hỉ, nộ, ái, ố trong cuộc sống lắm nỗi lo toan, cay đắng. Cũng vì sự ồn ào nhiều chuyện đó, phòng giáo dục đã quan tâm hết mức đến việc giữ im lặng. Vào trước khoá học chúng tôi hay bị cảnh cáo về vấn đề “ý thức” trật tự, và để thực hiện “ý thức” trật tự một cách triệt để, các bà trưởng phòng kết hợp với một số hiệu trưởng đi canh giữ sự im lặng giữa chúng tôi, khiến không một nguời nào có thể hé môi được trong giờ học. Không hoạt động bằng miệng được thì chúng tôi nói bằng giấy, những mảnh giấy con con ghi mọi thông tin cứ chuyền qua chuyền lại. Có cô thì ngồi vẽ vài tấm hình hí họa với ghi chú tếu phiá dưới rồi thảy cho người bạn gần bên xem, rồi cười khúc khích. Chưa kể đến cái màn ăn vụng như thời còn đi học. Tất cả những việc làm đó đều với mục đích là chống lại sự buồn chán và cơn buồn ngủ trong suốt khoá học. Những người ngoài không hiểu được thì rất bực mình và hằn học với tập thể giáo viên mẫu giáo là “childish” quá! Có một năm, sở  giáo dục tổ chức khoá chính trị hè cho cả hai khối giáo viên mẫu giáo chung với giáo viên tiểu học. Chúng tôi phải nể phục sự kiên trì lắng nghe của các thầy cô giáo ấy,họ ngồi ghi chép lời giảng một cách nghiêm túc. Sự khác biệt của hai phiá giáo viên mẫu giáo và tiểu học đã được nhìn thấy rõ ràng, một bên thì đạo mạo, trang nghiêm, từ cung cách ănmặc đến tác phong, còn một bên thì ồn ào, “xí xọn”, và màu sắc, chữ màu sắc này là chữ của một thầy giáo trẻ dạy lớp năm nhận xét. Nhìn bên ngoài là vậy, nhưng xét lại sự “tiếp thu” bài vở của cả hai bên thì không có gì là khác biệt cho lắm, bởi có một lần khi làm bài “thu hoạch”, tôi ngồi gần bên mấy cô giáo dạy lớp ba. Lúc bị bí chữ, tôi nhìn qua một cô để hỏi thêm ý trong bài ghi chép của cô, thì cô lắc đầu thành thật nói:
- Mình có ghi chép gì đâu, ngồi viết mấy dòng nhật ký cho đỡ buồn thôi!
Tôi quay qua hỏi một cô giáo khác, cô chìa cuốn sổ ghi đầy những con số và nói:
- Nãy giờ tôi ngồi tính tiền chợ thôi hà, em coi nè, thôi viết đại đi ca ngợi chính sách nhà nước nhiều nhiều là được rồi.
Ồ, thì ra thế, chính trị là môn học khó nuốt nhất không phải chỉ cho riêng giáo viên mẫu giáo chúng tôi đâu. Chắc phòng hay sở giáo dục cũng nhận ra điều này nên nhiều năm sau đó, những khoá học “bồi dưỡng chính trị” không còn nữa, nó được thay bằng những khoá “bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ”. Ở những khoá học này, các bà trưởng phòng chẳng cần phải nhọc lòng canh giữ chúng tôi im lặng mà tự động lớp học cũng im phăng phắc. Chuyên môn nghiệp vụ, gắn liền với công việc dạy trẻ hàng ngày nên không thể nào không chú ý được.
 Trở về nơi tôi đang làm việc hiện tại, tuần lễ training trong tháng Tám cũng được coi như tuần họp mặt của cả một “đội quân” trên  một trăm cô  ở khắp các trung tâm giáo dục mầm non lớn nhỏ thuộc San Juan County về dự. Nhìn họ vui vẻ tay bắt mặt mừng khi gặp lại nhau, những cái ôm vai thân mật, những câu thăm hỏi thường tình về gia đình, con cái và công việc thật rôm rả làm tôi càng thêm nhớ bạn bè ở Việt Nam, nhớ khung cảnh gặp nhau trong mỗi khoá học hè. Tôi cũng là một người trong “đội quân” đi dự trainning, cũng gặp lại bạn cũ, có người đã từng học chung với tôi ở College một thời gian dài, nhưng sự mừng vui chỉ là cái vẻ xã giao bên ngoài, không có một  sự đồng cảm chân thật nào bên trong nói lên được hết cảm xúc của mình  bằng tiếng Việt. Thế nên dù đứng chung với họ tôi vẫn cảm thấy mình bị lạc lõng, rồi lúc tìm chỗ ngồi họ rủ nhau ngồi theo nhóm, nhóm Mễ Tây Cơ, nhóm Navajo, nhóm Mỹ Trắng, còn tôi, chẳng có nhóm Á châu nào quen để ngồi gần, đành ngồi một mình một góc tìm vui trong hồi tưởng qua hình ảnh của dân tộc họ với âm thanh cười nói râm ran chung quanh. Đứng trước khung cảnh quen thuộc gần như một công thức của công việc này, đôi khi đầu óc tôi bị lẫn lộn giữa quá khứ với hiện tại, giữa môi trường làm việc xưa ở quê nhà và nay ở quê người, giữa vui và buồn, giữa lẻ loi và thân thiết. Những suy nghĩ miên man ấy lại chia tâm trí tôi ra thành nhiều mảnh nhớ mông lung, tha thiết, rời rạc...Tôi ngồi im lặng lắng nghe người giảng viên nói bằng mắt, để hai tai tôi thảnh thơi mơ theo những âm thanh vui thuở nào, thuở của những ngày tháng Tám ở Việt Nam, những ngày rộn ràng trong khoá học, những lúc bận rộn vẽ tranh, những giờ tỉ mỉ làm     bảng bé ngoan, những giây phút cắt dán hoa cỏ trang hoàng lớp học. Trong khoảnh khắc nhớ đó, tôi mơ hồ nghe tiếng vài người gọi tên tôi, có phải bạn tôi gọi không nhỉ? Chắc bạn muốn khoe tôi bức tranh bạn vừa mới vẽ, sao tiếng gọi nghe như thúc giục, dồn dập quá chừng và rồi một cái vỗ vai mạnh đã kéo tôi ra khỏi cơn mê  “home sick”:
- Mai, your turn now, introduce yourself.
 Ngượng ngùng cho sự lơ đãng của mình, một cỗ máy với công thức cũ đã bắt đầu từ lâu, tôi đứng dậy, ngập ngừng … Tôi muốn tự giới thiệu về mình bằng ngôn ngữ  Việt Nam, muốn cho mọi người nghe được tiếng nói của nước tôi, một đất nước  nhỏ bé nằm xa tít bên kia bờ đại dương, có một bề dày lịch sử thăng trầm đầy đau khổ, có mấy chục triệu người dân cam phận, siêng năng, cần mẫn, chịu đựng bao nhiêu sự hà khắc của một chế độ độc tài... Trong đầu tôi tiếng Việt đang chảy đầy những suy nghĩ bắt đầu với chữ: “Tên tôi là … để cho tiếng Anh uốn theo đầu lưỡi phát ra trên môi như một phản xạ tự nhiên:  “My name is …”
 Khoá học đang dần dà đẩy xa sự hồi tưởng trong tôi vào ngăn cuối của dòng ký ức.
 Thiên Lý
  (29/7/14)
* Lớp học không có nghỉ hè

Biển Đau, Chờ Đến Bao Giờ - Thiên Lý

Biển đang chảy máu thành dòng
Biết bao cá chết trắng lòng đại dương
Người dân yêu biển xuống đường
Quyết tâm đòi lại môi trường sạch trong
  
Nhưng, than ôi!
Máu người, máu biển hoà chung
Bạo quyền đàn áp hãi hùng khắp nơi
Tiếng gào “ biển sạch” vang trời
Quan trên sao chẳng đáp lời kêu than
 
Nhìn cá chết, tím ruột gan
Thương ngư dân phận cơ hàn tối tăm
Biển đau từng tháng, từng năm
Sóng buồn vỗ những thanh âm não nề
Ai người trách nhiệm lắng nghe?
 
Loanh quanh dối trá một bè quan tham
Buôn dân, bán nước, vô tâm
Gây bao phẫn uất lòng dân oán hờn
Biển ngày nhiễm độc nhiều hơn
Dân tộc thoi thóp, giang sơn điêu tàn
 
Toàn dân ơi!
Đừng sợ nữa, bọn cường gian
Tiến lên!
Dân ta lớp lớp hàng hàng đấu tranh
Bảo vệ cho môi trường xanh
Chủ quyền đất nước ta giành về ta
 
cachet
 
TL 5/2016
 

Trong Sương Mù - Thiên Lý

 
Sương mù giăng khắp chân mây
Một màn trắng đục phủ dày trên cao
Tôi đi chẳng biết hướng nào
Khói vây quanh, tưởng đang vào thiên thai
 
Thoảng đưa trong gió hương lài
Xa nghe tiếng sáo theo hoài bước chân
Nhác trông bóng hạc bay gần
Vẫy đôi cánh mỏng khuất dần vào mây
     
Để lại giữa đám sương dày
Những vòng sắc đủ màu quay nhẹ nhàng
Sắc xanh, đỏ, tím, cam vàng
Rực lên một ánh hào quang sáng ngời
     
Hồn tôi mơ đến cõi trời
Lẫn trong nhịp mõ là lời kinh thơ
Tôi mơ đến được bến bờ
Nương theo Phật pháp đón chờ từ bi
 
Trắng lòng, trắng cả lối đi
Đời như sương khói nên vì tu tâm
Nhân từ tỏa ngát hương trầm
Gieo xuống dương thế hạt mầm yêu thương
 
* Một buổi sáng sương mù
trên đường đi Albuquerque
 
Lời Tỏ Tình Dưới Trăng
 
Tôi gặp Thắng trong căn bếp nhỏ ở chùa Quang Minh. Lúc ấy, cả hai đều bận rộn với công việc “công quả” của mình. Thắng thì loay hoay sửa cái ống nước rỉ ở dưới bồn rửa chén, còn tôi và các chị bạn khác thì đang bận dọn dẹp những chén dĩa dơ sau một bữa cơm chay cho cả trăm Phật Tử đến dự nhân ngày lễ Phật Đản. Khi xếp lại những chồng dĩa sạch để cất lên một ngăn tủ trên cao. Tôi cố kiễng chân và nhảy lên hai ba lần để đặt chồng dĩa giấy lên ngăn tủ. Do sức đẩy mạnh của tôi, nên có một chồng rổ nhựa, rổ nhôm trên ngăn tủ đã đồng loạt rơi xuống đúng ngay lúc Thắng vừa quay đầu ra khỏi cái bồn. Rổ rơi lốp bốp lên đầu chàng rồi mới chạm xuống đất vang lên một âm thanh lớn. Thắng ôm đầu la lên:
- Úi da, đau quá!
Tôi hốt hoảng nói lớn:
- Thôi chết, em xin lỗi, em xin lỗi!
Cùng với tiếng nói của tôi là mấy câu hỏi dồn của các chị bạn:
- Cái gì vậy? Làm sao để rớt đồ dữ vậy Như?
Tôi ngượng ngùng, ấp úng:
- Tại cái tủ cao em cố với…
Tiếng chị Thuận cắt ngang:
- Lần sau mà với không tới thì nhờ người khác lấy dùm, em đừng có ráng với, có ngày đổ hết chén là mệt đó. May là chỉ có mấy cái rổ thôi. Ủa, mà ai để rổ trên ngăn cao vậy? Rổ người ta để dưới gầm tủ này chứ.
Thắng nói giọng như rên:
- Tôi để đó, tại sửa cái sink nên tôi phải dẹp bớt mấy cái rổ ở dưới, bỏ nó lên cao cho rộng chỗ. Rồi xoa đầu mình Thắng tiếp- Ui da, đau quá.
Chị Thuận lại gần Thắng hỏi:
- Đâu, đưa chỗ đau tui coi chảy máu trắng chưa? Xạo quá, có mấy cái rổ mà làm như là gạch rớt xuống đầu hổng bằng.
Thắng cười cười:
- Sao chị biết tôi xạo?
Chị Thuận nói như diễu:
- Biết chứ sao không, tôi rành mấy ông cựu Không Quân như anh quá mà. Bây giờ anh muốn ăn vạ gì đây?
- Thôi nghe, đừng có móc tôi nữa, tôi muốn hỏi cái cô nào mà liệng rổ lên đầu tôi đó, giận tôi cái gì thì nói ra làm gì mà nặng tay quá vậy. Tôi muốn cô đó phải chuộc lỗi đó nhé.
Tôi ngập ngừng:
- Anh muốn em chuộc lỗi …làm sao?
Thắng đưa cái đèn pin cho tôi nói:
- Cô chịu khó cầm cái đèn này soi dùm tôi để tôi dán keo vô cái ống này coi. Nãy giờ tôi vừa làm vừa soi một mình, mỏi tay, mỏi mắt quá trời.
Tôi hăng hái:
- Ồ, tưởng anh bắt chuộc lỗi gì lớn lao chứ cầm đèn pin thì dễ quá.
Tôi cầm cái đèn soi cho Thắng, chàng bảo tôi soi bên trái, rồi sang phải, dơ lên cao chút nữa, lại hạ thấp xuống chỗ này. Chưa hết, chàng còn sai tôi đi lấy đinh, lấy vít, lấy kềm. Lấy không đúng cỡ cứ phải chạy lên chạy xuống tìm kiếm, mỏi cái chân. Làm thợ vịn để chuộc lỗi coi vậy mà cũng mệt ghê! Tôi chỉ biết làm nhiệm vụ cho đến khi chàng sửa xong cái ống nước rỉ. Mấy chị bạn đã về bớt, còn lại chị Thuận và tôi cùng hai người đàn bà lớn tuổi trong căn bếp.Tôi nghe Thắng bắt chuyện với chị Thuận. Lần này tôi không để ý đến câu chuyện của hai người, hình như chị Thuận cũng thân với Thắng lắm thì phải? Tôi lẳng lặng thu dọn tàn dư đinh, ốc mà Thắng vất bừa bãi trên sàn nhà vào cái thùng đồ nghề của nhà chùa, rồi quay sang nhặt những cái rổ sắp lên nhau cất vào ngăn tủ phía dưới bồn.
 
Sau lần làm thợ vịn chuộc lỗi ấy, tôi chỉ xemThắng như một người quen giống như bao nhiêu người tôi quen đến chùa tự nguyện làm việc. Nhưng rồi, tôi đã bắt đầu chú ý đến chàng nhiều hơn khi tôi biết trước kia Thắng đã từng là lính Không Quân. Tôi rất có cảm tình với chữ “lính” bởi nghe qua chữ ấy, nó bao hàm một sự gian khổ, can trường, một đời sống kỷ luật gắt gao trong tập luyện. Nó còn hiển hiện một hình ảnh hào hùng, hiên ngang của những chàng trai mang trên người bộ quân phục. Với chữ “lính”, tôi cũng thấy lại hình ảnh của cha, của anh tôi trong thời chinh chiến đã qua.
 
Tôi còn nhớ vào năm mùa hè đỏ lửa 72, khi anh tôi đang chuẩn bị thi tú tài toàn phần, mà anh lại lười biếng không chịu ôn luyện bài vở, cứ rong chơi suốt ngày. Mẹ tôi thì nuông chiều anh hết sức làm cha tôi tức giận nói:
- Mày mà thi rớt kỳ này tao “tống” mày vào lính cho mày nên người. Bằng tuổi mày đã có khối thanh niên trai tráng cận kề với súng đạn, chết chóc mỗi ngày, chứ đâu có phải sung sướng như mày nhởn nhơ, chỉ ăn rồi học mà cũng không chịu khó.
Mẹ tôi xót xa nói:
- Trời ơi, sao ông lại muốn đưa con mình vào chỗ chết vậy?
Cha tôi nói giọng bực bội:
- Sao lại là chỗ chết, đâu phải đi lính ai cũng chết. Bà nuông chiều nó cho lắm vào để nó hư thân, con trai từng ấy tuổi rồi mà cứ núp sau áo mẹ, học cũng không ra hồn thì làm sao nên người, tôi quyết định rồi, nó đậu hay rớt gì cũng vào lính.
 
“Đi lính để nên người” vỏn vẹn năm chữ ấy của cha tôi mà ý nghĩa cho anh trai tôi biết chừng nào. Anh đã thực sự trưởng thành sau chín tháng vào trường Bộ Binh Thủ Đức học. Lần đầu anh về phép thăm nhà, tôi thấy anh thay đổi không ngờ được. Trông anh thật oai nghiêm trong bộ đồ lính. Tuy anh đen và gầy hơn hồi còn ở nhà, anh vẫn khoẻ mạnh, xách thùng nước nặng như không. Mẹ tôi là người ngạc nhiên nhiều nhất khi thấy vẻ công tử bột của anh đã mất hẳn. Đặc biệt là anh tôi lại hiền ra, không cáu gắt hay cú đầu tôi như trước nữa. Tôi thán phục đời lính quá chừng. .. Và tôi cũng đã thầm mơ ước nếu anh tôi mà giới thiệu cho tôi một ông “bồ” là lính thì vui biết mấy! Nhưng dạo ấy tôi chưa đủ lớn để nói chuyện bồ bịch, cũng chưa tới tuổi yêu thì chiến tranh đã kết thúc.
 
Anh tôi mất tích luôn từ cái ngày “giải phóng miền nam”. Không biết anh đã ngã gục ở chiến trường nào? Hay anh bị bắt làm tù binh? Hoặc anh đã trốn thoát được ra hải ngoại? Mẹ tôi như người chết dở, buồn rũ rượi … Rồi sau đó cha tôi bị lệnh đi tù. Nỗi buồn lo, sợ hãi lẫn nhớ thương con trai và chồng dai dẳng làm mẹ tôi suy sụp tinh thần, mẹ đau ốm liên miên. Cuối cùng mẹ đã từ biệt tôi ra đi mãi mãi… Tôi bơ vơ giữa cuộc đời nghèo khó, sống dựa nơi cửa chùa làm đủ mọi nghề để nuôi thân và nuôi cha tôi ở trong tù…
 
Bao nhiêu khốn khổ của ngày cũ đã đi qua, sao hình ảnh người lính của thời chinh chiến vẫn còn phảng phất trong tôi mãi. Nhiều khi buồn, tôi hay lái xe xuống khu Wesminter đến chỗ tượng đài hai người lính Việt - Mỹ, đứng hàng giờ nhìn bức tượng mà tưởng nhớ đến cha và anh tôi, rồi lại khóc một mình. Sau này, khi quen người đàn ông nào, tôi cũng hỏi người ấy trước kia làm gì, nếu không phải là lính thì tôi không muốn quen nữa... Và tôi cứ chờ đợi, cứ mơ mộng về một người lính xa xưa đến nỗi héo mòn cả tuổi xuân mà tôi vẫn phòng không gối chiếc…
Nghĩ đến Thắng, người lính năm xưa lòng tôi thấy vui vui làm sao.Tôi hí hửng khoe với 3 bà bạn ở chung nhà:
- Mấy chị biết không, em mới quen được một anh chàng hồi xưa là lính Không Quân đó, oai chưa!
Tôi vừa dứt câu thì đã được nghe bao nhiêu lời diễu cợt lẫn cảnh giác kế tiếp. Đầu tiên, chị Hoà trề môi nói ngay:
- Ôi trời, lính Không Quân hả, “danh tiếng muôn đời”, tiếng xấu không đó nghe. Hào hùng cũng dữ, mà trăng hoa cũng lắm.
Chị Thúy tiếp:
- Nè, hồi xưa Như có nghe câu “cầu nào cao bằng cầu ông Đốc, lính nào dóc bằng lính Không Quân" không? Lính Không Quân ghê lắm đó, cẩn thận đi em.
- Ê, bà còn quên câu “đường nào dài bằng đường Phi Đạo, lính nào xạo bằng lính Không Quân” đó nghe. Tiếng chị Hậu chen vào.
Chị Hoà lắc đầu, nhìn tôi châm chọc:
- Ờ, mà Không Quân nào thèm quen đứa nhà quê như mày hả Như? Mấy tay đó chỉ thích con gái đẹp, nhảy đầm giỏi thôi.
Câu nói của chị Hoà làm tôi nổi tự ái lên cãi:
- Thôi đi, ông đó bây giờ đâu còn là Không Quân nữa, ổng cũng già rồi, đàn bà đẹp nào mà chịu quen mấy ông già…
Chị Hoà ngắt ngang:
- Ấy, ấy tại mày không biết đó thôi, mấy ổng ỷ có cái “ mác” Không Quân hồi xưa đó, đâu có nghĩ là mình già, nên hãy còn lả lướt lắm. Hỏi chị Thúy mày kìa kinh nghiệm tình trường với các chàng Không Quân ra sao, nói cho nó biết đi Thúy.
Chị Thúy cười cười:
- Mấy chàng đó chỉ thích “mì ăn liền” thôi.
Tôi ngơ ngẩn hỏi:
- Là sao hả chị?
- Là “ready lên giường” đó. Không có chuyện hẹn hò romantic đâu cưng à.
- Thiệt vậy sao?... Ngừng một chút, tôi tiếp… Nhưng mấy chị ơi, theo em nghĩ thì đâu phải ông Không Quân nào cũng xạo. Mấy chị lên án lính Không Quân dữ quá.
Chị Thúy đổi giọng đồng tình:
- Ờ há, biết đâu chừng chàng của con Như hiền lành chất phác thì sao.
Chị Hòa lại trề môi:
- Úi trời ơi, tao chưa nghe lính Không Quân nào mà hiền lành, chất phác hết, toàn là “bán trời không mời thiên lôi” cả.
 
Tôi chợt nhớ đến lời nói đùa của chị Thuận hôm Thắng than cái đầu bị đau: “tui rành mấy ông cựu Không Quân như ông quá mà”. Lòng tôi chùng xuống một nỗi buồn vu vơ. Tôi nói:
- Em chỉ mới quen ổng ở chùa thôi chưa có gì hết mà, mấy chị nói làm em xuống tinh thần quá.
- Là dặn dò em theo kinh nghiệm của tụi chị để em cẩn thận chứ đâu có ai nói cho em nản làm chi. Chị Hậu ôn tồn nói.
Tôi nhìn chị Hậu hỏi:
- Ồ, hôm nào em rủ ổng lại đây chơi ăn cơm với tụi mình há, lúc đó cho mấy chị tha hồ mà phỏng vấn ổng về cái vụ “danh tiếng muôn đời” của Không Quân nghe , được không?
Chị Hoà hỏi:
- Mày dám rủ không? Mà ổng dám tới mới là Không Quân thiệt đó.
- Em rủ chắc ổng tới.
- Vậy chừng nào? Chị Thúy hỏi
Chị Hoà nhìn lên tờ lịch:
- Để coi, cuối tuần tới đi, chủ nhật mình đóng cửa sớm, tao sắp xếp thợ cho mày nghỉ ở nhà nấu nướng nghe Hậu, rồi chị cười, sẵn dịp tụi mình coi mặt chàng cựu Không Quân của em Như chúng ta luôn.
Giọng chị Thúy và chị Hậu: - OK!
***
Thế là Thắng đã trở thành người bạn chung của bốn đứa chúng tôi. Bốn người đàn bà độc thân cùng sống với nhau dưới một mái nhà. Chị Hoà là người lớn tuổi nhất trong nhóm. Chị đang làm chủ một tiệm nail, căn nhà mà chúng tôi đang ở là của chị Hoà. Chị ly dị chồng, hai con gái lớn đã lập gia đình ra ở riêng.Chị Hậu là em họ chị Hoà, hãy còn độc thân, chị đến từ tiểu bang Arizona để làm nail cho tiệm chị Hoà. Chị Thúy thì góa chồng, được con gái bảo lãnh từ VN sang khoảng 5, 6 năm gì đó. Do bất đồng về cung cách sống cũng như sinh hoạt trong gia đình các con. Thúy giận con dọn ra ngoài, tấp vào ở với chị Hòa và Hậu. Chị Thúy làm việc ở một tiệm bánh. Người nhỏ tuổi hơn các chị là tôi. Đời sống tôi cũng cô độc, tôi theo cha định cư ở Mỹ theo diện H.O. Thời gian đầu, hai cha con tôi sống ở Concord với một người bà con xa bên mẹ. Sau đó vài năm cha tôi qua đời, tôi dọn về Nam Cali trôi dạt vào làm việc ở hãng medical vùng Irvine này, vì muốn đi làm gần nhà, nên tôi đã mướn một phòng ở nhà chị Hoà cho tiện.
 
Cuối tuần nào Thắng cũng ghé qua nhà chơi, gọi là chơi chứ thường chẳng có ai ở nhà. Thỉnh thoảng thì Thắng gặp chị Thúy, có khi thì gặp chị Hòa vài phút rồi chị lại tất tả chạy ra tiệm. Hậu cũng thế, nghề nail cuối tuần là ngày bận rộn hơn cả. Còn tôi, thì cũng hiếm hoi lắm mới gặp được chàng, vì hãng tôi hay làm“overtime” cuối tuần. Dù chẳng gặp được ai thường xuyên trong nhà, Thắng vẫn đều đặn ghé qua hàng tuần để “duyệt” một danh sách sửa chữa lặt vặt cho chúng tôi mà không hề nhận một thù lao nào. Có tuần chàng sửa cái sink bị nghẹt, cái lò hư, cái máy giặt không chạy. Có tuần thì máy lạnh có vấn đề, máy tưới cỏ bị hư…
 
Tôi không biết Thắng siêng năng như vậy với mục đích gì, tôi đoán hoài không ra được mục đích của chàng. Tôi chỉ biết chàng là một người bạn tốt, bên cạnh tấm lòng tốt của chàng, sự “cảnh giác” về cựu không quân của các chị đã dần dà tan biến… Ai cũng khen Thắng nhanh nhẹn trong công việc, hoạt bát trong xã giao, tài giỏi trong những chuyện sửa chữa. Đồng thời tôi cũng nhìn thấy sự thay đổi đôi chút từ ba chị. Chị Hậu bắt đầu trang điểm nhiều hơn, chị Thúy tự nhiên thích diện đồ “fashion” để cho trẻ ra. Chị Hòa vốn lười biếng chuyện bếp núc nay lại hay sưu tầm các món nhậu để ra tay nấu nướng đãi Thắng…Chỉ có tôi vẫn là “bà nhà quê” muôn thuở, có điều tôi cảm thấy vui hơn mỗi khi gặp chàng, niềm vui gặp một người bạn, một người đã từng là lính cho tôi có nhiều cảm mến. Thỉnh thoảng nhìn Thắng, tôi lại nghĩ đến Long anh trai tôi, anh mà còn sống thì chắc cũng cỡ tuổi Thắng hiện giờ…
 
Tình cảm con người thật là khó hiểu vô cùng, người ta có thể ghét nhau lúc đầu rồi lại thương nhau về sau. Tôi đã nhiều lần bắt gặp ánh mắt tha thiết của chị Hậu nhìn Thắng, cử chỉ làm điệu của chị thật khác thường lúc ngồi chuyện trò với chàng. Tội nghiệp cho chị, một thời xuân sắc qua nhanh với những mối tình không có đoạn kết khiến chị lỡ hết tuổi xuân. Nhưng so với số tuổi của chị hiện tại, thì mùa xuân hình như chưa qua hẳn, chị biết sửa soạn khéo léo, nên từ cách ăn mặc, trang điểm đều toát ra vẻ thanh tao, trẻ trung. Chị Hậu cũng là một người đẹp đó chứ, chị có khuôn mặt trái soan tròn, nhìn rất phúc hậu, thêm nụ cười với hai cái lúm đồng tiền sâu sâu bên má duyên dáng làm sao. Đôi mắt chị hình chiếc lá được viền xâm rất khéo càng làm nổi bật lên một màu đen dịu dàng toát ra từ ánh mắt. Tôi nghĩ chị Hậu mà quen Thắng thì cũng xứng, cả hai người đều có vóc dáng cao ráo, Thắng cao hơn chị Hậu nửa cái đầu. Chị Hòa cũng vui vẻ với Thắng không kém. Chị có khuôn mặt đẹp “after” như mặt pho tượng Mannequin, chị rất mãn nguyện với vẻ đẹp sau khi “sửa chữa” hoàn chỉnh của mình, gặp người phụ nữ nào mà thấy xấu một chút là chị khuyên đi thẩm mỹ. Chị hết sức tán dương sự màu nhiệm của thẩm mỹ đã biến đổi cái xấu thành đẹp một cách nhanh chóng không ngờ được. Tôi cũng là người “bị” chị thuyết phục nhiều lần về chuyện sửa sắc đẹp. Có một lần, chị làm tôi bực mình khi chị bình phẩm tôi:
- Mặt mũi mày coi cũng được mà người mày ốm quá Như à, vú vê chả thấy gì hết, đi bơm lên nhìn cho hấp dẫn một chút. Hà tiện tiền làm chi, chết có mang theo được đâu.
Tôi cau có gắt lớn:
- Kệ em đi, chị nói kỳ cục quá! Mẹ em sinh ra em chỉ có vậy thôi, không có khuyết tật là tốt lắm rồi. Người ta nhỏ con thì cái gì cũng phải nhỏ mới cân xứng chứ, cần gì phải đi bơm. Em không có muốn nghe chuyện sửa sắc đẹp nữa đâu đó.
 
Từ đó, chuyện sửa sắc đẹp của chị không còn dành cho tôi. Chị Thúy thì rất vui tính, chị hay nói chuyện tếu lâm. Chị không đẹp lắm mà nhìn rất có duyên, tôi thích chị Thúy và chị Hậu nhiều hơn chị Hoà. Không biết rồi trong ba chị này ai sẽ là người Thắng đặt vào trái tim chàng. Thắng sống độc thân đã lâu nghe nói chàng cũng ly dị, vợ chàng là người Mỹ, chàng có một đứa con trai cũng đi lính, hiện đang ở North Carolina với vợ con. Thắng làm thợ bảo trì cho một công ty cơ khí, chàng hay dành thì giờ rảnh rỗi đến chùa sửa chữa vặt. Chàng nối đây điện làm đèn chớp nháy chung quanh các tượng Phật, chàng chỉnh “timer” những bóng đèn tắt mở tự động ở ngoài cổng chùa.Chàng đóng lại cánh cổng gãy, sửa cái trần dột…Tóm lại, tất cả những hư hao từ lớn đến nhỏ nào ở chùa, Thắng đều lãnh trách nhiệm làm. Tôi mến tấm lòng tốt đẹp và sự năng nổ của chàng.
 
Một chiều chủ nhật đẹp trời, Thắng mời cả bốn người chúng tôi lại nhà chàng chơi rồi sau đó đi ăn tiệm. Chàng ở trong khu town house Garden Grove. Căn nhà nhỏ xinh mà cũng có được ba phòng. Mặc cho ba bà ngồi tán chuyện với Thắng, tôi hỏi chàng cho tôi đi xem chung quanh nhà, bởi tôi cũng đang dành dụm tiền để mua một căn nhà town house nhỏ cho riêng mình… Dạo một vòng, tôi thấy thích kiểu nhà town house ở khu này vô cùng, bên ngoài còn có cái hồ bơi xanh mát. Tôi cứ tấm tắc khen hoài, khiến chị Hòa phải gắt lên:
- Thôi Như à, mày giống như nhà quê ra tỉnh thứ thiệt đó, thấy cái gì cũng lạ, cũng đẹp. Ngồi xuống đi.
Tôi ngượng ngùng chống đỡ:
- Thì hồi nào tới giờ em có được đi nhiều như chị đâu mà biết.
Sau màn tán gẫu là đi ăn. Thắng nói sẽ chở 4 đứa chúng tôi trên chiếc xe của chàng. Khi ra xe, Thắng có ý muốn tôi ngồi phía trước thì chị Hoà đã nhanh nhẹn đẩy tôi ra băng sau nói:
- Mày nhỏ con ngồi sau đi, bự như tao ba đứa ngồi băng sau sao vừa.
Tôi nói:
- Ngồi đâu cũng được mà.
 
Thắng chọn một nhà hàng sang của Nhật, mọi người đều có vẻ chuộng món sushi, trừ tôi ra. Sợ bị chị Hoà lại “nhiếc móc” tôi là nhà quê, nên cũng đành phải gọi sushi theo mấy chị cho… sang. Nhưng khi món ăn bưng ra, tôi không chịu được mùi cá sống, phản ứng tự nhiên là tôi đưa tay che miệng để khỏi ụa. Chị Hoà cau mày hỏi:
- Mày sao vậy Như? Bất lịch sự quá!
Tôi ấp úng:
- Em… chưa quen mùi này, khó..chịu… lại muốn ụa, tôi phải đứng lên chạy nhanh ra ngoài. Tôi nghe tiếng chân người phía sau, quay lại, tôi thấy chị Thúy. Chị hỏi tôi:
- Như làm sao thế? Có bị cái gì không mà không ngửi được mùi cá?
Tôi dựa lưng vào tường nói:
- Chắc tại em không thấy khoẻ trong người, nghe mùi cá sống em ghê quá.
- Sao hồi nãy Như còn order làm chi?
- Em order đại thôi, người ta có món gì khác không chị?
- Có chứ. Tiếng Thắng chen vào, làm tôi và Thúy giật mình quay lại
Chị Thúy hỏi:
- Ủa, anh Thắng ra đây chi vậy, Như với Thúy vô bây giờ nè.
- Ờ thì ra coi Như làm sao, nếu Như không thích sushi thì anh gọi món khác cho Như, thôi vào đi. Thắng dịu dàng bảo.
Tôi bước vào bàn trở lại lén nhìn chị Hòa. Chị lườm tôi khó chịu nói:
- Làm mình làm mẩy quá vậy cô nường.
 
Tôi im lặng, Thắng gọi người bồi bàn nấu cho tôi một tô bánh canh Nhật, chàng bảo món này dễ ăn lắm Như à… Tôi cố nuốt từng muỗng bánh canh nhạt thếch… Bữa ăn cũng trôi qua trong sự vui vẻ của mọi người.
Lúc Thắng dừng xe trước cửa nhà chàng để chúng tôi chuyển sang xe của chị Hoà. Thắng cố ý giữ tôi lại trong xe và hỏi nhanh:
- Như à, anh có chuyện muốn nói riêng với Như, thứ bảy tới Như có làm overtime nữa không?
Tôi lắc đầu:
- Dạ không, có chuyện gì quan trọng không anh?
- Chuyện riêng thôi, à, hay Như cho anh số cell của Như đi. Quen Như bao lâu rồi mà không có số phone của Như.
 
Vừa nói, Thắng vừa sờ túi áo rồi tặc lưỡi: - Ồ, mà anh lại không có cây viết nào ở đây. Để coi trong ngăn này coi.
Tôi nhìn Thắng loay hoay tìm cây viết, thầm hỏi không biết anh muốn nói chuyện gì với mình mà có vẻ cuống lên thế nhỉ? ...Chợt tôi nghe tiếng chị Thúy gọi to:
- Như ơi, lên xe về.
Tôi nói vội:
- Thôi thứ bảy anh tới chơi đi rồi Như cho anh số cell của Như sau.
Nói xong, tôi hấp tấp ra khỏi xe của Thắng, tôi nghe Thắng nói vói theo:
- Đợi tới thứ bảy cũng hơi lâu, thôi đành chờ. Bye Như nghe.
 
Thắng vẫy tay tạm biệt và nhìn theo xe chúng tôi cho đến khi khuất hẳn cuối đường. Trên xe, tôi bị chị Hòa cằn nhằn về chuyện tôi buồn nôn chạy ra ngoài, chị nói tôi làm như người thai nghén, ghê cơm tanh cá. Tôi bỗng thấy ấm ức cho mình và ghét cái miệng lải nhải của chị. Tôi nói chị Thúy mở nhạc lên nghe, tiếng chị Hòa cùng tiếng nhạc quyện vào nhau làm tôi thiếp đi nhanh trong giấc ngủ.
 
Đêm nay trời có trăng thật đẹp, bóng trăng tròn sáng rõ cả một khoảng sân rộng phía sau nhà. Tôi bước ra sau vừa đi, vừa ngắm trăng đang di chuyển theo mình. Tôi thấy lại thời thơ ấu, cũng một đêm trăng, anh Long và tôi đang đi bên cạnh nhau để thi đua xem ai đi mau hơn trăng. Đi một hồi tôi mỏi chân quá, đòi nghỉ chơi thì anh lại rủ tôi chạy để xem trăng có chạy nhanh như mình không. Tôi nghe lời anh chạy mà mắt thì cứ ngước lên nhìn trăng, không thấy những vật cản ở phía trước, nên tôi đã bị vấp té xước cả đầu gối…Lần cuối cùng anh em tôi gặp nhau là lần anh về phép đầu năm 75, anh cho tôi xem một cuốn thơ dày cũ nát, là cuốn thơ kỷ niệm của một người bạn trước lúc hy sinh đã tặng cho anh. Trong đó có bài thơ “Hoa Nở Để Mà Tàn” của Xuân Diệu là bài anh rất thích, anh dạy tôi đọc theo anh say sưa:
 
Hoa nở để mà tàn
Trăng tròn để mà khuyết
Bèo hợp để mà tan
Người gần để ly biệt
Hoa thu không nắng cũng phai màu
Trên mặt người kia in nét đau.
 
Tôi chầm chậm bước chung quanh vòng cỏ ngoằn ngoèo lẩm nhẩm đọc lại từng lời thơ cũ ấy mà lòng nhói đau. Tôi nhớ đôi mắt đỏ ngầu của cha, khuôn mặt mếu máo của mẹ. Tôi nghe rõ tiếng khóc nấc nghẹn của mình trong ngày nghe tin anh mất tích… Thẫn thờ thả mình xuống chiếc ghế, tôi ngồi bó gối, áp một bên má lên hai cánh tay, mắt hướng về bóng trăng. Nơi tôi đang cố tìm lại cảnh gia đình quây quần bên mâm cơm đạm bạc thuở nào…Rồi từ ánh trăng, tôi mơ màng thấy một luồng ánh sáng rực rỡ chiếu ra... Thấp thoáng trong vùng sáng đó là bóng dáng anh Long đang đi đến phía tôi cùng với một cô gái rất đẹp trong bộ đồ trắng, trên đầu cô cũng đội một vòng hoa màu trắng. Anh tôi gọi:
- Kìa Như, đứng dậy đi thay đồ chứ, hôm nay là ngày cưới của anh, có bố mẹ đến dự nữa nè.
Tôi mừng rỡ chạy lại gần anh hỏi:
- Đâu, bố mẹ ở đâu hả anh Long?
 
Anh không trả lời, tôi ngơ ngác nhìn quanh, có một đám mây xanh nào vừa kéo tới lẫn trong luồng sáng rực kia, làm chói lòa cả một góc trời trước mắt. Tôi không còn nhìn thấy anh tôi và cô gái nữa, Tôi hốt hoảng gọi:
- Anh Long, anh Long.
Tiếng gọi của tôi đã đánh thức tôi. Mở mắt ra, tôi thấy một người đàn ông mặc áo trắng ngồi trước mặt mình mờ mờ, lung linh. Tôi dụi mắt:
- Ủa, anh Thắng.
Thắng mỉm cười:
- Trời ơi, Như ngồi ở đây mà sao không khoá cửa trước, ngủ kiểu này ăn trộm vô nhà khiêng chủ nhà đi chắc cũng không biết.
Tôi ngượng ngùng:
- Như mới chợp mắt một chút thôi, bộ anh đến lúc Như đang ngủ hả, sao anh không gọi Như dậy?
- Gọi làm gì, thấy Như ngủ ngon quá, trông giống con mèo cuộn mình trên ghế. Như mơ thấy người yêu cũ hả, Long nào thế?
- Long là anh trai Như đó, không biết Như chợp mắt từ lúc nào mới vừa thấy anh Long đây, rồi anh lại biến mất. Buồn quá.
- Như ngủ đúng 14 phút 20 giây tính từ lúc anh đến đây. Anh trai Như bây giờ ở đâu?
Tôi buồn bã nói nhỏ:
- Anh Long mất tích lâu rồi, không biết bây giờ anh ở đâu nữa… Rồi như sợ Thắng hỏi thêm, tôi vụt đứng dậy nói tiếp- thôi để Như đi rửa mặt đã.
Tôi chưa kịp bước đi thì Thắng đã nắm tay tôi kéo lại:
- Thôi đừng, Như rửa mặt làm chi mất hết nét hồng hào của cái mặt ngái ngủ.
Tôi gỡ tay Thắng ra:
- Anh chọc quê Như hoài.
Thắng nghiêm mặt nói chậm rãi:
- Như, anh muốn nói chuyện này với Như, ngồi xuống đi, mấy bà kia đâu hết rồi?
Tôi ngồi xuống nói:
- Chị Hậu với chị Hòa đi làm chắc tới gần mười giờ mấy chị mới về, còn chị Thúy thì về nhà con gái ăn sinh nhật cháu ngoại rồi. Tối nay chị ở lại đó.
Thắng cười cười:
- Anh có chuyện muốn nói với Như, đang lo mấy bà có ở nhà, may quá lại gặp được một mình Như ở đây.
Tôi tò mò hỏi:
- Có chuyện gì vậy anh?
- Ờ, là thế này, đầu tháng mười một này có cuộc hội ngộ khoá cựu sinh viên sĩ quan không quân của tụi anh ở San Antonio, anh muốn mời Như đi với anh. Như đi nhé.
Tôi hỏi lại:
- San Antonio ở đâu hả anh?
- Ở Texas cách Houston khoảng 3 tiếng lái xe.
- Vậy anh có mời mấy chị kia đi luôn không?
Thắng lắc đầu:
- Không, chỉ mời có mình Như thôi.
- Sao vậy anh? Như đi mà không có mấy chị kia Như ngại quá…
Thắng ngắt ngang lời tôi, giọng bực dọc:
- Anh nói lại là anh chỉ muốn có một mình Như đi với anh thôi, sao Như cứ muốn kéo mấy bà bạn vào theo là thế nào?
Tôi cúi mặt nhìn xuống chân mình nói:
- Tại anh là bạn của mọi người trong nhà, không phải chỉ riêng Như…
Thắng lại cắt ngang lời tôi, chàng cao giọng nhấn mạnh:
- Nhưng anh chỉ thích có Như, anh thích Như… Nói cho rõ là anh có cảm tình với Như nhiều hơn hết. Như biết không?
 
Tôi nhìn Thắng sững sờ… tưởng như có một mảnh trăng vừa rớt xuống chính giữa tôi với chàng. Ánh vàng phản chiếu rõ đôi mắt đắm đuối, nồng nàn kia đang xuyên suốt vào tận trái tim sầu héo của tôi. Ánh vàng rọi sáng trên vai áo chàng, trên mái tóc đã điểm bạc, trên vầng trán in dấu tích thời gian… Tôi bối rối di di ngón chân mình trên đất tự hỏi; có thật như lời anh nói không? Sao anh lại thích đứa “nhà quê” như mình mà không phải là Hậu, Thúy, hay Hòa… Thắng nhích ghế lại gần tôi, chàng chống hai khuỷu tay trên đầu gối, rồi đưa hai bàn tay nhẹ nhàng nắm lấy tay tôi nói tiếp:
- Như, hãy nghe anh nói; anh biết Như đã lâu kể từ khi anh bắt đầu vào chùa làm đèn. Vẻ hiền dịu với tính giản dị của Như đã gây chú ý cho anh rất nhiều…Đã bao nhiêu lần anh muốn làm quen với Như, nhưng mà lúc nào Như cũng quanh quẩn bên mấy bà, nên anh chẳng có dịp nào để bắt chuyện được. Mãi đến cái hôm Như làm rớt rổ lên đầu anh, thì anh mới quen được Như. Rồi Như mời anh về nhà chơi, trời ơi, lúc đó anh vui biết là bao, nghĩ rằng anh sẽ được bày tỏ những tâm tình riêng tư của anh cho Như nghe, sẽ được đi chơi với Như, sẽ được ở bên Như hoài…Nào ngờ, Như biến anh thành bạn chung của mọi người trong nhà. Anh vì tha thiết muốn gặp Như cứ phải đến đây hàng tuần, cố tìm một việc gì làm để chờ Như. Còn dặn lòng mình phải kiên nhẫn. Đôi lúc, anh cảm thấy buồn vì Như thờ ơ quá, rồi anh lại giận chính mình sao Như ngay đó mà anh không thể bày tỏ những điều riêng cho Như biết. Sự kiên nhẫn nào cũng có giới hạn, anh không thể chờ đợi lâu hơn nữa, vì vậy anh đã quyết định phải nói với Như một lần... một lần như đêm nay… Nói thật với Như nhé, có nhiều đêm anh mơ thấy Như trong giấc ngủ… lại còn ao ước một ngày nào… Như sẽ… bằng lòng về sống với anh cho hết cuộc đời còn lại…
 
Tôi im lặng nghe từng lời của Thắng như đang tận hưởng một dòng nước mát từ từ thấm nhẹ vào những góc cạnh khô nứt trong tâm hồn mình. Hơn hai mươi năm qua, tôi đã đắm chìm trong cuộc hành trình mơ tưởng về một tình yêu với người lính. Tôi đã sống với những mộng ước viễn vông, với sự chờ đợi héo hắt, với niềm hy vọng thật mong manh. Tất cả đã vắt kiệt gần hết sự ướt át của thời tuổi trẻ trôi nhanh theo năm tháng, cho tôi ngỡ là trái tim lẫn tâm hồn mình đã chết héo tự lâu rồi. Thực lòng tôi cũng cảm mến Thắng, nhưng tôi vốn là đứa hay mặc cảm tự ti, cứ khép mình trong một thế giới an phận, biệt lập.Tôi không dám nghĩ đến một ngày nào có một người đàn ông, một người là cựu lính chiến, sẽ đến bên tôi để nói những lời tỏ tình khi tuổi xuân của tôi đã ngày càng ở xa. Thế mà đêm nay, dưới bóng trăng, tôi đang có Thắng ở bên cạnh, đã cho tôi những lời tình êm như mơ, nhẹ như dòng nước đang lan rộng dần, tràn ngập lên môi, lên mũi, lên mi cho những giọt nước mắt hạnh phúc trào ra trên má tôi không kềm được…
Thắng chuyển qua ngồi trên chiếc ghế cạnh sát bên tôi, chàng quàng tay qua vai tôi hỏi giọng lo lắng:
- Kìa, sao Như khóc vậy? Anh nói làm Như buồn sao?
Tôi bặm môi lắc đầu, lấy ngón tay chậm nước mắt.Tôi ấp úng nói:
- Như vui cũng ... khóc… Như cũng sợ… không biết… anh nói… thiệt lòng không?
Thắng nâng mặt tôi lên:
- Như, nhìn thẳng vào mắt anh đi, anh không bao giờ nói dối Như. Tại sao lại nghi kỵ anh vậy, Như chạm tự ái anh rồi đó.
 
Tôi cúi xuống im lặng, nghĩ đến câu: “Đường nào dài bằng đường Phi Đạo, lính nào Xạo bằng lính Không Quân”... Tiếng Thắng tiếp:
- Như à, trước khi anh lấy vợ, ngay cả lúc gặp người vợ trước, anh chưa từng có một cảm giác nào đặc biệt như cảm giác lúc gặp Như, nhất là bây giờ… Ngừng một lúc, Thắng chỉ lên mặt trăng nói , Như nhìn lên mặt trăng đi, hôm nay là ngày 14 sám hối đó, trăng 14 là mảnh trăng đầu cho 2 ngày 15, 16. Nó trong sáng rõ ràng như tấm lòng của anh, tròn đầy như tình cảm anh dành cho Như.
- …
- Như có thể không tin anh… Như cũng có quyền không thích hay không thương anh, nhưng hãy cho anh cái quyền. ..thương Như, nghĩ đến Như, anh chỉ mong là Như sẽ đi dự họp hội ngộ với anh nhé?
- …
- Như nói gì đi chứ!
Tôi nhìn Thắng hỏi:
- Anh muốn Như nói cái gì bây giờ?
- Nói gì cũng được, nói là Như đi dự hội ngộ với anh.
Tôi gật đầu:
- Như sẽ đi, hôm đó anh có mặc đồ quân phục không?
- Có chứ!
- Hôm nào có dịp anh mặc đồ bay vào cho Như coi với. Như chưa bao giờ nhìn thấy quân phục của binh chủng Không Quân ra sao.
Thắng trợn mắt:
- Như nói thiệt không? Chưa bao giờ thấy quân phục không quân hả, sao vậy?
Tôi gật đầu:
- Như nói thiệt, hồi đó ba Như với anh Như đi lính bộ binh, Như chỉ thấy bộ đồ lính của ba với anh Như thôi. Như chưa thấy những người lính mặc đồ khác bao giờ. Lúc 75, Việt Cộng vào Như mới học lớp 8 à, đâu có biết gì về lính không quân như anh đâu.
Thắng cười:
- Ok, mai anh chở Như lại nhà anh chơi, anh lấy đồ bay mặc cho Như coi, chịu không?
Tôi mỉm cười gật đầu, Thắng nhìn tôi đăm đăm, ánh mắt biết nói của chàng sao tha thiết đến thế. Tôi hỏi chàng:
- Sao anh nhìn Như hoài vậy, bộ mặt Như còn ngái ngủ hả?
Thắng phì cười:
- Không, tại Như dễ thương quá.
Vừa nói chàng vừa đưa tay vuốt tóc tôi, rồi mạnh dạn hôn nhẹ lên trán tôi… Chợt có tiếng động phía sau, tôi và Thắng cùng quay lại, bóng chị Hậu vừa lướt qua cánh cửa. Chắc chắn là chị đã nhìn thấy Thắng hôn tôi. Tôi ngượng ngùng đứng dậy, bỏ mặc Thắng chạy theo Hậu:
- Chị Hậu, chị Hậu mới về hả?
Tôi nghe tiếng Thắng phía sau:
- Anh ra đằng trước hút thuốc một chút.
Không trả lời Thắng, tôi đi quanh tìm chị Hậu, thấy chị đang đứng gần cánh cửa phòng giặt. Tôi nói:
- Em cứ tưởng là chị với anh Thắng thương nhau…
Hậu cắt ngang lời tôi:
- Thương hồi nào… Thắng thương em thì có…
Tôi ấp úng một cách ngớ ngẩn:
- Ảnh mới vừa…
Chị Hậu lại cướp lời tôi:
- Mới vừa tỏ tình với em xong chứ gì. Thắng nhờ chị sắp xếp để gặp em riêng lâu rồi, nhưng chị bảo anh ta phải tự cố sắp xếp lấy.
Tôi tròn mắt ngạc nhiên:
- Sao chị không nói với em? Em đang phân vân vì cứ nghĩ đến câu: “đường nào dài bằng đường Phi Đạo…” mà chị nói hôm bữa.
Chị Hậu cười lớn:
- Không đâu, chàng cựu Không Quân của Như đặc biệt đó, chàng thuộc người chân thật nhưng chắc là chỉ chân thật với Như thôi. Ủa, mà ổng trốn đi đâu rồi?
- Ổng đi ra ngoài hút thuốc. Tôi vừa nói vừa xếp mấy cái chén sạch vào ngăn tủ.
Chị Hậu bước ra, giằng lấy cái chén trên tay tôi:
- Thôi, ra ngoài đó nói chuyện với người ta đi, đừng làm bộ luẩn quẩn ở đây nữa.
Tôi ngần ngại một lát, chị Hậu đẩy tôi tới giục:
- Đi đi!
Tôi bước ra ngoài sân trước, nhìn quanh tìm Thắng. Chàng đứng bên cạnh cây Tùng xanh cao, mắt ngước nhìn lên trời. Tôi đi nhẹ đến sau lưng chàng hồi hộp hỏi:
- Ủa, sao anh bảo ra đây hút thuốc?
Thắng quay lại nhìn tôi mỉm cười:
- Anh định hút thuốc, nhưng thôi…Rồi Thắng quàng tay qua vai tôi xiết nhẹ, chàng cúi xuống thì thầm. - Anh muốn hôn Như quá…
Tôi mắc cỡ quay đi, hỏi sang chuyện khác:
- Ngày mai anh có đến chơi không?
- Có chứ, ngày mai anh sẽ đến chở Như đi chơi, Như muốn đi chơi đâu?
- Như muốn đi ngắm biển, đêm trăng trên biển chắc đẹp lắm hả anh?
- Ừ, đẹp lắm.
Tôi nhắc thêm:
- Rồi anh sẽ mặc quân phục cho Như coi nữa.
Thắng cười cười:
- Ừ, sẽ cho Như thấy hình ảnh của người lính Không Quân… già.
 
Nói xong, Thắng nâng mặt tôi lên, nhẹ nhàng đặt môi chàng lên môi tôi một nụ hôn dài say đắm. Tôi chơi vơi trong cảm giác lâng lâng, ngẩn ngơ nhìn bóng trăng đang lặng lẽ dấu một nửa mặt sau làn mây, chỉ hắt ra một chút ánh sáng mờ ảo kỳ diệu. Ánh sáng của tình yêu sau bao nhiêu năm dài u tối, tôi nhắm mắt lại nghe trái tim đập lên từng nhịp bồi hồi. Đêm nay tôi sẽ mơ một giấc mơ đoàn tụ thật vui, thật ngọt ngào có cha mẹ, có anh Long và có Thắng…
 
Ta Còn Nợ Nhau
 
Ngày xa anh, lòng em đầy u uẩn
Tưởng ân tình như dứt được từ đây
Đêm một mình bên gối, mắt lệ cay
Tim đau đớn trào lên bao thổn thức
 
Nghĩ đến anh sao cứ hoài ấm ức
Sớm mai buồn, chiều lại thấy bơ vơ
Em ra vào quanh quẩn với âu lo
Sợ anh ốm biết ai người săn sóc?
 
Đã bao lần, em dặn mình đừng khóc
Phải vững lòng chèo chống với cô đơn
Phải tĩnh tâm không nghĩ đến tủi hờn
Phải can đảm sống trọn đời cô độc
 
Thời gian đổi thay nhanh trên màu tóc
Nỗi ưu phiền ám ảnh lẫn ngày đêm
Anh võ vàng, tiều tụy đến tìm em
Mình đau xót nhìn nhau… rồi lệ ứa
 
Bỗng, giận dỗi …dường như …không còn nữa
Chỉ là đây ánh mắt ngập thương yêu
Lệ vui mừng trôi hết những quạnh hiu
Những cay đắng, uất hờn theo dĩ vãng
 
Mình trở về thành phố xưa êm vắng
Vì chữ “tình” ta còn mãi nợ nhau
Vì chữ “quên” ta làm lại từ đầu
San sẻ hết cho cuộc đời sau cuối…
 
Tìm Nhau
 
Tìm nhau từ lúc nổi trôi
Tìm nhau bạc tóc dẫu đời phù du
Tìm trong gió cát bụi mù
Trong cô liêu rụng, đau vùi nỗi đau
Trong nghìn kiếp đợi mong nhau
Trong hơi sương muộn bạc màu trăng khuya
 
Yên Sơn
 
Họa    
              
Tìm nhau từ thuở cách chia
Qua bao dâu bể đành lìa tình mơ
Đêm, tìm kỷ niệm vào thơ
Nhớ người xưa lại ngẩn ngơ nỗi lòng
                                                            
                                                     Thiên Lý
 
Tìm Nhau
 
Tìm nhau trong giấc mơ hồng
Đôi ta cùng uống chung dòng thơ say
Trăng như tan loãng vào mây
Gió khe khẽ ủ vòng tay ân tình
Đêm cô quạnh chỉ một mình
Em như chiếc bóng theo hình nơi xa
Tìm anh trong chén rượu ngà
Hơi men nồng đẫm lệ nhòa mắt sâu
Yêu thương tím cả trời sầu
Tâm tư chôn hết vào câu thơ buồn…
 
Tình Thơ Trên Giấy
 
Từ khi mình quen nhau
Em mới tập làm thơ
Gởi bao niềm yêu dấu
Vào cõi mộng vu vơ
 
Những đêm nhìn trăng sáng
Ngơ ngẩn một nỗi lòng
Thẫn thờ bên giấy trắng
Viết hoài chữ nhớ mong
 
Có đôi lần ao ước
Bóng trăng là bóng anh
Dõi theo em từng bước
Trên những chuyến độc hành
 
Thơ viết đầy trang giấy
Từ dạo mình quen nhau
Em rụt rè biết mấy
Nào dám tỏ bày đâu
 
Từ khi mình quen nhau
Trăng tròn rồi lại khuyết
Buồn len trong mắt nâu
Em lo ngày ly biệt
***
Rồi từ lúc quen nhau
Tháng tư làm rạn vỡ
Anh tù tội vùng sâu
Tình ta đành dang dở…
 
Mấy mùa trăng em đợi
Tin anh vẫn bặt tăm
Lòng ngổn ngang trăm mối
Nỗi buồn thương xa xăm
 
Một chiều mây tím giăng
Hãi hùng nghe tin dữ
Anh chết giữa mùa trăng
Nơi đồi cao mưa lũ
 
Anh nằm lại trên đồi
Thân chôn cùng cỏ mục
Giữa bốn bề đơn côi
Hồn đau trong khổ nhục
 
Tan nát cả cõi lòng
Quay cuồng theo giông bão
Hết rồi chữ nhớ mong
Con tim sầu áo não
 
Chưa bao giờ em nói
Được một lời cùng anh
Mấy mùa trăng em đợi
Chỉ ghi vào thơ xanh
 
Tình thơ còn trên giấy
Mãi mãi tháng tư nào
Tìm nhau hoài không thấy
Nửa đời tim xé đau…
 
Một Thời Giông Bão
 
Đã mấy năm rồi bặt tin anh
Buồn, lo, thương, nhớ lệ năm canh
Con khóc đòi cha mà đau ruột
Biết nói làm sao để dỗ dành
 
Tin báo về anh ở trại tù
Nghẹn ngào, mừng rỡ mở tờ thư
Bỗng thêm lo lắng vì xa lạ
Địa chỉ hòm thơ chốn mịt mù
 
Vắn tắt anh ghi chỉ mấy dòng
Hỏi thăm con có khoẻ hay không?
Xin em tiếp tế vài ba thứ
Để giúp anh qua lúc đói lòng
 
Em xót xa trong nỗi thẫn thờ
Chuyện đời cơm áo với con thơ
Giữa cơn giông bão em phải cố
Gồng gánh hai vai trách nhiệm chờ
 
Con bồng con dắt quá thảm thê
 Cuộc sống không anh thật não nề
 Sóng gió bao lần xô em ngã
 Thương con, gắng dậy đợi anh về
 
Năm tháng trông mong đã mỏi mòn
Thân tàn sức kiệt dạ héo hon
Em đang lây lất từng giây phút
Tiếng nấc nghẹn sâu nỗi tủi hờn
*
Không kịp cho con những dặn dò
Mẹ đi trong giấc ngủ như mơ
Cha về một buổi chiều thu tím
Chết lặng hồn đau chẳng thể ngờ
 
Rồi cha thay mẹ đẩy thuyền trôi
Dắt díu con qua trận bão đời
Thuyền dẫu chòng chành, cha vững lái
Giữ tay chèo đưa con tới nơi
 
Tự do yên ấm ở chốn đây
Cái giá mà cha đã tù đày
Còn bao xương máu người ngã xuống
Còn cả trăm điều rất đắng cay
 
Một thời giông bão đã đi qua
Mấy mươi năm đâu dễ xoá nhoà
Mỗi tháng Tư về cơn sóng nhớ
Muôn người ký ức nổi phong ba
 
 
Đêm nằm nghe tiếng thời gian
Một đời mơ mắt lệ tràn dấu son
Căn nhả nhỏ mảnh vườn con
Ngày ngày đọc sách dưới vòm thông xanh
Chiều ra đan áo bên mành
Nhìn bao lá rụng từ cành thu sang
Thảnh thơi ngắm mặt trời vàng
Từ từ khuất bóng bên hàng núi tây
Ráng chiều nhuộm đỏ chân mây
Đàn chim vỗ cánh theo bầy bay xa
Gió reo trên ngọn thông già
Vẳng đưa tiếng trẻ hát ca bên đồi
Mặt hồ thoáng bóng ai ngồi
Thuyền câu dăm chiếc thả trôi theo giòng
Chiều đi giữa khoảng trời không
Màu chiều yên tĩnh lắng trong tâm hồn
Chuông chiều buông mấy tiếng buồn
Từ nơi xa vắng  cõi hồn chơ vơ
Căn nhà nhỏ, mảnh vườn thơ
Trở mình thức dậy… giấc mơ tan rồi.
 
Thuyền Lá
 
Xa xa một chiếc thuyền trôi                      
Mỏng manh như chiếc lá rơi giữa giòng
Bóng chiều pha tím mặt sông
Trăng soi ánh biếc mênh mông giải vàng
Trong làn sương phủ mơ màng
Thuyền theo gió đẩy nhẹ nhàng thong dong
Bâng khuâng lòng tự hỏi lòng
Biết thuyền có ghé bến mong thuở nào?
 
Ngẩn Ngơ
 
Chiều rơi chút ánh nắng tàn
Chiếu vài tia mỏng dưới giàn hoa mây
Gió nhè nhẹ thổi hơi say
Chân trời điểm dấu chim bay xa vời
Chìm trong cõi mộng chơi vơi
Dòng thơ ngày cũ một trời thu xưa
Thoảng nghe khúc nhạc dưới mưa
Ngẩn ngơ lại nhớ thuở chưa biết buồn .
 
Buồn             
 
Một ngày nào mình đã quên nhau
Giữa cảnh trời thu lá đổi màu
Bài thơ dang dở buồn trên giấy
Viết nữa làm chi, thêm nỗi đau
 
Những buổi chiều thu gió giận hờn
Trút hàng lá đổ khóc cô đơn
Trăng soi sầu muộn cho tình khuyết
Nửa mảnh thơ rơi buốt lạnh hồn
 
Đêm Buồn Cuối Năm
 
Đêm buồn khai rượu một mình
Cụng ly với bóng trút tình tự tâm
Nghe ngoài hiên gió than thầm
Cây chưa xanh lá mà năm qua rồi
Nhấp ly rượu, sao đắng môi
Nồng cay lên mắt, bồi hồi nhớ quê
Chập chờn như tỉnh như mê
Đón năm mới đến lòng tê tái buồn
 
Buồn
 
Mây nghiêng tóc xám trên đồi
Mặt trời ủ rũ cuộn người trong mây
Tuyết rơi theo gió như bay
Cây khô lặng lẽ hứng đầy hoa tang
Đất trời lạnh trắng mênh mang
Nghe buồn lên mắt đôi hàng lệ rơi
 
Mộng Đêm Xuân          
 
Đêm mơ, thấy lạc giữa rừng
Bốn bề yên lặng, côn trùng ngủ say
Ô kìa, trăng rớt trên cây
Ngàn sao chụm lại gần mây tỏ tình
Đêm mơ, ngồi khóc một mình
Bên con suối vắng, nhớ hình bóng ai
Nhẹ nhàng gió lướt qua vai
Nghe như những tiếng thở dài của đêm
Đêm mơ, thấy anh cùng em
Chèo con thuyền nhỏ êm đềm trên sông
Trăng theo đôi bóng khua giòng
Rải lên mặt nước vàng trong ánh ngà
Mơ màng sương phủ mây xa
Núi non mờ ảo, bao la đỉnh trời
Thuyền đi không định hướng, nơi
Cứ trôi, trôi mãi  bên đời mơ thôi
Đêm mơ, thấy mộng vỡ rồi
Con thuyền tan tác, trăng thời gãy đôi!
Nửa vầng trăng gãy chơi vơi
Cuốn vào mây nỗi nhớ người trong mơ
Nào ai hiểu được tình thơ
Đêm xuân mộng thắm vương tơ não nùng
 
Tháng Mười Năm Đó
 
Ta hẹn nhau bờ sông không tên
Một chiều thu phố đã lên đèn
Sương mờ giăng nhẹ bên kia núi
Anh dạo cung đàn khúc nhạc quen
 
Trời tháng mười hoàng hôn xuống nhanh
Chim sớm bay về tổ trên cành
Phương tây mang sắc hồng pha tím
Quyện khói sương chiều lên mỏng manh
 
Anh hát em nghe bản nhạc “ Chiều”
Cung trầm giai điệu luyến buồn hiu.
Hiện trong ký ức nào xa thẳm
Hình ảnh quê mình xưa dấu yêu
 
Hơi lạnh từ sông lên buốt da
Em co ro muốn trở về nhà
Anh bảo, hãy ngồi thêm tí nữa
Để anh bàn tính chuyện đôi ta.
 
Anh tặng em một chiếc nhẫn xinh
Hẹn năm sau đám cưới chúng mình
Em cười sung sướng rơi giòng lệ
Chợt ấm lòng nhau mấy phút tình
 
Trời tháng mười hôm ấy nhiều sao
Em bồi hồi lẫn cả nôn nao
Khi nghĩ đến ngày xa vùng núi
Về bên anh miền biển ngọt ngào.
 
Rồi từng thu qua em vẫn mong
Niềm thương nỗi nhớ ngập trong lòng
Đếm lá rơi buồn theo năm tháng
Mỏi mòn em đợi hoá như không .
 
Anh ra đi tìm một thiên đường
Nơi nhiều bóng sắc ngát mùi hương
Say trong men rượu tình quên lãng
Hẹn ước tan rồi câu yêu thương
 
Trời tháng mười gió bay lang thang
Cuốn lá rơi xao xác tiếng đàn
Bên khung cửa nhỏ em ngồi nhớ
Chiều vắng bên sông đã úa vàng
 
Vầng Trăng Thơ Ấu
 
Tôi dắt em về thơ ấu xưa
Vùng trời êm mát bóng xanh dừa
Có lời ru nhẹ trong hơi gió
Kẽo kẹt trưa hè nhịp võng đưa
 
Tôi dắt em về một đêm trăng
Cùng nhau vui chạy nhảy tung tăng
Và nghe bà kể bao huyền thoại
Chú cuội cây đa với chị Hằng
 
Rồi thả hồn theo những giấc mơ
Đêm trăng sương lạnh phủ xa mờ
Bóng Hằng Nga lướt trên sân cỏ
Mang chiếc đèn lồng sáng ánh tơ
 
Trung thu như giấc mộng thần tiên
Riú rít vui sao hội rước đèn
Lân múa rộn ràng khua trống nổi
Trăng cười hiền dịu sáng trên hiên
 
Tôi yêu màu nến đỏ lung linh
Thắp sáng đèn hoa đủ dạng hình
Yêu đêm trăng rạng ngàn sao thẳm
Yêu tiếng em cười trong thủy tinh
 
Em hỏi tôi: sao trăng biết đi
Trăng theo em mãi để làm gì?
Em trốn trăng ngồi sau gốc mía
Vẫn thấy trăng cười rung khoé mi
 
Trăng theo em, trăng cũng theo tôi
Ta nắm tay nhau chạy xuống đồi
Đón ánh trăng vàng xem chú cuội
Chờ Hằng Nga đến để vui chơi
 
Mấy chục năm dài thơ ấu qua
Ta không còn dịp ngắm trăng ngà
Không còn thấy lại đèn hoa nữa
Cả bóng trăng vàng như cũng xa
 
Ta dắt nhau về thơ ấu xưa
Một đêm trăng lác đác sao thưa
Vẫn trong hơi gió lời ru nhẹ
Và nhịp võng nào đưa cứ đưa.
 
 
Đêm nằm nghe tiếng thời gian
Một đời mơ mắt lệ tràn dấu son
Căn nhả nhỏ mảnh vườn con
Ngày ngày đọc sách dưới vòm thông xanh
Chiều ra đan áo bên mành
Nhìn bao lá rụng từ cành thu sang
Thảnh thơi ngắm mặt trời vàng
Từ từ khuất bóng bên hàng núi tây
Ráng chiều nhuộm đỏ chân mây
Đàn chim vỗ cánh theo bầy bay xa
Gió reo trên ngọn thông già
Vẳng đưa tiếng trẻ hát ca bên đồi
Mặt hồ thoáng bóng ai ngồi
Thuyền câu dăm chiếc thả trôi theo giòng
Chiều đi giữa khoảng trời không
Màu chiều yên tĩnh lắng trong tâm hồn
Chuông chiều buông mấy tiếng buồn
Từ nơi xa vắng  cõi hồn chơ vơ
Căn nhà nhỏ, mảnh vườn thơ
Trở mình thức dậy… giấc mơ tan rồi.
 
Ngẩn Ngơ
 
Chiều rơi chút ánh nắng tàn
Chiếu vài tia mỏng dưới giàn hoa mây
Gió nhè nhẹ thổi hơi say
Chân trời điểm dấu chim bay xa vời
Chìm trong cõi mộng chơi vơi
Dòng thơ ngày cũ một trời thu xưa
Thoảng nghe khúc nhạc dưới mưa
Ngẩn ngơ lại nhớ thuở chưa biết buồn .
 
Buồn             
 
Một ngày nào mình đã quên nhau
Giữa cảnh trời thu lá đổi màu
Bài thơ dang dở buồn trên giấy
Viết nữa làm chi, thêm nỗi đau
 
Những buổi chiều thu gió giận hờn
Trút hàng lá đổ khóc cô đơn
Trăng soi sầu muộn cho tình khuyết
Nửa mảnh thơ rơi buốt lạnh hồn
 
Đêm Buồn Cuối Năm
 
Đêm buồn khai rượu một mình
Cụng ly với bóng trút tình tự tâm
Nghe ngoài hiên gió than thầm
Cây chưa xanh lá mà năm qua rồi
Nhấp ly rượu, sao đắng môi
Nồng cay lên mắt, bồi hồi nhớ quê
Chập chờn như tỉnh như mê
Đón năm mới đến lòng tê tái buồn
 
Buồn
 
Mây nghiêng tóc xám trên đồi
Mặt trời ủ rũ cuộn người trong mây
Tuyết rơi theo gió như bay
Cây khô lặng lẽ hứng đầy hoa tang
Đất trời lạnh trắng mênh mang
Nghe buồn lên mắt đôi hàng lệ rơi
 
Mộng Đêm Xuân          
 
Đêm mơ, thấy lạc giữa rừng
Bốn bề yên lặng, côn trùng ngủ say
Ô kìa, trăng rớt trên cây
Ngàn sao chụm lại gần mây tỏ tình
Đêm mơ, ngồi khóc một mình
Bên con suối vắng, nhớ hình bóng ai
Nhẹ nhàng gió lướt qua vai
Nghe như những tiếng thở dài của đêm
Đêm mơ, thấy anh cùng em
Chèo con thuyền nhỏ êm đềm trên sông
Trăng theo đôi bóng khua giòng
Rải lên mặt nước vàng trong ánh ngà
Mơ màng sương phủ mây xa
Núi non mờ ảo, bao la đỉnh trời
Thuyền đi không định hướng, nơi
Cứ trôi, trôi mãi  bên đời mơ thôi
Đêm mơ, thấy mộng vỡ rồi
Con thuyền tan tác, trăng thời gãy đôi!
Nửa vầng trăng gãy chơi vơi
Cuốn vào mây nỗi nhớ người trong mơ
Nào ai hiểu được tình thơ
Đêm xuân mộng thắm vương tơ não nùng
 
Tháng Mười Năm Đó
 
Ta hẹn nhau bờ sông không tên
Một chiều thu phố đã lên đèn
Sương mờ giăng nhẹ bên kia núi
Anh dạo cung đàn khúc nhạc quen
 
Trời tháng mười hoàng hôn xuống nhanh
Chim sớm bay về tổ trên cành
Phương tây mang sắc hồng pha tím
Quyện khói sương chiều lên mỏng manh
 
Anh hát em nghe bản nhạc “ Chiều”
Cung trầm giai điệu luyến buồn hiu.
Hiện trong ký ức nào xa thẳm
Hình ảnh quê mình xưa dấu yêu
 
Hơi lạnh từ sông lên buốt da
Em co ro muốn trở về nhà
Anh bảo, hãy ngồi thêm tí nữa
Để anh bàn tính chuyện đôi ta.
 
Anh tặng em một chiếc nhẫn xinh
Hẹn năm sau đám cưới chúng mình
Em cười sung sướng rơi giòng lệ
Chợt ấm lòng nhau mấy phút tình
 
Trời tháng mười hôm ấy nhiều sao
Em bồi hồi lẫn cả nôn nao
Khi nghĩ đến ngày xa vùng núi
Về bên anh miền biển ngọt ngào.
 
Rồi từng thu qua em vẫn mong
Niềm thương nỗi nhớ ngập trong lòng
Đếm lá rơi buồn theo năm tháng
Mỏi mòn em đợi hoá như không .
 
Anh ra đi tìm một thiên đường
Nơi nhiều bóng sắc ngát mùi hương
Say trong men rượu tình quên lãng
Hẹn ước tan rồi câu yêu thương
 
Trời tháng mười gió bay lang thang
Cuốn lá rơi xao xác tiếng đàn
Bên khung cửa nhỏ em ngồi nhớ
Chiều vắng bên sông đã úa vàng
 
Vầng Trăng Thơ Ấu
 
Tôi dắt em về thơ ấu xưa
Vùng trời êm mát bóng xanh dừa
Có lời ru nhẹ trong hơi gió
Kẽo kẹt trưa hè nhịp võng đưa
 
Tôi dắt em về một đêm trăng
Cùng nhau vui chạy nhảy tung tăng
Và nghe bà kể bao huyền thoại
Chú cuội cây đa với chị Hằng
 
Rồi thả hồn theo những giấc mơ
Đêm trăng sương lạnh phủ xa mờ
Bóng Hằng Nga lướt trên sân cỏ
Mang chiếc đèn lồng sáng ánh tơ
 
Trung thu như giấc mộng thần tiên
Riú rít vui sao hội rước đèn
Lân múa rộn ràng khua trống nổi
Trăng cười hiền dịu sáng trên hiên
 
Tôi yêu màu nến đỏ lung linh
Thắp sáng đèn hoa đủ dạng hình
Yêu đêm trăng rạng ngàn sao thẳm
Yêu tiếng em cười trong thủy tinh
 
Em hỏi tôi: sao trăng biết đi
Trăng theo em mãi để làm gì?
Em trốn trăng ngồi sau gốc mía
Vẫn thấy trăng cười rung khoé mi
 
Trăng theo em, trăng cũng theo tôi
Ta nắm tay nhau chạy xuống đồi
Đón ánh trăng vàng xem chú cuội
Chờ Hằng Nga đến để vui chơi
 
Mấy chục năm dài thơ ấu qua
Ta không còn dịp ngắm trăng ngà
Không còn thấy lại đèn hoa nữa
Cả bóng trăng vàng như cũng xa
 
Ta dắt nhau về thơ ấu xưa
Một đêm trăng lác đác sao thưa
Vẫn trong hơi gió lời ru nhẹ
Và nhịp võng nào đưa cứ đưa.
 
Thiên Lý
 
* Mời xem những bài viết khác của Thiên Lý ở trang Văn Xuôi.

Đêm Liêu Trai - Thiên Lý

Trời bắt đầu lắc rắc mưa, những hạt mưa hiếm hoi rơi chậm chạp trên vùng đất cằn khô như sa mạc này. Tôi nhấn ga thật mau khi bắt đầu rẽ vào đường cao tốc với tốc độ giới hạn là bảy mươi dặm, những đám mây xám xịt kéo mịt mù trên bầu trời làm cho chiều xuống thật nhanh, tôi nhủ thầm: Phải ráng chạy qua khỏi đoạn đường cao tốc dài này trước khi trời tối hẳn, ước chừng phải mất đến khoảng hơn hai tiếng nữa mới mong về tới nhà. Mưa đột nhiên rơi nặng hạt hơn, tiếng mưa nghe rào rào trên nóc xe, con đường như mờ đi trong mưa, nước từ từ dâng cao trên mặt đường lấp cả những vạch ngăn hai bên xe chạy. Mắt tôi mở căng ra để cố nhìn xuyên qua màn trời mờ đục trắng xoá, cái quạt nước khua liên tục vẫn không cản nổi những hạt mưa dầy đang bị gió quất nghiêng tràn trên mặt kiếng. Tôi không biết mình đang chạy bên phải hay bên trái, bỗng tôi cảm thấy chiếc xe mình nhẹ đi, và trượt qua bên đường phía trái đối diện, tôi hốt hoảng đạp mạnh thắng, xe không ngừng mà xoáy một vòng tròn, tôi nhìn thấy một chiếc xe tải đang lao xuống, sợ hãi lẫn cuống quít tôi hét lên: “ Chết!”, môt sự kỳ diệu, chiếc xe của tôi lướt qua xe tải trong khoảng cách tích tắc, rồi nó tự động quay thêm một vòng nữa, lại một chiếc xe tải khác nhào đến, tôi kinh hoàng nắm chặt tay lái rú lên: “Á…á”. Tôi không điều khiển nổi chiếc xe nữa rồi, tôi nhắm mắt lại chờ chết, tôi chao đảo theo chiếc xe, cảm giác như mình đang bị rơi xuống đất thật mạnh. Im lặng. Tôi ngồi bất động trong xe, tay chân cứng đờ, xe đã ngừng! Một cái đầu bù xù xuất hiện ở ngoài cửa xe, tim tôi vẫn còn đập nhanh, tiềm thức tôi tỉnh dậy, tôi sờ mặt, sờ tay tự hỏi: Mình còn sống sao? tiếng đập kiếng xe dồn dập:
- Chị cần giúp không? Xe chị bị kẹt cứng trong bùn rồi
Tôi sợ hãi hỏi lại:
- Thiệt hả, làm sao bây giờ?
Người đàn ông với mái tóc bù xù ra dấu cho tôi hạ kiếng xe xuống và nói:
- Chúng tôi sẽ giúp, chị cứ ngồi giữ tay lái chuẩn bị nhấn ga tôi và người bạn sẽ ra phía sau đẩy xe lên.
Tôi lắp rắp làm theo như cái máy, sang số và cố nhấn ga hai ba lần theo mỗi nhịp đẩy, xe vẫn không hề nhúc nhích. Người đàn ông chạy ra phía trước hỏi to:
- Xe bị lún sâu quá không thể đẩy được. Chị có sợi dây cáp nào trong xe không?
Tôi run lập cập:
- Chắc không có quá.
Người đàn ông to béo đứng cạnh nói với gã tóc bù xù:
- Ồ, hình như mình có sợi dây thừng cột hàng phía sau xe.
Nói rồi ông ta chạy nhanh qua bên kia đường lái chiếc xe tải tấp ngay bên trên chiếc xe của tôi. Ông ta xuống xe với sợi dây thừng dài trong tay. Mưa rơi nặng như trút nước, hai người đàn ông tốt bụng dầm mình trong mưa hì hục cột dây vào đầu chiếc xe tôi nối với cái đuôi xe tải. Họ bảo tôi chuẩn bị nhấn ga cho xe chạy khi họ kéo xe tôi lên. Chiếc xe của tôi nhún lên hai lần rồi êm ả chạy trên mặt đường theo sức kéo của chiếc xe tải. Chân tay tôi hãy còn run lên bần bật, tôi nhìn con đường đầy nước ướt trước mặt mà thấy sợ, không biết còn bao lâu nữa tôi mới lái xe về được tới nhà một cách an toàn. Người đàn ông tóc bù xù xuống xe gỡ dây và ném nó vào sau xe, gã tiến lại phía xe tôi gõ cửa, tôi hạ kiếng xuống, mưa bay tạt vào mặt tôi lạnh lẽo, tiếng ông nói:
- Xe của chị lúc nãy bị hydroplane (1) đó, nếu chị tiếp tục lái đi dưới trời mưa to như vậy sẽ nguy hiểm lắm.
- Vậy tôi phải làm sao bây giờ?
- Tạm thời tìm chỗ nghỉ ở đâu đó chờ mưa tạnh và nước rút xuống rồi chạy tiếp.
Tôi lắc đầu:
- Không, tôi muốn về nhà
- Chị ở đâu?
- Tôi ở Kirland.
- Còn xa quá không thể lái về ngay được đâu.
- Tôi sẽ cố gắng, cám ơn các ông đã giúp tôi.
Người đàn ông chợt lớn giọng:
- Tôi nói không được, bộ chị muốn chết sao? Hồi nãy tôi không nhanh tay lái là cả ba chúng ta chết banh xác rồi.
Tôi sững sờ nhìn ông ta, thì ra ông ta là người trên chiếc xe tải đang lao xuống đúng lúc xe của tôi đang bị quay. Ông ta tự động mở cửa xe, bảo tôi ngổi qua ghế bên kia, ông ta sẽ lái giúp tôi đi tìm chỗ nghỉ. Tôi ngại ngùng và lo sợ không biết ông ta có thực là người tốt không, tự dưng tôi nghĩ đến bắt cóc, hãm hiếp rồi rùng mình. Tiếng người đàn ông tiếp:
- Chị còn chần chờ gì nữa, còn không chịu qua bên ghế kia cho tôi vào, tôi ướt hết rồi đây nè.
Tôi miễn cưỡng chuyển sang ghế bên cạnh, người đàn ông lao vào ghế ngay, hơi ướt từ người ông toát ra lành lạnh. Ông vuốt mặt nói:
- Tôi sẽ chở chị đến một motel nào nghỉ tạm tối nay, mưa to như thế này dám sẽ kéo dài đến suốt đêm lắm.
Tôi hốt hoảng:
- Motel hả, không cần đâu tôi ngủ ngoài xe được mà
- Chị đừng có khùng quá đi, ngủ ngoài xe cho chị chết cóng hả?
Tôi im lặng, nhìn mưa vẫn tạt mạnh vào khung kiếng xe với những âm thanh nghe lạnh buốt, ông ta móc cell phone từ túi áo ra, tôi để ý trên túi áo ông ta có thêu chữ “Huy”, ông ta đang mặc trên người chiếc áo lính cũ màu xanh đã bạc phếch. Ông bấm số, nghe, rồi lầm bầm: “không có signal”, quay sang tôi ông nói:
- Tôi định gọi cho thằng bạn đi chung là bảo nó tìm một motel để nghỉ, chắc nó cũng biết rồi.
Nói rồi ông vuốt lại mái tóc bù xù, tôi nhìn ông ta kỹ hơn, một thoáng quen thuộc hiện ra trên khuôn mặt rắn rỏi, cương nghị. Đôi mắt sâu ẩn dưới hàng chân mày đậm toát ra một tia nhìn tự tin, thằng thắn. Đôi mắt này, trời ơi tôi không thể lầm được, đúng là Huy rồi, Huy của hai mười lăm năm về trước, mái tóc, khuôn mặt …Kỷ niệm hiện nhanh trong ký ức tôi, Đà Lạt vào những ngày bị cúp nước, tôi và đứa em gái kế phải lặn lội xuống hồ Mê Linh xách từng thùng nước về đổ vào bồn xài, tôi gặp Huy đi bộ bên hồ, anh đã xách hộ chị em tôi thùng nước đầu tiên từ hồ về nhà. Năm đó tôi mười ba tuổi còn anh vừa đậu vào Võ Bị ở tuổi hai mươi. Nhà Huy cũng ở trong cư xá, anh ở dãy A, còn nhà tôi bên dãy B, cha anh cũng làm trong trường Võ Bị, anh rất hiền, vui tính và hay đàn hát. Huy có cô em gái út bằng tuổi tôi học trường Bùi Thị Xuân, tôi lại học trường Văn Khoa (một trường tư thục nhỏ gần khu Chi Lăng) nên chúng tôi không quen nhau lắm, tôi cũng ít khi ra đường và ít la cà với những cô bạn gái trong xóm. Năm mười lăm tuổi, tôi gặp anh trong một buổi đi xem duyệt binh, anh không biết tôi, nhưng mắt tôi vẫn dõi theo anh, chỉ một mình anh không lẫn vào đâu được trong hàng trăm sinh viên oai nghiêm đều bước…Tôi thố lộ tình cảm của mình với chị bạn hàng xóm mà tôi hay gọi là o Hồng. Năm ấy chị đang chuẩn bị thi tú tài hai. Tôi nói rất là hồn nhiên:
- O Hồng biết anh Huy ha, em thích anh Huy đó, ảnh hiền ghê
- Ồ em thích Huy hà, để o Hồng làm mai cho em nghe.
Tôi dẫy nẫy:
- Thôi em còn nhỏ lắm mới có mười lăm tuổi sao dám nói chuyện bồ bịch.
O Hồng cười:
- Mười lăm tuổi có bồ được rồi, để o Hồng nói cho, Huy cũng chưa có ai.
Tôi lắc đầu xua tay:
- Đừng, đừng nghe o Hồng, mẹ em mà biết, mẹ đánh em chết. Không, em không muốn đâu.
O Hồng thì cứ tán vào. O còn chọc thêm:
- Có chi mà sợ dữ rứa! O Hồng thấy được nớ một bên là em, con trung tá, một bên là Huy, con đại úy cùng là sĩ quan Võ Bị hết, làm suôi gia càng vui chứ răng.
Tôi cứ lắc đầu nguầy nguậy:
- Thôi, thôi, thôi cho em xin đi, o Hồng nói chuyện gì xa vời quá.
Ngày nào sang chơi nhà o Hồng, tôi cũng năn nỉ o đến muốn khóc là đừng nói chuyện này cho ai nghe, ở khu cư xá nhỏ bé này hở ra chuyện gì là mọi người đều biết, đến tai mẹ tôi thì chắc tôi sẽ bị một trận đòn ghê gớm lắm…
Mười chín tuổi, tôi gặp lại Huy trong một lần theo mẹ đi thăm nuôi cha tôi ở Suối Máu. Trước giờ thăm, mẹ anh và mẹ tôi cùng trò chuyện với nhau trong phòng đợi, cả hai bà mẹ đều khóc. Tôi nghe mẹ Huy bảo người hôn thê của anh đã từ hôn, vì chị ấy không chờ anh được. Năm đó Huy hai mươi sáu tuổi. Mẹ con anh ngồi ở cái ghế băng đối diện xéo với gia đình tôi, tôi thấy anh thật buồn bã và mẹ anh thì cứ chậm nước mắt… Năm hai mươi lăm tuổi, tình cờ gặp anh đi bán than, trông anh lem luốc và khắc khổ, tôi nhìn anh nghẹn ngào không biết nói sao, còn anh vẫn không hề biết tôi, người đã dõi theo anh trong hàng trăm sinh viên đi đều thẳng bước... Năm ba mươi tám tuổi, vô tình tôi thấy hình anh trong bộ quân phục sinh viên Võ Bị, bức hình chụp anh đang đứng trong đội hầu kỳ của ngày đại hội Cựu Sinh viên Võ Bị ở Houston…Và giờ đây bốn mươi tuổi, tôi đang đối diện anh trong chính chiếc xe của tôi. Quả thật là trái đất tròn đã đẩy đưa thời gian cho tôi có dịp gặp anh trong giây phút tình cờ như thế này… để làm gì cơ chứ, khi tôi mừng, còn anh thì vẫn xa lạ.
- Chị đi từ đâu mà về tới Kirland?
- Ở Albuquerque, tôi đi họp hai ngày ở trên đó.
Anh dừng xe lại trước một motel, bảo tôi xuống xe vào đặt phòng, anh dặn chỉ một phòng cho riêng tôi. Tôi hỏi:
- Thế anh không nghỉ trong motel sao?
Anh hất đầu về phía xe:
- Tôi sẽ ngủ trong xe.
Tôi ngạc nhiên hỏi ngay:
- Ngủ trong xe? Hồi nãy tôi đòi ở trong xe của tôi thì anh bảo là tôi sẽ bị chết cóng..
Anh ngắt lời tôi:
- Xe của tôi có đầy đủ mền gối và máy heat cá nhân, chị đừng lo. Tôi lái xe tải đường dài hết năm này qua tháng nọ, không chuẩn bị mấy thứ đó trong xe thì chết.
Anh trao chìa khoá xe cho tôi, hỏi tôi có đồ đạc gì không? Tôi nói có hai cái xách tay ở sau thùng xe, anh lấy lại chìa khóa bảo tôi vào trong đặt phòng, anh sẽ mang đồ đến cho tôi. Nhìn theo bóng anh băng băng trong mưa, tôi cảm thấy xúc động, thật là anh đấy sao Huy.
Motel không còn phòng một giường, chỉ có phòng hai giường, tôi đành phải đặt phòng hai giường cho mình, cái mệt và lạnh đang thấm lần trong người tôi. Phòng 206 ở trên lầu, tôi chạy nhanh lên cầu thang để vào phòng. Phòng cũng khá ngăn nắp với hai chiếc giường nhỏ xinh trải mền bông, có hai cái bàn ngủ hai bên, tôi quăng cái bóp lên bàn và nằm ngay xuống giường, kéo chiếc mền bông ấm lên người. Tôi co ro trong chăn …bỗng có tiếng mở cửa, người đàn ông to béo bước vào với hai túi xách của tôi trên tay:
- Đồ của chị đây
Tôi hất mền ngồi dậy ngay:
- Cám ơn anh để đó cho tôi, anh kia đâu rồi?
- Ổng đi mua đồ ăn rồi , lát ổng sẽ quay lại
Nói rồi gã đóng cửa lại tiến đến bên cửa sổ kéo tấm màn nói:
- Để tôi kéo màn cửa lại kẻo lạnh
Tôi xách túi đồ để trên bàn rồi nói:
- Cám ơn anh nghe, xin lỗi anh có thể ra ngoài dùm, tôi mệt quá cần phải nghỉ một chút.
Tiếng tôi vừa dứt thì bàn tay người đàn ông to béo đã chụp lấy eo tôi nhấc lên, hắn ném tôi lên chiếc giường nệm, và cả thân hình đồ sộ của hắn ụp lên tôi, hành động quá nhanh, quá bất ngờ khiến tôi ú ớ, tôi cố lấy hết sức mạnh vùng vẫy, cào cấu mong thoát ra đuợc cái thân phì nộn đó, tôi nghe tiếng cười nham nhở và tiếng nói bên tai:
- Sao tôi lại có thể bỏ một cô gái xinh thơm như vầy để ra ngoài, ngoài trời mưa lạnh quá, tôi sẽ sưởi ấm cho em, ngoan nào…
Tôi cắn vào tai hắn thật mạnh, hắn tức tối tát tôi một bạt tai, tôi đau đớn gào khóc, dẫy đạp lung tung. Chợt tôi nghe tiếng quát lớn:
- Thằng chó chết, dang ra.
Rồi tiếng đấm nhau huỳnh huỵch, tôi cảm thấy như nghẹt thở, sợ hãi làm tim tôi đập nhanh hơn. Thân thể tôi đau ê ẩm, má tôi sưng lên vì cái tát quá mạnh. Tiếng xô bàn đạp ghế rầm rầm, tôi cố nhướng mắt nhìn; lờ mờ thấy Huy và gã to béo đang vật nhau dưới sàn nhà. Sau một hồi xô xát, gã to béo đã bị Huy đạp té chúi nhủi vào góc tường. Huy quay lại hỏi tôi:
- Chị có đau lắm không?
Tôi chưa kịp trả lời thì thấy gã to béo móc ra trong người một khẩu súng ngắn, hắn chĩa súng vào Huy; tôi kinh hãi rú lên, bịt mắt lại, tôi nghe tiếng hắn nói:
- Mày đứng im không tao bắn.
Tôi nghe tiếng Huy thật bình tĩnh:
- Bắn tao hả, chỉ vì tao cản mày làm một việc vô đạo đức sao. Bắn đi, súng làm gì có đạn.
Tôi nghe tiếng bóp cò khô khốc, hắn bực tức quăng khẩu súng về phía Huy, anh chụp lấy rồi đặt cây súng lên bàn. Huy đến gần gã to béo kéo cổ áo hắn đứng dậy tiến lại phía tôi:
- Mày lại đây coi nè, nhìn cô ta đi.
Huy kéo mặt tôi lên, tôi sợ hãi cúi xuống ngay, Huy nói như ra lệnh:
- Chị ngước lên- mày thấy chưa, mặt cô ta sưng tấy lên rồi đó, mày làm cho cô ta sợ đến sắp ngất đi được, thế thì còn vui thú gì cái chuyện đó chứ hả? Thử nghĩ nếu con bạn gái của mày lỡ đường mà cũng bị thằng khác làm nhục như vậy thì mày sẽ thấy thế nào. Mày có muốn tao đem chuyện này nói với nó không?
Gã to béo hất tay Huy:
- Đừng dở giọng đạo đức với tao
- Tao không lên mặt đạo đức, cũng vừa phải thôi chứ, đừng có để bị vào tù vì chuyện ngu xuẩn này, mày mà bị kiện vào tù lần này tao không có lo cho mày ra đâu.
Gã to béo xịu mặt xuống, không nhìn tôi hắn buông một tiếng cộc lốc:
- Xin lỗi!
Rồi hắn bỏ đi ra ngoài, tôi vẫn còn chưa hết sợ, tay chân tôi run lên cầm cập, tôi ấm ức khóc cho sự ngu ngốc của mình, tôi sẽ phải trải qua ở đây một đêm dài rồi chuyện gì sẽ xảy ra cho tôi nữa nếu Huy cũng bỏ đi. Tôi nghe tiếng động nhẹ gần bên, Huy đã ngồi xuống mép giường, anh dịu dàng hỏi:
- Chị đau lắm phải không? Tôi xin lỗi đã để sự việc tồi này xảy ra, đáng lẽ tôi nên đem đồ lên cho chị. Cũng may là tôi quay lại liền.
Tôi vẫn khóc, tiếng anh lại hỏi:
- Chị có đói không? À để tôi xuống xin một ít đá lên chườm cho chị, bên má trái đã bầm lên rồi kìa. Cái thằng khốn kiếp.
Tôi vội kéo tay áo Huy nói trong tiếng khóc:
- Không, anh đừng đi…tôi sợ lắm
- Không sao đâu , tôi sẽ lên ngay
- Tôi sợ ông đó sẽ lên trả thù anh và tôi
Huy cười:
- Không đâu, tôi làm việc với hắn mấy năm nay biết tính hắn mà, hắn chịu ơn tôi nhiều lắm. Hắn cũng không hẳn là một người xấu, chỉ có tính ham muốn là chưa cải thiện được. Thôi để tôi lấy khăn nhúng nước lạnh cho chị.
Huy vào trong phòng tắm, một lát anh cầm ra chiếc khăn ướt, rồi ngồi xuống bên tôi nâng mặt tôi lên ấp chiếc khăn vào bên má, anh đưa tay vén mấy sợi tóc loà xoà trên trán tôi. Hơi mát từ chiếc khăn làm tôi cảm thấy dễ chịu. Tôi nhìn trong mắt anh tìm lại kỷ niệm thời niên thiếu của tôi, và bóng hình anh trẻ trung với cây đàn guitar ngồi hát nghêu ngao trước sân nhà thuở nào. Chợt anh nói:
- Chị có đôi mắt đẹp quá, xin lỗi tôi chưa biết tên chị?
Tôi cúi mặt xuống:
- Tôi tên là Xuân, còn anh là Huy?
- Đúng, tôi là Huy, sao chị biết? À, chắc chị thấy tên tôi trên áo hả?
Tôi gật đầu im lặng, nghe tiếng Huy hỏi tiếp:
- Chị Xuân được mấy cháu rồi?
Tôi lắc đầu:
- Xuân hãy còn độc thân
Giọng Huy ngạc nhiên:
- Vậy sao? Tôi không tin được một người xinh xắn như Xuân thế này mà hãy còn độc thân.
Tôi tròn mắt nhìn anh thầm hỏi, có thật là em còn xinh xắn trong mắt anh không? Thời gian đã kéo mất tuổi xuân em đi rồi, cuộc sống lo toan đã làm tóc em điểm bạc, thương nhớ, chờ đợi làm em héo hắt làn da, môi khô nhợt nhạt…Tôi thở dài nhìn xuống bàn tay lạnh giá của mình, nói nhỏ:
- Xuân già rồi…
Huy cắt ngang lời tôi:
- Không, đừng nói thế, người phụ nữ ở tuổi nào cũng có vẻ đẹp riêng. Nhìn Xuân hãy còn trẻ mà.
Tôi xoắn những ngón tay vào nhau, ngượng ngùng hỏi:
- Còn anh thì sao?
- Tôi có hai đứa con trai, đứa bé lên mười, đứa lớn thì mười ba.
- Anh còn chơi đàn guitar không?
Giọng Huy lại đầy sửng sốt:
- Ủa, sao Xuân biết tôi chơi đàn guitar?
- Xuân biết chứ, biết anh đã từ lâu nhưng anh không hề biết tí gì về Xuân đâu…
Tôi chợt im bặt sau câu nói đó, mình có nên kể cho anh nghe những gì mình biết về anh không nhỉ? Kỷ niệm sao gần gũi quá, như anh đang ở gần bên mình đây. Mới hôm nào ở hồ Mê Linh gặp anh trong bộ quân phục sinh viên Võ Bị, mới hôm nào đi xem anh diễn hành oai nghi hùng dũng, mới hôm nào thấy anh tiều tụy võ vàng, xanh mướt từ trong trại tù… mới đó mà đã bao nhiêu năm qua rồi, bao nhiêu năm em đã sống trong kỷ niệm với bóng hình anh, ngọt ngào, cay đắng, thương yêu và mơ tưởng dù biết những giấc mơ đã không bao giờ có thực, nhưng nó vẫn làm em vui và cho em một hy vọng để sống…
Tiếng Huy hỏi:
- Xuân biết những gì về tôi nào?
- Xuân biết anh hồi còn ở Đà Lạt, nhà anh và nhà Xuân ở trong khu cư xá Chi Lăng. Anh hay ngồi chơi đàn guitar mỗi chiều, khi anh bắt đầu mặc áo sinh viên Võ Bị, anh ít chơi đàn hơn. Thỉnh thoảng anh cũng có ghé qua nhà o Hồng chơi với mấy anh sinh viên khác, anh nhớ không? Mỗi khi thấy anh đến nhà o Hồng, Xuân hay thập thò bên cửa sổ để chờ nghe anh hát… Chuyện đã lâu rồi, nhưng Xuân không bao giờ quên được anh, Xuân đã nhận ra anh ngay khi anh bước vào xe của Xuân.
- Trời ơi Xuân nhớ dai quá, Xuân không nói thì tôi đã gần như quên hết rổi, sao em không nói với tôi ngay từ đầu, nhà em ở dãy nào mà sao hồi đó tôi lại không biết em kìa?
- Nhà Xuân ở cuối dãy B, sát ngay cạnh nhà O Hồng đó, Xuân vẫn còn nhớ số nhà của anh là nhà số 13A, anh làm sao biết Xuân được vì hồi đó anh chỉ lo nhìn những cô gái 19 đôi mươi thôi, còn Xuân là đứa con nít.
Huy bặm môi:
- Không đâu, tại tôi không biết Xuân đó thôi chứ nếu gặp em lúc trước chắc tôi cũng muốn quen em lắm. Mình là hàng xóm với nhau mà.
Huy nhìn tôi ra chiều suy nghĩ:
- Bao nhiêu năm nay Xuân không quen ai hết sao?
Tôi lắc đầu im lặng. Một nỗi buồn man mác dâng trong lòng, tôi nghe tiếng anh thở dài:
- Mình gặp nhau thật không đúng lúc.
Tôi cảm thấy như mũi mình cay cay, và cổ họng thì nghẹn đắng:
- Mình không bao giờ gặp nhau đúng lúc. Khi em gặp anh lần đầu thì em còn quá trẻ để nghĩ đến tình yêu, khi gặp anh ở tuổi được quyền yêu thì anh lại bị tù đày. Rồi gặp anh ở tuổi có thể nghĩ đến hôn nhân thì lúc đó hai đứa đều nghèo, anh phải đi bán than kiếm sống, còn em một gánh nặng cơm áo gia đình. Em đã không biết phải làm sao trong hoàn cảnh ấy, mà anh thì đâu biết em là ai. Dẫu có biết nhau thì cả hai đều không thấy được một tương lai nào sáng sủa phía trước để định đoạt vấn đề hôn nhân. Qua Mỹ, một cuộc sống mới lại bắt đầu, cũng lại cơm áo, và sự nghiệp, lòng em cứ nghĩ đến anh mà không biết là anh đang ở đâu cho đến ngày hôm nay mình gặp nhau…Em đã già mà vẫn còn độc thân, anh thì đã có vợ…
Huy nắm lấy tay tôi, giọng xót xa:
- Trời ơi, tôi không biết là mình đã may mắn có người con gái như Xuân nghĩ đến trong bao nhiêu năm nay. Nghe em nói…tôi thật cảm động quá, tiếc rằng mình… đã không có duyên nợ với nhau.
Tôi rụt tay lại buồn bã nói:
- Dù sao gặp anh hôm nay em cũng thấy vui, càng vui hơn nếu em biết anh thật sự rất hạnh phúc. Cám ơn anh đã đến kịp lúc để cứu em, anh sẽ mãi là người hùng trong lòng em…
Huy cười xòa cắt ngang lời tôi:
- Người hùng gì đâu, đó chỉ là một công việc của lương tâm, em quên tôi đã từng là lính sao.
Tôi gật đầu: Ồ! Rồi im lặng nhìn Huy một lúc, tôi nói:
- Sáng mai mình chia tay nhau anh cho em cái áo lính của anh làm kỷ niệm nhé.
Huy cởi áo lính anh đang khoác ra:
- Tưởng xin cái gì chứ xin cái áo thì có ngay. Hy vọng rằng em sẽ gặp một người đàn ông tốt trong tương lai...Thôi khuya lắm rồi em ngủ đi để mai còn lái xe về.
Nói rồi Huy kéo chiếc mền và gối lại gần tôi:
- Nào, nằm xuống đi, tôi biết em rất mệt, giấc ngủ sẽ giúp em khoẻ ra và em sẽ quên hết mọi chuyện đêm nay.
Tôi ngoan ngoãn nhích người đến bên chiếc gối nằm xuống, tôi kéo mền lên tận cổ, nhắm mắt lại để nghe hơi ấm đang lan tỏa trong người. Tôi lẩm nhẩm nói với Huy:
- Khi nào anh ra ngoài nhớ khoá cửa cẩn thận dùm em nghe.
- Tôi sẽ ở lại đây với em cho em bớt sợ, trông em nằm cứ như là con mèo bị ốm. Thật tội nghiệp quá.
Bỗng có tiếng sấm gầ m to ngoài mưa cùng một luồng sáng xanh chớp nhanh làm tôi giật mình không nghe rõ lời Huy nói. Cơn buồn ngủ chập chờn, sao tự nhiên lẫn trong tiếng mưa tôi lại nghe như có tiếng bước chân rầm rập của những người lính tập, và tôi còn mơ thấy Huy của tôi; một người lính Võ Bị đang đứng nghiêm trang trong phòng làm cận thần trung tín canh giữ cho tôi có được một giấc ngủ bình an qua đêm…
***
Những tiếng động lách cách và tiếng xì xào làm tôi thức giấc, tôi mở mắt ra cất tiếng gọi yếu ớt:
- Huy, Huy, anh đâu rồi?
Tôi nghe có tiếng nói:
- Cô ta đã tỉnh rồi kìa? Cô ta nói gì thế?
Tôi cố ngóc đầu dậy, một cảm giác choáng váng đã vật tôi xuống ngay, tôi thấy khuôn mặt cô y tá nhòe nhòe trước mắt tôi:
- Cô thấy trong người thế nào?
Tôi thều thào hỏi:
- Tôi đang ở đâu đây? Trong motel phải không?
Người y tá lắc đầu:
- Không cô đang ở trong nhà thương, cô đã bị ngất gần 3 tiếng đồng hổ rồi.
Tôi ngúc ngoắc đầu hốt hoảng:
- Tại sao? Đêm qua tôi ngủ trong motel mà!
- Không, cô đã bị ngất trong xe hơi, khi xe của cô bị lún xuống lầy.
- Xe tôi bị lún nhưng có hai người đàn ông đi xe tải đã đến kéo xe tôi lên mà. Sau đó tôi đã vào motel ngủ, tôi còn nhớ phòng tôi là phòng số 206.
- Chắc cô sợ quá đã nằm mơ, không biết cô đã thấy gì trong mơ mà trên đường cấp cứu về đây, cô la hét vùng vẫy dữ lắm. Áp suất máu cô xuống quá thấp, tim đập nhanh, hơi thở ngắn.
Tôi cãi trong sự ngạc nhiên:
- Rõ ràng tối qua tôi ở trong motel mà, xe tôi đâu?
Người y tá vẫn ôn tồn:
- Xe cô đã được kéo về bãi đậu xe của bệnh viện rồi, đừng lo lắng gì cả. Cô thấy trong người ra sao?
- Mệt và choáng váng.
- Có lẽ tại thuốc, áp suất máu của cô đã trở lại bình thường, nhịp tim cũng đập tốt, hãy nghỉ ngơi cho khoẻ đừng nghĩ ngợi gì hết.
Người y tá chỉnh lại sợi dây chuyền nước biển trên phía đầu giường tôi nằm, rồi đi ra ngoài sau khi dặn dò:
- Nếu cô cần gì thì bấm nút bên tay phải trên giường, chúng tôi sẽ đến ngay.
Tôi nhìn lên chai nước biển, những giọt nước đang từ từ rơi trong ống dây sao giống như những giọt nước mắt đang rớt chậm trong tim tôi đau thắt, tim tôi cũng biết khóc, khóc cho chính tôi, cho một giấc mơ đêm qua mà tôi vẫn không tin được đó là mơ, bởi tôi đã gặp Huy bằng xương, bằng thịt. Không, nhất định không phải là mơ!
Một người phụ nữ có lẽ là bác sĩ bước vào cùng với một cô y tá, họ đến gần tôi, tôi nghe tiếng hỏi:
- Tôi sẽ hỏi cô vài câu hỏi để kiểm tra bộ nhớ của cô nhé.
Tôi ầm ừ:
- Bác sĩ muốn hỏi gì?
- Cô có biết cô đang ở đâu?
- Bệnh viện
- Tốt, cô tên gì?
- Vũ Thanh Xuân
- Tốt. Nhìn ra cửa cô thấy cái gì?
- Xe chạy
- Tốt, cô có biết cô làm nghề gì không?
- Dạy mẫu giáo
- Tốt, cô làm việc ở đâu?
- SanJuan College
- Tốt, à cô có nhớ cái áo này không? (người bác sĩ đưa chiếc áo lính lên)
Tôi với tay cầm chiếc áo ngắm nghía; áo của Huy cho tôi đêm qua đây mà, hãy còn ẩm ướt hơi mưa và mùi mồ hôi của anh. Tôi ấp chiếc áo vào bên má và nói:
- Áo của một người bạn tặng tôi đêm qua, có cả tên anh ấy trên đây nè.
Tôi tìm tên Huy trên nắp túi áo, ô kìa tên anh biến mất đâu rồi. Đâu rồi? Tôi
nghe tiếng người bác sĩ nói:
- Cô ta đã bớt nhiều, không cần phải cho thêm thuốc.
Khi người bác sĩ bước ra ngoài, tôi cứ miên man suy nghĩ về cái tên anh trên túi áo. Tôi bóp trán cố moi óc nhớ lại là nó đã mất đi đâu…biến đi đâu mới được chứ…Tôi mân mê cái nắp túi áo, một cảm giác quen thuộc mơ hồ đâu đây, tôi nghe như có tiếng chào hàng, và trả giá.., bớt không, 10 đồng đi, tôi lấy cái này nhé… A! Tôi nhớ ra rồi, tôi đã nhìn thấy chiếc áo lính này ở chợ trời, đã đắm mình trong vài giây phút nhớ về Huy, đã ngắm vuốt nó rất lâu trước khi tôi quyết định mua nó. Còn chuyện tôi gặp Huy thì chắc chắn không phải là mộng, vì tôi biết rõ, tôi đã bắt đầu yêu anh bằng trái tim non nớt, nhớ thương anh bằng những cảm giác chân thật trong tâm hồn mình. Tôi nức nở: Có phải em đã mơ tưởng quá nhiều về anh không Huy? Anh đang ở đâu, có biết cho lòng em lúc nào cũng luôn sống với hình ảnh của anh, hình ảnh của một sinh viên Võ Bị oai hùng rất thực, rất sống động…
Tôi nhắm mắt lại, những giòng nước mắt trào ra thật tự nhiên lăn dài trên má, tôi thấy mình đi lang thang trong một vườn hoa đầy những bụi Lavender tim tím. Những chú ong áo vàng sọc đen bay vo ve chung quanh, thi đua với những chú bướm hồng đang lượn trên ngọn hoa dành hút mật. Từ xa, Huy của tôi đang thong thả bước đến, trông anh thật oai nghiêm trong bộ quân phục Võ Bị. Anh vẫy tôi bảo:
- Lại gần đây với anh, đừng đi bên đó nữa coi chừng ong chích em đó.
Tôi mừng rỡ nhìn anh nhưng lại ngần ngại không muốn bước qua, anh nhào đến kéo mạnh cánh tay tôi về phía anh, cả vòng tay rắn chắc của anh ôm trọn lấy tôi che chở. Tôi nghe rõ từng hơi thở của anh bên tai, và mùi vải cứng thơm toát ra từ bộ quân phục mới. Tôi bỗng vùng vẫy cố thoát ra khỏi cánh tay Huy, nói như gào trong nước mắt:
- Không, hãy thả em ra, mình không là của nhau vì anh đã có vợ, anh đã có vợ rồi…Thả em ra…thả em ra…
Cùng với tiếng khóc tôi còn nghe có tiếng chân người chạy gấp rút đến gần bên tôi, có ai đó nắm lấy cổ tay tôi và ra lệnh:
- Cho cô ta một mũi thuốc an thần.
 
(1) hydroplane: là một hiện tượng xảy ra khi chạy xe trên mặt đường ngập nước với tốc độ nhanh, khiến cho bánh xe sẽ không bám vào mặt đường mà sẽ lướt trên mặt nước (giống như chơi tàu lướt sóng trên biển) rất nhanh và nguy hiểm
 
Những Kỷ Niệm Về Cha
 
Cha tôi đang ngồi đó, trên bàn thờ trong một khung hình chữ nhật được viền quanh bằng những mảnh gỗ nâu nho nhỏ. Mắt cha như đang hướng về phía chân trời nơi có một giấc mơ về sự thành đạt của các con, cùng một nỗi ưu tư về cuộc chiến tranh tương tàn mấy chục năm đã qua, và nỗi buồn cho số phận tù đày của một người lính. Hôm nay là ngày giỗ thứ mười một của cha,i ,, như thông lệ, dù có bận rộn đến đâu, chị em tôi vẫn phải dành một ngày họp mặt nhau ở thành phố Salt Lake để cúng cha, và cũng để ôn lại những kỷ niệm vui buồn khi cha còn sống trong gia đình. Năm nay, chỉ riêng một mình tôi là không về họp mặt được, thời tiết khắc nghiệt, vé tàu bay lại quá đắt, chỗ tôi ở phải bay hai chuyến mới tới được Utah. Tôi đành phải ngồi lại đây mà hồi tưởng đến cha một nình!
 
Trong trí nhớ mờ nhạt của tôi, chầm chậm hiện ra một khung trời tươi mát ở vùng cao nguyên Đà Lạt, với nhiều đồi thông bao bọc chung quanh những thung lũng nên thơ và những vườn rau xanh ngan ngát. Cũng chính nơi này tôi đã trải qua thời kỳ niên thiếu và còn giữ lại chút kỷ niệm với cha tôi trong suốt thời gian ấy. Đó là những ngày cha dắt chị em tôi đi chơi ở Đồi Cù, hoặc xuống thác Cam Ly xem voi, rồi lên khu chợ Hoà Bình đi dạo, khi đi dạo lúc nào cha cũng mua cho chúng tôi bánh mì “baguette”nóng giòn mới ra lò ở hiệu bánh mì Vĩnh Chấn. Có khi cha chở chúng tôi đến vườn hoa Bích Câu để chụp hình.
Vào những ngày lễ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, hay là ngày Quốc Khánh, cha thường cho chị em tôi vào trường Võ Bị để xem sinh viên diễn hành. Chúng tôi rất vui thích khi được tận mắt nhìn đoàn sinh viên Võ Bị oai nghiêm trong bộ lễ phục trắng, chân bước đều, thẳng thắn trong tiếng kèn và tiếng trống vang dội hào hùng.
Thuở nhỏ, tôi yêu cha tôi nhiều hơn mẹ, mặc dù cha rất ít gần gũi các con và thường vắng nhà luôn. Nhưng mỗi khi cha ở nhà là chị em tôi lại xúm xít bên cha để nghe cha kể chuyện võ hiệp Tàu, và có khi cha còn dạy chị em tôi hát, những bài hát như là:
“Mờ trong bóng chiều một đoàn quân thấp thoáng …” rồi bài: “Bao chiến sĩ anh hùng lạnh lùng vung gươm ra sa trường …” Đặc biệt những đêm mưa dầm trời lạnh buốt, cha mua bắp nướng cho chúng tôi ăn. Tôi không sao quên được cái huơng vị thơm ngon của bắp cùng với khung cảnh đầm ấm của cha con tôi bên nhau, và bằng giọng kể chuyện diễn cảm, cha đã biến câu chuyện võ hiệp thành một vở kịch sống động trong đầu óc giàu tưởng tượng của tôi lúc bấy giờ. Tôi đã nghĩ trong đầu cha tôi hẳn phải có một kho chuyện đủ loại từ truyện cổ tích, truyện đường rừng đến truyện võ hiệp, truyện lịch sử, truyện trinh thám… Một lần tôi hỏi cha: “Sao bố có nhiều truyện để kể vậy bố?” Cha cười bảo:
“Bố đọc ở trong sách ra chứ đâu, sách giúp mình biết được nhiều chuyện hay lạ lắm con biết không?” Thật vậy, đọc sách là thú vui của cha tôi, ngày đó nhà tôi giống như cái thư viện nhỏ, kệ sách của cha choán hết mọi chỗ trong nhà từ góc tường này đến góc tường kia. Cha cũng thường khuyến khích chúng tôi đọc sách như cha. Tôi còn nhớ cuốn sách đầu tiên cha mua cho tôi đọc là cuốn: “Tấm Lòng Vàng” của Nguyễn Công Hoan, sau đó là cuốn “Nhánh Rong Phiêu Bạt” của Võ Hồng, tiếp đến là “Thềm Hoang” của Nhật Tiến và còn rất nhiều sách truyện thiếu nhi của các nhà văn khác như: Duyên Anh, Từ Kế tường, Đinh Tiến Luyện, Tô Hoài…Dần dần văn học đã đi vào đời sống tuổi thơ của tôi như một giòng nuớc mát truyền từ cha. Tuy cha tôi là một giáo sư dạy toán, song cha lại rất yêu thích văn chương và âm nhạc. Hồi ấy, cha tôi có một cây sáo tây rất đẹp đựng trong cái hộp dài có bọc nhung đỏ cả trong lẫn ngoài. Cha đã mua cây sáo ấy tận bên Pháp khi còn là sinh viên du học, những lúc rảnh rỗi cha tôi thường lấy nó ra lau chùi và thổi vài bài chơi. Những năm tháng khi cha tôi còn làm việc ở Sài Gòn, ngoài giờ đi dạy thêm thỉnh thoảng cha tôi cũng có viết bài cho tờ báo “Khởi Hành”, tờ báo do một vị sĩ quan bạn của cha làm chủ nhiệm. Những câu chuyện của cha tôi viết lúc đó chỉ xoay quanh đề tài học đường.
Cha tôi còn rất thích nghiên cứu văn học Trung Hoa. Tôi không giống được cha tôi ở đặc điểm: “văn, toán song toàn” khi mà văn học gần tôi bao nhiêu thì toán học lại càng xa tôi bấy nhiêu, và dù văn học đã đem lại cho tôi nhiều kết quả tốt đẹp ở trường, cha mẹ tôi vẫn không lấy đó làm vui. Mẹ thì quan niệm cuộc đời không phải là một bài thơ, hay một bài văn, mà cuộc đời là một bài toán. Mẹ sợ văn thơ sẽ nhiễm vào tôi cái tính lãng mạn, dễ sa ngã trong tình cảm sau này, thế nên mẹ tôi rất nghiêm khắc, và kiểm soát tôi khắt khe trong việc viết lách. Khác với mẹ, cha tôi chẳng khuyến khích, cũng không nỡ ngăn cấm tôi như mẹ đã từng ngăn cấm.
 
Khi tôi bắt đầu lên trung học đệ nhị cấp, cha tôi đi làm thêm rất nhiều giờ, càng ngày tôi càng ít gặp cha hơn. Sáng nào cũng thế, cứ nghe những tiếng chim hót ríu rít trên đầu ngọn thông là tôi thức giấc, tiếng chim như chiếc đồng hồ báo cho tôi biết một ngày mới đã bắt đầu. Thế mà cha tôi đã bắt đầu một ngày mới sớm hơn cả tiếng chim hót, và khi cha trở về thì chị em tôi đã lên giường ngủ. Tôi còn nhớ có một buổi sáng chủ nhật, tôi chợt thức giấc không phải vì nghe tiếng chim ríu rít quen thuộc, mà là tiếng nổ xe rất lớn từ chiếc Vespa của cha tôi (cha tôi thường lái Vespa đi dạy thêm ngoài giờ). Buổi sáng hôm đó trời rất lạnh vì có những cơn mưa bão từ mấy hôm trước, đường đất đỏ lầy lội. Cha tôi đã chuẩn bị lái xe đi làm trên con đường đầy bùn đất đỏ dưới cái lạnh buốt giá, trong khi tôi vẫn còn nằm trên giường với chiếc chăn ấm. Lúc ấy, tôi vùng dậy và chạy ngay đến bên cửa sổ định hỏi cha tôi: “Sao hôm nay chủ nhật mà bố cũng phải đi làm?” nhưng tôi đã chẳng kịp hỏi cha được câu nào, chỉ nhìn thấy một đám khói của chiếc xe Vespa còn vương lại phía sau bóng cha. Tôi cảm thấy thương cha tôi làm sao, khi tôi nhận ra rằng cha đã làm việc vất vả biết bao để nuôi nấng chúng tôi. Tôi chợt mơ ước sao cho mình thật mau lớn để đi làm kiếm tiền phụ giúp cha.
Chiều hôm đó, cha tôi mang về cho tôi hai cuốn sách, một cuốn là: “Cánh Hoa Chùm Gửi” của Quỳnh Dao và cuốn kia là: “Trong Móc Mưa Hạt Huyền” của Túy Hồng, cha bảo: “Này con Mai, bố cho hai cuốn sách này con đọc được đấy, truyện rất khá!” Cha còn dặn tôi rằng: “Khi đọc truyện, con đừng nên chỉ đọc lời đối thoại không, mà phải chú ý đọc cách hành văn và lối diễn tả nhân vật hay cảnh vật của tác giả, như thế mình mới cảm nhận được cái hay của ngôn ngữ.” Tôi cảm động lắm vì thấy cha hãy còn quan tâm đến việc đọc sách của tôi. Tôi định bụng nếu có dịp nào tôi sẽ làm một cái gì đó để tặng cha.
 
Vào đầu năm 1975, trường tôi dự định làm một tờ đặc san cho trường để bán gây quĩ “cây mùa xuân chiến sĩ ”, và để chọn những bài viết hay cho đặc san, nhà trường đã tổ chức một cuộc thi viết về: “ Mùa Xuân, Tuổi Trẻ và Quê Hương” Năm ấy, chiến sự hãy còn sôi nổi ở nhiều nơi, cha tôi phải cấm trại luôn, ban ngày cha tất tả về nhà, ăn vội chén cơm rồi lại ra đi, tôi thương cha quá. Thế là trong đầu tôi nẩy sinh một bài viết cho cha. Tôi tham dự cuộc thi với bài viết chân thật giản dị về người cha yêu quí của tôi. Khi nộp bài tôi mới thấy bài của tôi thật lạc lõng giữa những bài viết có nhiều nội dung phong phú về xuân thật dễ thương. Sau một tháng, nhà trường công bố kết quả, điều làm tôi hết sức ngạc nhiên là nghe bài của tôi đoạt giải nhất, và lễ phát giải thưởng sẽ được tổ chức vào trung tuần tháng ba tới. Hôm đó, tôi cứ đờ người ra không biết là thật hay mơ. Thực sự, tôi không mong ước mình sẽ đoạt giải, chỉ mong là bài mình sẽ được đăng trong tờ đặc san nhà trường để mang về khoe với cha tôi như một lời cám ơn vậy. Khi cô hiệu trưởng gọi tên tôi và nói: “Bài của em viết hay lắm, đọc rất cảm động.” tôi mới lúng túng:
“Dạ.. thưa cô em … em…cứ nghĩ là bài của em không đúng với chủ đề mùa xuân.” Cô từ tốn bảo: “Đâu phải chỉ có mùa xuân thôi đâu, mà còn có cả tuổi trẻ nữa, tuổi trẻ ngày nay nghĩ gì và làm gì cho gia đình, quê hương. Cô thấy tuổi trẻ bây giờ ít ai chịu nghĩ đến cha mẹ lắm. Em đã nghĩ đến cha em thì đó là phần thưởng xứng đáng cho em rồi đấy.” Rồi cô vỗ vai tôi bước đi. Tôi vui sướng thầm nhủ sẽ giữ bí mật này cho đến ngày nhận giải, tôi sẽ đem về cho cha mẹ tôi một sự ngạc nhiên.
 
Khoảng hai tuần sau vào một buổi sáng tháng ba, tôi cắp sách đến trường thì thấy các bạn trong lớp chỉ lác đác vài đứa, bao nhiêu sự hân hoan chờ đón ngày phát thưởng trong tôi chợt vụt tắt, bởi tôi linh tính một chuyện gì đó không may sẽ xảy ra. Đúng vào lúc đó một đứa bạn gái chạy đến hỏi tôi: “Mày có biết Việt Cộng đã “lấy” Buôn Mê Thuột đêm qua không?” tôi giật mình kinh ngạc: “Thiệt hả?” Vừa hỏi dứt lời thì tôi nghe một tiếng nổ lớn, tiếp theo là vài tiếng súng bắn lẻ tẻ, tôi và các bạn gái giật mình cuống quít chạy tứ tán… Sau đó nhà trường thông báo cho các học sinh nghỉ học vì tình hình an ninh đang báo động. Tôi vội vã trở về nhà thì lệnh giới nghiêm cũng vừa ban hành. Thế là ngày phát thưởng không còn nữa, tôi cứ tiếc là đã không tặng được cha bài viết của tôi, bài viết mà tôi đã muốn thay lời nói để bày tỏ lòng yêu thương, quí trọng đối với cha. Bây giờ, dù đã mấy chục năm qua, tôi vẫn còn tiếc đã không nhận được giải thưởng cuối cùng trước khi tôi từ giã nền giáo dục dưới thời Việt Nam Cộng Hòa. Rồi thì gia đình tôi đã rời khỏi vùng đất đỏ cao nguyên dọn về Sài Gòn bỏ lại vườn tược, nhà cửa, và bao kỷ niệm êm đềm khác của riêng tôi.
 
Những Ngày Cuối Cùng
 
Những ngày cuối cùng của cha tôi đã trải qua trong bệnh viện, cha hôn mê suốt hai tháng trời, chúng tôi cứ tưởng rằng cha sẽ bỏ chị em tôi ra đi ngày nào đó. Nhưng rồi, sự màu nhiệm vô hình đã đến, một ngày cha tôi đã mở được mắt ra, nhìn chằm chặp lên trần nhà, cái nhìn thật vô định, tuy mắt cha đã mở, tay cha vẫn chưa cử động được,và cổ của cha vẫn cứng đờ. Theo lời bác sĩ, cha tôi bị hôn mê đã quá lâu nên trí nhớ sẽ giảm sút rất nhiều. Để phục hồi trí nhớ cho cha, người bác sĩ khuyên chúng tôi nên để cha tôi nghe những bài hát hoặc những câu chuyện cha tôi thường yêu thích trước kia; mỗi ngày một chút, cha tôi sẽ từ từ nhớ lại. Chúng tôi đã luân phiên nhau cứ một ngày thì em trai tôi đem băng nhạc Thái Thanh (cha tôi rất thích giọng hát Thái Thanh) và cái headphone gắn vào tai cho cha nghe, ngày hôm sau thì em gái tôi lại mang cuốn hồi ký của cha tôi vào đọc. Một đêm nọ, tới phiên tôi vào với cha thay cho đứa em gái thứ năm đi về. Nó dặn dò tôi là phải nhớ đọc hết phần còn lại trong hồi ký cho cha tôi nghe. Cha tôi vẫn nhìn bất động lên trần nhà, tôi cúi xuống bên tai cha thầm nói:
“Bố ơi, con là Mai nè, để con đọc chuyện cho bố nghe nhe” Tôi hy vọng cha tôi sẽ nghe được tiếng của tôi. Đọc hồi ký của cha, tôi thấy cuộc đời cha tôi thật quá lận đận trên đường công danh, sự nghiệp. Tính cha khẳng khái, không chịu phục tùng cấp trên những lệnh mà cha cho là không đúng, không rõ ràng, vì thế công việc của cha cứ bị thuyên chuyển luôn. Khi tôi đọc đến đoạn cha viết về những năm tháng cha làm việc ở trường Quốc Gia Nghĩa Tử và sự chuyển đổi của cha lên Đà Lạt, tôi chợt nhìn thấy những giọt nước mắt từ từ lăn trên đôi má cha. Tôi ngừng đọc mừng rỡ gọi:
“Bố ơi, bố nghe con đọc rồi hả bố, chuyện cũ làm bố buồn phải không bố?” .Tôi lấy giấy chậm nước mắt cho cha, rồi vội vàng gọi phone về nhà báo ngay cho các em tôi biết là cha tôi đã nghe được rồi, cha đã có cảm xúc. Tôi quay lại bên giường nắm lấy bàn tay khô cứng của cha xoa nhè nhẹ, tôi lẩm bẩm: “Sao bố cứ im lặng hoài vậy? bố nói gì với con đi” tôi sờ lên mặt cha, trên khuôn mặt đã hằn lên bao nỗi gian truân vì cuộc sống, vì con cái. Nếp nhăn năm tháng và đôi mắt mệt mỏi, chắc cha đang nghĩ về quá khứ của một đời tận tụy với nghề giáo, một cống hiến thanh khiết cho binh nghiệp.
Ngày nối tiếp ngày, cha tôi đã tỉnh táo lại, nhưng bộ nhớ của cha đã không còn được như xưa. Cha tôi cứ hỏi mẹ tôi đâu? Tôi nói mẹ mất lâu rồi bố không nhớ sao? Cha băn khoăn hỏi lại: “Ủa mẹ mày mất hồi nào mà tao không biết vậy kìa?” Có khi cha lại giục tôi đi dọn cơm ăn cha đói lắm rồi. Một ngày khác cha lại kể như mơ “ Bố vừa tham dự một trận đánh ác liệt ở Biên Hoà, những thằng lính Việt Cộng toàn là trẻ con không, đứa nào đứa nấy người nhỏ xíu à. Thật tụi nó tàn ác quá bắt cả con nít đi vào chỗ chết.” Một buổi sáng, tôi vào thăm cha, cha nhìn tôi và bảo tôi phải gọi sang Cali gấp nhắn chú tôi đi đăng cáo phó cho cha. Tôi ứa nước mắt lắc đầu nói lãng qua chuyện khác rằng “Bố sắp khoẻ nhiều rồi, tụi con sẽ xin bác sĩ đưa bố về nhà”. Cha tôi gật đầu “Ừ, nằm đây hoài chắc bố chết quá, à mày cũng phải gọi chú mày đi đăng cáo phó nhé!” chắc cha tôi đã biết trước là cha sẽ không còn được bao nhiêu ngày nữa bên các con.
 
Rồi ngày đau thương đó đã đến, cha tôi ra đi vào một buổi sáng trong sự bất ngờ. Cũng như mẹ, cha chẳng kịp có lời nào gửi lại cho chị em tôi, cha lặng lẽ mang theo cả một khung trời mơ ước về sự thành đạt của các con. Khung trời ấy vẫn mãi mãi trong đôi mắt cha, trong tia nhìn tràn trề sự tin yêu hy vọng. Cha cũng mang theo hình ảnh của một quê hương Việt Nam với bao nhiêu biến đổi thăng trầm theo lịch sử; nào chiến tranh, nghèo đói, nào cường quyền, áp bức, nào tù đày, khổ ải
 
Tôi nhìn lên tấm ảnh của cha, chắc cha đã gặp được mẹ tôi ở một cõi trời yên vui nào đó, và tôi tin rằng ngoài những ước mơ tốt đẹp cho các con, cha mẹ tôi cũng đã có nhiều mơ ước như tôi cho một ngày mới trên quê hương Việt Nam tự do và giàu mạnh.
 
Thiên Lý
(Trích từ hồi ký " Ngược Dòng Thời Gian")
 
Người Đàn Bà Giữ Trẻ
 
 Ông Nam ngồi vừa nhâm nhi tách trà, vừa ngó mông lung ra ngoài cửa sổ. Trời hôm nay có nhiều mây, những tia nắng yếu ớt không lan rộng trên thảm cỏ sau nhà là mấy. Chim chóc đi đâu mà không nghe chúng rúc rích trên cây như mọi ngày. Chung quanh yên tĩnh quá, ông cảm thấy buồn làm sao! Nỗi buồn bao quanh ông cả ngày nên ông biếng ăn, chỉ thích uống trà, uống cà phê thật đậm và ngồi mãi bên khung cửa để suy nghĩ mọi chuyện đời mình. Chuyện thời tuổi trẻ đi chinh chiến, lặn lội xông pha từ chiến trường này đến chiến trường khác trong không gian ầm tiếng súng đạn. Chuyện tan hàng rã ngũ ngày nghe lệnh buông súng đầu hàng, chuyện tù đày gian nan, khổ nhục… Mỗi câu chuyện là một nỗi buồn theo ông vào giấc ngủ, làm ông cứ nằm mơ toàn ác mộng. Có đêm ông thao thức trằn trọc, rồi lại nhớ bà da diết. Bà Nam đã bỏ ông ra đi vì căn bệnh ngặt nghèo mà cả thế giới đều bó tay. Hạnh phúc tan vỡ quá mau khi gia đình ông vừa định cư trên xứ Mỹ này theo diện H.O. Ông chưa kịp có một dự định gì cho tuổi về già của hai người.Từ ngày bà mất đi, ông như người mất một cánh tay, tâm tư trống vắng, người thờ thẫn và thường cảm thấy chán chường. Ông trở nên bẳn gắt, khó tính, nhất là lúc ông bắt đầu nghỉ hưu, ông tách biệt mình ra khỏi cuộc sống chung với các con, các cháu, không thích giao thiệp với ai. Căn phòng của ông đang ở hiện giờ lúc trước là garage. Hân, đứa con gái lớn đã sửa lại thành một cái studio nhỏ cho ông ở với đầy đủ phòng bếp, phòng tắm, phòng ngủ rất gọn gàng để ông có thể sống thu mình trong thế giới buồn của riêng ông.
   Chợt có tiếng nhạc vọng sang từ trên nhà. Tiếng nói eo éo của người đàn bà giữ trẻ, tiếng dậm chân của mấy đứa cháu làm ông giật mình. Ông nhớ lại ngày đầu tiên khi Hân mướn người đàn bà này vào trông nom ba đứa cháu trai của ông (đứa lớn 5 tuổi, đứa kế 3 tuổi và đứa út 2 tuổi). Sự ồn ào của người đàn bà ấy làm cho ông khó chịu vô cùng. Chắc Hân đã không nói rõ cho bà biết sự yên tĩnh rất là cần thiết đối với ông trong nhà. Mỗi khi bà xuất hiện, thì ông đã nghe tiếng nói của bà liên tục không ngừng với mấy đứa bé, lúc thì lớn giọng la lối, lúc thì hạ giọng mềm mỏng, lúc thì đổi giọng đùa giỡn, y như bà đang chơi đóng kịch. Một ngày, do ông quá nhức đầu vì tiếng nhạc và tiếng động rầm rầm. Ông bực bội bước lên nhà trên thì thấy cả ba thằng cháu ông, mỗi đứa cầm một miếng vải voan trong tay cùng với bà giữ trẻ nhảy nhót theo điệu nhạc “Mambo” từ chiếc máy CD. Ông tức giận quơ đại cái chổi ở góc nhà, đập lên bàn quát lớn:
Ồn quá, có im đi không?
Tiếng quát vừa dứt thì tiếng nhạc cũng ngưng. Người đàn bà nhìn ông sửng sốt, ba thằng cháu nép vào bên bà lấm lét.
Ông lớn giọng nhấn mạnh:
Đây là cái nhà, chứ không phải là vũ trường, có biết tôi bị bịnh cần được yên tĩnh không?
Nói xong ông thở ra như trút được hết sự bực bội trong người, định quay đi, rồi thoáng thấy đôi mắt sợ sệt của ba đứa cháu ngó theo. Ông tự trách mình sao vô lý quá! Ngoảnh lại nhìn thằng bé út lúc đó đang ôm cái chân của bà giữ trẻ. Ông ngoắc nó dịu giọng nói:
Lại đây với ông, chơi nhảy nhẹ nhẹ thôi.
Thằng bé vẫn giương to mắt nhìn ông không nhúc nhích, trong cái nhìn hoảng sợ lẫn chút xa lạ của nó làm ông thấy nhoi nhói lòng. Cháu của ông mà xa lạ với ông như vậy sao? Người đàn bà kia chỉ xuất hiện có mấy ngày thôi mà chúng đã gần gũi bà hơn cả ông rồi. Ông đứng bất động ngượng ngùng; người đàn bà đẩy đứa bé lại phía ông:
Con lại với ông đi.
Thằng bé vẫn không rời chân bà. Quay sang hai thằng lớn, bà nói:
Con lại với ông đi xem ông nói gì.
Hai thằng lớn cũng không di chuyển. Ông vẫy tay buồn buồn nói:
Thôi chơi đi, đừng làm ồn quá.
Rồi ông bước đi.
 Mấy ngày sau tiếng ồn đã không còn. Ông không biết bà đã cho ba đứa trẻ làm gì trên ấy để giữ im lặng, mà im lặng quá ông lại thấy như buồn hơn, cứ muốn nghe tiếng trẻ líu lo một chút cho vui. Ông lắc đầu lẩm bẩm: “Mình thật là mâu thuẫn quá!”
Giữa khoảng không gian yên tĩnh giờ này thì tiếng nhạc vang lên. Ông nghiêng đầu lắng nghe, nhưng chỉ được vài phút ngắn ngủi, sau đó tiếng nhạc và tiếng dậm chân đã ngưng. Thỉnh thoảng vào giờ trưa, ông có nghe tiếng bà giữ trẻ hát ru vọng qua bên phòng ông. Tiếng hát ngân nga âm điệu nhẹ nhàng của một bài hát nào đó về tình mẹ, mà ông nghe loáng thoáng được vài câu như:
 “À á ru hời a hời ru, mẹ thương con có hay chăng, thương từ khi thai nghén trong lòng...”
 Làn hơi thanh thanh của bà đôi khi cũng làm ông rung động và chìm dần vào giấc ngủ.
Một con chim Robin từ đâu bay đến đậu trên nhánh cây thấp ngang tầm nhìn của ông. Nó nghiêng đầu nghếch cái mỏ vàng lên cất tiếng hót. Nó hót một âm điệu gì mà nghe cũng buồn quá! Trông cái dáng vẻ cô đơn của nó thật tội nghiệp. Dường như Robin biết tiếng hót của nó không có bạn đồng họa, nên nó ngừng hót và vỗ cánh bay cao. Mây kéo về trong chốc lát rồi lại bỏ đi cho nắng dần dần lấn tới, trời thoáng dịu mát, thoáng nắng gắt. Từng mảng nắng đang lan trên lùm cây trắc bách diệp xanh um. Nhìn nắng, ông lại nhớ đến cái nắng nóng ở Việt Nam, nhớ những ngày đi chặt tre vất vả trong tù dưới ánh nắng thiêu gắt. Chặt đến mỏi cả đôi vai, còn phải khiêng vác tre về trại trên con đường nóng rát, nếu hôm nào mà đi chân đất, nắng như muốn bỏng cả hai chân… Có tiếng gõ cửa phòng ông cùng với tiếng gọi:
Ông “goại” ơi!
Ông Nam ngạc nhiên khi nghe tiếng thằng Tuấn, đứa cháu lớn gọi, bởi có khi nào ông cho phép chúng nó sang bên phòng ông đâu. Ông ngóng cổ về phía cửa nói:
Vào đi.
Tiếng ông vừa dứt thì bà giữ trẻ và 3 đứa bé đã đứng ngay cạnh bên ông từ lúc nào. Bà giữ trẻ nhanh miệng nói:
Chào ông ngoại, rồi bà quay sang lũ trẻ tiếp - con chào ông đi.
3 cái miệng mở to đồng thanh:
Chào ông.
Nghe cháu chào, ông Nam thấy lòng vui vui, ông cười xoa đầu thằng út là cu Bi hỏi:
Có chuyện gì mà vô phòng ông đây?
Bà giữ trẻ mỉm cười nói:
Dạ hôm nay em cho mấy cháu tập vẽ tranh tặng ông ngoại.
Nói xong, bà nhắc hai đứa lớn:
Nào, con đưa tranh cho ông đi.
Thằng Tuấn tiến về phía ông đưa bức tranh vẽ những hình bầu dục to ở giữa và hai hình chữ nhật hai bên. Phía trước hình bầu dục là những gạch ngang dọc. Nó nói giọng trệu trạo:
Con tặng ông cái máy bay con vẽ.
Thằng Tú là đứa kế cũng tiến đến đưa ông một tờ giấy vẽ những đường nghuệch ngoạc, bắt chước anh nó nói:
Con tặng ông.
Ông Nam run tay cầm 2 bức tranh nhìn, chưa kịp nói gì thì bà giữ trẻ đã nói:
Cháu vẽ đẹp quá phải không ông ngoại?
Ông ngẩng lên nhìn bà. Lần đầu tiên ông được diện kiến bà rất gần, trông bà hãy còn trẻ, bà đang cười với ông.  Ông nhận ra bà có hàm răng trắng đều, lại thêm một cái răng khểnh lộ ra bên phải làm cho nụ cười của bà rất có duyên. Ồ, đôi mắt mới tuyệt vời làm sao, nó tròn to, đen nhánh dưới hàng mi dài cong tự nhiên. Dù đã có vài nếp nhăn lờ mờ hai bên đuôi mắt, vẫn không làm giảm bớt đi sự tươi trẻ trên khuôn mặt bà, ông bỗng thấy rung động trước đôi mắt đẹp đang nhấp nháy với ông như muốn thoả thuận ngầm điều gì, bà nói:
Ông ngoại nói mấy lời khuyến khích cháu đi, hai anh em ngồi chăm chú vẽ cả buổi sáng cho ông đó.
Tiếng của bà kéo ông ra khỏi cơn mê ngơ ngác; ông lúng túng:
Ồ… đẹp.. đẹp lắm. Cám ơn cháu nghen.
Thằng Tuấn nói:
Ông “goại” nhớ “cheo” hình lên tường nha.
Ông gật đầu, mắt vẫn không rời nụ cười của bà giữ trẻ:
Ờ, lát nữa ông treo lên liền.
Bà giữ trẻ nói với mấy đứa bé:
Xong rồi, mỗi đứa hôn ông một cái đi, rồi mình lên nhà chơi cho ông nghỉ.
Hai thằng lớn đến gần ông ôm cổ hôn cái “chụt” lên má ông. Thằng cu Bi thấp tũn, đang cố kiễng chân với tay để hôn ông, thì bà giữ trẻ đã nhanh nhẹn ẵm nó lên để mặt nó sát vào ông. Khuôn mặt bà lúc này cũng càng gần ông hơn, và một bên tóc của bà xòa xuống ngay trên phía vai ông. Một mùi thơm nhè nhẹ toát ra từ người bà cho ông chút cảm giác ngất ngây. Đã lâu lắm rồi, có đến hơn mười năm chứ ngắn ngủi gì, ông chưa nghe lại mùi đàn bà…Ông vui vẻ đón nhận nụ hôn của các cháu mà lòng không khỏi ngẩn ngơ, tiếng bà giữ trẻ:
Thôi để em cho mấy cháu lên nhà chơi, khi nào ông ngoại buồn thì lên chơi chung với mấy cháu cho vui nghe ông ngoại.
Ông ầm ừ, nhìn theo bà giữ trẻ và ba đứa cháu đi ra khỏi phòng, tưởng như mùi hương của bà vẫn còn phảng phất quanh đây. Bất chợt ông mỉm cười.
 
 
 Đã hai hôm nay bà giữ trẻ không đến, ông Nam nghe Hân nói bà bị ốm. Hân phải nghỉ ở nhà để trông con.  Mới hai hôm vắng tiếng nói eo éo của bà mà ông đã thấy nhớ nhớ. Tính ra bà vào nhà này giữ mấy đứa nhỏ cũng gần cả năm rồi, mọi việc trong nhà đều thay đổi từ khi có sự hiện diện của bà. Nhà cửa ngăn nắp ra, những thằng cháu nghịch ngợm của ông ít đánh nhau hơn. Chúng hát véo von cả ngày những bài hát tiếng Anh, tiếng Việt, lại còn thích chơi vẽ tranh. Trong căn phòng gia đình, bà Mơ làm cho chúng một góc trưng bày tranh. Những bức tranh vẽ của hai thằng Tuấn, Tú, được bà lồng vào khung đàng hoàng trông thật ngộ nghĩnh. Có cả những  hình con thú xếp bằng giấy mà ông dạy chúng làm cũng được bà treo lủng lẳng trên trần, ngó vui mắt lắm. Dạo này bà còn dạy chúng đọc và viết chữ Việt nữa. Hôm qua, hai anh em thằng Tuấn và Tú tranh nhau đọc cho ông nghe bài thơ chúng đã thuộc lòng. Thằng em vừa cầm cuốn sách chỉ vào hình cái cây, vừa hăng hái đọc:
  Hôm nay học về cây
 Bài cô giảng thật hay
Rễ cây uống nhựa đất,
Như ăn cơm hằng ngày
 Cây không hề biết đi
 Chưa bao giờ cây nói
Cây chỉ biết thầm thì
 Khi trăng lên gió thổi
 Lá cây làm lá phổi
 Cũng hít vào thở ra
 Cành cây thường vẫy gọi
Như tay người chúng ta
Thằng Tú ngừng đọc như để nhớ lại thì thằng Tuấn đã tiếp:
Khi vui cây nở hoa,
 Khi buồn cây héo lá,
Ai vặt cành bẻ hoa
 Nhựa tuôn như máu ứa (1)
Lúc này, thằng Tú đang cầm cuốn sách có hình cây xanh to ngoài bìa đến gần ông. Tiếng nó cắt đứt sự nghĩ ngợi của ông về bài thơ:
Ông “goại,” bà Mơ nói không được bứt lá, bẻ cây, cây cũng biết đau đó ông “goại.”
Nghe Tú nhắc đến bà Mơ, ông lại mơ màng nhớ đến nụ cười của bà.Tiếng thằng Tuấn tiếp:
Cây để làm đẹp đường thôi há ông “goại”, con thuộc hết bài Cây luôn nè.
Ông Nam gật gù cười khen hai cháu:
Giỏi quá, còn bài nào nữa không, đọc thêm cho ông nghe với?
Thằng Tuấn ngẫm nghĩ:
Con hết nhớ rồi!
Hân đang lau bàn quay ra nhắc con:
Hôm bữa má nghe hai đứa đọc bài "thương ông" gì đó, bài đó hay, đọc cho ông nghe đi con.
Bài thương ông? Thằng Tú hỏi lại
Tuấn nói lớn:
A, con nhớ rồi, dzầy nè -  Tuấn đọc luôn một lèo:
 Cháu yêu ông nhất trên đời
 Vì ông với cháu cùng chơi suốt ngày
 Sáng ông dạy cháu tưới cây
 Chiều ra nhặt cỏ dại đầy sân sau (2)
Lần này cả ông Nam và Hân đều khen ngợi hai đứa bé, Hân lại gần bên Tuấn hôn lên má con nói thêm:
Hay quá, con má thiệt là giỏi ghê.
Hân quay qua nói với ông:
Ba thấy hông ba, từ hồi bà Mơ giữ tụi nó tới giờ, tụi nó học được nhiều cái hay quá há ba, con cũng mừng ghê đó.
Ông Nam gật đầu tán thành:
Ừ, bà có vẻ là người có học đó nghen…
Ông chợt ngừng ngang câu nói, không biết dùng tiếp chữ nào để diễn tả được hết ý của ông về bà Mơ. Ông cảm thấy bà quả là người giữ trẻ tuyệt vời so với những người mà Hân đã mướn trước kia. Chỉ một việc bà tập cho thằng cu Bi "bỏ tã" thôi là ông đã thấy được tính kiên nhẫn của bà đến độ nào. Bà nhắc nhở nó đi "pee, pee" cách hai tiếng một. Sẵn lòng ngồi chờ nó bên cạnh cái "potty chair" hồi lâu, đọc truyện cho nó nghe. Khi nào nó đi được thì bà vỗ tay reo khen nó, lại cho nó mấy cái sticker dán vào áo để mang lên khoe ông thành tích đi "pee pee”. Bà dỗ dành nó rất hay, nay thằng bé đã biết đi vào phòng tắm một mình. Còn chuyện tập cho chúng đánh răng sau bữa ăn nữa chứ, thật là một kỳ tích. Không như Hân phải réo gọi con năm lần bảy lượt, thỉnh thoảng còn phải cầu viện đến sự quát tháo của ông thì chúng mới chịu đánh răng. Ông chú ý cách bà tập cho ba thằng nhóc đánh răng giống như một trò chơi vậy. Khi chúng chải hàm răng phía trước thì bà và chúng đều đồng thanh nói chữ i, hễ đánh vào hàm răng bên trong thì cả ba cái miệng há ra chữ a, và chữ e thì để chà lưỡi. Ba thằng bé thi nhau chà răng một cách hào hứng. Mỗi lần nhìn bà Mơ với mấy thằng cháu đánh răng, ông thấy vui nhộn quá!
        Vợ chồng Hân cũng rất hài lòng và cho rằng mình đã may mắn gặp được một người giữ trẻ tốt như bà. Không những bà chỉ mang niềm vui đến cho các con của cô, mà bà còn mang lại sự vui vẻ cho cha cô. Ông đã bớt khó tính không sống biệt lập như trước nữa, thường chơi với các cháu và hay ăn cơm chung với gia đình Hân vào ngày cuối tuần. Đặc biệt là ông hay hỏi Hân về bà giữ trẻ…Thấy ông chỉ gật đầu, lại dừng đột ngột sau câu nói. Hân cười tủm tỉm hỏi:
Ba, ba thấy bà Mơ được hông ba?
Nghe con hỏi, lòng ông bỗng rộn ràng kỳ lạ, ông mỉm cười nói ngay:
Bả dễ thương đó chứ, hồi còn trẻ chắc phải đẹp gái lắm à.
Con cũng nghĩ vậy đó, bả 50 rồi đó ba, mà nhìn bả trẻ ghê hông, hổng biết lúc con tới tuổi 50 có được như bà Mơ hông đó, bả còn nhanh nhẹn quá trời  à!
Ờ, nhìn bả trẻ quá! Không biết bà đau ốm ra sao? Mày gọi hỏi thăm người ta chưa?
Con gọi rồi, định chiều ông xã con về cho ảnh coi mấy đứa nhỏ con qua thăm bả một chút.
Bà có ở gần đây không?
Dạ gần đây nè ba, đi bộ chừng một block đường tới hà.
Ông Nam ngạc nhiên:
Vậy sao?  Rồi ông ngập ngừng -Ờ, mày…cho ba… đi thăm bả với được không?
Hân nhìn cha ngạc nhiên vài giây, rồi vui mừng nói:
  -  Dạ được chứ ba. Con còn ước phải chi ba với bà Mơ làm bạn lâu dài cho con vui.
Ông Nam cười ngượng nghịu:
Ba già rồi…
Hân lại gần cha ngồi xuống nhỏ nhẹ nói:
Ba à, má mất lâu quá rồi, ba cũng phải cần có người bên cạnh để chăm sóc bầu bạn với ba cho vui. Nếu ba có tình cảm với bà Mơ thì con sẽ cố gắng ráp nối bả cho ba. Bà Mơ cũng goá chồng mấy chục năm nay rồi, bả ở vậy tới giờ luôn đó ba, coi bộ hoàn cảnh bả cũng đơn chiếc lắm.
Đến lượt ông Nam ngạc nhiên:
Bà Mơ goá chồng hả? Tội nghiệp không?
Dạ, mấy chục năm rồi…
Ông Nam ngắt lời Hân:
Biết lòng người ta ra sao, bả đã ở vậy tới mấy chục năm nay là cũng phải có lý do. Chắc gì bả đã chịu ba mày.
Con nghĩ chắc bả cũng có cảm tình với ba, có lần bả khen với con ba đẹp lão.
Ông Nam phì cười. Hân tiếp:
Mà con thấy ba đi với bà Mơ xứng hơn với má…
Ông Nam đánh lên đầu Hân gắt ngang:
Ý trời, mày nói cái gì kỳ cục vậy?
Hân biết mình lỡ lời, vội bụm miệng nói:
À, hông, hông. Má ở dưới suối vàng tha tội cho con nghe, ý con nói là về vóc dáng bên ngoài, ba đi với bà Mơ xứng hơn, tại bả nho nhỏ, má thì cao to, ba cũng cao, mà từ hồi ba đi cải tạo về ba sa sút, gầy ốm quá, lúc sau này má bị mập bịnh nữa, nên má đi với ba không thấy ba đâu hết á.
Vừa lúc đó có tiếng la khóc của thằng cu Bi cùng với tiếng chân rượt đuổi nhau, thằng Tú chạy trước, tay cầm cái túi lụa màu tím cà trong tay vừa nói:
Của anh mà, đâu phải của Bi.
Thằng Bi chạy theo sau anh mếu máo:
Chả Bi, chả Bi
 Cu Bi đã 2 tuổi, nhưng vóc dáng nó nhỏ như đứa bé mười mấy tháng, vì Bi sinh non gần tới 4 tuần. Thằng bé lững thững chạy theo anh, Hân chụp lấy tay con kéo lại:
Coi chừng vấp đồ té con à, chạy đi đâu vậy?
Thằng Bi dẫy dụa đẩy mẹ ra, nó chỉ tay về phía Tú khóc nói:
“Ang”...túi
Hân quay về phía Tú, lớn giọng:
Tú lấy cái gì của em trả cho em đi.
Tú gào lại:
Của con chứ đâu phải của em.
Cái túi nào mà của con, đem ra đây cho má coi coi.
Thằng Tú dơ cao cái túi vải nhỏ lên đưa cho Hân xem từ xa. Thằng Bi nhẩy lên đòi lại, Hân nói:
À cái túi đó bà Mơ làm cho mỗi đứa một cái mà, đem lại má coi có tên con ở ngoài hông?
Hông có tên mà có hình con ong là của con.
Thiệt hông? Rồi còn của thằng Bi là hình gì?
Của Bi hình bong bóng, Bi giục mất tiêu rồi, cứ đòi của con hoài à.
Hân dỗ ngọt Tú:
Thôi đem lại đây cho em mượn xíu đi, chút má kiếm cái của nó rồi trả lại cho con.
Thằng Tú lắc đầu nói: Hông. Cu Bi lại giẫy lên đành đạch. Ông Nam nhìn cái túi nhỏ thằng Tú đang đong đưa trong tay. Ông dỗ thêm:
Đưa cho em mượn đi con, lát nữa ông dạy con xếp cái máy bay.
Thằng Tú vẫn lắc đầu: Hông, em cũng có mà!. Ông Nam đứng lên đổi giọng cứng rắn:
Ông nói cho em mượn để má mày đi kiếm cái của em sau, mau đi.
Thằng Tú vẫn phụng phịu không chịu. Ông Nam chợt quát:
Mau cho em mượn, nó khóc hoài nhức đầu lắm biết chưa?
Thằng Tú giật mình sau tiếng quát của ông, nó bước tới đưa cái túi cho em. Ông Nam nhìn chăm chú cái túi lụa tím mềm mại, nhớ đến hình ảnh bà Mơ hôm nào trong chiếc áo bà ba lụa màu tím hoa cà, cũng cùng một loại vải như cái túi lụa trên tay thằng cháu ông hiện giờ. Ôi, lúc đó, trông bà sao dịu dàng, trẻ trung quá!  Chiếc áo may vừa khít với thân hình nhỏ nhắn, thon gọn của bà. Ông xúc động nhìn chiếc áo bà ba như được nhìn lại hình ảnh cô gái Việt Nam ở quê hương Bến Tre của ông mấy chục năm trước. Ông ngắm mãi từng sự di chuyển của Mơ từ nhà bếp ra phòng khách cho ðến lúc bà ngồi xuống chiếc ghế sofa đối diện với ông, thì thằng cu Bi đã nhảy lên lòng bà, bá lấy cái cổ trắng xinh đòi bà cho nó chơi đứng lên, ngồi xuống trên đùi bà như mọi lần. Chiều Cu Bi, bà xốc nách thằng bé cho nó nhảy hai ba lần. Sau một hồi, không muốn bà giữ nó trong tay, nó làm động tác đứng lên, ngồi xuống một mình. Làm được hai lần nó thích thú cười vui, nhưng đến lần thứ ba, nó hụt một chân ra ngoài, té ngồi xuống, hai tay nắm lấy cái cổ áo bà ba tròn của bà, bất ngờ làm bung hết mấy hàng nút bấm trước ngực áo. Sự việc xảy ra quá bất ngờ, quá nhanh khiến ông Nam giật thót mình. Vì lịch sự, ông quay mặt nhìn đi nơi khác, nhưng trước khi quay đi ông đã liếc nhanh qua khoảng ngực trắng hồng ẩn dấu sau cái áo ngực cũng màu tím cà có viền ren rất đẹp... Bà Mơ đã nhanh tay túm ngực áo lại và đặt thằng cu Bi sang bên cạnh. Ông nhìn theo dáng bà chạy nhanh vào phòng trong mà lòng bỗng nhiên rạo rực đến khó tả. Hình ảnh hấp dẫn kia vẫn ám ảnh ông mỗi khi ông nhìn thấy cái túi lụa màu tím cà, dù ông chỉ được chiêm ngưỡng trong vài giây ngắn ngủi …
Dạo này ông vẫn thường nằm mơ về bà Nam hồi còn sinh tiền, thuở bà gồng gánh đi thăm ông mãi tận trại Phú Yên xa xôi.  Có khi ông lẫn lộn bà Nam ra hình ảnh bà Mơ thật hiền hoà, dịu ngọt chứ không nóng nảy, gắt gỏng. Nhớ lại những năm bà Nam đau ốm, sự nóng nảy cáu gắt của bà càng tăng cao. Suốt mấy chục năm sống với nhau, ông thường là người nhẫn nhịn nhiều để cho bà vui. Và cũng vì biết ơn tấm lòng tận tụy, hy sinh cho chồng của bà. Ông xót xa nghĩ đến những ngày bà sắp phải xa ông trong căn bệnh ung thư gan vào giai đoạn cuối. Đau đớn hành hạ thân xác làm bà rên xiết, khóc lóc, thảm thiết quá, mà ông thì không thể làm gì giúp bà qua cơn đau được…
Ba ơi, đi thăm bà Mơ để trời tối bả ngủ đó.
Tiếng Hân bên tai kéo ông về thực tại.
Ủa, ba khóc hả ba? Ba buồn nhớ má nữa hay sao vậy? Hân lo ngại hỏi
 Ông Nam lắc đầu, đứng lên:
Thôi đi.
                                        *****
Đến đón trẻ ở trạm school bus hàng ngày trong khu phố là vài khuôn mặt phụ nữ Việt Nam, Mỹ, Mễ. Họ biết Mơ là một người giữ trẻ như lời tự giới thiệu của nàng. Về cuộc sống riêng, họ biết thêm nàng goá chồng, không con cái, ở thuê một căn phòng nhỏ của hai vợ chồng già cách nhà Hân một block đường đi bộ. Thật ra, Mơ hãy còn độc thân, do không muốn ai biết mình là “gái già” hoặc bị mang tiếng “ế” mấy chục năm nay. Mơ phải nói dối với mọi người mình góa chồng, còn “bịa” thêm chồng mình hồi xưa đi lính đã hy sinh trong trận chiến An Lộc vào năm 72 mùa hè đỏ lửa. Nói vậy cho oai và còn được tiếng là “chung thủy”, “chính chuyên” hơn là tiếng “ế”.
 Mơ dọn đến đây từ thành phố Ignacio nhỏ bé ở phía Nam tiểu bang Colorado, một thị trấn biệt lập của người thổ dân Ute. Mơ đã sống lạc loài ở đó hơn mười năm trời với nghề dạy trẻ. Thời gian đầu, Mơ chỉ định dạy 3 năm như sở giáo dục liên bang đã qui định để được miễn trả lại tiền học. Nhưng sau 3 năm, Mơ không xin được việc ở thành phố nào khác, đành phải an phận nơi vùng hẻo lánh ấy. Thời gian cùng tuổi xuân cứ trôi đi lặng lẽ bên cuộc sống hết sức buồn tẻ và cô đơn của Mơ. Ngoảnh lại thấy mình mới đó đã tới tuổi năm mươi rồi! Năm mươi mà như “còn ngơ ngác, giữa giòng đời cuốn xô…” đúng là “một đời quẩn quanh giành tranh chẳng qua một chớp mắt…”  (3) Và, khi tuổi đời càng lớn, sự chống trả với cô quạnh càng yếu đi, lòng hăng say nhiệt tình trong công việc cũng giảm sút. Ước muốn về những nơi có đông người Việt sinh sống đã cho Mơ sự cương quyết ra đi, dẫu chưa biết mình có dễ dàng tìm việc làm ở chỗ mới hay không. Sẵn có thêm sự thuyết phục của ông Thanh, người anh trai cả, nên một ngày hè, Mơ đã khăn gói về Nam Cali này sống với anh. Ở với anh chị một thời gian ngắn, cảnh chị dâu, em chồng không thuận thảo làm Mơ cảm thấy ngột ngạt với không khí "mất tự do". Chị Thanh, tính nết khó khăn, độc tài, thích điều khiển mọi việc trong nhà theo ý mình. Mơ thường bị chị la mắng và nói bóng gió về chuyện " ăn bám" sẽ kéo dài không biết đến bao lâu của Mơ. Anh Thanh rất hiền nhưng lại sợ chị Thanh, anh không dám nói đỡ cho Mơ câu nào chỉ an ủi Mơ sau lưng vợ. Mơ thương anh, không muốn anh phải khó xử giữa vợ và em gái, cũng không muốn là gánh nặng cho anh, khi anh và chị đều đã nghỉ hưu. Mơ đành phải dọn ra ngoài ở riêng. Ra sống riêng, Mơ gặp không ít khó khăn của người từ thành phố nhỏ đến sinh sống ở thành phố lớn, khó khăn nhất là lái xe. Trước kia, ở thị trấn Ignacio nhỏ bé, Mơ đi làm rất gần nhà, lái xe chỉ mất khoảng 10 phút, đi chợ thì chưa đến 15 phút. Đường phố nhỏ hẹp, vắng lặng, từ 3 giờ chiều trở đi trên đường chỉ lác đác vài chiếc xe chạy. Khác với Wesminster này, đường xá thênh thang, xa lộ dọc ngang, xe chạy ào ào. Mơ cố gắng thi lại bằng lái Cali mà vẫn còn nhút nhát chưa dám lái xe ra xa lộ lớn. Đã có mấy chỗ Mơ xin việc quá xa, định nhờ anh Thanh mà lại ngại ánh mắt khó chịu và lời chì chiết của chị dâu:
- Ôi dào, học nghề gì không học, lại đi học “ baby sit” tốn kém mà chẳng kiếm được bao nhiêu, lại phiền hà cho người khác.
Mơ đành thôi, phải cố tìm cách giải quyết khó khăn một mình. Mơ đọc báo để tìm người thuê giữ trẻ, may ra có tiền chi phí ăn ở cho thời gian đầu, sau đó sẽ tính cách khác. Chặng đường đi xin việc giữ trẻ cũng gay go không kém. Mơ gặp những cặp vợ chồng Việt Nam khó tính, chẳng ai muốn tin vào bề dày kinh nghiệm dạy trẻ của nàng. Người ta quan niệm “giữ trẻ” nghĩa là một “baby sitter” thực thụ, chứ không ai cần người “dạy trẻ”. Vì thế, nếu Mơ nói chuyện bằng cấp trong lúc mấy bà mẹ phỏng vấn mình chỉ là vô ích khi kinh nghiệm giữ trẻ tại nhà Mơ chưa hề trải qua, mặc dù nó chẳng có gì là khó. Cũng có vài gia đình muốn Mơ giữ trẻ kiêm luôn việc đưa đón con họ đi học, nhưng Mơ ngại lái xe xa, lại chưa biết đường xá nên không dám nhận. Một tháng trôi qua nhanh, tiếp tới tháng thứ hai, tháng thứ ba, tiền nhà đã phải chi hết một phần tư số tiền dành dụm rồi mà việc làm chưa tìm được. Mơ bắt đầu lo lắng định dọn về ở với anh Hoàng, anh kế của Mơ, song nghĩ đến tính khí khó khăn, hay la mắng của anh, Mơ lại tự ái đành lắc đầu, thôi vậy. Mơ chỉ có hai ông anh mà tính tình hoàn toàn khác nhau, anh Thanh hiền thì chị vợ dữ, còn anh Hoàng được chị vợ hiền thì tính khí anh nóng nảy, cau có, khó chịu với vợ con, với em. Thật khổ thân! Tuy thương anh, Mơ chẳng muốn sống chung với các anh chút nào. Có lẽ do cuộc sống quá bận rộn, nhiều lúc cả hai ông cũng quên mình còn một đứa em gái nhỏ. Mơ mất mẹ từ thuở lọt lòng, sinh ra Mơ khó khăn ở tuổi đã lớn, mẹ qua đời sau một cơn băng huyết nặng. Mơ lớn lên trong sự nuôi nấng của cha và anh. Mơ thở dài nghĩ; phải cố thôi, mình đã tự lập mười mấy năm nay rồi, chẳng lẽ bây giờ đành chịu thua sao? Rồi dịp may cũng vừa đến cho Mơ vào tháng thứ tư, Mơ gặp được vợ chồng Hân đang cần người giữ ba đứa trẻ và họ đã nhận Mơ ngay không đắn đo, không hề đòi hỏi ở Mơ điều kiện gì. Hân kể cho nàng nghe nỗi lo lắng của cô về ba thằng con trai, trước kia không người giữ trẻ nào giữ con cho Hân quá 6 tháng. Họ thường than phiền ba đứa bé quá nghịch phá, và lì lợm. Hân cũng lo rồi Mơ sẽ bỏ đi như những người giữ trẻ trước. Mơ trấn an bà mẹ trẻ rằng nên hiểu con trai đứa nào cũng hiếu động nghịch phá, đó là sự phát triển tự nhiên của chúng. Nếu có phương pháp đưa những trò chơi hữu ích như tô vẽ, chơi nặn đất sét, chơi cát, chơi nước, chơi cờ hình v…v …đến với chúng, làm cho chúng thật bận rộn thì sự phá phách sẽ giảm bớt.  Mơ cũng cho Hân biết là mình có đến 4 thùng đồ chơi, và nhiều dụng cụ làm thủ công, cũng như màu nước để sơn, vẽ, làm Hân yên tâm ngay.
Khi Mơ bắt đầu làm quen với ba đứa trẻ, nàng cũng gặp nhiều khó khăn, vất vả để chỉnh đốn một nề nếp ăn, ngủ, chơi, học giống như trong lớp vậy. Biết thằng Tuấn rất ham mê chơi game trên computer. Mơ tìm tòi những game về toán và tập đọc cho Tuấn chơi. Thấy nó có vẻ chán, Mơ thuyết phục mãi và phải tưởng tượng thêm ra những câu chuyện cho mỗi game để hướng sự chú ý của thằng bé vào trò chơi. Mơ chỉ hạn chế giờ chơi game trên computer là 15 phút mỗi ngày, và thường dùng thời gian chơi game như một phần thưởng cho thằng Tuấn khi nó làm xong bài tập ở nhà. Còn hai thằng bé thì cũng được chơi theo giờ, Mơ cũng thường cho chúng sự lựa chọn trò chơi và khi chơi xong, Mơ luôn nhắc nhở chúng tự dẹp đồ chơi cho ngăn nắp. Dần dần ba đứa trẻ đã vào nề nếp, Mơ nhận thấy chúng đã không quá quậy phá, hay lì lợm như Hân đã nói. Trái lại đó là ba đứa bé trai lém lỉnh, hiếu động, biết nghe lời. Mơ thấy chúng thật đáng yêu, nhất là thằng cu Bi cứ đi theo Mơ như cái đuôi. Tội nghiệp thằng bé sinh thiếu tháng, hai tuổi mà nhỏ xíu con, vậy đó, mà leo trèo chạy nhảy nhanh như con chuột. Việc đưa đón Tuấn đi học kindergarten cũng rất tiện lợi. Buổi sáng Mơ dắt nó ra trạm xe “school bus” cách nhà khoảng nửa block đường đứng chờ xe đến, rồi trưa lại ra trạm đón Tuấn về.  Chỉ có điều trở ngại cho Mơ là ông Nam, một “grandpa” khô khan, khó tính đến tội nghiệp! Thấy ông cứ lặng lẽ giam mình suốt ngày trong căn phòng tối om và yêu cầu sự yên tĩnh. Ông không hiểu rằng nhà có trẻ con thì làm sao mà giữ yên tĩnh được, nhất là con trai. Thỉnh thoảng, Mơ bắt gặp ông ngồi ngoài vườn sau, đôi mắt nhìn xa vắng. Hình ảnh đó, gợi cho Mơ nhớ đến cha mình đã sống một thời gian dài trong cảnh gà trống nuôi con. Cha cũng buồn và hay ngồi im lặng một mình như thế để nhớ đến mẹ. Những lúc đó, Mơ phải cho ba thằng bé ngồi đọc sách và cố gắng giữ yên tĩnh lâu được chừng nào hay chừng ấy. Song, rất khó lòng để giữ ba thằng con trai ngồi yên lâu, thế nên khi chúng bắt đầu chán đọc sách thì Mơ phải ra thuyết phục ông Nam tham gia vào những trò chơi với mấy đứa cháu cho vui. Lúc đầu ông hay viện cớ mệt mỏi để từ chối, rồi càng về sau Ông Nam cũng đồng ý, ông kể chuyện cho chúng nghe, dạy chúng xếp hình, Tuấn rất thích xếp hình với ông. Nhìn mấy ông cháu ngồi chơi bên nhau, Mơ cũng thấy vui lây, nàng thường nhân cơ hội đó lấy máy hình chụp lia lịa những tấm hình ông cháu cùng chơi, rồi âm thầm làm một cuốn scrapbook riêng cho mỗi đứa, để chúng đem ra khoe với ba má và ông ngoại. Vợ chồng Hân và ông Nam thích lắm.
     Sống một mình đã lâu, chưa lần nào bị bịnh kéo dài đến mấy ngày như thế này. Mơ cảm thấy lo sợ cho những ngày sắp tới nếu cơn bịnh tái phát, mà mình vẫn đơn chiếc một mình một bóng trong căn phòng nhỏ. Đã ba hôm nằm bẹp trên giường, toàn thân đau nhức, Mơ không nhúc nhích nổi, đói, khát không biết kêu ai. Mơ không muốn làm phiền đến hai anh mình, nghĩ hai anh đã đều lớn tuổi đâu có giúp gì được nhiều cho Mơ. Hôm qua, hai cha con ông Nam đến thăm Mơ bất ngờ  khiến nàng cảm động quá. Chưa bao giờ Mơ thèm muốn một không khí gia đình như lúc đó. Nhìn cử chỉ lo lắng và ánh mắt thương cảm của ông Nam, Mơ càng tủi thân cho phận cô đơn của mình. Lại chợt nhớ đến buổi chiều nào thằng cu Bi làm đứt nút áo Mơ trước mặt ông ngoại nó, một sự mắc cỡ ngượng ngùng lan toả trong người Mơ nóng ran như thể nàng bị lên cơn sốt nhiều hơn. Người Mơ đang sốt thật đây mà. Mơ thấy miệng mình khô rát và đắng nghét, nàng cố ngồi dậy mà vẫn không được. Cái đầu đau, tay chân cũng đau. Mơ cảm giác như có ai đặt tay lên trán mình. Trong cơn đau nhức, đôi mắt Mơ sao nặng đến nỗi không mở ra được, bên tai nàng nghe loáng thoáng tiếng đàn ông nói chuyện, Mơ cố lắng nghe mà không nghe rõ, rồi một lúc Mơ thiếp dần đi.
                                          ****
Ông Nam cẩn thận đặt tô cháo nóng vào cái giỏ mây, lấy thêm vài cái khăn giấy,  muỗng. Hân đưa thêm cho ông một túi cam và nói: 
       -   Ba nhớ ép bà Mơ ăn nghe ba, trời ơi, nhà gì mà tủ lạnh trống lốc hà.Tội
       nghiệp bà quá há ba.
       -  Ờ, mới bịnh có mấy ngày mà coi bà xanh xao quá.
       -  Ba, ba nhớ hỏi bà Mơ vụ dọn về ở chung với mình nghen ba, nhà mình dư
         phòng đó, thấy bà ở có một mình tội quá.
Ông Nam gật gù, Hân lại hối:
        - Thôi ba đi qua bà Mơ lẹ đi, để thằng Cu Bi thấy nó đòi theo nữa.
Ông Nam ờ ờ, trước khi đi ông không quên bước vào phòng tắm, ngó sơ qua diện mạo của mình, sửa cặp kính và vuốt lại mái tóc trắng. Ông nghĩ bụng, con Hân này cũng tâm lý quá đi chứ, bữa nay giao cho ông đem cháo qua thăm bà Mơ một mình. Thiệt tình ông rất vui mà cũng rất hồi hộp, ông bước ra cửa rồi, Hân còn nói vói theo:
         - “Take time" nghe ba.
 Nghĩ đến hình ảnh Mơ hôm qua, khuôn mặt trắng xanh mệt mỏi, đôi môi khô vẫn ráng nở nụ cười đón hai cha con ông đến thăm. Nụ cười khô héo ấy lộ ra cái răng khểnh duyên dáng đã cuốn hút ông say đắm lẫn xót xa trước vẻ tiều tụy của nàng. Ông mỉm cười, từng bước chân như vui theo sự rộn rã trong lòng làm ông đi nhanh hơn. Ngang qua công viên, thấy vài người đứng chơi với đám trẻ, ông vui vẻ chào họ. Ông đi theo con đường quanh co phía sau công viên, tới bảng stop 4 chiều, rồi băng sang đường, quẹo trái, đi qua 3 căn nhà nữa, là đến cái nhà gạch, mái nâu, cửa trắng. Nơi Mơ ở là căn phòng nằm phía sau nhà, có lối đi riêng rẽ qua mảnh vườn nhỏ. Đứng trước cửa phòng của Mơ, ông ngạc nhiên thấy cửa chỉ khép hờ, thấp thoáng có bóng người đàn ông bên trong. Ông Nam ngần ngại tự hỏi, ông nào trong nhà Mơ thế? Hay là bạn trai Mơ? Ông lúng túng, chợt thoáng buồn… Ngập ngừng một lát, ông định quay về nhưng lại tiếc không được gặp Mơ thì sợ thêm một tối mất ngủ vì nhớ nàng... Ông nói thầm, nhất quyết phải vào thăm Mơ mới được, coi lão kia là ai, rồi đưa tay gõ nhẹ cánh cửa, không có tiếng trả lời. Ông gõ thêm tiếng nữa, vẫn im lặng. Ông lấy làm lạ, liền mạnh dạn đẩy cửa bước vào, ông đụng ngay người đàn ông sau cánh cửa. Hai ông già nhìn nhau lạ lùng, Ông Nam nghĩ thầm: Trời, không lẽ bạn trai Mơ lại già như vầy sao? Người đàn ông trong nhà Mơ cất tiếng hỏi:
     - Xin lỗi ông muốn tìm ai?
Ông Nam ngập ngừng nói:
     - À,.. tôi qua thăm bà Mơ...
Người đàn ông ngắt giọng:
    - Thăm Mơ, ông là bạn của Mơ à?
 Ông Nam thấy khó chịu trước câu hỏi của người đàn ông, nhưng cũng bình thản trả lời:
      - À không, Mơ giữ mấy đứa cháu ngoại nhà tôi, nghe bà bị ốm từ hôm qua đến giờ, con gái tôi nấu tô cháo nhờ tôi mang qua cho Mơ đây.
Người đàn ông ồ lên một tiếng thật to, rồi vui vẻ chìa tay ra trước mặt ông Nam nói một hơi:
    -  Hân hạnh được biết ông, thật là quí hóa quá. Tôi là Thanh, anh trai của Mơ. Thế ra ông cũng là người quen với Mơ nhà tôi, nó hay kể chuyện gia đình ông cho tôi nghe lắm, nó khen gia đình ông rất tốt với nó, nào mời ông vào chơi.
Ông Nam sững sờ vài giây, rồi bắt tay người đàn ông vui vẻ nói:
    - A, cũng hân hạnh được biết ông, tôi không biết Mơ có anh trai ở đây, bà không bao giờ nói chuyện về gia đình hết.
 Ông Thanh vừa kéo ghế, vừa nói:
    -  Ôi, cái tính Mơ thế đấy, kín đáo lắm, đấy ông xem, cái thân nó ốm không biết mấy hôm rồi mà nào có gọi báo cho tôi. Nhân tôi chở bà nhà đi làm tóc, ghé qua đây thăm mới biết nó ốm.
 Ông Nam đặt chiếc giỏ mây lên bàn nói:
      -  Bà Mơ bịnh ba bốn ngày nay rồi, hôm qua tôi với đứa con gái có ghé thăm. Bà mệt không nói chuyện nhiều được. Mấy đứa cháu tôi nhớ bà lắm, cứ hỏi chừng nào bà Mơ hết bịnh tới chơi với tụi nó.
Ông Thanh nói giọng lo lắng:
    - Thế à, bịnh mấy hôm rồi cơ đấy, thật khổ thân. Rồi hạ giọng thân thiết ông tiếp Vâng, nó thích trẻ con lắm. À, Mơ nhà tôi so với chúng ta hãy còn nhỏ, nó cũng chưa bao giờ lập gia đình, ông gọi tên em nó nghe thân mật hơn, gọi bà làm chi nghe trịnh trọng quá. Tôi cũng mừng cho em tôi gặp được một gia đình tốt như gia đình ông. 
Ông Nam ngạc nhiên hỏi:
      - Ủa, ông nói Mơ chưa bao giờ lập gia đình, vậy sao tôi nghe là bà góa chồng?
 Ông Thanh bật cười:
     -  Mơ nói với ông thế à? Nó hay mặc cảm tiếng ế, nên cứ bịa đặt vớ vẩn. Em tôi hiền lành lắm có giao tiếp nhiều đâu mà quen ai, số phận nó cũng hẩm hiu quá.
Rồi ông chặt lưỡi lắc đầu - thấy nó ốm tôi thật xót xa!
 Ông Nam gật đầu như có vẻ đồng tình mà trong lòng ông vẫn chưa hết ngạc nhiên, một sự ngạc nhiên đang trộn lẫn với nỗi vui mừng. Ôi, Mơ không phải là góa phụ, lại chưa bao giờ có chồng. Thật còn gì hạnh phúc hơn cho ông nữa nếu như...Ông dừng lại ý nghĩ này rồi lắc đầu tự trách mình: Biết ra sao ngày mai mà nghĩ vu vơ.
  Mình ước mơ đơn giản chỉ cần được thấy mặt bà giữ trẻ mỗi ngày là đủ vui rồi. Nghĩ đến đây, ông Nam liền nói:
     - Tôi cũng thấy tội cho Mơ đơn độc một mình. Nhà tôi có dư một phòng trống, chúng tôi muốn Mơ dọn đến ở chung cho vui. Mấy đứa nhỏ nhà tôi thương Mơ dữ lắm. Mà chắc Mơ cũng ít liên lạc với ông hả?
     -  Nếu được vậy thì tốt quá, tôi cám ơn gia đình ông đã lo cho em tôi. Nói nào ngay, nó sợ bà nhà tôi, bà ấy thì hơi khó tính mà nó lại tự ái nên ít khi nó liên lạc với tôi lắm.
Ông Nam hướng mắt vào phía trong hỏi:
     - Hôm nay Mơ đỡ chưa ông? Xin phép ông để tôi đem cháo vô cho Mơ nghe, cháo hãy còn nóng ...
     - Vâng, ông cứ tự nhiên, để xem nó thức chưa, tôi đến đây nãy giờ thấy Mơ có vẻ yếu lắm, không muốn ngồi dậy, nói được vài câu rồi lại thiếp đi.
Hai người đàn ông cùng bước vào phòng trong, Mơ vẫn nằm thiêm thiếp trên giường. Ông Thanh đưa tay sờ trán Mơ lẩm bẩm nói:
    - Vẫn còn nóng quá thế này!
 Rồi ông vỗ nhẹ vào vai Mơ gọi:
   - Mơ ơi, dậy đi có khách tới thăm đây này.
Mơ giật mình nhướng đôi mắt lên, mí mắt như đã nhẹ, cảm giác đau đầu cũng bớt, chớp chớp đôi mắt vài cái. Mơ mở hẳn mắt ra, nhìn thấy ông Thanh, Mơ vui mừng, giọng yếu ớt hỏi:
     - Anh Thanh, đến hồi nào vậy?
     - Đến từ nãy giờ rồi, cô ốm đau thế nào mà không gọi cho anh biết hả?
 Mơ nói nhỏ:
    - Em bị cúm xoàng thôi mà.
    -  Xoàng cái gì, lúc tôi đến cô ngồi dậy không nổi, cứ nhắm mắt ngủ thôi, rồi ông nắm tay ông Nam lại gần - nhìn này, xem người quen nào đây.
 Mơ nhìn ông Nam mỉm cười chưa kịp lên tiếng thì ông đã hỏi:
    - Bữa nay Mơ thấy trong người khỏe được chút nào không?
    - Dạ em cũng đỡ đau chút rồi.
Vừa trả lời xong, Mơ cảm thấy ngượng ngùng khi nằm trước mặt hai ông, liền chống tay ngồi dậy. Ồng Thanh đỡ vai Mơ hỏi:
    - Cô ngồi được không hay cứ nằm đi, người cô còn nóng quá đây này.
 Ông Nam nói thêm:
   - Ồ phải đó, nếu Mơ còn mệt thì cứ nằm, để tôi hâm cháo cho Mơ nghen?
Mơ đẩy tay anh ra nói:
     - Dạ không sao, em nằm ba ngày nay rồi, em muốn dậy đi ra ngoài, để em đi  rửa mặt cho tỉnh táo cái đã, hai anh ra ngoài ngồi chờ em chút đi, em ra liền.
Cả hai ông gật đầu, rồi bước ra phòng ngoài ngồi tiếp tục trò chuyện. Ông Thanh hỏi thăm ông Nam về gia đình con cái, được biết ông Nam qua Mỹ theo diện H.O, ông Thanh lộ vẻ vui mừng vì cùng có bạn nhà binh. Hỏi ra thì mỗi người một binh chủng khác nhau. Ông Thanh trước kia là phi công trực thăng, còn ông Nam thì đi lính Biệt Động Quân. Hai ông kể với nhau chuyện binh nghiệp và chuyện tù cải tạo. Ông Thanh hào hứng nói, trong khi ông Nam lâu lâu mới góp vài câu. Vì lúc này lòng ông đang bận nghĩ đến Mơ, ông không có hứng thú để ôn chuyện binh nghiệp, dù rằng kỷ niệm một thời gian lao chinh chiến vẫn luôn theo ông trong từng nỗi nhớ. Giữa lúc ông Nam đang mơ màng đến Mơ thì nàng bước ra. Ông sững sờ nhìn Mơ không chớp mắt. Mơ thật xinh xắn, dịu hiền trong chiếc áo bà bà lụa màu huyết dụ, làm nổi bật lên làn da trắng xanh, mái tóc kẹp gọn gàng phía sau tôn thêm vẻ thanh nhã của Mơ. Chiếc quần đen tha thướt theo từng bước đi chầm chậm, trông vẻ của Mơ hãy còn yếu lắm. Ông Nam nhanh nhẹn kéo chiếc ghế gần bên cho Mơ:
    - Mơ ngồi đây đi!
 Vừa lúc ấy tiếng cell phone của ông Thanh reo, ông vội vàng móc phone trả lời:
    - Hello, bà xong rồi hả...được rồi, tôi đến ngay.
 Mơ ngồi xuống ghế run giọng hỏi anh:
    - Chị gọi hả anh?
Ông Thanh gật đầu:
   - Ừ, anh phải đi đón chị đây, tối rảnh thì anh ghé chơi nhé, ráng nghỉ ngơi uống thuốc cho mau hết bịnh.
Quay sang ông Nam, ông Thanh chìa tay ra lần nữa:
   - Thôi ông ở chơi với Mơ nhé, tôi phải đi đây, lệnh của bà là phải thi hành ngay không thì lại nghe lải nhải buốt tai lắm.
Ông Nam cười khà khà bắt tay ông Thanh, Mơ loạng choạng đứng dậy bước theo anh:
    - Tối anh nhớ đến nghe.
    - Ừ, có cần gì không, tối anh mang đến luôn.
Mơ lắc đầu:
    - Anh đến chơi là em vui rồi, anh rủ thêm anh Hoàng tới thì vui nữa khỏi cần mang cái gì cho em.
 Ông Thanh ôm vai em gái:
    - Ừ, tối anh mang máy đo áp huyết sang đo cho cô, ráng giữ sức khỏe nhé, nghỉ ngơi là cần thiết đấy.
 Mơ dạ nhỏ, nhìn theo anh đi ra cửa. Thấy cảnh bịn rịn của Mơ ông Nam càng xốn xang, lòng dậy lên một nỗi thương cảm. Mơ thật nhỏ bé trong tay ông anh già, nhìn cứ ngỡ như là hai cha con, vì trông vóc dáng và khuôn mặt của Mơ, ông Nam vẫn thấy một nét trẻ trung nào đó, khó tin được Mơ là một phụ nữ đã 50 tuổi.
Ông buột miệng hỏi:
     - Chắc Mơ là em út trong nhà hả?
Mơ vừa ngồi xuống ghế vừa hỏi:
    - Dạ, sao ông ngoại đoán hay vậy?
    - Tại tôi thấy ông Thanh lớn hơn Mơ rất nhiều.
Giọng Mơ buồn buồn:
     - Dạ, ai nhìn em với anh Thanh cũng tưởng là hai cha con, tại lúc anh Thanh 18 tuổi thì em mới ra đời. Nghe anh kể, lúc đó mẹ lớn tuổi rồi, sức khỏe yếu lắm nên vừa sanh em xong là mẹ chết.
     - Ồ, tội quá hả, vậy là ông ấy lớn hơn tôi 3 tuổi.
    - Dạ, chắc ông ngoại bằng tuổi anh Hoàng của em rồi, anh Hoàng năm nay 65 tuổi.
 Ông Nam gật gù:
       -  Ừ, vậy thì bằng tuổi tôi đó. Ủa, mà sao ông anh của Mơ nói giọng Bắc, còn Mơ thì nói giọng Nam?
      - Dạ, ba mẹ em người Bắc, em sinh ở Saigon, lớn lên đi học chơi với bạn người    Nam không à, nên em nói giọng Nam luôn.
     - Mơ thấy trong người ra sao? Hân có nấu cháo cho Mơ, để tôi hâm, cháo nguội rồi.
     - Dạ, em cũng đỡ rồi, chỉ còn hơi đau hai vai chút thôi.
 Nhìn ông Nam loay hoay với tô cháo, Mơ cảm động nói:
     - Thôi ông ngoại à, khỏi cần hâm làm chi để em ăn luôn cũng được, em đang đói đây.
     - Ờ vậy hả, cháo vẫn còn ấm đây mà.
 Ông Nam đưa tận tay Mơ cái muỗng, âu yếm nhìn nàng nhè nhẹ múc từng muỗng cháo ăn. Nhưng nhấp được vài muỗng, Mơ đậy nắp tô cháo lại, ông Nam lo lắng hỏi:
    - Sao vậy, Mơ không thích cháo hả?
Mơ lắc đầu ngao ngán nói:
    - Dạ không phải, miệng của em đắng quá, ăn gì cũng không thấy ngon, cứ cảm giác ngán ...
 Ông Nam ngắt giọng Mơ:
     - Ngán thì cũng phải ráng ăn mới có sức mà mau khỏe để còn lại chơi với tụi nhỏ chớ, mấy đứa cứ nhắc Mơ hoài.
    - Dạ, em cũng nhớ thằng cu Bi quá!
     - À, Mơ nè, bên nhà có dư phòng đó, vợ chồng Hân muốn Mơ dọn qua ở chung cho vui, Mơ khỏi lo tiền nhà.
 Mơ tròn mắt nhìn ông Nam, sự xúc động trào lên trong cổ nghèn nghẹn, Mơ run run:
     - Thiệt hả ông ngoại...
Nhìn đôi mắt đen như hột nhãn mở to của Mơ, một cảm giác êm dịu nhẹ nhàng, lâng lâng như ông đang ở trong một khung trời xanh dưới bóng mát của hàng mi dài, bỗng ước sao mình có thể đặt lên đôi mắt ấy một nụ hôn thay cho câu trả lời. Ông mạnh dạn nắm bàn tay Mơ xoa nhè nhẹ:
      - Mơ à, cả tôi cũng muốn Mơ dọn qua ở nữa, mấy bữa nay tôi cũng như mấy đứa nhỏ ở nhà nhớ Mơ lắm... 
Mơ ngượng ngùng rút tay lại, nhưng ông Nam đã giữ chặt tay Mơ trong tay ông. Hơi nóng từ ông truyền sang Mơ, chạy dọc lên cánh tay, qua bả vai và lan vào tim chút gì hồi hộp, không phải. Chút nồng nàn sao đó, không phải, chút thân tình ấm áp, có lẽ. Trong đôi mắt nhăn nheo sau cặp kính trắng ẩn chứa một sự ngắm nghía say sưa, đắm đuối mơ màng. Mơ thấy lúng túng trước cái nhìn của ông, liền quay mặt về phía cửa sổ, Mơ nghe tiếng ông dịu dàng hỏi:
    - Mơ bằng lòng về ở chung với gia đình tôi chứ?
Gia đình, hai chữ ấy sao nghe ấm cúng lạ thường, vậy mà hơn nửa cuộc đời rồi Mơ vẫn chưa tìm được hai chữ ấy cho riêng mình. Nó mãi chỉ là một ước mơ, một giấc mộng đẹp với những đứa trẻ xinh xắn vây quanh...Bây giờ được nghe hai chữ ấy bên tai, Mơ thấy lòng mình đang nở ra một niềm vui trong sự xúc động. Tiếng ông Nam hỏi tiếp:
    - Sao Mơ lại nói dối mình góa chồng làm gì?
 Mơ giật mình nhìn ông Nam, đôi mắt thể hiện sự tò mò trên khuôn mặt và cái miệng cười cười của ông làm Mơ bối rối nghĩ: Chắc anh Thanh nói chuyện mình cho ông ta nghe rồi...
 Mơ cụp mắt xuống ấp úng:
     - Tại ...em...không muốn...người ta nghĩ là...em có...  "something wrong " vì từng tuổi này mà hãy..còn..độc thân.
    - Ai mà nghĩ kỳ vậy, theo tôi, Mơ là một người rất... đặc biệt.. rất... đáng yêu.
Mơ lại quay mặt ra phía cửa sổ, dấu sự thẹn thùng và làm như không nghe lời ông Nam nói. Nắng chiều đang dịu bớt sức nóng ngoài vườn sau, một ngọn gió thổi qua lay nhẹ những tán lá xanh chao nghiêng. Trên nhánh cây xanh gần bên khung cửa, một con chim Robin từ đâu sà xuống đậu, nó ngơ ngác nhìn quanh rồi cất tiếng hót. Ô lạ chưa, một con chim Robin khác cũng vừa bay đến đậu gần nó. Mơ vỗ nhẹ tay ông Nam rồi đứng lên nói:
- Ông ngoại lại đây coi hai con Robin dễ thương lắm đây nè.
Không đợi ông trả lời, Mơ kéo ông đến khung cửa sổ nói giọng vui vui:
- Ông ngoại biết không, con chim này ngày nào nó cũng bay tới đây có một mình thôi. Em hay để nước với bánh mì khô cho nó ăn, rồi nó bay đi, hôm nay sao lại có hai con bay đến cùng lúc, hay là nó đã tìm được bạn. Ông ngoại thấy không?
 Ông Nam nhìn đôi chim ngẫm nghĩ; sao lại có sự trùng hợp đến thế, ở vườn sau nhà ông cũng có một con chim Robin bay đến đậu trên nhánh cây đơn độc mỗi sáng...Nhiều khi nhìn vẻ cô đơn của con Robin, ông nhớ đến câu thơ: "con chim lẻ bạn bên đời quạnh hiu" (4) mà cảm thấy buồn buồn. Ông nghe giọng mơ màng của Mơ như hòa vào một nhịp điệu suy nghĩ với ông
      - Mỗi khi em nhìn con chim bay đi, em tự hỏi, không biết con chim cô đơn kia có tổ ấm hay không?  Rồi nghĩ đến thân phận mình...
 Mơ bỏ lửng câu nói, mắt vẫn chăm chú nhìn đôi chim. Ngắm khuôn mặt Mơ đang thả hồn vào hình ảnh đó, đôi mi dài cong cong, sống mũi thanh tú, cái miệng nhỏ xinh. Chắc Mơ đang nghĩ về một tổ ấm cho chúng chăng? Ông Nam thấy xao xuyến trong lòng, cúi mặt xuống gần trên vầng trán Mơ, ông hôn nhẹ lên đôi mắt nàng và thì thầm:
- Mình sẽ bắt đầu một tổ ấm nghe Mơ.
 TL 5/13
 
THiên Lý 
 
* Bài thơ trong sách tập đọc lớp 3, không rõ tác giả
  Thơ TL
* Lời  mới trong bài "Không tên số 7" của Vũ Thành An
  Thơ TL
 
Mùa Xuân Đến Muộn
 
     Chuyện bắt đầu vào những năm tháng khó khăn nhất của gia đình tôi. Những ngày mẹ tôi bị ốm, mọi việc hầu như rối tung cả lên khi thiếu vắng sự lo toan và bàn tay điều khiển của mẹ trong nhà.
    Năm ấy, tôi hai mươi mốt tuổi, lần đầu tiên tôi được mẹ giao phó nhiệm vụ đi thăm cha tôi một mình ở trại “cải tạo” Suối Máu, Biên Hòa.Thường thì những lần thăm nuôi trước, thỉnh thoảng tôi đi với mẹ, có khi mẹ tôi cho các em tôi theo, mỗi đứa thay phiên nhau theo mẹ đi thăm cha một lần. Nhưng lần này, mẹ tôi đang bị  bệnh, tiền vé tàu , xe lại càng ngày càng lên giá,  nên việc hạn chế số người đi thăm cha tôi là điều tôi phải hiểu… Mẹ căn dặn tôi đủ điều, và quan trọng hơn là hỏi ý kiến cha tôi về chuyện mẹ sẽ… gả chồng cho tôi. Nghĩ đến đó, lòng tôi lại hoang mang, bối rối. Hai hôm trước, mẹ sốt mê man.Tôi biết chắc là mẹ tôi đau trong người lắm, mẹ không ăn gì cả, chỉ nằm rên khe khẽ.Tôi đến gần mẹ, lúng túng, lo sợ, hết sờ trán rồi nắm tay, gọi mẹ cuống cuồng... Mẹ ơi, mẹ đừng làm con sợ, mẹ ráng khoẻ lên nhe. Tôi nghe tiếng mẹ thều thào bên tai một dự định như lời trăn trối:
- Trân này, mẹ yếu lắm rồi… không biết sẽ còn sống được bao lâu… trước khi mẹ nhắm mắt, mẹ muốn con …lấy chồng, mẹ muốn …thấy được đám cưới của con.
Tôi run rẩy, lo lắng lẫn xúc động làm tôi không nói được lời nào. Lấy chồng, đám cưới. Những chữ ấy nghe thật bình thường mà sao nó lại xa lạ với tôi quá chừng.  Xa lạ là vì tôi chưa hề gặp mặt người đàn ông mà mẹ chọn cho tôi, tuy biết ông là người châm cứu hằng ngày cho mẹ.  Tôi chỉ nghe nói ông ta trước kia đi lính, lại lớn hơn tôi tới mười tuổi, và nghe Châu, em gái tôi thường nhắc tên ông ta là chú Định. Châu biết ông Định nhiều hơn tôi vì nó có nhiệm vụ chở mẹ tôi đi châm cứu mỗi ngày. Mẹ ông và mẹ tôi quen nhau trong một chuyến đi thăm chồng rồi trở thành bạn bè. Do đồng cảnh ngộ hai bà mẹ đã thân thiết nhau hơn, và chuyện làm suôi đã được trao đổi qua lại. Một ngày, trước lúc mẹ tôi bị bệnh, câu chuyện dự tính hôn nhân với ông Định đã làm tôi giật mình, e ngại. Tôi dẫy nẩy lên rằng, con không biết người ta là ai, sao mà chịu được, rồi vùng vằng bỏ đi. Mẹ tôi đã níu tôi lại ôn tồn bảo:
- Ngồi xuống nghe mẹ bảo đây.  Ngày xưa mẹ với bố mày cũng không có biết nhau mà đã ăn ở với nhau thuận hòa đẻ ra một lũ tám đứa chúng mày đấy thôi.
 Thấy tôi xụ mặt không nói mẹ lại dỗ dành:
- Mẹ xem ra anh ta là người tốt đấy, thời buổi khó khăn thế này mà đi làm châm cứu từ thiện. Con có thấy ai làm được như thế không? Bác Khánh người bắc mà lại hiền lành, phúc hậu, vụng về như mày về làm dâu nhà bác cũng không phải lo bị quở mắng nặng nhẹ.
Tôi vẫn lắc đầu nguầy nguậy, lần này mẹ tôi bực bội gắt:
- Mày cứ tự do yêu đương vớ vẩn rồi lại bỏ nhau sớm thôi. Mà có đứa nào thương mày chịu đến hỏi cưới mày chưa? Con gái có một thời thôi, vài năm nữa già đi còn ai hỏi nữa.
Tôi im lặng ngồi nghe mẹ thuyết giảng. Lấy chồng, dù không yêu thương nhưng rồi sinh con làm mẹ, bổn phận với con cái gia đình cũng làm mình vui ra biết chưa?
Tôi nhìn mẹ nằm thiêm thiếp trên giường, nghĩ đến cảnh nghèo của gia đình tôi, những ngày thiếu ăn, thiếu mặc. Lấy chồng rồi có khá hơn không? Hay vẫn rơi vào cảnh nghèo muôn thuở. Tôi thở dài buồn bã…
Buổi sáng tôi dậy thật sớm, chuẩn bị hai giỏ đồ ăn và một chai nước đi thăm cha tôi. Mỗi lần đi thăm cha là giỏ đồ ăn lại nhẹ đi một chút. Có lẽ cha tôi cũng biết được sự khổ cực của vợ con ở nhà nên cha chẳng xin gì nhiều. Chỉ có ba thứ cần thiết là một ký đậu phọng rang, một ký đường tán, vài bánh thuốc rê và một hũ mắm ruốc. Tôi cũng mua thêm mấy thứ bánh kẹo lặt vặt và nắm hai nắm cơm cho cha tôi. Để tiết kiệm tiền, thay vì đi xích lô, tôi đi bộ từ nhà ra ga Sài gòn, rồi mua vé xe lửa đi Biên Hoà. Ngồi trên tàu lòng tôi nóng như lửa đốt, mong sao cho tàu chạy nhanh để tôi gặp cha, tôi sẽ nói với cha tôi nhiều chuyện lắm. Tàu ngừng ở nhiều ga nhỏ để đón khách, càng lúc tàu càng thêm đông người.
    Ga Biên Hòa cũng tấp nập người không kém gì ga Sài gòn. Hành khách tranh nhau xuống ga, những bà buôn bán lỉnh kỉnh rổ, thúng, quang gánh to tiếng nạt nộ người chen lấn. Tôi chán ngán nhìn cảnh tượng ấy, rồi để mặc sự chen lấn, tôi cũng bị đẩy theo dòng người chen chúc đó ra khỏi tàu. ...Sau đó, tôi lại lẽo đẽo theo mấy người đàn bà đón xe lam đi Suối Máu. Cùng ngồi với tôi trên chuyến xe lam cũng có vài người đi thăm thân nhân nên tôi cảm thấy yên tâm hơn…
   Đến nơi phải ngồi chờ một lúc lâu, ai cũng sốt ruột. Khi cánh cổng rào xiêu vẹo được kéo ra, một người “cán bộ” xuất hiện với bộ mặt quan trọng vẫy tay ra lệnh cho mọi người vào trình giấy thăm nuôi. Tôi đợi tới phiên mình mà lòng hồi hộp vô cùng. Khi thủ tục giấy tờ đã kiểm xong, những người thăm nuôi được chuyển vào ngồi trên những chiếc ghế băng dài… lại... chờ.  Tôi nhìn chung quanh, toàn những cây lá khô héo, mặt đất thì bụi mù. Không biết cha tôi sẽ đi từ đâu ra. Chợt tôi nghe tiếng một người đàn bà nói: “Kìa, mấy ổng ra kìa”, không ai bảo ai, mọi người đều tự động đứng lên, nhớn nháo nhìn. Tôi cũng đứng lên theo, cố chen lên phía trước để tìm bóng dáng cha tôi.
 Tôi chợt ứa nước mắt khi thấy cha tôi đi sau cùng, dáng cha vốn đã thấp và gầy người, giờ cha ốm yếu trông càng nhỏ hơn. Cha tôi chưa nhìn thấy tôi ngay, tôi phải đưa tay lên vẫy vẫy gọi to: “Bố ơi, bố ơi, con đây nè!”
Cha tôi bước đi xiêu vẹo đến gần bên tôi, hỏi ngay:
- Mẹ đâu?
- Mẹ ốm không đi thăm bố được, có một mình con thôi. Tôi nghẹn ngào nói.
Hai cha con tôi ngồi xuống một chiếc ghế băng sát tường, tôi run giọng hỏi:
-  Bố có khoẻ không? Lần này con thấy bố ốm đi nhiều quá.
Tôi vừa nói vừa nắm lấy tay cha, nhìn khuôn mặt khắc khổ, mái tóc bạc trắng và chòm râu dài gần tới ngực của cha. Tôi cảm thấy xót xa, nước mắt lại rơi tiếp… Cha hỏi tôi chuyện ở nhà, chuyện mẹ tôi đau ốm… Rồi cha thở dài, mắt nhìn mông lung xa vắng, tôi nói:
- Tụi con mong bố về từng giờ từng phút, mấy đứa ở nhà đi học, hôm nào gặp bài toán khó không ai giảng lại nhắc đến bố…
Cha ngắt lời tôi, giọng buồn đau:
- Thôi mày đừng khóc nữa, cán bộ nó thấy là mệt lắm. Hôm nọ bố bị nó tịch thu mấy bài thơ “Nhớ Nhà” còn bị đưa ra “kiểm điểm trước tập thể” nữa đấy.
Tôi nhìn cha sửng sốt:
- Trời ơi, nhớ nhà là cảm xúc tự nhiên của con người mà sao họ lại cấm.
- Chúng nó là những người không có trái tim… thôi, không nhắc nữa, ở nhà chị em ráng đùm bọc, thương yêu nhau, đừng làm gì cho mẹ mày buồn đấy.Trong này ai cũng khao khát được về, mà biết đến bao giờ mới về.
Cha tôi nói trong tiếng thở dài não ruột.
Tôi đưa giỏ đồ tiếp tế về phía cha:
- Mẹ mua những thứ bố dặn trong giỏ này…
Cha tôi gật đầu bảo để đấy. Tôi kể sơ cho cha tôi nghe về chuyện đi làm của tôi, chuyện học hành của các em ở nhà. Tôi dự định sẽ nói bao nhiêu điều mà bấy giờ ngồi gần cha, tôi lại ấp úng cứ nói chuyện nọ xọ chuyện kia, chẳng có đầu đuôi gì hết. Cha tôi chỉ ngồi im lặng nghe…Tôi hỏi cha:
- Bố có đói không? Con cắt cơm nắm cho bố ăn nha, có gói muối mè lục vị con làm nữa.
Cha tôi xua tay giọng buồn cay đắng:
- Thôi, thôi, có thì giờ đâu mà ăn, nó đánh kẻng đi vào bây giờ. Ở trong này thiếu thốn đủ mọi thứ, nhưng mà cứ luyện mãi chữ “khắc phục” của chúng nó thì cũng xong.
Tôi nhìn cha, lòng dâng lên một sự thương cảm dạt dào. Tôi biết cha tôi là người sống mẫu mực, giỏi chịu đựng.  Ngày trước khi còn ở nhà, cơm dù ngon hay dở, lúc nào cha cũng chỉ ăn có hai chén đều đặn. Cha rất ít uống rượu, chỉ thích hút thuốc lá Ruby Queen. Cha còn dặn mẹ tôi thời buổi chiến tranh, một tuần phải cho các con ăn cực vài bữa để thích ứng với thời cuộc, lỡ có chạy giặc, thiếu ăn, thiếu uống thì cơ thể sẽ quen đi. Tôi còn nhớ những bữa ăn đạm bạc của gia đình tôi có khi chỉ là cháo đậu xanh với đường, hoặc cơm đậu đen với dưa giá, hay bí đỏ xào với khoai lang. Những ngày tháng gần tàn chiến cuộc, món ăn thường xuyên chúng tôi ăn mỗi ngày là su su xào với mì gói. Cha tôi cũng ăn như thế mà không hề phàn nàn gì, trong khi tôi và các em thì cứ than ngán ứ lên. Thời đó, tuy còn nhỏ tuổi, tôi đã thầm mơ ước cho mình một người bạn đời sau này sẽ phải có tính liêm khiết, cương trực và dễ chịu như cha tôi… Tiếng người cán bộ nhắc nhở còn khoảng mười lăm phút nữa là hết giờ thăm làm tôi giật mình. Tôi nhớ đến chuyện lấy chồng mà mẹ dặn phải nói với cha tôi. Tần ngần một lúc tôi mới ngập ngừng:
- Bố ơi.. Mẹ dặn con… báo với bố là… mẹ sẽ… gả chồng cho con, ý bố thấy sao?
- Lấy chồng? Cha tôi trợn mắt hỏi lại.
Tôi ứa nước mắt tức tưởi nói:
- Bố ơi, con chưa muốn lấy chồng đâu, bố nói với mẹ dùm con đi.
- Thằng đó làm gì?
Tôi lắc đầu:
- Con không biết, con chưa bao giờ gặp.
- Ôi giời, thế thì lấy làm sao được?
- Bố viết mấy chữ cho mẹ bây giờ đi, để con cầm về…
Cha tôi im lặng, đôi mắt cha như trũng sâu xuống. Tôi sụt sịt một lúc, rồi nắm tay cha lắc nhẹ:
- Bố, bố thương con, bố giúp con đi, con không muốn làm cho mẹ buồn, nhưng nếu bố nói không thì mẹ phải chịu.
- Tại sao?
Tôi nói trong nước mắt:
- Ở nhà khổ lắm bố biết không, bữa đói bữa no, con không yên tâm để đi lấy chồng, sợ đói khổ cứ tiếp nối hoài. Con thấy mình kiệt sức nếu lấy phải một ông chồng không có việc làm, phải nai lưng ra đi làm nuôi chồng, khổ lắm...con… con sợ khổ quá rồi…
Cha tôi thở dài không nói, tôi nức nở tiếp:
- Con cũng không biết ông ta là ai, tính tình ra sao. Nếu không có tình cảm thì không thể chịu đựng hay đối xử tốt với nhau được…
Cha tôi ôm vai tôi vỗ về:
- Đừng nói thế, hồi xưa bố với mẹ mày cũng không biết nhau nhiều…
Tôi nhìn cha ngắt lời giận dỗi:
- Sao bố nói giống như mẹ quá. Bố không có ý kiến gì sao?
Cha tôi lắc đầu:
- Bố chịu thôi, bây giờ bố không quyết định được điều gì bằng mẹ mày ở nhà. Nói với mẹ mày cứ sắp xếp sao cho thuận tiện thì làm..
 Nghe cha nói, tôi nấc lên nghẹn ngào. Cha tôi vuốt tóc tôi tiếp:
- Bố trông con mới ở tuổi đôi mươi mà tiều tụy quá, cứ điệu này thì tuổi xuân biến đi nhanh lắm, thôi thì ráng vậy, bố chẳng muốn nhìn con gái mình chết già đâu.
Tiếng kẻng bỗng vang lên báo hiệu giờ thăm nuôi đã hết. Cha con tôi còn chần chừ, tôi cảm nhận sự run rẩy từ tay cha khi nắm lấy bàn tay tôi. Giờ thăm sao qua nhanh quá, giây phút chia tay nặng trĩu nỗi buồn lưu luyến. Không chỉ riêng gì cha con tôi, nhiều người đi thăm nuôi khác ai cũng chần chừ. Sự dùng dằng của cha con tôi rồi cũng phải chấm dứt. Cha tôi xách lấy giỏ đồ buồn rầu dặn tôi:
- Thôi bố vào đây, chị em ở nhà cố đùm bọc nhau mà sống, đừng làm gì để mẹ mày buồn đấy. Con đi đường về cẩn thận nhé!
Tôi nghẹn ngào:
- Bố ráng giữ sức khỏe nha bố. Tụi con lúc nào cũng mong bố được về sớm.
Cha tôi gật gù rồi lững thững bước theo đoàn người vào phía trong hàng rào. Tôi nhìn theo dáng người nhỏ bé của cha khuất dần mà nước mắt cứ rơi rơi… Không biết rồi sau hàng rào kia, cuộc sống của cha tôi và còn bao nhiêu người cha khác sẽ tiếp diễn ra sao trong cảnh khổ đọa đầy. Nỗi nhớ thương gia đình, nỗi khao khát tự do cứ thiêu rụi tâm hồn con người cháy đen mòn mỏi, đầy ám khói tối thui… Tôi không nhớ mình đã đứng bất động bao lâu thì bị xua đuổi. Tôi quệt nước mắt bỏ đi,  lê từng bước chân nặng như đeo đá trên con đường đầy bụi cát. Hình dáng cha tôi với giỏ đồ trong tay vẫn   chập chờn quanh tôi dưới ánh nắng chiếu lấp lóe từ phía mặt trời xa đang sắp ngả dần về hướng tây.
 
Dự tính về chuyện hôn nhân cho con giữa hai bà mẹ đã không thành vì bệnh tình của mẹ tôi ngày càng trầm trọng thêm. Ngày cuối cùng mẹ tôi hấp hối trên giường bệnh cũng là ngày đầu tiên tôi gặp Định.   Đó là một người đàn ông khoảng ngoài ba mươi tuổi, gầy, dong dỏng cao, ông có tật ở chân hay sao mà dáng đi trông khập khiễng.  Định ghé qua thăm hỏi mẹ tôi về việc lâu không thấy Châu chở mẹ đi châm cứu.  Tôi thấy được sự ngạc nhiên trên khuôn mặt ông toát ra từ cái nhìn lạ lẫm về phía tôi, và một sự xót xa trong ánh mắt không ngờ mẹ tôi lại trở bịnh nặng đột ngột như thế. Hôm đó ông cũng lấy kim và điếu ngải ra châm cứu thêm cho mẹ. Chúng tôi luôn có những cái nhìn tò mò len lén qua lại.  Định có khuôn mặt hơi dài với hàm râu quai nón bao quanh, đôi mắt sâu sâu dưới cặp chân mày hơi rậm, cái miệng rộng kiêu kỳ ít cười làm cho gương mặt ông nhìn có vẻ khó. Tôi thất vọng ngẫm nghĩ, người có tật này sẽ là chồng mình sao, so với ông ta mình còn quá nhỏ bé. Không biết mẹ tôi đã chấm ông ở điểm nào cho tôi.  Nhớ  đến những trận đánh nhau của vài cặp vợ chồng trong xóm, tôi liên tưởng đến khuôn mặt khó khăn của Định trước mắt. Khuôn mặt khó và hơi dữ này mà nổi giận thì thế nào tôi cũng bị ăn tát tai như chơi… tôi chợt rùng mình! Tôi cầu mong ông cũng chê tôi, một đứa con gái ốm nhom, xơ xác, tiều tụy… Mỗi khi ông bảo tôi giúp ông cầm cây ngải đưa qua đưa lại trên người mẹ để ông đốt kim, thì tôi lại cụp mắt xuống để tránh cái nhìn kỳ quặc từ đôi mắt sâu của ông. Bởi tôi có mặc cảm về đôi mắt lãng mạn của mình như mẹ tôi vẫn hay cảnh cáo. Theo mẹ, lãng mạn là một tính xấu của người con gái mà nó lại hiện trong đôi mắt tôi. Hồi ấy, tôi chẳng biết đôi mắt lãng mạn có cái nhìn ra sao, nên tôi không dám nhìn ai lâu. Có người khen mắt tôi đẹp, có người thì chê mắt buồn quá.
Mọi sự cố gắng của Định hôm ấy đều thất bại, mẹ tôi yếu dần trong từng hơi thở. Mẹ nhướng mắt lên, nắm lấy tay Định rồi nhẹ nhàng đặt tay ông lên bàn tay tôi. Môi mẹ mấp máy khó nhọc:
- Mẹ mong… mẹ mong… hai đứa... sẽ…
Mẹ tôi chưa nói hết câu thì đã nấc lên một tiếng rồi nghẹo đầu sang bên trái… Tôi rút nhanh tay mình ra khỏi tay Định, nắm hai vai mẹ lay mạnh, tôi banh mắt mẹ tôi  lên, tôi lắc khuôn mặt mẹ, tôi vẫn còn chút hy vọng mong manh rằng, mẹ tôi sẽ mở mắt ra, mẹ sẽ mỉm cười với tôi, sẽ nói với tôi một lời nào đó. Nhưng, mẹ đã chìm vào giấc ngủ thiên thu thật rồi! Thật rồi! Tôi nghe tiếng gào thét của chính tôi như một người điên.  Tôi khóc la trong sự tuyệt vọng hãi hùng… Có bàn tay ai đã kéo tôi ra xa mẹ, mặc cho tôi cố vùng vẫy, chống trả để lại gần mẹ tôi, tôi gọi mẹ đến khản cổ… Và tôi lịm đi vài phút…
                                              ---o0o---
Nếu không có sự giúp đỡ tận tình của bác Khánh và Định thì tôi không thể hoàn tất được nhiều việc cho ngày mai táng mẹ, và còn bao nhiêu phong tục cúng tế mà tôi chưa hề biết đến. Định giúp tôi đi đánh điện tín cho cha tôi, nhưng những con người cộng sản sắt đá, tàn ác kia đã không cho cha tôi về với chúng tôi để tiễn mẹ đi. Một bầy con nhỏ đi theo chiếc xe tang ra nghĩa trang, trời hôm ấy chuyển mưa mỗi lúc một lớn. Phần huyệt của mẹ tôi bị nước ngập một nửa, những người đào huyệt phải tát nước bớt đi để hạ áo quan xuống… Ngày tang lễ của mẹ ngập nước mắt các con, và đầy nước mưa đến nhũn cả đất...
       Mọi việc tạm ổn sau ngày cúng mở cửa mả cho mẹ. Định vẫn thường xuyên  ghé qua thăm chúng tôi mỗi chiều, dần dần ông như người thân quen trong nhà. Dù gần gũi như thế, giữa tôi và Định vẫn chẳng nảy nở được chút tình cảm đặc biệt nào. Tôi xem Định như một ân nhân với món nợ ơn nghĩa canh cánh bên lòng.  Còn ông, vẫn cái nhìn xa lạ, thái độ lạnh lùng, cách xưng hô “tôi với Trân” khô khan.  Các em tôi gọi Định bằng chú, tôi gượng gạo gọi ông bằng anh.Tôi không tin rằng tôi có thể yêu được một người đàn ông như Định, dù ông là một người tốt.
         Cuộc sống cơm áo vất vả làm cho tuổi xuân của tôi ngày càng tàn tạ nhanh hơn giữa cuộc đời khô khốc như  buổi tàn thu.  Lúc đó, tôi đang làm việc ở một lò bánh in đậu xanh, lương lãnh công nhật chẳng có là bao nhiêu. Tôi phải xin ông chủ cho tôi đi bỏ mối bánh dạo để có thêm tiền. Đồng thời, tôi cũng lấy bánh về cho hai đứa em gái đang học trung học đem vào trường bán trong giờ ra chơi. Mấy đứa em tôi xúm xít nhau mỗi đứa một tay, tự đi kiếm tiền bằng đủ mọi cách sau giờ học. Thằng Tú, em út tôi mới lên 10 tuổi đã lang thang theo nhóm trẻ bụi đời đi bán quạt ở rạp hát. Tôi lo lắng sợ em hư đốn, vậy mà nó không bỏ học một ngày nào, lại được cô giáo khen. Có lẽ tất cả chúng tôi đều thừa hưởng cái “ gene” hiền hậu của cha mẹ , nên dù ra đời sớm, đứa nào cũng ý thức được chỉ học điều tốt và phải tránh điều xấu. Mẹ con Định hay khen các em tôi ngoan… Vài tháng sau, Định bỏ nghề châm cứu từ thiện để làm thư ký cho một tổ hợp làm dầu thoa, như là dầu Cù là, dầu Khuynh Diệp, dầu Nhị Thiên Đường… Chủ tổ hợp là một người bạn cũ của cha Định.  Nhờ Định xin giúp, ông cũng cho Báu, đứa em trai lớn của tôi vào làm chung tổ hợp với Định, và nó được ưu tiên chỉ làm buổi chiều ở khâu đóng nút chai… Càng ngày tôi càng mang nợ Định, món nợ tình nghĩa không biết bao giờ mới trả hết được.
       Đúng một năm sau ngày mẹ tôi mất, cha tôi trở về. Sự vui mừng không sao tả xiết. Bác Khánh ghé đến thăm cha tôi cùng với Định, khi biết chuyện hai mẹ con bác đã giúp đỡ chúng tôi tận tình trong thời gian mất mẹ, vắng cha. Cha tôi cảm động lắm, những giọt nước mắt lăn dài trên đôi má nhăn nheo, đau khổ.  Chắc bác Khánh hiểu được nỗi buồn của cha tôi, và bấy giờ cũng không phải là lúc để nói chuyện đính ước giữa tôi với Định. Hơn nữa, cha Định cũng chưa được thả về, vì thế chuyện ấy đã được xếp vào lãng quên.  Bác Khánh đến thăm cha tôi thêm vài lần, sau đó những cuộc thăm viếng thưa dần rồi mất hút… Cha con tôi lăn lộn làm đủ mọi nghề để cầm cự với cuộc sống rách nát. Bận rộn vì sinh nhai, chúng tôi chẳng còn thì giờ để nhớ đến bác nữa, đành chịu thôi! Tuy vậy, tôi vẫn cầu nguyện vong linh mẹ phù hộ cho chúng tôi có được một dịp nào đó để đền ơn, đáp nghĩa mẹ con bác Khánh… Mười mấynăm sau, cũng như bao gia đình quân nhân khác, chúng tôi được định cư ở Mỹ theo diện H.O.
                                                 ---o0o---
        Thấm thoát đã hai mươi mấy năm lặng lẽ trôi qua kể từ ngày mẹ tôi mất… Một sự tình cờ kỳ diệu đẩy đưa cơ hội cho tôi chuyển từ công ty “Institute on Aging – Older Adult Care” ở Morgan Hill vào làm công ty “Home Health Agencies” ở Santa Clara vào những ngày cận tết. Đây là một công ty cung cấp những y tá phụ đến săn sóc cho bệnh nhân tại nhà. Chính công việc này đã cho tôi gặp lại bác Khánh, một bệnh nhân mà tôi được công ty cử đến chăm sóc. Tôi đã ngờ ngợ nhận ra bác khi thấy tên Bùi Thị Khánh trên hồ sơ.  Quả là trái đất tròn, gia đình tôi và bác cùng định cư ở một tiểu bang Cali này bao lâu rồi mà lại không biết để liên lạc. Tôi thật mừng rỡ cho dịp may gặp gỡ này để tôi có thể trả món nợ ơn nghĩa ngày trước, nhưng phải đền đáp bằng cách nào thì tôi chưa biết được.  Bác Khánh bị yếu hai chân khi di chuyển phải có walker chống đỡ.  Nhiệm vụ của tôi đến thăm bác mỗi ngày là đo áp huyết, giúp bác uống thuốc và phụ công việc vệ sinh cá nhân cho bác.
 Sau một ngày đầu làm việc, tôi mới gợi chuyện để bác nhận ra tôi. Tuy bác đã ở tuổi  tám mươi, bác nói chuyện hãy còn minh mẫn. Trong sự mừng vui với nhiều cảm xúc đầy nước mắt, bác cho tôi biết chồng bác đã bị chết trong tù, thời gian đó bác rất buồn và có nhiều chuyện phải lo trong gia đình nên đã mất liên lạc với chúng tôi. Sau đó, Định đi vượt biên, rồi ông đã bảo lãnh bác và các em qua Mỹ. Nhắc đến Định, bác vẫn không quên chuyện đính ước ngày xưa, liền nói:
- Này, cháu biết không, tội nghiệp Định lắm, cứ mải lo cho mẹ với các em đến giờ đầu bạc rồi mà hãy còn độc thân đấy! Giá như hồi ấy mẹ cháu khỏe mạnh thì chuyện hai đứa cũng xong rồi.  Còn gia đình cháu thì sao? Bố vẫn khỏe chứ?
- Dạ bố cháu mất đã 4 năm rồi ạ…
Bác Khánh hỏi giọng hốt hoảng:
- Tội chưa, Ở VN hay ở bên Mỹ này?
- Dạ ở bên Mỹ này ạ. Hồi sang đây, bố cháu mới phát hiện ra nhiều bịnh, cao máu, rồi tim…
Bác Khánh ngắt giọng:
- Rõ khổ. Ông nào đi tù về cũng sinh ra hàng tá bịnh trong người đấy cháu ạ, thế còn cháu với mấy đứa em?
- Dạ các em cháu thì cũng đi học rồi đi làm, mỗi đứa một nghề. Em Châu lập gia đình có hai đứa con, còn cháu thì… vẫn độc thân.
Giọng bác Khánh chợt vui vui:
- Ồ, thế hả, cháu còn độc thân, thế thì hai đứa vẫn có cơ hội để làm bạn với nhau đấy. Có người vợ như cháu Định đỡ vất vả hơn.
Tôi ngượng ngùng không nói, thấp thoáng trong trí nhớ tôi hình ảnh ngày nào trên giường bịnh, mẹ tôi tay run run nắm lấy tay Định đặt vào tay tôi… Ngày ấy đã lâu quá rồi, sự mơ ước của mẹ đã tàn phai. Có thể nào bây giờ… lắc đầu, tôi tò mò hỏi:
- Bao nhiêu năm nay anh Định vẫn không quen ai hả bác?
Bác Khánh buồn buồn nói:
- Cháu xem, bao nhiêu năm cứ đi làm 2 “gióp”, dành dụm tiền để lo cho bác và các em nó sang đây. Chuyện lập gia đình, bác giục mãi mà nó cứ chần chừ.
Bác ngừng một chút rồi thở dài tiếp:
- Mà cũng tội cho Định, nó mặc cảm mang tật cái chân cháu ạ, hồi bác sinh nó ra khỏe mạnh, lành lặn đó chứ. Tại đi lính rồi bị thương. Hồi đó Định bị thương nặng lắm, bao nhiêu mảnh đạn ghim nát cái đùi trái, tưởng phải cưa đấy cháu, may mắn sao lại chữa được, nhưng đi khập khiễng một chút. Bây giờ trời mà lạnh thì vết thương cũ vẫn bị nhức nhức đấy.
Tôi xót xa hỏi:
- Ủa, anh Định bị thương vậy rồi có phải đi tù không bác?
- Làm gì không, cũng tù hết 5 năm đấy, trước kia Định là trung úy Biệt Động Quân mà. Nó được thả về cuối năm 80, bác phải chạy chọt cho Định học nghề châm cứu đông y để được ở lại Sài gòn không thì bị tống đi kinh tế mới phát rẫy rồi.  À này, bác thật lòng nói nhé thỉnh thoảng Định cũng nhắc cháu đấy, nó cứ bảo kiếm ai mà nhẫn nại được như cháu.  Giờ mà nghe cháu còn độc thân Định mừng lắm.
Tôi cười nhẹ, nghĩ rằng bác chỉ nói xã giao theo tấm lòng của người mẹ muốn tìm hạnh phúc cho con trai. Tôi nói nhỏ:
- Cháu tin vợ chồng là duyên nợ hết bác à, nếu anh Định với cháu có nợ thì chắc thế nào trời cũng cho gặp.
- Bác cũng mong thế, cháu biết không, bác có 3 cô con dâu mà chẳng ở được với cô nào, phải ở với Định thôi. Nói nào ngay, Định cũng lo cho bác lắm, từ ngày bác bị yếu cái chân, Định bớt làm một “gióp”rồi, nó lo tìm người đến chăm sóc cho bác lúc nó đi làm đấy.
Tôi ngồi im lặng nghe bác kể say sưa về Định. Niềm tự hào của bà mẹ về người con trai trưởng trong nhà. Tôi đến chăm sóc mẹ của Định mỗi ngày 4 tiếng, sau đó tôi phải đi đến nhà bệnh nhân khác. Đôi khi có thì giờ rỗi rảnh, tôi ghé qua nhà bác để phụ giúp thêm những việc vặt trong nhà. Suốt một tuần lễ chăm sóc bác tôi vẫn chưa gặp lại Định lần nào. Nghe nói ông làm 12 tiếng một ngày. Cuối tuần thì Định hay đi tham gia sinh hoạt cộng đồng ở San Jose, ông cũng hay chở mẹ vào chơi trong hội người già, hoặc đi chùa vào ngày lễ lớn. Theo lời bác Khánh kể, tôi cảm nhận Định là một người con trai hiếu thảo. Bác còn nói thêm, Định rất muốn gặp tôi để xem “dung nhan ấy bây giờ ra sao”, nhưng thời giờ làm việc của tôi cứ bị trùng lắp vào cuối tuần do đó không thể nào gặp nhau được. Bác Khánh dặn tôi phải sắp xếp một ngày nghỉ cuối tuần để đến chơi ăn cơm với bác và Định.
Một ngày cuối tuần tôi được nghỉ, chưa kịp sắp xếp thời giờ để đến thăm bác Khánh, thì bất ngờ Định đã tìm đến nhà tôi mang theo một túi trái cây to cùng kẹo mứt trước sự ngạc nhiên của cả nhà. Không đứa nào trong các em tôi nhận ra Định, và Định cũng không thể nhận rõ ai với ai. Trước hết là Báu,  lúc đó nó ra mở cửa cho Định, từ khi ông hết liên lạc với gia đình tôi thì Báu chỉ vừa 15 tuổi mà nay Báu đã gần bốn mươi. Dù đã quên mặt Định, Báu vẫn còn nhớ công việc Định giúp nó làm trong tổ hợp dầu thoa cho đến khi Báu học xong trung học. Các em khác của tôi như Giang, Sơn, Cẩm và Tú thuở đó hãy còn nhỏ lắm, nên chỉ nhớ Định qua câu chuyện. Tuy thế, đứa nào cũng vui vẻ, mừng rỡ khi gặp Định, ông hỏi thăm từng đứa, và dĩ nhiên Định không quên được Châu là người vẫn thường chở mẹ tôi đến cho Định châm cứu.  Riêng tôi thì đã nhận ra Định ngay từ phút đầu ông bước chân vào nhà. Vẫn bộ râu quai nón bao quanh khuôn mặt hơi dài, với cái nhìn khó đăm đăm. Mái tóc muối tiêu trên vầng trán cao đã có nhiều nếp nhăn và cả hai bên khoé mắt, bây giờ lại thêm cặp kính trắng .Vóc dáng Định hơi mập ra chút xíu.  Định không nhìn ra tôi, ông lầm lẫn tôi với Ngọc, đứa em gái thứ ba kế Châu, làm Châu cười châm chọc:
- Trời ơi, chú Định phải đi thay mắt kiếng đi, nhìn chị thành em hà.
Rồi Châu kéo tay tôi ra trước mặt Định tiếp:
- Chị Trân đây nè chú.
Tôi giằng tay lại gắt nhẹ:
- Làm gì kỳ vậy, từ từ chú cũng biết chị mà!
Định tròn mắt nhìn tôi vài giây rồi mỉm cười nói:
- Ồ, Trân đây à, Trân trẻ quá, nhìn Trân đâu có ai biết là chị lớn. Mấy chục năm rồi mà Trân không khác gì hồi xưa là mấy. Châu nói đúng đấy, mắt tôi kém rồi phải đi đổi mắt kiếng để nhìn cho rõ thôi.
Định đưa túi trái cây cho tôi nói thêm:
- Gửi các em ít trái cây để thắp hương bố mẹ với ít kẹo mứt để mai cúng ông Táo nhé.
Tôi đón lấy túi trái cây nói nhỏ:
- Dạ, cám ơn… chú Định.
 Châu đon đả xã giao theo giọng người lớn:
- Trời ơi, mấy chục năm nay được chú đến thăm là quí lắm rồi, chú còn mua nhiều thứ lỉnh kỉnh làm chi xách cho nặng tay.
Định lại cười:
- Này, Châu học câu khách sáo đó ở đâu ra thế? Cứ coi tôi như người nhà đi.
Báu chen vào:
- Chị Châu phải nói vầy nè, chú Định mấy chục năm gặp lại mà đem lễ vật ít quá, mai mốt đem nhiều hơn một chút mới quí đó nghe. hahaha
Châu gõ đầu Báu:
- Thằng khỉ, mày nói thế không sợ chú ngại sao, mai mốt chú hết dám tới thăm mình đó.
Định cười vui:
- Không sao, lần sau đến chơi với mấy em tôi sẽ mang nhiều thứ hơn. À mà này, đừng gọi tôi bằng chú nữa, gọi là anh đi cho vui. Mình cũng như người nhà với nhau rồi còn gì.
Châu đùa:
- Ý chà, chú muốn thành người nhà là tụi Châu phải hỏi chị Trân cái đã.
Định kín đáo nhìn tôi mỉm cười, lần đầu tiên tôi thấy nụ cười trên môi ông tràn đầy thân thiện. Không khí trò chuyện thật vui nhộn. Báu và Châu cứ thi nhau góp những câu tếu đùa giỡn với Định. Tôi tưởng như ông đã đem một luồng gió xuân mới đến với chúng tôi. Sau cả mấy tiếng đồng hồ hàn huyên bao nhiêu chuyện cũ mới. Định mời tất cả chúng tôi đến nhà ông dùng cơm ngày mai, Định nhấn mạnh:
- Ngày mai cúng ông Táo, tôi đặt nhiều thức ăn lắm. Các em đến chơi nhé, đưa ông Táo xong là mình nhập tiệc, nhớ nhé. Phải đến hết đó. Mẹ tôi gặp lại các em là bà mừng lắm.
Châu hỏi:
- Nhà anh ở đâu lận?
- Ở Santa Clara chứ đâu.
Châu lắc đầu:
- Xa quá vậy, từ đây lên đó phải tới hai mươi mấy gần ba chục miles.
- Đâu có tới, mà đừng lo, ngày mai tôi lái xe Van 12 chỗ đến đón mấy em đi đàng hoàng.
Tú cười thích thú:
- Wow, chú Định điệu ghê, mời đi ăn còn đến đón đưa mình nữa, thích quá, vậy là phải đi chứ.
Cẩm hỏi tôi:
- Vậy ngày mai mình cúng ông Táo sớm hả chị Trân?
Châu nhanh nhẹn trả lời:
- Ừ cúng buổi sáng để trưa tụi mình còn đi ăn cơm khách. Mấy giờ hả anh Định?
- Khoảng chừng trưa trưa đó. Mấy chị em đi hết nhé.
Cả mấy cái miệng cùng đồng thanh: - Đi chứ, đi chứ.
Định kiếu từ ra về rồi mà dư âm của những kỷ niệm xưa hãy còn vương vấn. Những kỷ niệm của một thời cơ cực, gian khổ có sự bảo bọc giúp đỡ của mẹ con ông. Các em tôi cũng nao nức gặp lại mẹ Định ngày đưa ông Táo.
                                              ---o0o---
Bữa cơm sum họp chiều ba mươi trong gia đình tôi năm nay vui hơn vì có thêm bác Khánh và Định. Niềm vui làm cho bác khỏe ra, bác nói chuyện huyên thuyên, bác thắp nhang trên bàn thờ ông bà nhà tôi, và cầu nguyện như là bác đang nói chuyện với cha mẹ tôi vậy. Bác nói, điều bác mong muốn nhất là xin cha mẹ tôi hãy chứng giám cho chuyện đính ước giữa tôi và Định năm xưa để hai đứa được nên duyên. Bác nói to cho cả nhà đều nghe khiến tôi mắc cỡ vô cùng, còn các em tôi thì che miệng cười khúc khích… Hên cho tôi lúc đó, Định lại vừa ra ngoài hút thuốc với Báu.  Chứ  nếu có mặt Định ở đây thì tôi còn bối rối đến độ nào.  Tôi thấy lòng mình có chút gì lo lắng, hồi hộp lẫn bâng khuâng mỗi khi nghĩ đến Định. Tôi không hiểu rõ được tình cảm của mình và cũng không biết được lòng Định đối với tôi ra sao? Chúng tôi không còn trẻ để có những ước mơ lãng mạn cho tình yêu nữa, mà phải là tình thương mến trong bổn phận và trách nhiệm để nương tựa, san sẻ cùng nhau cho phần đời còn lại.
         Bước đến gần bên cửa sổ, tôi nhìn ra ngoài trời đã buông màn tối. Tôi lại nhớ  đến hình ảnh mẹ tôi trên giường bịnh… tay Định trên tay tôi… môi mẹ mấp máy yếu ớt… mẹ mong… mẹ mong... hai đứa sẽ… Tôi lắc mạnh đầu chợt nghe chút xót cay trong mắt. Dựa đầu vào khung cửa, tôi nghe như có tiếng cười vui của mẹ. Tôi thấy mẹ nhẹ nhàng đưa bàn tay lên vuốt tóc tôi, con đã sống hơn nửa đời người rồi đấy, hãy tìm cho mình một hạnh phúc cuối đời đi con ạ! Tiếp lời mẹ là tiếng của cha tôi, bố không muốn con gái mình chết già trong cô độc đâu nhé! Và rồi một tiếng nói trầm ấm quen thuộc bên tai tôi:
- Trân có nghe lời cầu mong của mẹ tôi không? Mẹ tôi rất muốn chuyện chúng mình kết thúc tốt đẹp đấy.Tôi đang chờ đợi câu trả lời của Trân đây… Trân biết không? Khi tôi gặp lại em, lòng tôi chợt xao xuyến khó tả, một tình cảm quí mến dạt dào mà trước đây khi còn trẻ, nhìn em tôi chỉ có đầy những mặc cảm, lo âu. Lúc đó, tôi rất buồn cho phận mình, một thằng lính thất trận, một tên tù tàn tạ, một thương binh khốn khổ. Cảnh ngộ em cũng thật đáng thương, tôi thấy mình quá kém cỏi nếu lấy em mà không bảo bọc được đời em... Trân ạ, hoàn cảnh bây giờ khác rồi, tôi đang trên đường đến tuổi già nên không muốn nấn ná chờ đợi, tôi thương em và khao khát có em bên cạnh… Trân, Trân có nghe không?
Bàn tay ai đã ve vuốt mãi trên mái tóc tôi, và lay nhẹ vai tôi. Ngước lên, tôi bỗng giật mình trước đôi mắt sâu thăm thẳm của Định. Ông cúi gần lại khuôn mặt tôi hỏi:
- Trân làm sao thế, có nghe tôi nói không?
Tôi gật đầu lí nhí:
- Dạ... em nghe.
- Thế em nghĩ gì về những điều tôi nói?
Tôi cảm giác mắt mình sao càng thêm xót cay, những giọt nước mắt từ từ lăn chậm trên má. Tôi ấp úng như mơ:
- Em… cảm động quá… em nghĩ anh… đã mang đến cho em... một... mùa xuân đẹp… dù có muộn màng…
Tôi vừa dứt câu thì Định đã kéo tôi sát vào bên ông. Tôi gục đầu lên ngực Định để cho nước mắt mình cứ tiếp tục rơi trong hạnh phúc. Xa xa tôi nghe có tiếng pháo đón mừng năm mới, mừng một mùa xuân thật sự đang đến cho đời tôi.
                              
Cao Thiên Lý 

More Articles ...

  1. Chỉ Còn...* Thiên Lý

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013