Thi Ảnh

Nguyễn Trung Dũng

Bức Chân Dung - Nguyễn Trung Dũng

Góc đường Jackson và đường Mabury, ở đó có một khu công viên. Dẫy nhà mé bên kia con lộ là nơi Tạo cư ngụ. Chung cư  gồm nhiều nóc gia được xây cất. Nhìn tường vách, nhìn mái nhà, người ta đủ biết tuổi thọ của nó tính theo thời gian là bao lâu rồi. Những  cây cối trồng ở trước mỗi ngôi nhà, ở trong những bãi đất trống, chúng lớn và cao với tàng lá rậm rạp xum xuê, nhìn cũng có thể biết chúng đã trải qua bao nhiêu năm trời, thân gốc mới mập mạp, cành lá mới đùm đề được đến như thế.

Vì nhà Tạo gần sát khu công viên, nếu buổi sáng hay buổi chiều những ngày thời  tiết không có mưa và gió lạnh, Tạo có thói quen hay ra công viên, ở một cái băng ghế gỗ, ngồi với tay cầm một cuốn sách, Tạo lặng lẽ đọc. Sách thuộc loại tiểu thuyết mà chàng thường đến thư viện ở đường Educational Park mượn để đem về.
Khi những trang truyện khá hấp dẫn, đủ sức cuốn hút đôi mắt Tạo rà theo những dòng chữ trên trang giấy, thì, chàng rất ít khi ngẩng lên nhìn cảnh vật chung quanh. Chỉ trừ ra, khi mỏi mắt, khi gặp một đoạn văn quá khô khan rời rạc, Tạo mới ngưng để ngó xa ngó gần, thấy  hai  con  đường đổ về ngã tư, xe cộ cái ngừng, cái chạy. Có lúc, ở cái ngã tư giao lộ đó, chẳng có chiếc xe nào đến cả, nhưng trên hệ thống đèn lưu thông, màu của những cái đèn vẫn cứ tiếp tục thi nhau thay đổi, lúc đỏ, lúc xanh, lúc vàng, tự động bảo nhau chớp tắt.
Cái sinh hoạt bình thường đến độ quá quen mắt, nhìn thì nhìn, Tạo chẳng  mấy quan tâm và mất thì giờ để phải chú ý đến những cái đèn báo hiệu cho xe chạy đó, nên chỉ một ít phút sau, mắt Tạo đã đổi hướng ngó về phía vùng đất trước mặt có cái hồ nước, mà ở đó, chàng thấy  những con vịt trời đang vùng vẫy bơi hay những con vịt trời đang bay lượn trên cao với những cái cánh dang rộng vỗ và với những tiếng kêu khan nhả ra từ cổ họng.
Cây cối ở trong khu công viên có cây thân gốc lớn, ngọn  cao với  những cành lá rậm rạp nom như những cái dù lọng. Cây  cối ở trong khu công viên có cây nhỏ và thấp thì những cây đó cao chỉ ngang tầm với, có hoa nở, có lá đủ màu sắc tùy mỗi loại thảo mộc.
 
Với những con đường tráng nhựa phẳng phiu chạy theo đường vòng trong công viên, con đường đó để cho người ta đi dạo mát hay chạy bộ giúp thư giãn cơ thể. Buổi sáng và buổi chiều, vào đúng cái giờ như  đã được ấn định, Tạo thường thấy có một người đàn bà xuất hiện, lững thững bước từ phía  hồ nước rồi theo con đường trong công viên, bà thong thả đi tới đi lui nhiều vòng, khi đã thấm mệt, khi chân đã mỏi, thì bà ta ngồi nghỉ ở cái ghế nhìn ra mặt hồ, một lúc sau, Tạo  thấy người đàn bà đi về hướng bãi đất hoang, có những ngôi nhà ở mé bên kia con lộ.
Ở cái băng ghế gỗ trong công viên chỗ Tạo đang ngồi đọc sách, những lúc người đàn bà theo con đường vòng phải đi ngang qua đó, mắt Tạo chợt nhận ra cái vẻ đẹp hiền hậu trên khuôn mặt của bà ta, đã khiến chàng nảy ra ý muốn, mượn cây cọ và chất sơn để thể hiện chân dung của người đẹp lên tấm vải bố cho bức tranh Tạo  dự định vẽ. Từ hôm ngồi một mình tư lự trong bóng tối của căn phòng, Tạo đã ấp ủ việc làm đó và phải nhiều ngày sau, vào một buổi sáng như thường lệ, chàng đã dứt khoát ra công viên với cái giá vẽ, sơn cọ, để thực hiện vẽ tranh.
Buổi sớm với ánh nắng chan hòa trên lá của những cây cối,  trên  thảm cỏ màu xanh, trên mặt nước hồ biêng biếc, cái giá vẽ có chân đứng đã được dựng, tấm bảng gỗ có một tấm vải bố sần sùi đã được căng, sơn và cây cọ đã để sẵn, trong lúc đợi người đàn bà đi dạo trong công viên tới, đấy là lúc Tạo ngồi ở cái ghế gỗ có lưng tựa, mắt nhìn những con vịt trời đang bơi, những con vịt trời đang bay, những cái lá cuối mùa đang thi nhau rụng. Nhưng khi cái bóng người đàn bà đang thả bước đi từ con đường ở dẫy nhà bên kia con lộ hiện ra, Tạo đã tập trung thị giác nhìn về phía đó và chờ đợi bà ta tiến gần về khu công viên. Vẫn như mọi khi, thói quen chỉ là thói quen cố hữu, người đàn bà bắt đầu bước những bước đi thong thả trên con đường vòng trải nhựa phẳng phiu, vừa đi hai tay vừa nhịp nhàng vung tới vung lui, thản nhiên đến độ không cần biết chung quanh có ai đang chú ý nhìn ngó mình. Mỗi khi bà đi ngang qua chỗ Tạo đang đứng hí hoáy vẽ, bước chân có chậm lại, mắt lướt nhìn rất nhanh trên khung tranh, chỉ có vậy thôi rồi lại lặng lẽ đi tới. Mỗi lần người đàn bà đi ngang qua chỗ Tạo như thế, Tạo đã nhanh chóng như một cái máy ảnh, thu bắt những nét đẹp trên khuôn mặt của bà ta, cây cọ với sơn nhúng sẵn, Tạo đã phóng tay lên khung vải, vẽ vội  vàng những gì vừa thu tóm được. Một việc làm như thế quả là quá chật vật và khó khăn cho chàng. Nhưng không có cách nào khác, nếu như muốn vẽ được bức chân dung người đàn bà đẹp xa lạ không quen biết, thì chỉ có cách đó Tạo mới hi vọng thực hiện được một họa phẩm, như ý muốn của chàng.
Nhiều ngày lặng lẽ lén lút thu hình bằng đôi mắt, ghi lại trên khung vải bằng cây cọ, sự nhẫn nại cần cù đã giúp Tạo đi tới bước hoàn thành, khi bức họa đã được thực hiện  xong.
Trong căn phòng nhỏ, dưới ánh sáng của ngọn đèn, ngồi trên chiếc ghế da có lưng  tựa, buổi tối với cơn mưa nặng hạt ở bên ngoài, Tạo thích  thú nhìn bức chân dung mình đã vẽ, thấy nó gần lột hết được vẻ đẹp của khuôn mặt người đàn bà đi dạo trong công viên, nhưng dù vậy, bức tranh vẫn chỉ là bức tranh vô hồn, nó thiếu mất hẳn phần sinh động. Chính vì thế, Tạo lại phải sáng sáng ra ngồi ở cái ghế trong công viên, chờ người đàn bà đi dạo trên con đường trải nhựa, để được thoải mái ngắm nhìn dung  nhan của người đẹp, mà không phải là tấm chân dung đầy tính giả tạo trên bức tranh chàng đã vẽ. Có lúc Tạo đã tự hỏi lòng mình, đấy có phải tình yêu vừa mới chớm nở, như một nụ hoa đang từ từ vỡ cánh, thì ngay tức khắc, Tạo đổ thừa cho tính đam mê quá độ của một người nghệ sĩ như chàng, thường hay đa cảm đa sầu.
Một buổi tối, Tạo đến dự bữa tiệc ở nhà hàng do lời mời của một người bạn. Bữa tiệc mừng năm mươi năm thành hôn của đôi vợ chồng già. Khách là những người thân quen đến họp mặt góp vui và để được dịp ngồi hàn huyên chuyện gẫu. Cũng chỉ chừng mấy chục người ngồi đủ năm cái bàn tròn.
Ngồi với mấy người bạn, kẻ viết văn, người làm thơ, còn có hai ba ông là họa sĩ, cạnh Tạo còn một cái ghế bỏ trống chưa có người ngồi. Rồi cái ghế bỏ trống đó, chỉ sau đó không lâu, khách là một vị nữ lưu đến trễ đã có mặt. Đưa mắt nhìn hết mọi người, đầu khẽ gật, môi nở một nụ cười, miệng nói nhỏ nhẹ, bà tạ lỗi việc đến hơi trễ với lý do đường kẹt xe.
Từ lúc cái ghế bên cạnh mình có người đàn bà ngồi, người đàn bà đó có khuôn mặt nom quen như Tạo đã nhiều lần gặp ở đâu đó, nhưng cố nhớ vẫn nhớ không ra, chính vì thế, Tạo cứ thờ thẫn nghĩ ngợi, quên cả nghe người bạn chàng đang nói chuyện với chàng về vấn đề hội họa.
Trước lúc chính thức nhập tiệc, chủ nhân đãi bữa ăn tối theo thủ tục đi chào khách, giới thiệu từng người, Tạo mới biết người đàn  bà đó tên là Liên. Tạo nhắc thầm tên Liên như để ghi nhớ vào đầu vì sợ sẽ lại quên.
Đĩa thức ăn đầu tiên được người phục vụ nhà hàng đưa ra bàn. Thấy mọi người đã mời nhau cầm đũa, nhưng riêng Tạo vẫn ngồi thẫn thờ mắt nhìn đi đâu đi đó, bà tên Liên lịch sự quay sang Tạo nói:
“Anh dùng”.
Tạo như một người đang ngủ mơ, được đánh thức dậy. Vội đáp:
“Vâng. Cám ơn chị. Xin để tôi tiếp chị trước đã”.
Nói rồi làm, Tạo cầm cái muỗng xúc món ăn xong bỏ vào cái đĩa của người đàn bà tên Liên.
Thấy Tạo tính lấy thêm, bà Liên cản:
“Thế này đủ rồi. Anh đừng cho tôi nữa. Món này nhiều mỡ tôi không thích lắm đâu”.
“Chị kiêng mỡ sao”.
“Vâng”.
Thay vì dùng đũa ăn món ăn vừa lấy, Tạo lại  đưa tay cầm cái ly  thủy  tinh và chai rượu chát, vừa rót vừa gợi chuyện để nói với người đàn bà:
“Từ lúc chị đến, tôi cứ ngồi nghĩ mãi mà không nhớ ra, hình như tôi  đã gặp chị nhiều lần ở đâu rồi. Nếu không phải là chị, thì cái người tôi đã gặp đó, nom giống hệt như chị vậy”.
Bà Liên cười:
“Giống hệt thì có giống đấy. Ở đâu anh gặp tôi thì ngoài cái công viên chỗ anh thường ra ngồi đọc sách hay đứng vẽ tranh, chắc cái  ở đâu thì chỉ có ở đó chứ không còn là ở đâu cả”.
“Và người đàn bà thường mỗi sáng hay đi dạo trong công  viên  lại  chính  là chị. Thảo nào trông chị và người đàn bà đó có khuôn mặt giống nhau như hệt. Có điều …”.
“Đúng rồi. Có điều bữa nay tôi trang điểm và ăn mặc sang trọng nên nom có khác. Còn những ngày đi dạo bộ trong công viên, tôi phục sức giản dị, mặt mũi không phấn son, khác là khác đúng đấy”.
Tạo được trớn nên sẵn đà lao thẳng vào câu chuyện:
“Tôi dám thực lòng mà nói, nhan  sắc của  chị ở tuổi này vẫn còn đẹp, thì những  năm tháng trước đây, cái nhan sắc đó chắc chắn còn đẹp hơn thế này nữa”.
“Anh lại quá khen tôi rồi đấy”.
Tạo lắc đầu:
“Không phải như chị nghĩ như thế đâu. Như tôi đã nói, tôi thực lòng với chính tôi, lời khen hoàn toàn đúng với dưới mắt tôi nhận xét. À, thưa  chị, còn anh bận gì sao không thấy đi”.
“Nhà tôi đã mất”.
Có lẽ không muốn để người lạ đi sâu vào đời tư của  mình, bà Liên lảng qua chuyện khác. Hỏi:
“Bức tranh anh vẽ ở công viên anh vẽ tranh phong cảnh đấy có phải không”.
“Không. Phong cảnh ở cái công viên đó có gì đâu mà để vẽ. Tôi vẽ chân  dung một người đàn bà”.
“Vẽ chân dung mà không có người mẫu.
“Có người mẫu đấy chứ. Chị thử đoán người mẫu đó là ai xem có đúng không nào”.
“Đoán làm sao đoán được. Rõ  ràng mắt tôi thấy anh đứng vẽ mà có ai ở đó đâu để có thể gọi được là người mẫu”.
“Vậy người mẫu nếu ở công viên không có ai  ngoài chị ra, thì tôi vẽ chị có được không”.
Bà Liên bật cười:
“Vẽ tôi. Vẽ tôi để làm gì. Với một bộ mặt nhếch nhác, đôi má khô, da không phấn son, anh vẽ tôi như thế bức tranh chắc chắn sẽ nhem nhuốc khó coi lắm”.
“Chị nhớ rằng dưới cây cọ và màu sơn tôi quết, bức chân dung đó phải được coi như thế nào rồi. Vì chị không thể nhìn thấy khuôn mặt dễ thương của chị, nhưng người khác nhìn thấy khuôn mặt đó nó như thế nào, người khác mới cảm nhận ra được cái đẹp đó. Một lần nữa tôi lại phải thực lòng mà nói, chị có một khuôn mặt rất ăn nét khi đưa lên khung tranh. Tôi thú thật chính vì mê cái đẹp đó mà tôi mới nảy ý vẽ bức chân dung lấy mẫu từ chị”.
“Nghe anh nói làm tôi phát sợ. Ngần này tuổi, đẹp gì nữa, anh cho tôi lên tranh để làm cái gì”.
“Tranh thì vẽ xong rồi. Chị muốn tôi giữ nó hay đưa trả cho chị”.
“Dĩ nhiên tôi muốn anh đưa trả cho tôi. Tôi không muốn chân dung tôi lại được anh giữ và treo trong phòng anh bao giờ cả”.
“Vậy cho tôi biết nhà để tôi đem đến tặng nó lại cho chị”.
“Nhà. Tôi ngại cho anh biết. Nếu anh thực tình muốn đưa cho tôi, anh cứ ra công viên gặp tôi đi bộ mỗi sáng cũng được. Như thế có lẽ nó tiện hơn”.
Câu chuyện đến đó thì cả hai im lặng không nói gì nữa. Họ hòa nhập vào lời nói và tiếng cười của mọi người ngồi chung bàn. Và cứ thế cho đến khi đã hết các món ăn, buổi tiệc mừng năm mươi năm ngày thành hôn của vợ chồng của người bạn đã chấm dứt, đến đó thì vãn.
Đêm trở về căn phòng nhỏ, dưới ánh sáng của ngọn đèn màu vàng nhợt nhạt, Tạo ngồi lặng lẽ ngó lên bức họa chân dung. Chàng thấy đầu óc cứ vẩn vơ nghĩ ngợi về buổi tối ở nhà hàng, càng nghĩ ngợi thì càng thấy nhơ nhớ một cái gì không hình thù cụ thể. Chỉ là hình ảnh lúc rõ rệt, lúc mờ nhạt về nhan sắc của người đàn bà tên Liên. Nó trừu tượng và mơ hồ như nỗi nhớ và nỗi buồn chợt đến bất ngờ, như những lần ngồi trên chiếc xe đò lên Đà lạt, trên  đỉnh dốc đèo mắt chàng nhìn xuống thung lũng dưới thấp, thấy sương mù bay vơ vẩn trên những cây cối rừng già, những lần ngồi cô đơn lặng lẽ trên sườn một ngọn đồi thấp, nhìn thấy trời đã nhá nhem tối, phố xá nhấp nháy ánh sáng của những ngọn đèn, thì tâm tư tình cảm Tạo đã khó giữ nổi bình thường mà không bị xúc động.
 
Đêm qua đi rồi ngoài trời đã sáng rõ. Nhớ lời đã hứa với bà Liên, Tạo rời nhà ra công viên với bức họa mang theo. Ngồi ở cái ghế gỗ có lưng tựa, dựng bức họa ở bên cạnh chỗ ngồi của mình, trong lúc chờ đợi bà Liên đến công viên đi thả bộ như mọi bữa, Tạo nhìn cảnh vật chung quanh. Những con vịt trời còn sớm nên chưa thấy chúng đến. Hồ nước mặt phẳng lặng nom như một tấm gương soi. Bầu trời vào mùa Thu trông xanh với lớp mây như được lót vải mềm và mịn. Nhìn về phía cuối hồ, Tạo phát hiện ra có một hai cái cây lá của chúng đã đổi màu. Màu thật vàng và rực rỡ chói sáng.
“Lẽ ra giờ này là giờ bà Liên phải có mặt ở công viên rồi mới  phải. Đồng hồ đã ở con số 10, như vậy là trễ đúng 1 giờ, không lẽ …”. Tạo nghĩ vừa tự hỏi mình. Không lẽ, Tạo bảo thế để đặt ra những câu hỏi và những câu hỏi  tự Tạo đặt ra lại chẳng có ai ở đó để trả lời chàng. Ờ, không lẽ tối qua bà ta ở nhà hàng về
muộn, bị gió bà ấy cảm rồi. Ờ, không lẽ bà ấy về khuya ngủ muộn nên giờ này vẫn còn chưa dậy. Ờ, không  lẽ bà ta vô tình đến nỗi quên cái chuyện ra công viên tập  thể  dục và lấy bức họa như tối qua bà ấy đã nói”.
Đồng hồ đã chỉ số 11, Tạo  đã bắt đầu hết kiên nhẫn để ngồi chờ nữa. Biết rằng bà Liên đã ngại nên không muốn ra công viên để gặp Tạo và lấy lại bức chân dung, nên Tạo quyết định đứng dậy để về nhà. Chợt  mắt  nhìn về phía cuối vườn, từ dẫy nhà bên kia dẫy phố, đi theo con đường đất nhỏ có những cây hoa vàng mọc, Tạo thấy  bóng một người đang hấp tấp đi tới. Nhưng người đó không phải là bà Liên khi đã đến gần. Đó là một cô gái có khuôn mặt và hai con mắt giống như bà Liên. Cô ta đến trước mặt Tạo, tự giới thiệu cô là con của bà Liên và lễ phép nói:
“Thưa ông, mẹ cháu bảo cháu ra gặp ông để xin ông bức tranh ông đã vẽ”.
Chỉ một câu vắn gọn như thế, khi tay đã cầm bức họa, cô con gái  cám ơn rồi lặng lẽ quay trở về con đường đất nhỏ có những cây hoa màu vàng, đi về dẫy nhà ở bên kia khu phố.
Những ngày sau đó, buổi sáng nếu trời không mưa và gió đem cái giá lạnh về, Tạo vẫn có thói quen ra khu công viên ngồi ở cái ghế gỗ có lưng  tựa, thả mắt nhìn những chiếc lá vàng trên cành nhánh cây cối rụng xuống, thả  mắt  nhìn  những con vịt trời từ đâu đó bay về đáp xuống mặt nước hồ, thả mắt nhìn những con vịt trời dang rộng đôi cánh bay vòng vòng trên không, thả  mắt nhìn những cái xe hơi vun vút lao đi trên con đường  nhựa phẳng lì, đến ngã tư đại lộ, cái thì ngừng, cái thì chạy theo sự hướng dẫn của những cái đèn chớp tắt xanh vàng đỏ, và với đôi tai, Tạo  nghe  đủ  mọi  giọng  hót của những con chim cất lên từ chỗ này chỗ kia. Mọi vật ở cái công viên vẫn chẳng có gì thay đổi, duy chỉ khi nhìn con đường  nhựa  phẳng  phiu, con  đường  nhỏ  cong  vòng dành riêng cho người đi bộ trong công viên, không còn có người đàn bà tên Liên nữa, thì Tạo tự nhiên thấy lòng mình chùng xuống, cảnh vật  thì cô quạnh trống vắng một cách lạ lùng.
 
Nguyễn Trung Dũng
 
1.
 “Cánh Đồng Hoa Cúc Trắng” đi vào tâm tưởng ông kể từ khi tầu ngang qua Palo Alto, ngừng lại đón khách ở khu nhà ga nhỏ. Ngồi cạnh cửa sổ, thả mắt nhìn cảnh vật bên ngoài, ông bắt gặp một vùng trải dài và rộng đầy hoa cúc trắng. Đấy là cánh đồng không được trồng trọt, nơi cỏ hoang và cúc dại  mọc. Bởi đất bỏ phế, có đất là có cỏ. Còn hoa cúc, phải tới mùa cúc, từ hạt vỡ sinh cây, từ cây sinh lá và nụ, từ nụ nở ra hoa, cánh đồng trắng xóa với mầu trắng của cúc trắng. Hoa năm hoặc sáu cánh. Hoa không có mùi thơm. Nhưng cánh đồng cúc trắng mang vẻ huy hoàng rực rỡ, nếu lót nền trong tranh, với một người con gái khỏa thân nằm giữa cái nền lót đó, đề tài cho một bức họa hẳn là tuyệt. Đấy chính là tâm tưởng ông đã có từ lúc tầu ghé ngang qua Palo Alto, ngừng chốc lát ở nhà ga lẻ để đón và thả khách xuống tầu.
 
Ông có bốn bức phác thảo vẽ về biển, về cây cầu Golden Gate, về phố núi chưa được quết mầu. Cả bốn mới được hình thành qua những nét phóng sơ sài nguệch ngoạc, đại khái như cất nhà dựng sườn chưa đóng gỗ ván, chưa có cửa ngõ mái che. Khởi đầu bao giờ cũng từ cái khung, từ khung tiến tới sơn tô quét, từ chỗ tô quét chọn mầu sắc thích hợp, bức tranh cứ từng bước mà hiện ra hình thù. Phải một tuần nữa, đáp tầu đi San Francisco, ông mới tạm coi vẽ xong mấy bức dang dở, tạm quên chúng để đi vào những cái khác. Như khởi họa “Cánh Đồng Hoa Cúc Trắng”, nơi con tầu ngừng bánh, Palo Alto, một thị trấn nằm gần thiết lộ.
 
Mùa hạ. Buổi sáng nắng tới sớm trên thành phố vùng ông cư ngụ. San Jose. Đến nhà ga quận hạt, đợi chuyến xe lửa từ đâu đó đổ về, ông ngồi quan sát cảnh vật, một nơi yên tĩnh và vắng vẻ, một nơi chỉ có những khách đáp Cal Train mua vé đi San Francisco, một nơi xuất nhập người từ xa đến và người khởi hành tới đô thị phố núi nằm cạnh bờ mép biển.
 
Đi lần này ông không đáp tầu đi San Francisco. Tầu ngừng ở ga lẻ Palo Alto, ông xuống để rồi dựng giá gỗ, bảng vẽ, khung giấy, đem cọ sơn hay nước mầu đứng vẽ tranh. Cánh đồng rộng. Cúc như một tấm thảm trắng trải dài và chỉ khựng lại khi gặp một con đường trải nhựa, ở đó, ông thấy có xe qua lại nhưng không nhiều. Và bên kia dựng lên hình thù những cây cối với tàn lá của chúng đung đưa trên không, nom hệt những cái lọng che, cái dù quạt của một đám rước lễ đi trên cánh đồng. Cũng còn thấy một trang trại nhỏ với nhà kho và nhà ở nằm giữa đám cây ăn quả. Cây được trồng thẳng gốc ngay hàng. Gần nhất, cạnh cánh đồng hoa cúc trắng, đứng như một người rủ đầu với xương khô thân xác, cây thụ già trụ vững gốc, cành nhánh đã sác sơ tơi tả. Chính ở đó, một bầy quạ đen đứng đậu, nghển đầu, ngỏng cổ, kêu khản như tiếng người gào. Những nét ông bắt được trên toàn cảnh thật tuyệt vời, để hình thành bức tranh có cái tựa “Cánh Đồng Hoa Cúc Trắng”.
 
Buổi tối dưới ngọn đèn, ông ngồi tư lự ngắm tranh. Cúc đã lên hình như nở cánh trên một phần giấy vẽ. Sơn được dặm. Từ dưới đường đi của cây cọ, sơn đó đã phết từng mảng, rất từ tốn và thận trọng nơi đầu cọ di động hay vỗ đập sần sùi. Dù sao, ông vẫn thấy thiếu một cái gì đó mà ông chưa nghĩ ra. À, khi vầng trán ông nhăn những nếp nhăn, lúc đó ông mới bắt được cái thiếu mà mình thấy thiếu. Cúc không chưa đủ. Cúc cần có một người con gái nằm khỏa thân. Giữa thảm cúc trắng, người nằm khỏa thân sẽ làm cho bức họa sinh động để lột được cái Động và Tĩnh, cái Sống và Chết của tranh vẽ cảnh thiên nhiên và con người. Nghĩ đến ngườimẫu khỏa thân, Thúy được ông chọn trong số bạn gái ông quen. Ông chấm Thúy nhưng liệu Thúy có đồng ý nhận làm người mẫu cho ông vẽ không, thì ông không dám chắc Thúy nhận. Thì cứ hỏi. Đấy là buổi đến nhà gặp Thúy ở căn phòng Thúy cư ngụ.
“Sao lâu nay Anh không đến chơi. Bận gì vậy”.
“Vẽ tranh”.
 “Vẽ tranh thì cũng có lúc vẽ lúc rảnh chứ bộ vẽ hoài hả anh”.
 “Mấy bức dở, một bức đang phác thảo, có hứng thú và say mê, ngưng thì hứng thú say mê sẽ lụi. Làm thơ cũng vậy, khi tư tưởng chợt đến, phải chụp bắt như mình đuổi theo con bướm nó bay vờn trước mặt, nếu không rượt đuổi, nó lẩn vào bụi hồng trốn mất, vần thơ em làm sẽ chẳng có đâu”.
“Anh uống cà phê hay trà nói để em pha”.
“Thứ gì cũng được. Miễn là đừng quá lách cách phiền toái. Hay trà đi cho nó tiện”.
 
Thúy bỏ nhúm trà khô vào bình, đợi nước sôi tới. Ông gợi ý:
“Anh đang vẽ bức “Cánh Đồng Hoa Cúc Trắng”. Cúc trắng sáng ngợp một vùng thảo nguyên ở Palo Alto. Nếu chỉ toàn cúc thì cánh đồng cúc không có hồn khi lên khung tranh vì trên tranh, cúc đứng ngay đơ cứng ngắc như cọng sắt thiếu gió không làm cây cúc nghiêng ngả và hoa cúc lao sao. Mà gió thì chẳng người họa sĩ nào vẽ được gió để gió làm rung rinh cánh cúc trên tranh được. Bởi thế, muốn bức họa có linh hồn, anh mới nghĩ ra cần có hình một người con gái. Một người mẫu và người đó có thể là em được không”.
“Sao anh không chọn một người khác lại là em. Liệu em có đủ tiêu chuẩn để làm người mẫu cho anh vẽ tranh không”.
“Đủ. Bởi vì em đẹp. Đường nét trên thân thể em chắc chắn sẽ thích hợp với bức họa mà anh đang thực hiện. Có điều anh chỉ sợ em không nhận lời vì người mẫu trong bức này phải khỏa thân. Em dám khỏa thân không”.
Nghe ông ta nói, Thúy tỏ ra ngần ngại. Nàng bảo:
“Khỏa thân à. Khỏa thân thì khó đấy. Chắc em không dám đâu”.
Ông cười rất tỉnh:
“Ở đó, một nơi tĩnh mịch vắng vẻ, có ai thấy đâu ngoài anh ra, em khỏa thân như khỏa thân lúc trần truồng tắm”.
“Tắm ở trong phòng tắm kín đáo nó khác. Khỏa thân trần truồng ở nơi trống trải, em cảm thấy kỳ kỳ”.
“Kỳ thì thôi. Anh không ép. Mà ép làm sao được, vì đó là cái quyền của em muốn hay không muốn”.
 
Câu chuyện tới đó thì ngưng. Nhưng lúc ông họa sĩ đứng dậy cáo về, Thúy bỗng thay đổi ý. Nàng đột ngột nhận lời làm người mẫu cho ông vẽ tranh.
 
2.
Họ ra sân ga đợi tầu. Họ lên tầu khi tầu tới và ngừng để thả và đón khách. Họ xuống lúc đến quận hạt Palo Alto. Họ đi về ngả cánh đồng có hoa cúc trắng. Buổi sáng mùa hạ, vẫn ánh nắng thắp sáng trên những cánh cúc và thân cúc mảnh khảnh. Không khí khô se ấm áp. Thời tiết của một ngày đẹp trời. Rừng thì ở xa. Đồi mặc áo mầu xanh của cỏ mướt. Cây đại thụ già đứng trơ trơ cô độc trên cánh đồng. Vẫn xương khô thân mộc thảo với nhánh cành sác sơ tiều tụy, vì cây đã chết nhưng không bị đốn chặt. Ở đó, bầy quạ làm tổ. Những cái tổ nom xa như những cái đầu lâu còn dính tóc đen, đu đưa trên nền trời mây mầu kim nhũ. Những cái tổ quạ được quạ tha rơm rác hay cành cây khô, cài thành hình như hình cái giỏ đựng bình chai rượu chát. Chỉ nhìn những cánh quạ đen bay, chỉ nghe tiếng quạ nhả ra tiếng kêu, cái vùng đồng cỏ tiếp giáp thảo nguyên mới thực sự thấy cái Động trong cái Tĩnh, cái Sống trong cái Chết. Cũng như hoa cúc trắng, như tuyết đã nằm yên khi bay bay từ trời xuống, không có gió lao sao lay động, không có sức nóng làm rạn vỡ mặt băng đóng, thì cả hoa lẫn tuyết chỉ là những cái xác khô vụn, những mảnh rác rến bất động vô hồn.
 
Bắt tay vào công việc, ông chống chân dựng giá vẽ, đặt tấm bảng có giấy họa hình, mở hộp đựng sơn mầu và những cây cọ. Trải xuống nền đất bằng một mảnh vải trắng để Thúy nằm tránh lấm láp người, ông vừa nhìn nàng, vừa gật gật cái đầu, vừa như ra ý nhắc nhở cho Thúy biết tới lượt nàng phải làm gì rồi.
 
Khi ngón tay đã lần bóc những cái khuy áo, tháo  cái “soutien” nịt ngực, bỏ rớt xuống chân rồi, Thúy có thêm nghị lực để sờ tới cạp cái quần, tụt cái quần đó ra. Mảnh vải hình tam giác, mỏng và mền,dính phần dưới thân thể được bỏ ra nốt, nàng trải thân nằm xuống mặt vải giữa một vùng hoa cúc xôn xao.
 
Đầu nhọn của cây bút chì được điều khiển dưới bàn tay ông bắt đầu khởi động. Từ mái tóc, từ khuôn mặt, từ øcổ, từ ngực, từ bụng, đi lần xuống phần thắt, nơi cái ngã ba của đôi chân nối với đoạn thân, nơi cái chạc của một cây ná có dây cao su buộc, thì ông thấy bị kích xúc. Đè nén kích xúc nhục dục, ông lướt ngọn bút qua khỏi cái vùng đã làm ông lựng khựng để đi nốt xuống phần đôi chân người mẫu. Phác thảo cho bản vẽ kể như đã xong. Bây giờ, ông bắt đầu chọn mầu và dặm sơn từng phần như đắp thịt da trên một bộ xương người. Thịt da bằng lớp bột mầu sền sệt tô phết cho mỗi phần cơ thể đã hình thành dưới cái cọ chổi cà miết, chấm vỗ, lúc đi lướt nhanh vội vã, lúc chậm chạp từ tốn thận trọng. Khuôn mặt với đường nét sống mũi, tóc và cặp mắt của người mẫu là cái khó nhất cho nên ông vẽ hơi lâu. Xuống đến hai gò vú và phần phẳng của bụng, ông thấy óc não không cần phải vận dụng quá nhiều.
 
Cặp đùi khép tạo ra cái hũm lõm của một hình tam giác. Cái hình tam giác hũm lõm đó bắt buộc phải dùng tới mầu đen của sơn. Phủ lớp sơn đen xuống chỗ cần phủ, lúc đó chính là lúc ông khựng lại để nhìn cái vật thể mà ông đang vẽ nó. Mạch máu trong người ông hình như chảy mạnh bất thường. Tim ông bị ứ thắt làm rối loạn nhịp đập. Ông mất tự chủ trước những đòi hỏi của sự thèm muốn thỏa mãn thể xác. Ông buông rơi cây cọ vẽ để rồi bước những bước vội vã về phía Thúy nằm. Khi hai cái thân thể đã khép lên nhau. Những con quạ đen đảo cánh chợt kêu la quái đản trên bầu trời có hoa cúc trắng. Họ đã xong và buông nhau ra. Gặp tấm mềm vải, ông thấy có máu. Máu nổi giữa nền trắng của tấm “drap” dùng để lót cho người mẫu nằm. Máu đỏ hồng. Máu của một người con gái lần đầu chung đụng. Chính tấm vải có dính vết máu đó, một buổi sáng ngồi nghĩ vẩn vơ, ông bỗng nẩy ra ý định căng lên khung vẽ. Rồi hứng thú bất ngờ, ông đem cánh đồng cúc và hình người mẫu chuyển qua bức vải căng có dính máu, dặm sơn mầu và hình thành bức họa ông thực hiện.
 
Bức vẽ vẽ xong. Dù vậy, ông vẫn cảm thấy có vài chi tiết cần phải đến cánh đồng hoa cúc để bổ túc cho bức tranh được hoàn hảo. Chẳng hạn cái mầu lá ông pha sơn chưa thích hợp, cái cây khô đứng chết thiếu nét oằn oại, cái tổ quạ và những con quạ già trên ngọn nhánh quá nhiều làm tối bức tranh. Hình như ông đã quên vẽ vài con quạ bay đảo cánh dưới nền trời mầu kim nhũ, để lột tả đất nơi đó, vùng tĩnh mịch và vắng vẻ tột cùng của tử địa. Chính mầu trắng của cúc biểu tượng mầu tang của khăn sô hay vải liệm để liệm xác người chết. Mầu sắc đó cũng là mầu của tuyết đã rơi xuống ở vùng Bắc cực, đóng băng lạnh, phủ biển hồ, phủ sông ngòi và phủ đồi núi những ngày lập Đông.
 
Trong “Crows in the wheat field” của Van Gogh vẽ, chủ đề của bức tranh là “Bầy Quạ Trên Cánh Đồng Lúa Mì”. Xử dụng triệt để mầu sắc tối tăm u ám nhất, Van Gogh đã hình thành họa phẩm này trước khi ông tự sát. Quạ biểu tượng điềm xấu của vận mệnh. Cánh đồng lúa mì xơ xác thân gốc chính là hồi chuông báo tử. Cái chết phủ chùm vây kín bức tranh như bức tranh đó hiện thân nơi một nhà quàn có những cỗ quan tài gỗ mộc. Khi Van Gogh xây dựng bức vẽ quạ và cánh đồng lúa mì, bằng mầu tối đậm của tro than, bằng những đường nét sổ dọc ngang tàn bạo, bằng những cơn lốc xoáy của bão và gió, hình như người họa sĩ vẽ tranh vào lúc đó, lý trí đã mất quân bình, không còn khả năng tự chế được bản thân. Ông Van Gogh mắc chứng điên. Mầm mống điên tiềm ẩn trong con  người đó đã có do những chấn động dồn ép bởi cuộc đời và con người trong một xã hội bất ưng. Sự bạo ngược đối đãi và sự tàn nhẫn khinh miệt từ mọi phía đã dồn người họa sĩ đến tận cùng chân tường, để rồi không còn lối thoát ra khỏi. Vây quanh ông những kẻ sống vị kỷ, những kẻ thích xoe xua danh lợi, những kẻ coi nghệ thuật tranh vẽ tầm thường vô ích không cần thiết cho cuộc sống con người. Van Gogh đã có lần đem bán một bức họa phẩm, giá của nó vừa mua đủ một ổ bánh mì. Van Gogh đem tranh tặng cho ông Gachet, người bác sĩ chữa bệnh cho ông, bức tranh đáng nhẽ phải được trân trọng treo lên vách nơi phòng khách, Gachet lại dùng nó để chắn gà trong chuồng nhốt gà ở tư gia. Cuộc đời Van Gogh đầy rẫy những bất hạnh và đen tối như mầu trong tranh ông vẽ. Cũng như Nietzsche mang căn bệnh điên tiềm ẩn trong người, Van Gogh tự hơ lửa đốt bàn tay mình khi si mê người tình quá độ, Nietzsche thì đứng khóc giữa đường lúc ôm hôn con ngựa trong một cơn xúc động bởi thần kinh căng thẳng. Những người cầm viết viết văn và những người họa sĩ vẽ tranh được sinh ra mang vận số không nhiều may mắn. Họ bị ruồng bỏ hắt hủi hay bị khinh bỉ như kẻ mắc bệnh phong cùi giữa một xã hội mà chính họ lại chẳng thể chấp nhận và bị đồng hóa.
 
Xuống nhà ga lẻ ở quận hạt Palo Alto lúc tầu ngừng bánh, ông ta đi dọc con đường thiết lộ dẫn về hướng cánh đồng. Đầu óc vẫn miên man nghĩ về Gogh như nghĩ đến thân phận của chính mình. Mùa hạ, ông nghe tiếng gió đùa rỡn trên những ngọn cỏ rối mọc quanh vùng cánh đồng. Những con chim sẻ nhỏ nhận ra ông tới gần đã vù vù với đôi cánh vỗ bay đi. Hoa cúc trắng nom xa trải dài và rộng như một bức thảm mềm phẳng mặt. Dưới con mắt ông, ông vừa thấy cỗ xe có gắn động cơ nổ phành phạch bò từ từ trên cánh đồng hoa cúc trắng. Cỗ xe đó là xe cắt cỏ có gắn guồng cuốn với lưỡi dao bén sắc.. Mỗi phần đất cái xe đi qua, những cây cúc được ngoạm vào lưỡi cắt, bị cái máy nuốt gọn rồi đẩy vào thùng chứa sau xe. Bằng cơ giới, việc khai quang một vùng ruộng rẫy chẳng mất quá nhiều công sức và thời gian. Cho nên, từ lúc ông đến tới lúc ông quay về nhà ga lẻ, cái máy cắt đó đã cắt sạch nhẫn cúc dại mọc trên mảnh đất bao la rộng rãi này rồi. Mầu trắng của hoa cúc đã biến mất để thay vào đó mầu hoàng thổ pha lẫn mầu đen của bùn. Đồng không mông quạnh, gốc thụ già khẳng khiu đứng trơ trụi với những tổ quạ và đàn quạ táo tác bay quanh.
 
Tới cánh đồng hoa cúc trắng, lần đó là lần cuối cùng. Sau này, ông không còn đáp tầu xuống nhà ga lẻ ở Palo Alto, để lội bộ đến nơi có hoa cúc mọc. Đất được khai quang rồi, nông trại xuất hiện nhà ở và kho chứa dụng cụ. Luống rãnh được phân ô, bờ được vạch vẽ, những cây thuộc loại ăn quả được cắm trồng để thu lợi nhuận vào mùa thu hoạch. Cánh đồng hoa cúc trắng kể từ đó bị xóa đi nhưng trong trí nhớ, trên vải tranh ông đã vẽ, hoa cúc và những bóng quạ đen vẫn còn.
 
Xâm xẩm tối của buổi chiều nhùng nhằng cơn mưa đổ, ông pha cà phê, ngồi tư lự ngắm tranh. Vẽ thêm phần còn thiếu, dặm xóa chỗ chưa được hài lòng, ông làm nốt công việc cần làm trước khi lên giường đợi giấc ngủ. Nằm, ông mơ mơ, màng màng, tỉnh tỉnh, thức thức. Rõ đấy là tiếng lào sào của gió xao động hoa cúc trên cánh đồng. Rõ đấy là tiếng máy nghiến cây cỏ xèn xẹt của guồng cuốn có gắn lưỡi dao bén cạnh. Rõ đấy là tiếng thét hãi hùng của những cây cúc bị chém đứt lìa thân gốc. Rõ đấy là quạ quang quác kêu khan khản giọng nơi cuối bìa rừng có cây thụ già. Thiếp đi rồi chìm xuống giấc ngủ, ông trốn thoát cơn bạo hành của đầu óc khủng hoảng. Bình thản trong cơn mơ phẳng lặng lúc nửa đêm, ông thấy đứa bé chạy nhẩy tung tăng trên cánh đồng. Đứa bé như cái bóng con bươm bướm mầu vàng bay phất phơ trên đám hoa cúc trắng. Đứa bé chỉ biến đi cùng cánh đồng hoa cúc khi trong khu vườn mận, bỗng có tiếng một con chim sáng bay đến bụi cây hồng, hụ lên mấy tiếng nghe sảng.
 
3.
Khách khứa mãn tiệc đã bỏ về. Duy Hạ, nấn ná ngồi lại chuyện vãn dăm ba câu với chủ nhà ở nơi phòng khách. Đêm mùa hạ, ngó ra khu vườn tối qua kính cửa sổ, thấy cây cối mù mờ hình dạng, thấy bầu trời bàng bạc ánh sáng của vầng trăng hạ tuần. Bỗng đưa tay chỉ lên bức tranh treo trên vách ván, chủ nhà chợt bảo:
“Họa phẩm “Cánh Đồng Hoa Cúc Trắng” của bạn tôi đã vẽ. Khi hoàn thành “Bầy Quạ Trên Cánh Đồng Lúa Mì “ xong, Van Gogh chọn cho mình cái chết bằng cách tự sát. Ông họa sĩ bạn tôi vẽ bức vẽ này rồi, bỗng trở nên một kẻ khùng điên rất lạ. Một đêm, vâng, một đêm ông nổi cơn điên, dùng mảnh dao lam cứa đứt cổ tay. Động mạch bị cắt cho nên máu ra mà không sao cầm được. Cảnh sát điều tra và lập biên bản những gì họ nhận xét ghi chép lại. Cảnh sát cũng còn lượm được một tờ giấy viết mấy chữ để gần chai rượu uống cạn phân nửa nơi cái bàn nhỏ kê cạnh giường. Không phải là bức thư tuyệt mệnh nhưng đó chính là lời của Van Gogh nói: “Có lẽ, đối với người nghệ sĩ, cái chết không phải là việc khó nhất để chịu”.
 
4.
Mười năm sau, bức tranh được bạn bè người họa sĩ quá cố đem trưng bầy ở phòng triển lãm. Trong số khách đến coi tranh còn có một người phụ nữ trẻ dẫn theo một đứa bé đứng ngắm bức “Cánh Đồng Hoa Cúc Trắng”. Hình cô gái người mẫu nằm khỏa thân giữa đồng cúc mầu của tấm khăn sô, đã là mũi của con dao nhọn khoét một lỗ khoét sâu hoắm trong tim, khơi động vùng tiềm thức vị khách đứng coi tranh. Như con rắn khoanh mình rúc đầu nằm ngủ, bỗng bị một kẻ tinh nghịch dùng cây gậy chọc phá, rắn cựa khúc thân và ngỏng đầu đu đưa bò đi. Tiềm thức giống như con rắn ở thế tĩnh và động khi bị đánh thức dậy. Chính lúc đó, khách nhớ lại con tầu ngừng ở nhà ga thị xã Palo Alto, nhớ cánh đồng hoa cúc trắng, nhớ lúc nằm trần truồng lõa thể làm người mẫu cho ông ta vẽ, nhớ cái đau rát thịt da, nhớ trên tấm vải mầu trắng lót nằm dính vết máu đỏ hồng như bông huyết dụ. Nhớ cho nên khách đứng ngắm tranh đã bần thần xúc động.
 
Rạt đám đông, nàng dẫn đứa con ra khỏi phòng triển lãm. Đứa bé chợt nũng nịu hỏi:
“Mẹ. Mẹ bảo mẹ đưa con tới gặp bố. Bố đâu hả mẹ”.
“Thúy Cúc, nàng trả lời, bố con chính là người họa sĩ vẽ ra bức tranh con vừa coi đó”.
“Không. Con chỉ muốn được gặp bố mà không là bức tranh bố vẽ đâu mẹ”.
“Điều đó thì mẹ không thể làm được. Bố con đã đi rất xa. Xa đến một nơi mà nơi đó là nơi nào thì không ai biết được. Nhưng con đừng hỏi mẹ về điều đó nữa. Để rồi tới mùa cúc nở, mẹ sẽ dẫn con đi Palo Alto, nơi bố con đã vẽ bức tranh trên cánh đồng hoa cúc trắng. Cánh đồng hoa cúc trắng như một tấm khăn sô, có bầy quạ đen đứng cọ mỏ trên cây thụ già, và ở đó, mẹ đã nằm trải thân làm người mẫu cho bố vẽ”.
 
Tới mùa cúc nở, lời hứa của người mẹ với đứa con được thực hiện. Khi tầu ngừng để hành khách xuống nhà ga ở Palo Alto, đứng nhìn cánh đồng hoa cúc trắng, Thúy không nhận ra cánh đồng hoa cúc trắng đó nữa. Cây thụ già vẫn khô cằn trơ trụi thân gốc ở vùng đất xưa. Những tổ quạ và những con quạ đen hiện lên nền trời lót mầu vàng nhợt nhạt vẫn đấy. Duy cúc thì không còn. Đất đã được khai khẩn trồng cây trái ăn quả. Apple. Một loại táo xanh mầu của da lươn, vỏ vằn vện trơn bóng. Những trái táo đó đeo lủng lẳng trên nhánh cành, lắc lư đu đưa khi có gió thổi dựng. Ở cuối vườn cây, nhà trại được cất. Ngôi nhà nhỏ. Mái tôn trắng. Sân bãi đậu cơ giới máy móc nông cụ. Hoa cúc trắng trên cánh đồng cúc mọc, không một dấu vết để lại, ngoại trừ trong tiềm thức óc não, trên bức tranh đã được người họa sĩ vẽ ra. Bức tranh đó có hoa cúc, có vết máu khô trên nền vải, chính là bức họa cuối cùng khi người vẽ xong nó đã dùng mảnh dao lam tự cứa đứt động mạch ở cổ tay mình.
 
Nguyễn Trung Dũng

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013