Thi Ảnh

Trang Luân

Đêm Lạnh... - Trang Luân

Sao em thấy khu này ghê quá hở anh!”
Người đàn ông luống tuổi, đang đứng bên cửa kính, quay lại điềm đạm:
“Em nói không sai! Đây là khu chung cư mà vấn đề an ninh không mấy gì gọi là sáng sủa, khả quan cho lắm! Khu chung cư mà hầu hết người Á châu đều tránh xa, chứ chẳng riêng gì người Việt Nam, ngoại trừ chỉ có anh mà thôi. Nhìn ngang nhìn ngửa chỉ thấy toàn là Mỹ đen và người Mễ. Chẳng sót đêm nào mà không có xe cảnh sát chạy tuần tiễu, canh chừng ở quanh đây. Cách đây ba hôm, cảnh sát mới hốt ở đây năm, sáu mạng có liên quan đến vấn đề đĩ điếm và ma túy. Ban đêm, nhất là cuối tuần, em sẽ thấy nhạc ráp trổi lên đinh tai, nhức óc cùng tiếng vỏ chai ném loảng xoảng ngoài parking. Đôi khi cao hứng, còn lôi cả súng ra bắn chỉ thiên nữa là đằng khác.”
“Biết vậy mà sao anh không dọn đi nơi khác!”
“Đi đâu cũng chẳng bằng ở chỗ này! Vừa rẻ mà lại vừa thoải mái. Đặc biệt nhất là chẳng khi nào nghe chủ đề cập đến vấn đề tăng tiền nhà. Vả lại, anh cũng chẳng thấy có điều gì đáng tiếc xảy ra! Thú thật, hôm mới dọn đến, anh cũng cảm thấy hơi ơn ớn. Nhưng ở riết rồi cũng thấy quen dần. Anh thì lúc nào cũng chủ trương mềm mỏng, dĩ hòa vi quí. Mình đừng có đụng chạm đến người khác thì được rồi. Đấy là câu phương châm hữu hiệu nhất để mà sống. Từ khi nghe tin anh dọn về đây, mấy ông bạn đều trợn mắt kêu lên: Ông điên rồi hay sao! Thậm chí có ông còn nói: Ông đúng là uống thuốc liều. Có ngày rồi cũng toi mạng đấy ông ạ! Ấy thế mà tám năm trôi qua rồi đấy. Đâu có chuyện gì xảy ra đâu! Anh vẫn bình chân như vại, mà ngược lại, hầu hết mọi người ở quanh đây đều tỏ ra có cảm tình đặc biệt đối với anh. Thế mới lạ chứ.”
Người đàn bà phá lên tiếng cười dòn:
“Anh thì lúc nào cũng giống như kẻ chán đời.”
Người đàn ông không nói, đứng lặng thinh, dõi mắt nhìn ra bên ngoài. Tiếng gió đập nhẹ ngoài cửa kính. Tiếng rú hốt hoảng của chiếc xe vừa chạy vụt qua, để lại chuỗi âm thanh rền rã, dài dằng dặc, rồi tuần tự nhỏ dần và lịm tắt ở mãi tận cuối đường.
Dưới ánh sáng mát dịu của ngọn đèn nê ông, người đàn bà ngồi thu mình trên chiếc ghế đệm khổ dài, thô kệch, cũ kỹ đặt ở giữa phòng. Phía trong, sát chân tường, là chiếc TV kịch cợm, lỗi thời, đã ngả màu, hoen ố theo thời gian. Đối diện với bà ta là một chiếc bàn gỗ thấp hình chữ nhật, và trên đó, lẻ loi có chai rượu chát màu đỏ thẫm cùng hai chiếc ly đặt sẵn ở gần đấy. Người đàn bà đứng tuổi, có mái tóc phủ dài cùng khuôn mặt khả ái, sầu muộn. Bà ta sửa lại thế ngồi cho ngay ngắn rồi nhỏ nhẹ:
“Em thật không ngờ anh ạ! Cảm giác đầu tiên đến với em là một sự bàng hoàng thì đúng hơn. Làm sao mà không bàng hoàng, sửng sốt hở anh! Trước đây, ai nấy đều đinh ninh rằng: Gia đình anh đã mất tích trên chiếc ghe định mệnh ấy rồi. Người ta đồn, chuyến anh đi bị bão lớn và cả chiếc ghe bị nhận chìm xuống đáy biển. Thậm chí ngay đến người bà con xa của anh cũng quả quyết với em như vậy. Rồi đùng một cái, thình lình lại gặp anh ở bên đây, thử hỏi làm sao mà em không giật mình được! Thú thật, ngay từ lúc đầu, chợt thoáng trông thấy anh, em cứ ngờ ngợ mà không dám nhận! Em liếc mắt nhìn trộm sang bàn của mãi. Đầu óc em lúc bấy giờ, chỉ thấy toàn là những câu hỏi dồn dập đổ về, bủa vây, chất vấn, vây kín ở tâm tư em! Em tự hỏi thầm với chính mình: Không lý‎ nào, anh lại còn sống ở trên cõi đời này hay sao! Chính vì thế, em đâm ra lưỡng lự, đắn đo, suy nghĩ đến gần cả tiếng đồng hồ. Cuối cùng, thì em quả quyết, chắc chắn một trăm phần trăm, chứ không còn nghi ngờ gì nữa! Lúc đó, em mới mạnh dạn lên tiếng gọi anh.”
 
Người đàn ông bóp trán ra chiều suy nghĩ. Mãi sau ông ta mới hạ thấp giọng:
“Nhắc đến cái chuyến đi ấy, cho đến bây giờ, thỉnh thoảng chợt nghĩ lại, anh vẫn còn cảm thấy rùng mình, ớn lạnh. Gần ba tuần lễ, thì kể như mất mười ngày không có lương thực và nước uống. Chiếc ghe bị hư máy, thả trôi trên giòng nước, cũng giống như con diều bị đứt giây. Bao nhiêu tàu bè chạy ngang qua như mắc cửi mà chẳng có chiếc nào chịu vớt. Mọi người trên ghe la riết đến khan cả cuống họng. La chán rồi chẳng còn ai thiết tha gì đến vụ kêu cứu nữa! Mà có còn hơi sức nữa đâu mà kêu! Ai nấy đều rũ ra, mềm nhũn, nằm thiêm thiếp, bất động trông y hệt như những cái xác không hồn. Thế mới biết cơn đói nó hoành hành, đầy đọa, dày vò thể xác con người ta đến chừng nào. Nếu không có cơn bão thì bọn anh cũng chẳng có cơ hội đặt chân lên chiếc tàu buôn của người Đức. Anh vẫn còn nhớ, lúc ấy vào khoảng năm giờ chiều của ngày thứ mười tám. Chỉ cần chậm trễ thêm vài ba tiếng đồng hồ nữa, thì toàn thể năm mươi mấy người, kể cả nam lẫn nữ cùng trẻ em đều trở thành miếng mồi ngon cho cá biển.”
“Sao cơn bão đến nhanh quá anh nhỉ!”
“Nhanh đến nỗi mà anh không thể nào ngờ được! Cơn giông bão ồ ạt kéo đến thật dữ dằn, thật khủng khiếp, thì thử hỏi: Đêm hôm đó làm sao mà tụi anh có thể chống đỡ nổi!”
Người đàn bà nheo mắt, nhún vai tỏ vẻ sợ hãi:
“Eo ơi! Cũng may anh nhỉ!”
Người đàn ông không nói, chăm chú, dán mắt nhìn vào khoảng trống vô nghĩa trước mặt.
“Thế chuyến đó có bị mất mát người nào không anh!”
“Có! Rất may là chỉ có một người. Hắn ta còn rất trẻ. Độ chừng hai mươi hai hoặc hai mươi ba tuổi là cùng. Gương mặt hắn lúc nào cũng tỏ ra lầm lì, ít nói. Nguyên nhân dẫn đến cái chết nói trên, cũng chỉ vì quá tuyệt vọng, khiến cho hắn ta bị khủng hoảng, quẫn trí, rồi đâm ra liều lĩnh, ôm cái can bằng ni lông, nhảy xuống biển với hy vọng sẽ được tàu vớt. Nhưng anh tin chắc rằng, sớm muộn gì rồi hắn ta cũng sẽ chết. Hắn chết đi là cả một đề tài nóng bỏng, khiến cho ai nấy đều bàn tán xôn xao và cho rằng: Nhờ hắn ta linh thiêng, phù trợ nên mọi người mới được cứu thoát.”
“Cũng có thể lắm chứ anh!”
Người đàn ông trầm ngâm lúc lâu mới lên tiếng:
“Ở đời đâu có ai biết được chữ ngờ hở em! Ngay như anh em mình cũng vậy. Có khi nào mà chúng ta nghĩ đến ngày hội ngộ hôm nay. Trước đây, tâm trạng của những kẻ bỏ nước ra đi, chẳng khi nào nghĩ rằng, rồi sẽ có một ngày trở về thăm lại quê hương. Nghĩ lại thật có nhiều chuyện buồn cười. Như mấy ông Cộng Sản cũng thế. Sau năm bảy mươi lăm, mấy ông ấy cứ gay gắt lên án, kết tội nặng nề đế quốc Mỹ, thì bây giờ lại tỏ ra ve vãn, chào đón giống như một thượng khách. Còn mấy ông tướng, ông tá trước đây thuộc loại ăn trên ngồi chóc ở miền Nam, hớt hải bỏ cả đơn vị, bỏ cả binh sĩ thuộc quyền, chạy bán sống, bán chết sang bên đây, còn tỏ ra huênh hoang, khoe khoang về thành tích chiến đấu của mình trước kia. Có ông còn hăng say, hô hào đấu tranh để quang phục quê hương. Thế mới lạ chứ.”
Như chợt nhớ ra điều gì, ông ta cất cao giọng:
“À! Còn Thoại, chồng em. Anh nghe nói, hình như nó chẳng còn người nào thân thích. Phải không em! Như vậy thì đâu có ai tới lui thăm viếng, chăm sóc cũng như lo việc hương khói cho nó.”
Người đàn bà ngước lên:
“Ngoài em ra, chứ còn ai vào đấy nữa hở anh!”
“Anh cứ tưởng, thể nào em cũng bước thêm bước nữa! Vả lại, Thoại mất cũng khá lâu. Trong khi đó, em còn quá trẻ, lại còn có nhan sắc, thì làm sao mà có thể ở vậy suốt đời được!”
Người đàn bà mỉm cười, ra chiều đắc ý:
“Ấy thế mà em vẫn chỉ có một mình, chứ đâu có hai ba mình gì đâu!”
“Kể cũng lạ thật! Bây giờ em sang đây thì lấy ai ra mà lo cái công việc ấy!”
“Thì cũng đành vậy thôi! Trước khi đi em có nhờ vài người bạn thân, thỉnh thoảng nhớ ra thắp nhang và dọn dẹp dùm em. Em tính sau này làm lụng có tiền, em sẽ về thuê người ta bốc lên, đem thiêu rồi đưa vào chùa, có hương, có khói và tối sớm còn được nghe kinh kệ nữa. Như vậy vừa được ấm áp mà lại còn dễ siêu thoát hơn.”
“Em tính như vậy cũng phải.”
Im lặng. Không khí trong phòng chợt chìm xuống sự im lặng lạ thường. Thứ im lặng khô cứng, đặc quánh, giống như không khí trầm mặc của giáo đường vào buổi trưa đầu tuần hoang vắng. Bất chợt, anh liên tưởng đến ngôi mộ vắng chủ cô quạnh, hiu hắt. Ngôi mộ tẻ nhạt, lạnh lẽo gần như bị bỏ quên. Nghĩ đến đấy, tự nhiên anh thấy gợn nhăn lên nỗi xót xa, tê tái ở trong lòng.
“Hà sang đây lâu chưa!” Anh buột miệng.
“Mới đây thôi anh ạ.”
“Em thấy bên này ra sao!”
“Bên đây thì buồn là cái chắc. Nhưng ngược lại, đời sống thì sướng hơn ở Viêt Nam.”
“Anh nghe nói, đời sống ở bên đấy bây giờ cũng dễ thở lắm cơ mà. Chánh sách mở cửa của nhà nước đã đưa mức sống của người dân có phần cao hơn trước đây nhiều.”
Người đàn bà bật lên tiếng cười khẩy:
“Anh đừng có tin vào mấy ông này, anh Toàn ạ! Anh nên nhớ rằng: Tuyên truyền là cái ngón nghề của mấy ông ấy hay sao! Em thấy ở ngoài này vẫn còn nhiều người tỏ ra ngây thơ, tin vào những điều mà mấy ông ấy nói. Thế nào gọi là dễ thở! Thế nào gọi là khởi sắc! Dễ thở là đối với giới con ông cháu cha có thế lực kìa. Giới buôn bán hoặc có thân nhân ở nước ngoài cơ. Còn về phía dân nghèo thì vẫn tồi tệ như xưa. Anh thử tưởng tượng xem, đứa con gái mới mười bốn, mười lăm tuổi, không bà con thân thuộc, lạc lõng, trôi dạt từ miền Bắc vào Sài Gòn kiếm sống. Ở vào cái tuổi ấy, thì làm sao mà có đủ trí khôn, đủ bản lãnh để vượt qua mọi cạm bẫy của những tên ma cô, những đầu nậu thuộc các tổ chức buôn người đưa ra nước ngoài. Sau mấy năm gần đây, người miền Bắc đổ xô vào Sài Gòn lập nghiệp rất đông. Vì thế mà dân số tại thành phố này gia tăng rất nhanh. Còn mấy ông nhà nước thì chỉ biết hà hiếp, bóc lột, sống trên mồ hôi, xưong máu của kẻ khác. Nhiều người phải bán máu, bán con để mà sống. Anh thử hỏi: Cái xã hội như thế thì làm sao mà sống được! Tình trạng luân lý bị đảo lộn, suy đồi. Người ta bây giờ không còn ai nghĩ đến hai chữ nhân phẩm cũng như hai chữ sĩ diện nữa! Chung qui cũng chỉ vì đồng tiền, vì miếng ăn mà thôi.”
“Hiện giờ thì em đang sống ở đâu!”
“Tạm thời em đang ở với gia đình của đứa em gái dưới Pomona. Hôm nay vợ chồng nó đi chơi xa. Còn lại một mình buồn quá. Nhân tiện có chị bạn lại chơi, rủ em xuống đây đi ăn uống, rồi sau đó chui vào vũ trường nghe nhạc, không ngờ lại gặp anh ở trong đấy. Anh còn nhớ con Thu không! Con nhỏ mũm mĩm để tóc ngắn đấy. Nó vượt biên sang đây lâu lắm rồi. Chính nó đứng ra bảo lãnh cho em. Thoạt đầu, em cứ đắn đo, chần chờ mãi! Bởi vì như anh cũng biết, mọi chi phí từ vé máy bay cho đến bảo hiểm sức khỏe, nó đều phải đưa vai ra gánh chịu hết. Em trằn trọc. suy nghĩ suốt mấy đêm liền. Cuối cùng em mới chợt nghĩ lại: Nếu không đi thì sau này lấy ai ra mà nuôi mình! Năm mươi mấy tuổi đầu rồi còn gì nữa! Vả lại, em sống cô quạnh chỉ có một mình. Bây giờ ở tuổi này thì khả dĩ còn tự săn sóc cho mình được! Nhưng đến mai mốt thêm dăm ba tuổi nữa thì biết tính sao! Nghĩ đến đấy em mới giật mình, hoảng hốt rồi quyết định một cách dứt khoát là ra đi. Chỉ có ra đi là thượng sách. Chỉ có ra đi mới trút bỏ được những lam lũ, những khổ cực trong đời sống. Trong khi mình có cơ hội ở trong tay, thì tại sao lại không đi hở anh! Dù sao đi chăng nữa, đời sống trên đất Mỹ cũng sướng hơn ở Việt Nam gấp bội phần. Thiếu gì người muốn đi mà còn không được! Phải không anh!”
Người đàn ông di nhẹ gót chân xuống nền nhà.
“Trước đây anh cứ tưởng em có con với Thoại. Hóa ra em chẳng có đứa nào cả!”
Ngẫm nghĩ giây lát, Hà lên tiếng hỏi:
“Còn anh thì sao!”
“Anh vẫn vậy.”
“Không! Ý của em muốn hỏi về chị cùng các cháu.”
“À! Em muốn hỏi về chị Loan. Anh và chị ấy đã ly dị ngót sáu năm nay. Còn mấy đứa con thì đứa nào cũng lớn khôn hết cả rồi. Chúng nó đều lập gia đình và đã ra ở riêng hết. Ở Mỹ mà! Chúng nó có khi nào ở chung với mình đâu! Vì thế, tối sớm anh chỉ lủi thủi có một mình. Lâu lâu hoặc lễ lậy, chúng nó đáo ngang qua thăm bố vài ba tiếng đồng hồ rồi lại đi.”
“Kể ra thì cũng buồn anh nhỉ!”
“Riết rồi cũng thấy quen. Vả lại, đời sống cứ quay vù vù chẳng khác nào cái chong chóng, khiến cho mình nhiều lúc cũng chẳng có thì giờ để mà suy nghĩ.”
“Em thấy ngày xưa anh chị khắn khít với nhau lắm cơ mà.”
“Ngày xưa khác, còn bây giờ khác. Ngày xưa, đời sống bị đóng khung trong bối cảnh của xã hội Viêt Nam. Còn sang bên đây thì mọi thứ đều thay đổi. Người đàn bà bắt đầu đi làm và giao tế, hòa nhập với xã hội ở bên ngoài. Từ đó, sự suy nghĩ cùng cái nhìn có phần thay đổi, khác hơn. Chẳng riêng gì gia đình anh, mà phần đông các gia đình khác đều rơi vào cái tình trạng đó. Nhiều người đàn bà trước kia tỏ ra hiền hậu, nhưng sang đến bên đây thì tự nhiên đâm ra đổi tính, rồi sinh ra chuyện này, chuyện khác và cuối cùng thì đi tới quyết định là đường ai nấy đi. Xét cho cùng thì đời người ai nấy đều có số phần hết. Anh chẳng bao giờ tỏ ra thái độ trách cứ gì Loan cả! Tại cái số của mình như thế thì phải chịu vậy thôi, chứ biết nói sao bây giờ!”
“Từ ngày ấy đến giờ, có khi nào chị về thăm anh không!”
“Chẳng bao giờ! Ly dị xong thì họ cũng giống như con chim xổ lồng, bay đến một nơi thật xa, chứ đâu có còn thì giờ mà nghĩ đến chuyện thăm hỏi làm gì!”
Toàn nói xong, cất giọng cười ngất. Nụ cười chua chát, tiềm ẩn nỗi đắng cay, tê tái ở trong lòng. Hà ngước lên thành khẩn:
“Anh cho em xin lỗi. Vì quá tò mò nên nhắc đến chuyện buồn của anh. Mong anh bỏ qua cho em.”
Toàn xua tay, uể oải rời khỏi khung cửa rồi tiến lại ngồi xuống ở đầu ghế.
“Anh dùng tạm một ly cho khuây khỏa nhé!”
Toàn lấy giọng tự nhiên:
“Em cho anh một ly. Cả em nữa. Chúng ta mừng gặp lại.”
Bằng động tác thật khoan thai, Hà nâng chai rượu, nhẹ nhàng rót vào hai cái ly thủy tinh trong vắt rồi đẩy sang cho Toàn:
“Nào! Mời anh! Chúng ta mừng gặp lại nhau trên xứ người.”
Hai người nâng ly rượu lên môi rồi ngửa cổ uống cạn. Chờ cho hơi men thấm dần vào cơ thể, Toàn quay sang nhìn đăm đăm vào người Hà:
“Em vẫn còn đẹp như ngày nào.”
Hà hóm hỉnh:
“Anh dạo này lại biết nói đùa nữa cơ à! Già khú rồi còn gì nữa!”
“Già thì già! Nhưng nó vẫn có cái đẹp riêng của nó chứ.”
Bất giác, Toàn cất nhẹ lên tiếng thở dài:
“Chóng thật! Mới đấy mà bây giờ tất cả đều già hết cả rồi. Thế mới biết đời người chẳng khác nào cơn gió thoảng em nhỉ! Ngẫm cho kỹ lại thì mấy cụ mình ngày xưa nói chẳng sai tý nào.”
“Ngày xưa mấy cụ đều là nhà nho thâm trầm, uyên bác. Mà nhà nho nói ra chẳng khác nào như mũi gươm nhọn khắc hằn lên phiến đá. Nhắc đến mấy cụ là nhắc đến tấm gương sáng của người xưa để lại cho đời sau soi mặt. Nhiều lúc nhìn lại, mới thấy nuối tiếc cái tuổi thanh xuân. Em vẫn còn nhớ, dạo ấy anh đạo mạo lắm cơ mà! Đúng là nhà giáo có khác. Mẫu mực và nghiêm nghị. Mấy đứa nhỏ ở trong xóm học anh, chúng nó bảo anh khó lắm. Chúng nó còn nói, chẳng thấy khi nào anh cười! Anh có biết, chúng nó đặt cho anh cái danh hiệu gì không!”
Người đàn ông lắc đầu, Hà liến thoắng:
“Chúng nó bảo anh là thằng cha hắc ám.”
Nghĩ ngợi giây lát, nàng kể lể:
“Dạo ấy, em với Thoại mới bắt đầu yêu nhau. Yêu say mê. Yêu cuồng nhiệt anh ạ. Ngày nào mà tụi em chẳng gặp nhau. Ngày nào mà chẳng hẹn hò. Hẹn hò riết rồi chẳng biết nói gì với nhau. Ngôn ngữ của tình yêu nhiều khi nó trở thành ngớ ngẩn anh nhỉ! Anh không biết đâu! Mẹ em ngăn cấm em nhiều lắm đấy. Cấm mãi mà vẫn chẳng thấy có kết quả. Mẹ em liền đổi sang chiến thuật tình cảm. Bà tỏ ra mềm mỏng, dạy dỗ, khuyên bảo em đủ điều, mà em vẫn chẳng hề lay chuyển. Tức quá, bà bảo em là đứa con cứng đầu, không biết vâng lời cha mẹ. Bà còn gán ghép cho em cái tội bất hiếu nữa chứ! Em thấy mình chẳng có tội tình gì cả! Tính nhẩm, có đến cả năm, sáu đám, cậy nhờ người mai mối, đến dạm hỏi, nhưng em vẫn một mực khăng khăng chối từ. Trước thái độ kiên quyết đó, mẹ em lại càng tức điên lên: Người ta đều là con nhà nề nếp, gia giáo, hiền lành, tử tế mà mày vẫn một mực không chịu! Mày cứ nhất định lấy cho bằng được cái thằng Thoại. Coi cái mã ấy thì nó làm nên được cái tích sự gì, mà mày cứ mê nó như điếu đổ, hở cái con kia! Mẹ em đay nghiến em suốt từ ngày này sang ngày khác. Bà còn cấm đoán không cho tụi em gặp nhau! Cứ mỗi lần thấy anh ấy đi ngang qua nhà, thì y như mẹ em lại tỏ ra thái độ giận dữ, tức bực, biểu lộ qua các động tác mạnh bạo như đóng cửa hoặc la rầy con cái chẳng hạn. Ngày đó em đã nảy sinh ra ý định táo bạo, là bỏ nhà ra đi với Thoại. Em tính ra đi thời gian ngắn rồi mới trở về, coi như gạo đã nấu thành cơm, thì dù muốn dù không, buộc lòng mẹ em cũng phải chịu thôi. Nào ngờ, Thoại lại tỏ ra quá nhút nhát, không dám bỏ nhà ra đi với em. Anh ấy cứ bảo: Mình chẳng có cái nghề nào trong tay thì biết làm gì để mà sống! Bởi vì thế, mà ý định ấy bị dẹp bỏ. Em nghĩ nát óc mà vẫn chẳng tìm ra được giải pháp thỏa đáng nào khác. Mãi cho đến năm em thi rớt phần hai. Mẹ bắt em phải lấy một ông sĩ quan hành chánh quân y. Ông này phục vụ trong ngành quân y, chứ không phải là bác sĩ. Ông ta khá đẹp trai mà gia đình lại giàu có, ở mãi tận ngoài Nha Trang. Tính tình ông này tỏ ra rất lịch thiệp và hào phóng. Kể ra dạo đó mà lấy được ông chồng như thế thì tạm gọi là yên thân. Thời chiến mà có tấm chồng phục vụ tại đơn vị ở hậu tuyến thì kể như là người có diễm phúc. Nhưng em cứ một mực từ chối không chịu. Mẹ em hết mềm dẻo rồi lại trở sang cứng rắn. Có thể nói, lần này bà tỏ ra quyết liệt hơn. Nguyên nhân chính, cũng chỉ vì má ông này là bạn học của mẹ em trước kia. Mẹ em làm dữ lắm. Lúc nào bà cũng tỏ ra hằn học đối với em. Tình trạng căng thẳng ấy kéo dài mãi cho đến khi cô em có dịp từ Đà Lạt về chơi, biết chưyện, mới ngỏ lời khuyên giải me em. Theo lời đứa em gái em nghe lóm được, kể lại:
“ Chị làm riết khiến nó quẫn trí, rồi đâm ra dại dột, liều lĩnh quyên sinh thì chết. Chớ! Chị đừng có ép nó vào đường cùng thì nguy đấy. Con trai, con gái thời bây giờ thì khác với cái tuổi của chị em mình trước kia. Ngày xưa, bố mẹ đặt ở đâu, thì mình không được phép cưỡng lại, mà phải ngoan ngoãn ngồi ở vị trí đấy. Còn bây giờ thì không được đâu chị ạ! Chúng ta không thể áp dụng giống như ngày xưa được! Làm bố mẹ ngày hôm nay thì khó khăn gấp vạn lần so với ngày trước. Nó đòi hỏi bậc làm cha mẹ phải hiểu được tâm lý của con cái mình muốn gì! Tốt hơn hết, chị cứ để cho cháu có cái quyền tự do định đoạt. Trong thì nó nhờ, mà đục thì nó ráng chịu. Ngộ nhỡ sau này, nếu có chuyện gì xảy ra, thì nó cũng chẳng có lý do gì để oán trách mình được! Cô em nói nhiều lắm, nên mẹ em mới xiêu lòng, chứ không thì bà cứ ghìm em mãi. Hôm đám cưới tụi em, bà vẫn tỏ ra vui vẻ với tất cả mọi người ở chung quanh, nhưng nếu nhìn kỹ trên sắc diện của mẹ em, thì sẽ thấy bà không mấy gì được vui cho lắm! Em biết, mẹ em không ưa gì anh Thoại! Anh ấy chỉ là một anh công chức quèn. Học hành thì xoàng xĩnh chẳng đi tới đâu, mà gia đình thì lại không lấy gì gọi là khá giả cho lắm. Đấy chính là hai yếu tố then chốt khiến cho mẹ em không được hài lòng. Rốt cuộc rồi cũng xong. Tụi em chung sống với nhau tròn trĩnh vừa đúng năm năm, mà chẳng có đứa con nào ra đời. Rồi, đột nhiên Thoại ngã bệnh và ra đi. Em buồn quá, chẳng khác nào như một kẻ chán đời. Mà chán thật chứ anh! Nhiều người cứ tưởng rằng, dần dà rồi thời gian sẽ nguôi ngoai và thể nào em cũng bước thêm bước nữa! Nhưng, thật tình không ngờ anh ạ! Đến ngay mẹ em cũng phải sốt ruột kêu lên: Mày tính ở vậy cho đến mãn đời hay sao, hở Hà! Em chẳng nói gì cả! Tự nhiên em cảm thấy dửng dưng, chẳng còn tha thiết hoặc ham muốn gì nữa! Mặc dù dạo ấy cũng có khối ông theo đuổi, săn đón em. Nhưng trước cử chỉ cùng thái độ lạnh nhạt của chính em, khiến họ cũng đâm ra chán nản rồi từ từ dãn xa dần. Em chẳng hiểu tại sao cả! Ngay chính em cũng chẳng hiểu nổi về con người thật của em! Có thể, theo như anh nói, đời người ai nấy đều có số cả. Căn cứ theo như lời me em thuật lại, thì hồi em còn nhỏ, có ông thày tướng số coi cho em. Ông ấy bảo: Số con bé này lớn lên sẽ đội tang chồng ở cái tuổi thanh xuân, và càng về già thì cô quạnh chỉ có một mình. Em nghiệm lại thì quả thật thấy đúng một phần rồi đấy anh!”
“Thế em có tính gì không!”
“Em mới sang đây, nên đường xá còn mù tịt, mà xe cộ thì lại chưa biết lái. Em chỉ mong rằng, sau khi lấy được cái bằng lái xe, tạm thời, ban ngày em ra shop may làm để lấy tiền chi dụng cho hàng tháng. Còn ban đêm, em sẽ cố gắng đi học thêm về Anh ngữ để chuẩn bị cho bước đường kế tiếp, đó là giai đoạn học nghề. Em nhất quyết phải học thêm cái nghề để tự nuôi sống lấy bản thân mình. Anh thấy em tính như vậy có được không! Chứ con bạn em thì nó cứ dục: Mày nên học cái nghề nail đi, để sau khi có được cái licence ở trong tay, tao với mày sẽ bay sang tiểu bang khác để làm ăn. Nó còn nói: Mình phải ráng chịu khó thêm vài ba năm nữa, để kiếm số vốn khả dĩ rồi hãy quay trở lại đây, chuyển sang nghề khác để làm ăn.”
“Bước đầu thì ai nấy cũng vậy. Nhưng dần dà rồi cũng sẽ qua đi. Bên đây thì đời sống khác hẳn với quê nhà. Vì thế, nó đòi hỏi mình phải có sự kiên trì ở trong đấy.”
Bên ngoài, gió bắt đầu thổi mạnh hơn. Dự báo thời tiết ngày hôm qua cho biết đêm nay sẽ có bão lớn. Tiếng gió rít xoáy lên từng cơn, quật mạnh trên các tàng cây ngoài hiên nhà, kéo theo những ánh chớp dồn dập lóe lên tận ngoài xa, như báo hiệu cơn mưa sắp kéo đến. Toàn lẩm bẩm:
“Trời sắp mưa rồi.”
Dáo dác nhìn chung quanh, Hà bỗng kêu lên:
“Ấy chết! Gần ba giờ sáng rồi đấy anh!”
Toàn ôn tồn:
“Thôi! Đi ngủ đi em. Khuya lắm rồi. Mải nói chuyện nên chẳng để ý gì đến giờ giấc. Sáng mai, anh đưa em đi ăn, rồi đến chiều anh sẽ chở em về dưới đó.”
“Em làm phiền anh nhiều quá.”
“Có gì đâu mà phiền! Chỗ anh em với nhau mà!”
Ngừng lại vài giây, anh dơ tay chỉ vào phía trong:
“Em vào phòng anh mà ngủ. Trong ấy có đầy đủ hết. Có rest room và bàn chải đánh răng cùng mấy bộ đồ ngủ còn mới toanh, chưa ai đụng tới. Em cứ tự nhiên coi như ở nhà. Đừng có ngần ngại gì cả.”
“Anh để cho em nằm ở ngoài này cũng được.”
“Em là đàn bà, con gái, đâu có thể để nằm ở ngoài này được! Nhỡ mai mốt vợ chồng Thu biết chuyện, rồi tụi nó sẽ đánh giá thế nào về con người của anh! Thôi! Vào trong ấy ngủ dùm tôi đi cô.”
Hà liếc mắt nhìn sang Toàn khẽ mỉm cười, rồi từ từ đứng dạy, khoan thai tiến dần vào phía trong. Tới cửa phòng, nàng còn ngoái lại:
“Gớm! Bao nhiêu năm không gặp, anh bây giờ cũng ghê đáo để.”
Chờ cho Hà vào đến tận bên trong và cánh cửa phòng ngủ tư từ khép lại, Toàn rướn người, vươn tay bấm nhẹ vào cái công tắc điện gắn ở gần đấy. Ánh sáng chợt phụt tắt và bóng tối bắt đầu ngự trị, lên ngôi. Anh lưỡng lự giây lát rồi ngả lưng nằm xuống. Có tiếng sấm đì đùng, gầm thét ở đằng xa và cơn mưa bắt đầu ào ạt kéo đến như muốn cuốn phăng đi mọi rác rưởi, bụi bặm, phiền toái ở tại đời sống này. Toàn đặt nhẹ tay lên trán, miên man nghĩ về thân phận, về cuộc đời. Cuộc đời chẳng khác nào giấc chiêm bao, là cơn gió thoảng, là bóng chim vụt qua khung cửa, để rồi vào buổi hoàng hôn nào đó, đột ngột xuôi tay, giã từ khỏi đời sống phù phiếm này, bước sang cái thế giới của hư vô, đi về với cát bụi. Nghĩ đến đấy, tự nhiên anh cảm thấy ngán ngẫm, buồn tê tái.
Chán nản, anh uể oải, xoay người, quay mặt vào thành ghế, lim dim đôi mắt tìm giấc ngủ./.
 
Trang Luân

Lối Xưa Tìm Về - Trang Luân

Hiền thật không ngờ, anh lại dám ra đây một mình!”
“Có gì đâu mà không dám!”
Người đàn bà trạc ngoài năm mươi, có mái tóc ngả màu cùng gương mặt tái nhợt quay sang giải thích:
“Em thấy Việt kiều về nước, đi đâu cũng đều có người nhà sát cánh ngay bên cạnh, chứ đừng nói tới chuyện đi xa như anh! Riêng có anh thì ngoại lệ. Dầu sao anh cũng nên cẩn thận thì hay hơn. Đi xa anh nên bảo Hòa hoặc ai nấy tháp tùng với anh cho an toàn. Anh đừng tưởng người ta không biết đâu! Người ta tinh lắm đấy. Nhất là màu da cùng cách xử dụng tiền bạc. Vả lại, anh cũng chẳng cần ra đây làm gì! Cứ gọi điện thoại cho em thì được rồi.”
“Chủ ý của anh là muốn ra thăm em. Mấy chục năm rồi còn gì nữa! Dù sao thì anh cũng có lỗi với em rất nhiều.”
 
Người đàn bà xua tay lia lịa:
“Dĩ vãng qua rồi. Anh còn nhắc lại làm gì cho thêm buồn!”
“Hiền nói vậy! Nhưng lúc nào anh cũng cảm thấy lương tâm mình bị dày vò, ray rứt.”
“Tại sao anh cứ bận tâm về cái chuyện đó mãi để làm chi! Chúng ta bây giờ ai cũng ngoài năm mươi cả rồi. Đầu óc đâu có còn minh mẫn như thuở nào! Chân tay càng ngày càng trở nên uể oải, chậm chạp, còn mái tóc thì ngả màu, bạc phếch theo thời gian. Chắc chẳng còn bao lâu nữa rồi cũng sẽ lần lượt đi về.”
“Anh hiểu! Nhưng cuộc đời Hiền trải qua quá nhiều cay nghiệt. Nó chẳng khác nào như con suối cạn nằm trong thời kỳ hạn hán. Vì vậy, cứ mỗi lần hồi tưởng về dĩ vãng, về Hiền, thì y như anh lại cảm thấy xót xa, ngậm ngùi ở trong lòng. Anh hiểu chứ! Hiền yêu anh. Hiền đã âm thầm chờ anh suốt mấy năm liền. Mấy năm ấy anh chẳng hề hay biết gì cả. Cuối cùng, em mới quyết định lên xe để về nhà chồng. Thật ra thì anh hoàn toàn có lỗi. Nhưng có điều khiến cho anh phân vân, thăc mắc mãi, là tại sao lúc bấy giờ em cứ một mực giữ nguyên thái độ im lặng! Ít nhất em cũng nên cho anh biết về ý định của gia đình. Mãi cho đến sau này, khi anh bước chân vào quân đội, trôi dạt về đơn vị của anh Đại, nhân trong một chuyến hành quân tại vùng Mỹ Chánh, thuộc quận Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, anh mới biết được cái tin ấy đến thật quá đột ngột, quá bất ngờ, khiến cho anh cảm thấy sững sờ, rụng rời cả tay chân. Anh vẫn còn nhớ và nhớ rất rõ tất cả từng chi tiết:
Hôm ấy, vào buổi chiều tháng chạp. Một buổi chiều âm u cuối năm. Buổi chiều với những cơn gió bấc lạnh lẽo, ồ ạt, ngỗ nghịch thổi về. Sau khi thanh toán xong cái mục tiêu hóc búa, gai góc, nằm chót vót ngay trên ngọn đồi cao ngất, hiểm hóc. Cái ngọn đồi quái ác đó, đơn vị anh đã phải đổi lấy một cái giá quá đắt, mười người lính hy sinh, đền nợ nước. Còn hai mươi người khác bị thương, đổ máu, mới chiếm được cái ngọn đồi nói trên. Suốt cả ngày hôm ấy, ròng rã từ tám giờ sáng cho đến năm giờ chiều, bọn anh phải vất vả, dằng co, quần thảo với địch quân, đếm từng tấc đất một. Trong khi địch quân có lợi thế hơn mình rất nhiều. Địch ở trên cao, mà lại có hầm hố kỹ càng. Còn mình thì ở dưới thấp bò lên. Nói dại, nếu không có những phi tuần bom của không quân yểm trợ hữu hiệu, chính xác thì bọn anh khó có thể nào mà chiếm được. Tối hôm ấy, đơn vị anh được lệnh dừng chân, đóng quân ngay trên mục tiêu mà bọn anh vừa mới chế ngự được. Giữa lúc anh đang bận rộn, loay hoay với công tác phòng thủ, thì Đại bất thần từ trên đi xuống, tiến thẳng đến tận chổ anh đang đứng. Chờ cho anh phân chia, cắt đặt công tác xong xuôi đâu vào đấy. Đại lên tiếng dặn anh:
“Anh nên cẩn thận tối đa về ban đêm. Nhất là từ khoảng một giờ cho đến ba giờ sáng, anh nhớ chịu khó thức dạy, đi một vòng để nghe ngóng động tịnh, đồng thời kiểm soát luôn mấy vọng gác. Địch ở đây ghê lắm! Chúng nó thường khai thác tối đa về những sơ hở của ta. Theo kinh nghiệm cho tôi biết, thì chúng hay mở các đợt tấn công bất thần vào những giờ giấc kể trên.”
Anh lẳng lặng không nói. Đại chỉ cho anh thấy từng giải núi ở phía xa. Từng ngôi làng quạnh quẽ, nghèo nàn, xơ xác. Từng hàng dừa ngả nghiêng, cháy nám vì chiến cuộc. Anh cho biết, tất cả những nơi đó đều có dấu chân anh in hằn ở trên đấy. Ngừng lại vài giây, Đại quay sang hỏi:
“ Thế nào, anh đã thấy quen chưa!”
Anh thành thật trả lời:
“ Mới đấy thì làm sao mà có thể quen được hở, thẩm quyền! Ít nhất cũng phải mất vài ba tháng nữa, chứ bây giờ thì vẫn còn bỡ ngỡ như cô dâu mới về nhà chồng. Thẩm quyền cũng thấy đấy, chúng tôi trước kia đã quen với lối sống buông thả ngoài dân sự. Rồi, đùng một cái, có lệnh gọi nhập ngũ, lếch thếch bước vào quân trường, thụ huấn chẳng bao lâu. Mãn khóa với số vốn liếng ít ỏi, rồi quăng thẳng ra chiến trường sôi đọng chẳng chút do dự, thương tiếc, thì thử hỏi, làm sao mà chúng tôi không bị luống cuống, hoảng hốt! Chẳng nói dấu gì thẩm quyền, ngay trong lần chạm địch đầu tiên, thú thật, tôi hết sức là lúng túng và nao núng. Cũng mong thẩm quyền hướng dẫn thêm về những kinh nghiệm mà thẩm quyền đã đi qua. Dầu sao đi chăng nữa, thì thẩm quyền cũng là người đi trước, là cấp chỉ huy đã dày dạn với những sóng gió, nóng bỏng của chiến trường.”
Đại an ủi:
“Từ từ rồi anh sẽ quen. Chỉ có chiến trường mới dạy mình, thế nào là bài học xương máu! Có một điều mà lúc nào anh cũng phải ghi nhớ ở trong đầu, là chớ đừng bao giờ khinh địch! Khinh địch thì chỉ có con đường chết. Phải biết người biết ta mới được. Đấy là câu châm ngôn mà từ cổ chí kim, ai nấy cũng đều phải học thuộc lòng như cháo chảy.”
Ném tầm mắt nhìn ra xa, Đại cho biết, anh đang chuẩn bị lập gia đình. Người vợ sắp cưới của anh là người Bắc. Cô ta còn rất trẻ, là xướng ngôn viên của đài phát thanh, là người có giọng đọc hấp dẫn trong các bản tin tức chiến sự hằng ngày. Anh chớp nhẹ đôi mắt, giọng anh trở nên nhẹ nhàng, mơ màng:
“ Tôi mới chỉ gặp cô ấy được hai lần. Cô ta là người mà chị tôi chấm cho tôi đấy. Chị tôi cứ khen, cô ấy là người mẫu mực, hoạt bát.
“Muốn chọn vợ cho cậu thì phải tìm người đàng hoàng, tử tế, chứ cứ vơ càn vào, thì chẳng khác nào khoác cái gông lên cổ cậu suốt đời.”
Chị tôi vẫn thường nói với tôi như vậy. Vì thế, chị tôi chọn người cho tôi rất kỹ. Tôi cũng chẳng dấu diếm gì anh, tôi chỉ có hai chị em. Cha mẹ tôi mất sớm kể từ khi tôi còn nhỏ. Tôi lớn lên trong vòng tay cưu mang, đùm bọc của chị tôi. Chị tôi lớn hơn tôi tám tuổi. Bà tảo tần, xuôi ngược, nuôi nấng cho tôi ăn học, đỗ đạt, rồi đi vào võ bị. Nói xong, Đại rút ra tấm hình nhỏ bé, xinh xắn, rồi đưa sang cho anh. Thú thật là anh không thể nào ngờ được! Tấm hình ấy khiến cho anh choáng váng, xây xẩm cả đầu óc! Tấm hình ấy đập vào mắt anh với mái tóc óng ả, mượt mà thả xuống ngang vai. Tấm hình ấy chẳng ai xa lạ, mà là chính em! Mà tại sao lại là chính em! Anh phân vân, thắc mắc rồi tự hỏi: Tại sao đời anh lại oái oăm, nghiệt ngã, éo le đến như vậy! Tại sao! Tại sao! Và tại sao! Bao nhiêu câu hỏi cứ dồn dập hiện ra chất vấn ở tâm tư anh! Anh cố mở to đôi mắt, nhìn lại thêm một lần nữa! Vẫn vẻ mặt quen thuộc cùng nụ cười hồn nhiên nở trên môi. Vẫn cái khổ hình bán thân, trắng đen, cũ kỹ của sáu năm về trước, mà em đã trao tận tay cho anh một cách thật trang trọng, kèm theo mấy hàng chữ mềm mại, nắn nót, bộc lộ niềm yêu thương nồng nàn, chất chứa ở trong đấy. Tấm hình ấy đã gắn bó, gần gũi với anh suốt cả hằng bao nhiêu năm trời. Nó chẳng khác nào như món hành trang cao quí nhất, theo sát anh trên các chặng đường hành quân diệu vợi. Đêm hôm ấy, anh không tài nào giỗ được giấc ngủ! Trong căn lều vải, anh cứ trằn trọc, thao thức, suy nghĩ miên man về tình yêu, về cuộc đời, ngổn ngang với nỗi xót xa, dày vò, tê buốt, chất ngất ở tâm não.”
Hiền buông mắt nhìn ra xa:
“Anh nhớ kỹ lại xem! Dạo ấy đến cả mấy năm trời, em vẫn chẳng nhận được lá thư nào của anh gửi về. Hơn nữa, em lại là phận con gái. Chung qui cũng tại cái số của em như vậy. Em chẳng trách cứ gì anh cả. Thôi! Bỏ qua chuyện đó đi anh.”
Hiền dơ tay quơ mạnh vào khoảng không, ngước sang đổi giọng trầm xuống:
“Từ nãy đến giờ mải nói chuyện, em quên khuấy không hỏi thăm chị cùng các cháu ở bên đấy có khỏe không anh!”
“Cảm ơn Hiền! Nhà tôi cùng hai cháu vẫn bình thường. Bên Mỹ thì đời sống khác hẳn với bên này. Cuộc sống lúc nào cũng tất bật, hấp tấp.”
“Em hiểu! Nhiều người bạn về thăm gia đình, vẫn thường nói với em về chuyện đấy. Ráng đi anh. Bây giờ chúng ta ai nấy cũng đều có phận riêng hết cả rồi. Em mong anh đừng suy nghĩ gì cả! Hãy quên đi anh! Từ nay anh đừng gửi tiền về cho em nữa! Em ở bên này cuộc sống cũng tương đối, không đến nỗi gì eo hẹp cho lắm. Anh cứ gửi về càng khiến cho em áy náy thêm. Ngộ nhỡ chị biết được, thì lại gây ra nhiều điều rắc rối, phiền phức, đồng thời tạo ra cảnh xào xáo, bất hòa cho gia đình. Em không muốn vì em mà gia đình anh mất êm ấm. Đừng gửi nữa, nghe anh! Chúng ta nhớ đến nhau là đủ rồi. Hằng đêm, em vẫn không quên cầu nguyện cho anh cùng gia đình được mọi điều an lành và tốt đẹp.”
“Cảm ơn Hiền.”
Hai người đi dọc theo bãi biển về chiều vắng lặng. Mưa lất phất bắt đầu điểm hạt. Trên cao, bầu trời xám xịt như trĩu xuống. Tiếng sóng vẫn nhịp nhàng vỗ nhẹ vào bờ, tạo thành chuỗi thanh âm êm đềm và liên tục. Thịnh lắng nghe chuỗi âm thanh bất tận của biển. Chuỗi âm thanh đưa anh trôi dạt về dĩ vãng thật xa lắm. Dĩ vãng về thời còn trai trẻ. Dĩ vãng về những năm tháng khói lửa chiến tranh, trên mảnh đất nhuc nhằn, cằn cỗi này. Về đời lính. Về những chuyến trực thăng chở anh cùng đồng đội xuống các vùng đèo Nhông, Mỹ Thọ, Vạn Ninh, An Lão, Phù Cũ. Về Đại, người đàn ông có nước da ngăm đen. Người đàn ông ấy đã hiến cả đời mình cho binh nghiệp. Đã có lần Đại tâm sự với anh:
“Tôi yêu đời lính ngay từ ngày còn ngồi ở ghế học đường. Lớn lên, tôi chọn binh nghiệp là hướng đi chính cho đời mình.”
Anh mơ muốn trở thành một danh tướng, nhưng giấc mơ ấy đã chìm theo sương khói của hư không. Anh đã ngã xuống và máu anh đã rướm ra, thấm luồn vào mạch đất tại vùng Lạc Sơn hẻo lánh, bởi viên đạn nghiệt ngã, lạc lõng, vô tình. Hạnh phúc ngà ngọc chỉ đến với anh trong vòng mười lăm ngày ngắn ngủi. Mười lăm ngày trăng mật đi qua rồi kết thúc. Người vợ trẻ bước lên thang phi cơ ngày hôm trước, thì hôm sau cũng là ngày anh guc ngã, xuôi tay, giã từ khỏi đời sống này.
“Anh đang nghĩ gì vậy!”
Thịnh nhún vai điềm nhiên:
“Anh đang nghĩ về Đại. Anh ấy thật bất hạnh.”
“Anh ấy hiền. Tội nghiệp. Em chỉ ghét bà chị anh ấy. Bà ấy bảo: Hôm đám cưới, tại em mặc chiếc áo màu vàng xui xẻo nên em bà ấy mới mất. Ngay sau khi nhận được tin sét đánh ngang tai, em liền vội vàng mua vé bay vào Qui Nhơn nhận xác anh ấy đưa về đến Đà Nẵng. Bà ấy cứ lăn lộn ra nhà, rồi rủa em là đồ sát phu. Thú thật với anh, lúc ấy em xấu hổ vô cùng. Có đến gần ba tuần lễ, em chẳng dám ló mặt ra đường. Suy đi nghĩ lại cũng tại mẹ em hết. Mẹ cứ bắt em phải lấy anh ấy. Ngày nào bà cũng tụng. Nào, nó là thằng hiền lành, chẳng biết cờ bạc, rượu chè, trai gái hoặc hút sách. Vậy là phúc bảy mươi đời rồi còn gì nữa! Mày còn chờ ai nữa bây giờ! Chờ cái thằng Thịnh à! Ai như cái thằng ấy. Mà biết chờ nó đến chừng nào! Nó cứ im hơi, lặng tiếng, chẳng thấy đá động gì cả! Vô lý mình phải lên tiếng trước. Thật ra, lúc ấy em giận anh hết sức. Tức quá, em đành xuôi tay, bằng lòng cho mẹ em vui.”
Thịnh trầm ngâm, suy tư. Anh thò tay vào túi quần, lấy ra bao thuốc, rút một điếu cài lên môi, rồi bằng động tác thật khoan thai, bật hộp quẹt châm lửa:
“Hiền cho anh xin lỗi.”
“Thôi! Bỏ đi anh.”
Ngẫm nghĩ giây lát. Nàng hỏi:
“Anh còn nhớ chỗ này không anh?”
Thịnh chau mày suy nghĩ. Cuối cùng anh lắc đầu:
“Anh chịu.”
Hiền chỉ tay về hướng trước mặt:
“Đấy chính là chỗ mà bốn mươi sáu năm về trước, mình bước lên bờ trong chuyến tàu chở mình từ Bắc vào Nam.”
Thịnh mở to đôi mắt. Anh nhớ ra rồi. Dạo ấy phượng còn đỏ rực trên bờ em nhỉ? Nghĩ đến chuyến tàu ấy lại khiến cho anh liên tưởng đến những ngày nằm chờ tại thôn xóm nghèo nàn ở Kiến An. Đến đoàn xe nhà binh chở đầy ắp người, đậu dài trên bến cảng Hải Phòng, chờ đợi sắp xếp xuống tàu. Rồi con tàu chở cả tiểu đoàn công binh, mà trong đó có bố anh, bố em cùng gia đình nằm ngổn ngang, la liệt ở trên đấy. Anh vẫn còn nhớ mãi, đến gần sáu giờ chiều, con tàu mới nhổ neo, giã từ Hải Phòng, âm thầm rẽ sóng ra khơi, rồi cứ thế, lênh đênh, ròng rã suốt cả mấy ngày trời trên biển. Mấy ngày trời ủ rũ, say sóng mệt nhừ. Tàu cặp bến vào buổi chiều le lói, vàng úa. Tấm cửa sắt to lớn, chắc nịch được mở ra và đoàn người ảo não, lục tục, lếch thếch bước lên bờ, ngỡ ngàng trước thành phố xa lạ. Lúc ấy, tự nhiên anh chạnh lòng thấy nhớ Hà Nội. Nhớ gò Đống Đa. Nhớ từng toa tàu điện. Nhớ đến năm cửa ô. Nhớ đến bọn thằng Thái, thằng Lực, thằng Luyến. Nhớ đến những đêm trăng rằm vằng vặc. Những lần tập trận giả cùng các trái sấu chua nhăn mặt, chứa chất, tiềm tàng nhiều kỷ niệm khó quên ở nơi đấy. Thịnh lẩm bẩm:
“Mới đấy mà thoắt chốc đã bốn mươi mấy năm trời. Thế mới biết đời người trôi qua nhanh thật.”
Hiền tiếp lời anh:
Nhanh! Chứ sao không nhanh! Anh tính thử lại xem. Ngày ấy anh lên mười, còn em thì lên chín. Bây giờ nhìn lại thì ai nấy cũng ngoài năm mươi hết cả rồi. Chẳng mấy chốc…”
Hiền bỏ lửng câu nói tại đấy. Lát sau nàng mới thỏ thẻ:
“Anh về kỳ này có chuyện gì không anh! Nếu em nhớ không lầm thì cách đây hơn ba năm anh có về một lần rồi. Lần ấy Hòa có gọi điện thoại báo tin cho em hay.”
Thịnh cất giọng buồn buồn:
“Anh về là để lo đám tang cho bố anh.”
Hiền trơn mắt:
“Bác trai mất rồi hở anh? Sao chẳng thấy anh báo tin cho em biết gì cả!”
“Tại em ở xa quá, anh thấy không tiện.”
Hiền trách:
“Anh tệ thật. Thế anh Nguyện có về không anh!”
“Có! Rất may là ba đứa con trai đều có mặt đầy đủ.”
“Chắc đám tang bác trai lớn lắm anh nhỉ?”
“Cũng bình thường, giản dị như mọi đám tang khác thôi Hiền ạ.”
Bất giác Hiền chép miệng thở dài:
“Tội nghiệp cho bố mẹ em. Đám tang thật thảm não và lạnh lẽo hơn bất cứ đám tang nào khác. Sau năm bảy mươi lăm, trong hai năm liền, em phải chịu tới hai cái tang liên tiếp. Đấy! Anh cũng biết. Gia đình em đơn thân độc mã sống ở ngoài này, chẳng có bà con thân thuộc nào cả. Khổ nỗi, là ngày ấy em lại chưa tục huyền với nhà em bây giờ! Hơn nữa, trong nhà chỉ có mình em là con gái, mà lại là đứa con độc nhất trong gia đình. Tâm trạng em lúc bấy giờ rối bời như tơ vò, nát ra từng mảnh vụn. Cũng may, là nhà em ở xóm ấy lâu năm và được lòng với tất cả mọi người ở chung quanh, nên người ta cũng thương tình! Chứ kể như mình em thì chỉ có chết mất. Nhiều khi ngồi một mình ngẫm nghĩ lại, em thấy thương bố mẹ em vô ngần. Lắm lúc, em đột nhiên nảy sinh ra ý tưởng thật ngộ nghĩnh, ước gì mình được nhỏ lại như hồi còn đi học. Chuỗi ngày ấy chúng mình thật hồn nhiên anh nhỉ? Lớn lên, em thấy, sao mà cuộc đời khổ quá hở anh? À! Anh còn nhớ Hội An không anh! Hội An có ngôi chùa cầu tối om về ban đêm. Ngôi chùa ấy mỗi khi mình đi chơi khuya về đều bảo nhau ù té chạy. Đấy là khu phố nhỏ thứ nhì mà mình đặt chân đến, kể từ khi bước chân xuống con tàu giã từ quê hương miền Bắc. Cứ mỗi lần có dịp xuống dưới đấy, em lại tạt qua ngôi trường Bồ Đề mà anh từng ngồi ở năm lớp nhất, còn em thì gắn bó với nó đến hai năm liền. Ngôi trường tiểu học ấy đã gây cho em nhiều nỗi bồi hồi, xao xuyến. Anh thi tiểu học ở trường Nam, phải không anh! Năm ấy anh đậu. Còn năm sau, em rớt, mẹ em la cho một trận nên thân. Em cũng không quên ghé ngang qua khu gia binh mà mình đã sống ở đó ngót hai năm trời. Nơi ấy hầu như thay đổi hoàn toàn. Mỗi lần trở về, em lại liên tưởng đến các trò chơi nhẩy dây, bịt mắt bắt dê vào các đêm tối trời oi bức. Dạo ấy mình chẳng thấy buồn là gì anh nhỉ? Chỉ có giận hờn rồi sau đó lại làm hòa với nhau. Anh lại hay có cái tật phá đám tụi em. Mỗi lần như thế, em thường chạy đi mách bác trai. Em biết, bác trai thương em lắm. Bác thường hay xoa đầu và gọi đùa em là con dâu quí. Buồn nhất là khi đơn vị phân tán đi mỗi người mỗi ngả. Gia đình anh thì dọn ra ngoài Huế. Còn bố em thì thuyên chuyển về Đà Nẵng. Tuy cách nhau ngọn đèo Hải Vân, nhưng chẳng xót năm nào mà bác trai không ra thăm bố mẹ em vài ba lần. Hễ ra, thì y như thể nào mẹ em cũng bày ra chắn hoặc tổ tôm. Em còn nhớ, lần đầu tiên anh đi với bác ra nhà em. Mẹ bắt em phải ăn mặc đàng hoàng, gọn ghẽ.
“Con gái phải đỏm đáng đôi chút. Phải biết làm dáng. Phải ăn nói nhỏ nhẹ, từ tốn và phải giữ ý tứ trong khi đi đứng.”
Em chẳng hiểu gì cả! Em chiều cho bố mẹ em hài lòng. Thì ra có anh đi với bác trai. Tình cờ hay cố ý. Sau này em nghe mẹ em nói, anh ra là để xem mắt. Có phải đúng như vậy không anh?”
“Anh chẳng biết ất giáp gì cả. Vừa về đến nhà được hai hôm, thì bố anh dục ra thăm bố mẹ em. Bố anh bảo: Hai bác quí con lắm và thường hay nhắc đến con luôn. Thú thật, lần ấy anh lúng túng vô cùng. Thì ra, hai bên đã có sự sắp xếp với nhau từ lâu lắm rồi.”
“Nhắc đến hôm ấy thật buồn cười anh nhỉ? Sau khi hàn huyên vài câu chuyện, mẹ dục em dẫn anh đi chơi. Lần đầu tiên gặp lại, chúng mình chẳng biết nói gì với nhau. Em dẫn anh đi lang thang dưới cơn mưa buốt lạnh cuối năm. Cơn mưa ấy không bao giờ em quên! Cơn mưa ấy đối với em lúc nào cũng đẹp và em cất giữ nó một cách thật trang trọng trong cái ô kéo đặc biệt ở ký ức.”
“Anh cũng vậy! Anh vẫn còn nhớ chuỗi ngày tháng vàng son, thơ mộng đó. Chuỗi ngày tháng mà giữa anh cùng em đều mở ra những cánh thư êm ả màu xanh, trải đầy mộng ước ngọt lịm ở trong đấy. Không khi nào anh quên! Không khi nào! Anh quả quyết với em là như thế.”
Thịnh ngừng lại giây lát rồi đột nhiên hạ thấp giọng:
“Bây giờ thì cuộc sống em thế nào?”
“Cũng tạm đủ qua ngày, không đến nỗi gì thiếu thốn cho lắm anh ạ.”
“Còn chồng em! Anh ấy đối xử với em ra sao?”
“Anh ấy đối xử với em rất chừng mực. Bốn năm sau, kể từ khi bố mẹ em qua đời, em đành nhắm mắt, đưa chân bước thêm bước nữa. Chúng em ăn ở với nhau có hai mụn con và bây giờ thì các cháu cũng đều lớn khôn hết cả rồi.”
“Mừng cho Hiền.”
Hai người tiến lần lên phía trên. Cơn mưa bắt đầu nặng hạt, lớn dần. Gió lao xao trên các tàng cây, nhẹ nhàng luồn qua cơ thể, gây liền cảm giác lành lạnh ở trong anh. Thịnh quay sang hỏi:
“Hiền có lạnh không?”
Nàng gật đầu không nói. Anh kéo cao cổ áo, đề nghị:
“Hay mình kiếm cái quán nào ngồi đi em!”
Hiền ngập ngừng:
“Thôi! Hiền xin phép anh về. Cảm ơn anh đã cho em một ngày thật ấm áp, thật trọn vẹn. Tiện đây em cũng xin phân ưu với anh cùng gia đình. Anh có định ra Huế thăm bạn bè không anh?”
Thịnh lắc đầu:
“Anh không có thời gian. Bởi vì ngày mai anh còn phải về Sài Gòn để điều chỉnh chuyến bay.”
“Anh về, cho em gửi lời hỏi thăm sức khỏe anh Nguyện cùng vợ chồng Hòa. Chừng nào thì anh trở lại Mỹ?”
“Tuần tới.”
“Chúc anh được thượng lộ bình an. Cho em hỏi thăm sức khỏe chị cùng các cháu.”
“Cảm ơn em.”
Lưỡng lự giây lát, Hiền ngập ngừng:
“Gặp anh lần này rồi không biết có còn gặp lại nữa hay không? Hãy nhớ đến nhau nghe anh! Thôi! Chào anh, em về.”
Thịnh bin rịn, nói khẽ:
“Anh muốn tiễn em thêm một đoạn đường nữa!”
Hiền nói giọng rung rung:
“Như vậy cũng đủ rồi anh.”
Nàng ngước lên nhìn Thịnh lần cuối, rồi xoay lưng lầm lũi tiến vào đám đông. Chiều ủ rũ, hấp hối trên ngọn đồi phía xa. Tự nhiên anh cảm thấy tim mình se thắt, buồn rũ rượi.
 
Thịnh bước vào quán rượu ở gần đấy. Quán vắng, thưa người. Vài người khách lạ ngước lên nhìn anh bằng thái độ dửng dưng, rồi lại cúi xuống tiếp tục câu chuyện còn dang dở, đứt quãng.
Dưới ánh sáng trong vắt của ngọn đèn nê ông, bà chủ quán có dáng dấp mảnh khảnh, lòe loẹt trong chiếc váy đầm diêm dúa, ưỡn ẹo, nghiêng người điểm nụ cười chào khách. Thịnh gật đầu đáp lại. Anh gọi chai bia rồi tiến thẳng đến chiếc bàn trống nằm khuất ở phía trong, thản nhiên kéo ghế ngồi xuống. Thịnh thích ngồi ở chỗ hóc tối kín đáo. Anh không thích ồn ào. Anh thích im lặng. Âm thanh trầm buồn, lãng đãng của bản nhạc xa xôi thời tiền chiến, đột nhiên gợi cho anh liên tuởng đến chuỗi năm tháng u ám thuở nào. Chuỗi năm tháng nhục nhằn, vây kín bởi bốn bức tường hạn hẹp, tối tăm, hôi hám. Đầu óc anh lúc nào cũng bị căng thẳng, hồi hộp trước những đôi mắt soi mói, cú vọ của mấy tên chấp pháp độc ác, dã man ở Tri Tôn. Cứ mỗi lần nghĩ đến, anh vẫn còn cảm thấy ghê sợ trước những trận đòn đau điếng, ê ẩm giáng xuống người anh từ đêm này sang đêm khác. Thú thật là anh sợ. Sợ khi màn đêm xụp xuống. Sợ từng bước chân người đi tới. Từng tiếng động qua khe cửa sắt. Tiếng chìa khóa lách cách tra vào ổ. Sợ đến nỗi toàn thân anh co rúm lại, rồi từ đó, mồ hôi cứ tuần tự rướm ra, nhớp nháp, ướt đẫm cả thân hình tiều tụy, gầy đét. Nghĩ đến đấy, tự nhiên anh cảm thấy rùng mình, ớn lạnh, rồi buông nhẹ lên tiếng thở dài. Anh ném tầm mắt nhìn qua khung cửa kính. Cơn mưa vẫn rả rich, dai dẳng không ngớt. Xa xa, thấp thoáng vài ánh đèn lù mù, lung linh trên đại dương. Thịnh đem ý nghĩ về Hiền. Về thị trấn xa xôi ở quá khứ. Cái thị trấn nhỏ bé, dễ thương nằm trong cái khoảnh vườn hồn nhiên, ngây dại của quãng đời thơ ấu. Anh nhớ đến những buổi sáng còn hơi sương, anh cùng Hiền đều đặn cắp sách đến trường. Ngôi trường chỉ cách trại lính chưa đầy hai trăm thước, mà sáng nào mẹ cũng dặn đi dặn lại: “Nhớ dẫn em đi cho cẩn thận nghe con!” Ngôi trường tiểu học xinh xắn ấy đã mở ra ở trong anh cả khoang trời mượt mà, tươi tắn của kỷ niệm. Khoang trời ấy cứ sống mãi với thời gian và chẳng khi nào nhạt phai ở trong anh. Thịnh nhớ đến những buổi chiều rạo rực cuối năm. Những buổi chiều mà hai đứa đi lang thang giữa đường phố đông đúc kín người. Những buổi chiều nồng nàn, ấm áp, lâng lâng hơn bao giờ hết.
“Có khi nào anh nghĩ rằng: Rồi sẽ có một ngày tình yêu mình sẽ phai không anh?”
“Anh tin rằng không có! Tình yêu mình lúc nào cũng đẹp. Nó nhẹ nhàng như tơ trời và êm đềm như tiếng thông reo mùa Hạ. Chúng ta hãy chăm bón, vun sới cho nó thành mượt mà, xanh ngắt, tươi tốt nhiều hơn nữa.”
Người nữ chiêu đãi đặt chai bia cùng chiếc ly thủy tinh xuống mặt bàn. Thịnh rót vào đầy ly rồi nâng lên uống cạn.
“Anh muốn đi với em đến điểm cuối của cuộc đời. Cuộc đời là bể dâu, là phù vân, là khói sương, là ngã rẽ, là sự gẫy đổ ê chề, nhức nhối, phải không em? Chúng mình chẳng khác nào như hai con tàu chạy ngược chiều, trôi dạt về các ga trạm xa lạ, buồn tênh. Mùa xuân chẳng khi nào về với chúng ta! Nhưng chúng ta vẫn phải gắng gượng để sống, cho những đứa con anh, con em, có hơi thở, có mạch sống để vươn lên, rồi nở hoa đi vào cuộc đời. Hãy cố gắng đi cho hết chặng đường đời đầy phiền toái, nhàm chán này. Hãy gắng lên nghe em!”
Thịnh vẫy tay, gọi thêm bia. Anh muốn uống cho say khướt. Uống để vơi đi được phần nào nỗi xót xa, dằn vặt đang bủa vây kín mít ở trong anh hiện giờ. Thịnh dốc ngược chai bia rồi ngửa cổ nốc ừng ực. Hơi men luồn vào cơ thể gây liền cảm giác ngầy ngật, khó chịu. Lãng đãng, mơ hồ anh nghe như có tiếng hát Sĩ Phú phát ra từ chiếc máy thâu thanh nào đó.
“Yêu ai! Yêu cả một đời. Tình đó quá khắt khe khiến cho đời ta, đau tủi cả lòng. Tình yêu kia mà người hằng nhớ. Năm tháng trôi lạnh lùng hoài.” Ngán ngẫm, anh mệt mỏi, nhướng cặp mắt lờ đờ nhìn bâng quơ lên trần nhà.
Bên ngoài, đêm thì thầm, mưa bay.
 
Đôi Dòng Cảm Nghĩ
Về Nhà Văn Phạm Quốc Bảo
 
Có tiếng chuông điện thoại reo vang ở dưới nhà, làm cho tôi giật mình choàng tỉnh giấc. Tôi vội vàng ngồi bật dạy, chẳng khác nào như chiếc lò xo, không hơn, không kém. Bước ra khỏi chiếc giường ngủ, tôi mở nhẹ cánh cửa, hấp tấp, hối hả tiến thẳng xuống cầu thang. Bên ngoài, bầu trời vẫn xám xịt, nặng nề, đậu thật thấp và chẳng có chút ánh sáng nào, le lói, báo hiệu ở cuối đường hầm. Cơn mưa lại ồ ạt, bất thần kéo tới, gầm thét, giận dữ, trút xuống như thác đổ. Mưa liên tiếp suốt cả tuần lễ nay. Ngày nào trời cũng mưa gió, bão bùng. Mưa quét lên bộ mặt thành phố bằng một lớp sơn dầu ảm đạm, u tối và thê lương lạ thường. Nhiều ngã tư bị mất điện trầm trọng. Hệ thống đèn báo trở nên vô dụng, đồng thời gây trở ngại cho việc giao thông rất nhiều. Theo dự báo thời tiết cho biết, thì miền Nam Cali. còn phải gánh chịu cơn giông bão tệ hại này thêm dăm ba ngày nữa! Mưa gợi lên ở trong tôi cả nỗi nhớ nhung vời vợi, xao xuyến, buồn da diết. Tôi ném tầm mắt nhìn sang phía phòng khách. Căn nhà trở nên vắng vẻ và trống trải lạ thường. Cả nhà tôi đều ra đi ngay từ khi còn sáng sớm. Hôm nay là sinh nhật của đứa cháu gái tôi ở dưới San Bernadino. Tôi đổi ý, không đi vào giờ chót! Nhà tôi cùng mấy đứa con đều tỏ vẻ khó chịu về sự thay đổi bất thường này. Tôi gượng gạo giải thích:
“Tự nhiên, sáng nay thức dạy thấy trong người không được khỏe! Nói dùm với tụi nó, tôi thành thật cáo lỗi.”
Nhà tôi cằn nhằn:
“Nếu không muốn đi, thì tại sao không nói với chúng nó ngay từ ngày hôm qua! Đằng này, cứ hứa lấy, hứa để, là chú sẽ đi và cuối cùng thì lại đổi ý. Ông làm như vậy thì coi có được không! Mình là người lớn thì phải nói đâu ra đấy! Một là một! Hai là hai! Chứ không có cái kiểu ấm ớ hội tề được.”
Tôi lẳng lặng không nói. Tôi không hiểu, tại sao, dạo này, tính tình của tôi đột nhiên thấy thay đổi lạ thường! Những thay đổi thấy rõ! Trước đây, mọi chuyện tôi đều tỏ ra dứt khoát, chứ đâu có thái độ lừng khừng, bất thường như hiện nay! Phải chăng! Con người ta đang bước vào cái tuổi hoàng hôn, xế bóng, thì tự nhiên thấy thân thể mình nặng nề, chậm chạp hẳn đi, và sức khỏe thì bắt đầu có chiều hướng lụn bại, đi xuống, yếu dần, tàn tạ theo thời gian. Cho đến giờ phút này, tôi mới cảm thấy lời bố tôi nói trước kia rất là chí lý, khi ông đang bước vào cái tuổi thất thập cổ lai hy:
“Về già, thì người ta đâu có còn bén nhạy, sáng suốt như hồi còn trai trẻ được! Đầu óc thì càng ngày càng trở nên lú lẫm và tính tình thì lại hay thay đổi bất thường. Cứ hơi một tý là giận hờn. Động một chút là tủi thân. Vì thế, cha ông mình thường bảo: Không có ai dở hơi như người già, mà người già thì chẳng khác nào như trẻ con. Thế mới lạ chứ! Câu nói ấy ngẫm nghĩ lại, thấy chẳng sai tý nào!”
Tiếng chuông điện thoại lại réo lên dồn dập như thúc dục, lôi kéo tôi về với thực tại. Tôi nhấc chiếc ống nghe đặt lên tai:
“Xin lỗi! Tôi được tiếp chuyện với ai ở đầu dây vậy!”
Giọng nói quen thuộc của ông bạn hàng xóm vang lên lồng lộng ở trong máy:
“Tôi là Thanh đây! Hôm nay anh có bận gì không!”
“Bận! Thì có bận! Nhưng tôi từ chối rồi. Có chuyện gì không anh!”
“Tôi tính chiều nay, mời anh cùng anh Thái sang nhà tôi chơi. Lâu quá rồi, chúng ta chưa ngồi lại với nhau! Vả lại, suốt cả tuần lễ nay, trời cứ mưa gió liên miên, buồn quá! Ngày nào nhà tôi cũng dục: Sao không mời mấy ông ấy sang nhà mình chơi! Tôi làm vài món cho các ông lai rai với nhau, để chuyện trò, tán gẫu cho đỡ buồn. Luôn tiện, ông trả lại cho người ta cuốn sách. Chứ tôi thấy ông mượn đến gần cả tháng nay rồi.”
“Sách gì vậy!”
“Anh quên rồi hay sao!”
“Thú thật! Tôi chẳng nhớ gì cả!”
“Rõ thật cái anh này! Cuốn Nhục Vinh, tuyển tập của nhà văn Phạm quốc Bảo, mà trước đây tôi đã mượn của anh đấy. Anh nhớ ra chưa!”
“À! Anh không nhắc, tôi cũng quên khuấy đi mất! Cuốn ấy ông ta tặng tôi đến cả năm rồi. Đọc xong, tôi nhét nó vào kệ sách. Tứ đó, tôi chẳng bao giờ để ý, ngó ngàng gì tới nó nữa! Mặc dù, trước đây, tôi đã hứa với ông ta, thể nào tôi cũng viết một vài cảm nghĩ về tuyển tập nói trên. Cũng may, có anh nhắc! Nếu không! Thì có lẽ suốt đời này, tôi sẽ cho nó đi vào quên lãng. Như vậy, thì hóa ra, tôi sẽ mang một cái tội rất lớn đối với ông ấy. Tôi không hiểu! Tại sao dạo này tôi hay quên quá anh ạ! Xảy một tý là tôi quên phéng đi mất. Ai đời, nhiều lúc, rõ ràng tôi cầm xâu chìa khóa ở trên tay, hoặc bất cứ vật thể nào khác, mà tôi cứ ngơ ngác, xục xạo, đi tìm nó cho bằng được. Đến khi giật mình, tỉnh lại, thì mới đớ mắt ra. Lắm lúc, tôi còn quên cả tắt bếp nữa anh ạ! Quên cả khóa cửa ra vào! Làm cho mấy đứa con tôi phải kêu trời lên. Ngoài cái tính hay quên ra, lại còn kèm thêm cái thói xấu, là gàn nữa chứ! Có phải, tại cái tuổi của mình già không anh! Có lẽ là như thế! Tôi nghĩ, mặc dù không nói ra, nhưng thể nào ông Bảo cũng buồn tôi lắm! Đôi khi, ông ấy còn trách thầm tôi nữa là đằng khác! Tiện đây, tôi hỏi thật anh: Anh đã đọc xong cuốn sách ấy chưa! Nếu chưa! Anh cứ giữ lấy để mà đọc. Lúc nào trả cũng được.”
“Tôi đọc xong hết từ đầu đến cuối. Chẳng xót bài nào cả! Vả lại, cuốn sách cũng đâu có dày gì cho lắm!”
“Thế tôi hỏi thật, anh có cảm nghĩ gì về tác phẩm nói trên!”
Anh bạn tôi xuống giọng trầm trầm:
“Theo tôi, thì đây là cuốn sách tuy nhỏ, nhưng nó hàm chứa giá trị không nhỏ đâu anh! Nó bắt người đọc phải suy nghĩ! Phải nghiền ngẫm từng câu nói một! Tôi không biết tác giả là ai! Là người nào! Và cũng chưa một lần găp mặt ông ta ở quá khứ. Nhưng qua cung cách của các bài viết ở trong đấy, tôi đã nhận chân ra được cái ý nghĩa thâm thúy, sâu sắc về hai chữ “Vinh”và chữ“Nhục.” Nỗi Vinh Nhục của một đời người. Của ngay chính người viết. Của chúng ta, và của biết bao nhiêu thế hệ khác nữa! Của cả một dân tộc đọa đầy, chồng chất với biết bao nhiêu nỗi oan khiên, thống khổ, tang tóc, trải dài trên suốt chặng đường nghiệt ngã, khói lửa, đen tối và tồi tệ nhất của lịch sử đất nước. Đấy là nhận xét riêng của cá nhân tôi. Ngoài ra, tác giả còn trải rộng cả tấm lòng của ông, đến với bạn bè, với bằng hữu, hiện đang còn sống ở bên đây, cũng như ở quê nhà, hoặc những người đã ra đi, khuất mặt, từ giã khỏi đời sống phù phiếm này, để đi về với thế giới của hư vô, của trầm hương, yên tĩnh, của nghìn thu vĩnh biệt. Bằng giọng văn tưởng chừng như bình dị, nhưng ông đã gói ghém, chất chứa ở trong đấy những ý tưởng thật sâu sắc, cùng những nhận định thiết thực về đời sống tha hương ở bên đây, về cộng đồng tỵ nạn của người Việt. Những khắc khoải, trăn trở về chặng đường đang tới ở trước mặt, cùng những đắng cay, chua chát, ê chề, chồng chất ở sau lưng. Tất cả đều được ông phơi bày rõ nét một cách thật trung thực, thể hiện ở trong đó. Ở đây, tôi mê nhất là bài thơ mở đề của tác giả. Bài thơ có tên “ Bay lên đi, chim Lạc.” Chúng ta hãy thử nhìn cho kỹ, nhìn xoáy vào chữ Lạc, và chữ ấy đã được tác giả tô vẽ, nắn nót thành một kiểu chữ hoa rất trân trọng. Nói như thế, thì chúng ta có thể hiểu ngầm được, cái ý chính của tác giả muốn nói gì!
Có con chim Lạc
 
Phạm Quốc Bảo
hiện diện tự bao giờ
trong bức vẽ
đời người
bỗng nhảy ra
vẫy vùng
nhục vinh
chỉ có kết quả của nỗi nhục
là niềm vinh
thì mới nhẹ bước
thênh thang
trường tồn
trong cuộc sống
rồi sau đó
biến vào huyền thoại
như trước khi vào đời
đã là huyền thoại
 
“Thú thật, tôi đọc đi, đọc lại bài thơ này rất nhiều lần. Bài thơ tuy ngắn, nhưng đã cô đọng ở trong tôi những suy tư, những thao thức về từng ý nghĩa sắc bén, cốt lõi của nó.”
“Cảm ơn anh đã có vài nhận định phổ quát về cuốn sách của ông ta. Nhờ anh, mà đã tác động cho tôi niềm cảm hứng bất chợt, để từ đó, tôi sẽ viết đôi dòng cảm nghĩ về tác giả, cùng vài ý nghĩ hạn hẹp, thô thiển, mộc mạc về tác phẩm này. Tôi sẽ viết lập tức ngay bây giờ. Viết! Chứ để lâu rồi lại quên! Chiều nay. Y hẹn. Tôi sẽ qua bên anh. Chúng ta sẽ nói với nhau nhiều hơn. Bây giờ tôi xin tạm ngưng và buông máy để viết. Nếu không viết ngay tức thì, tôi e rằng, luồng tư tưởng sẽ tiêu tan, bay đi mất. Bây giờ, cứ mỗi lần lôi bút ra để chuẩn bị viết, thì là cả một vấn đề! Chứ đâu có dễ dàng như trước kia! Nhiều khi tôi lấy giấy bút ra, để sẵn sàng đâu vào đấy. Suy nghĩ chán chê, nát óc đến cả tiếng đồng hồ, mà tôi vẫn không có cách nào lấp đầy hết được trang giấy! Chán nản, tôi tức bực, xé toạc ra, vo tròn, rồi ném thẳng vào thùng rác, với nỗi ngao ngán, thất vọng, ngổn ngang ở bên trong. Thì ra! Bao nhiêu nguồn cảm hứng đều cạn sạch hết từ lâu rồi! Cạn xuống đến tận đáy! Cạn đến nỗi chẳng còn xót lại chút cặn nào ở tim não.”
“Thôi được! Chiều! Nhớ qua nhà tôi! Nghe anh!”
“Qua chứ! Đâu có thể thiếu được! Ở đây, chúng mình quanh đi, quẩn lại, cũng chỉ có ba người. Từ đầu mùa đến giờ, cũng chỉ có anh, tôi và anh Thái! Chứ đâu có ai khác nữa! Kể ra thì cũng có, chứ không phải là không! Nhưng cứ thẳng thừng ra mà nói, thì phải hợp gu với nhau mới bền. Mà bộ ba thì chẳng khác nào như chiếc kiềng có ba chân. Giả thử, nếu mất đi một bên, thì làm sao mà có thể đứng vững được.”
Tôi buông máy. Tự nhiên, tôi cảm thấy thèm ly cà phê. Tôi chạy lại mở tủ, lấy chiếc ly thủy tinh mà tôi thường dùng, pha vội ly cà phê còn nóng hổi, bốc khói. Tôi bước đi, nâng ly cà phê trên tay, mà lòng cảm thấy ngây ngất, lâng lâng, nhẹ nhàng bước lần theo cầu thang, rồi trực chỉ tiến thẳng về phía phòng mình.
Vào phòng, tôi loay hoay bật cái công tắc điện gắn ở gần đấy. Ánh sáng chợt bừng lên, tỏa rộng cả căn phòng ngủ. Tôi ngồi vào bàn viết, sửa soạn bút mực đâu vào đấy. Bằng động tác thật nhẹ nhàng, khoan thai, tôi ung dung nâng ly cà phê đặt lên môi, nhắp một hớp nhỏ. Luồng hơi ấm từ từ thấm vào cơ thể, đem theo cái cảm giác thoải mái, lâng lâng và sung sướng hơn bao giờ hết. Tôi đưa tay bóp nhẹ lên trán, cố nặn óc suy nghĩ, ráng tìm câu mở đề để làm chuẩn cho bài viết này. Câu mở đề ấy đã đến với tôi thật đúng lúc, thật bất ngờ, và tôi cúi xuống, cặm cụi, hí hoáy, say sưa bắt đầu viết.
 
Tôi viết những dòng chữ này cho anh! Những dòng chữ mộc mạc, thô thiển. Những dòng chữ mà khởi đầu, là một lời xin lỗi về sự chậm trễ, đáng trách này. Đáng lý ra, tôi phải viết nó từ lâu! Nhưng! Cũng chỉ vì cái bản tính lừng khừng, lười biếng! Cũng chỉ vì cái tật xấu là hay quên! Chính vì thế, mà mãi cho đến ngày hôm nay, tôi mới chợt nhớ ra, rồi đặt bút viết những giòng chữ muộn màng này gửi đến anh. Tự dưng, tôi chợt nhớ đến buổi sáng ngày chủ nhật. Một buổi sáng tại tiệm cà phê ồn ào, đông khách, nằm ngay trên đường Broohurst, thuộc thành phố Wesminster. Tiệm cà phê mà hầu như tuần nào, anh cũng có mặt đều đặn, với bạn bè, với bằng hữu. Trước khi ra về, anh khoát tay nói với tôi:
“Anh đợi tôi một chút!”
Anh bước vội ra xe. Lát sau, anh trở lại với cuốn sách cầm ở trên tay:
“Gởi anh. Chỗ bạn bè quen biết với nhau.”
Tôi cảm động, đỡ nhẹ cuốn sách trong tay anh:
“Đây là lần thứ hai tôi nợ anh! Món nợ mà tôi không bao giờ trả được! Năm nào anh cũng tặng tôi. Năm nào anh cũng cho ra đời một đứa con tinh thần. Ngược lại, thì tôi chẳng có gì để biếu lại anh! Tôi áy náy vô cùng.”
Anh điềm đạm, từ tốn:
“Có gì đâu! Anh cứ nghĩ thế! Viết cho vui vậy mà! Viết để giải tỏa những ấm ức, những suy nghĩ, ray rứt ở nội tâm. Chứ, tôi đâu có mục đích to lớn nào khác!”
Tôi biết anh vào khoảng gần tám năm nay. Nếu tôi nhớ không lầm, thì hôm đó lại rơi đúng vào ngày chủ nhật, tại phòng sinh hoạt của nhật báo Viễn Đông, nằm ngay trên đường Moran, do nguyệt san Khởi Hành tổi chức, nhằm mục đích vinh danh và tuyên bố giải văn chương toàn sự nghiệp cho nhà văn Nguyễn thụy Long (hiện đang còn ở trong nước), với những đóng góp đáng kể của ông cho nền văn học Việt Nam. Sau khi kết thúc, chúng tôi kéo nhau đi ăn, rồi tạt vào tiệm cà phê nằm ngay trên đường Bolsa. Trong số chúng tôi hôm đó, gồm có: Phan Diên, Đặng Hiền, anh, Vương Nguyện, Phan Bá Thụy Dương và tôi. Lần đầu tiên gặp anh, qua lời giới thiệu của nhà thơ Đặng Hiền, chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ tạp chí Hợp Lưu. Một tạp chí thuần túy về văn học, nghệ thuật tại hải ngoại. Từ đó, thỉnh thoảng có dịp, tôi lại tạt ngang qua tòa soạn nhật báo Người Việt để thăm anh. Nói tới anh, trước tiên là phải nói đến nụ cười. Lúc nào tôi cũng thấy anh nở nụ cười ở trên môi. Cái nụ cười biểu lộ cho sự hiền hòa, cởi mở và dễ mến. Anh xuất thân từ Đại Học Văn Khoa (môn Triết Học Đông Phương) ở Sài Gòn trước đây. Anh là nhà mô phạm. Một nhà giáo mẫu mực, tận tụy với nghề nghiệp. Cuộc đời anh gắn bó với bút mực, bảng đen, phấn trắng và lớp học. Sau biến cố tang thương của lịch sử đất nước. Anh hòa chung số phận với biết bao nhiêu quân, cán, chính của chế độ Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam. Anh bị cầm tù. Bị đầy ải ra đến tận vùng thâm sơn, cùng cốc ngoài miền Bắc. Bị sỉ nhục. Bị đói rét. Bị chứng bệnh nan y, ngặt nghèo, quái ác, dày xéo lên thân thể anh, ròng rã suốt từ năm này sang năm khác. Đứng trước tình trạng bi đát đó, anh được thả ra, trở về đoàn tụ với gia đình. Sau thời gian chữa chạy, anh hồi phục, sống lây lất, vất vưởng giữa xã hội đầy nghi kỵ và mâu thuẫn. Luân lý, đạo đức bị đảo lộn, suy đồi. Hệ thống giáo dục thì đặt nặng về tư tưởng, chính trị, hơn là khía cạnh văn hóa và chuyên môn. Trong khi đó, nhà nước lại theo đuổi chánh sách thắt chặt kinh tế, khiến cho đời sống dân chúng trở nên khó khăn, nghẹt thở. Ai nấy đều tỏ ra ngán ngẫm, không còn thiết tha gì đến hai chữ hòa bình! Hòa bình có, nhưng tự do thì không! Hòa bình trong lam lũ, cơ cực. Hòa bình trong chiếc bánh vẽ về tương lai chói ngời, chập chờn ở phía trước. Tương lai đó chẳng bao giờ có thực! Hình ảnh mục nát, tả tơi của một xã hội miền Bắc, sau năm 1954, với những vết thương lở loét, rướm máu, cứ lởn vởn, ám ảnh thường xuyên ở trong anh! Về thân phận bọt bèo của tầng lớp trí thức, cùng cái giá quá đắt của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm phải gánh chịu. Từ đó, nó trở thành động cơ mãnh liệt, thôi thúc anh đi tới quyết định dứt khoát, là phải ra đi! Chỉ có ra đi là thượng sách. Cuối cùng, anh đã đến được bến bờ của tự do trong chuyến mạo hiểm đầy gian nan, thử thách. Anh đặt chân xuống đất Mỹ vào năm 1982. Giã từ nghề giáo chức, anh chuyển hướng, bước sang lãnh vực thông tin và báo chí. Gắn bó với nhật báo Người Việt trên ba chục năm nay và hiện giờ anh vẫn còn đang tiếp tục. Ngoài công việc thường nhật, anh còn chú tâm đến công việc sáng tác. Với ba tác phẩm được xuất bản ở trong nước, cộng thêm mười bảy đứa con ra mắt tại hải ngoại, đã nói lên sự đóng góp không nhỏ vào dòng chảy của nên văn học ở tại nơi này. Ngoài ra, anh còn thường xuyên lui tới để sinh hoạt với những bạn trẻ đang sinh sống ở Hoa Kỳ, cũng như ở khắp mọi nơi trên thế giới. Anh cùng người bạn chí thân là bác sĩ Phạm gia Cổn, đã có mặt trong hội nghị Tuổi Trẻ Việt Nam Trên Thế Giới Kỳ 4 (The 4 th International Vietnamese Youth Conference) do mạng lưới Tuổi Trẻ Lên Đường (Lên Đường International Youth Network) và Tổng Hội Sinh Viên tại Úc Châu (Federal Vietnamese Students Association of Australia) phối hợp trực tiếp và đứng ra tổ chức (đã diễn ra trong năm ngày, từ 27 đến 31 tháng 12 năm 2005) tại trung tâm thành phố Sydney, với sự tham dự của 500 thành viên nồng cốt, đến từ 17 quốc gia khắp nơi trên thế giới. Anh cùng bác sĩ Cổn được đề cử trong vai trò thuyết trình viên ở tại đại hội này. Với anh: Tuổi trẻ là rường cột, là tương lai của đất nước. Điều đó rất đúng! Vì thế! Anh muốn thổi vào giới trẻ một luồng sinh khí mới, về tình tự của dân tộc, về tình yêu quê hương và giống nòi. Về cội nguồn. Về các trang sử oanh liệt của tổ tiên ta trong công cuôc dựng nước và giữ nước. Về vai trò, bổn phận và nghĩa vụ của tuổi trẻ đối với tổ quốc và dân tộc, đồng thời anh muốn gắn bó họ vào với mảnh đất thân yêu hình chữ S ấy.
“Nói dại! Nếu cuộc sống lưu vong còn kéo dài thêm vài chục năm nữa! Đến khi ấy, thế hệ chúng mình đã nằm xuống, ra đi. Tôi nghĩ rằng: Có lẽ cái hình thể của đất nước mình, họ cũng không biết nó nằm theo mẫu tự nào của hai mươi bốn chữ cái!”
Đấy là câu nói mà anh thường thổ lộ với bạn bè như thế.
 
Nhục Vinh là tác phẩm mà anh đã cho ra mắt tại miền Nam Cali. vào năm 2010. Đây là tuyển tập gồm mười bài viết được gói ghém, đóng khung ở trong đấy. Mở đầu là bài thơ “Bay lên đi, chim Lạc.” Tiếp theo là câu chuyện Nhục Vinh, và cũng là chủ đề chính cho tập truyện này. Đặc biệt nhất, là từ đầu đến cuối, anh hoàn toàn xử dụng bằng lối hành văn đối thoại, giữa hai người bạn cũ lâu ngày, gặp lại nhau trên xứ người. Họ gặp nhau trong dịp tình cờ. Một người đã sinh sống trên đất nước này từ năm 1975. Còn người kia bị kẹt lại, đi tù và sang đây muộn hơn. Câu chuyện được đặt ra, là cái căn bệnh kinh niên, thường xảy ra trong cộng đồng người Việt tỵ nạn ở khắp nơi trên thế giới (chẳng riêng gì Hoa Kỳ). Đó là cái tính hay bêu xấu lẫn nhau. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng kể trên, bắt nguồn từ sự uất ức. Những mặc cảm thua thiệt, cùng các sự dồn nén trong những năm tháng dài ngụp lặn trong nhà tù CS. Chính vì những mặc cảm nặng nề đó, mọi người vẫn chưa sát cánh lại gần với nhau, ngõ hầu tạo một cái giây xích đoàn kết trong công cuộc đấu tranh cho dân chủ, tự do và nhân quyền cho người dân ở trong nước.
Hầu hết trong những cuốn hồi ký viết về đời sông tù đầy, người ta thường đề cập đến sự thiếu thốn về vật chất, thuốc men, cho đến tinh thần. Về bệnh tật, cùng sự ngược đãi dã man của các tên cai tù hung hãn, độc ác. Nhưng ngược lại, anh lại đề cập đến thành quả của 20 năm phát triển ở miền Nam, thể hiện trong các mặt, văn hóa, xã hội, chính trị và kinh tế. Ngay từ mấy năm đầu, anh cũng bị dày vò, ngụp lặn trong cái mặc cảm ô nhục! Nhưng dần dần tâm trí anh tỉnh táo trở lại, đồng thời anh cảm thấy hãnh diện về những thành tựu mà miền Nam đã đạt được trong 20 năm qua. Mặc dù sống trong thời chiến tranh, nhưng nhân dân miền Nam đã đạt tới được những thành tích đáng kể sau đây: Xây dựng thể chế dân chủ rõ rệt. Một xã hội khá lành mạnh, có kỷ cương, trật tự. Một nền giáo dục nhân bản, dựa trên nền tảng luân lý và đạo đức của con người. Có một điểm mấu chốt mà tôi rất đồng ý với anh, là chính quyền miền Nam lúc bấy giờ, đã không trang bị cho toàn dân số vốn liếng căn bản về thực chất của chế độ Cộng Sản, cùng mọi hành động tàn nhẫn, dã man của họ. Chính cái thành quả nói trên của miền Nam, đã chứng tỏ sự chênh lệch, khác biệt giữa miền Nam và miền Bắc. Vì thế, sau khi đặt chân đến Sài Gòn, người nữ thanh niên xung phong đã phải ngồi phệt xuống vỉa hè, ôm mặt khóc nức nở, chẳng khác nào như một đứa trẻ. Người ấy không ai khác hơn, chính là nhà văn Dương Thu Hương. Hiện nay, bà đang sống ở bên Pháp, và đã nói lên: Bà bị lường gạt, bị ru ngủ, đầu độc, bởi cái loa tuyên truyền hết sức là tinh vi của chế độ miền Bắc. Gần đây nhất, trước các vụ tai tiếng xấu xa, bỉ ổi, nằm ngay trong hàng ngũ giáo chức, đã khiên cho ông cựu trung tá phải thốt lên, đại ý là ông khao khát, muốn có nền giáo dục lành mạnh, nhân bản như chế độ miên Nam trước đây.
Trong câu chuyện “Mắt Phật,” anh đã đưa ra nhận định về ngôi chùa trong làng xã Việt Nam:
“Chùa là đơn vị sinh hoạt của dân làng: Chùa là nơi cung cấp thêm điều kiện sống cho những ai trong làng muốn chuyên chú vào việc tu tâm dưỡng tính. Ngoài đình miếu nhà thờ,thì chùa cũng là nơi dân làng tụ tập vào những dịp lễ Tết…trang 55”
Ngoài ra, anh còn đề cập đến ba nhận xét của từng người về ánh mắt của đức Phật:
Người thứ nhất cho rằng:
“Tôi thấy mắt ngài nhìn xuống tôi. Ngài đang rủ lòng thương, vì tôi còn đang mê muội, kẹp hòi…trang 59.”
Còn người thứ hai:
“Tôi thì tôi nhận ra từ ánh mắt của ngài dường như ngầm ý bảo là tôi hãy nhìn lên: Có khoảng trời xanh bao la ngay đằng sau đầu ngài đấy. Một bầu trời khoảng khoát dễ nâng tâm hồn mình lên với miền cao xa, những khát vọng hướng thiện… trang 60.”
Người thứ ba thì đi sâu vào chi tiết hơn:
“Ngài quả thật đã trải nghiệm trong đời sống của một con người bình thường, trước khi nỗ lực tu hành thành Phật. Như chúng ta đang sống đây. Ngài chỉ khác tất cả chúng ta ở chỗ ngài đã chứng đắc thành công khi tìm thấy một triết lý sống ‘người nhất’. Ngài đã sống theo triết lý ấy, và ngài đã dạy chúng ta triết lý ấy. Và trên 25 thế kỷ đã qua rồi mà chưa có ai đó tìm ra thêm một triết lý sống nào khác khả dĩ thay thế được. trang 60”
Đúng y như lời của ông bạn hàng xóm cùng dãy với tôi. Đối với bạn bè: Lúc nào anh cũng tỏ ra trân trọng. Trân trọng ngay trong các bài viết, như “Từ Công Phụng, Lời Ca – Tiếng Hát” trong tập sách này. Anh nhắc đến tụ điểm cà phê Quán Văn (trong khuôn viên Văn Khoa năm 1966). Seattle năm 1986. Những kỷ niệm quyện sâu vào các nhạc phẩm Bây Giờ Tháng Mấy, Trên Ngọn Tình Sầu, Mắt Lệ Cho Người, Giọt Lệ Cho Ngàn Sau….Riêng, đối với nhạc sĩ Nhật Ngân trong “Bạn Đi, Ngày Cận Tết”, anh nhắc đến vài tác phẩm tiêu biểu của ông, như “Xuân Này Con Không Về”, hoặc “Tôi Đưa Em Sang Sông” chẳng hạn. Nhớ đến Trần đình Quân, Nguyễn đức Quang, Trầm tử Thiêng gắn bó với nhạc phẩm “Chuyện Một Cây Cầu Đã Gẫy.” Tiễn Nguyễn thụy Long bằng bài thơ khá dài, nhắc lại đoàn văn nghệ Đường Sáng trong chương trình công tác hè của học sinh và sinh viên hướng về nông thôn vào năm 1965. Tất cả đều được anh thu vén, viết lại một cách thật trang trọng. Bạn bè, bằng hữu, lần lượt bỏ anh ra đi, đã để lại ở trong anh cả nỗi trống vắng, biu hắt, buồn vô hạn. Tôi nhớ, có lần anh tâm sự với tôi: “Giờ này, bọn mình đang bước vào cái tuổi xế chiều rồi còn gì nữa! Bạn bè thì đâu có còn được bao nhiêu! Rải rác ở chung quanh mình thì cũng đâu có mấy! Có người thì lại ở xa, như ở Việt Nam, hoặc các nơi khác chẳng hạn! Vì thế, nếu trời còn cho thở, còn cho nói, còn đi đứng được, thì nên lui tới thăm hỏi, hoặc nếu bắt tội ở xa quá, thì nên gọi nhau, hỏi han, trò truyện trên điện thoại. Ngộ nhỡ mai mốt, thêm dăm ba tuổi nữa, sức khỏe bị cạn kiệt, thì muốn đến với nhau, cũng chẳng còn hơi sức đâu để mà đến!”
Mới đây chừng ba hôm, tôi gặp anh trong buổi ra mắt sách của ký giả người Đức, liên quan đến cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Tôi đề cập đến hai chữ Nhục Vinh, và tôi có đặt với anh câu hỏi:
“Tôi hỏi thật: Sau 38 năm, với biết bao nhiêu những đắng cay, thăng trầm đi qua đời anh. Giờ đây, anh đang sống trên quốc gia đầy đủ về tất cả mọi phương diện. Từ tinh thần cho đến vật chất. Vậy! Theo anh, thì hiện giờ, anh đang đứng ở vị trí nào của hai chữ Vinh và chữ Nhục!”
Anh ngước lên nhìn tôi thật lâu, rồi hé môi nở ra nụ cười thật hóm hỉnh. Trong cái hóm hỉnh, độc đáo ấy, tôi đã đọc thấy được nỗi chua chát, tiềm tàng, gợn lên ở trong đó./.
 
Trang Luân

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013