Thi Ảnh

Lương Thư Trung

Gặp Nhà Văn Lâm Chương Bên Bờ Hồ Mystic - Lương Thư Trung

Cuối tháng bảy rồi mà vùng bắc Mỹ này vẫn đang là mùa Hè. Trời nắng gắt. Gió thổi rào rào nhưng không khí cứ nóng hầm hập như lò gạch đỏ lửa. Thịt da người như muốn khô rang khô khốc trong cái nắng cháy bỏng của nơi chốn này. Đi loanh quanh tìm bóng mát dưới những hàng phong, hàng thông già, tôi lại gặp nhà văn Lâm Chương nơi bờ hồ Mystic vùng Medford, đang đứng ngắm nghía một cái đầm lầy đầy những bụi lác, bồn bồn, rau mác...
Tôi biết Lâm Chương từ vài năm nay, nhưng có lẽ tôi quí mến anh vì anh có nhiều khí chất một người nhà quê mê ruộng vườn, đặc biệt hai ngón tay kẹp điếu thuốc rặt người miền quê. Đời sống của Lâm Chương thanh đạm như cái dáng vẻ bình dân, mộc mạc hằng ngày. Gặp tôi bất chợt nơi cái đầm bùn lầy này anh vui lắm. Anh hỏi tôi loại lục bình này, bụi cỏ kia mà chừng như lâu lắm rồi anh mới được gặp lại. Tôi cũng thích nói chuyện với anh về cỏ cây, vì, so với Lâm Chương, tôi có những năm tháng gần gũi với đồng ruộng khá lâu, dễ chừng có đến mấy mươi năm cày sâu cuốc bẩm chứ ít ỏi gì! Lâm Chương chỉ mấy bụi rau mác có hoa màu tím, nói với tôi:
 "Ông Trung ơi, mấy bụi lục bình này tôi thấy ở chợ họ có bán nhiều lắm"; rồi anh tiếp: "chừng nào dìa, tui bứng vài bụi để trồng thử."
Dường như với ai, trong những anh em quen biết với anh, anh đều gọi người đối diện bằng chữ "ông" vừa rồi như vừa quen thân vừa sơ ngộ, vừa gần gũi vừa xa lạ mà vẫn giữ được chỗ thân tình, tương kính lẫn nhau. Như "ông Phan Xuân Sinh", "ông Trần Trung Đạo", "ông Dư Mỹ", "ông Thanh", "ông Nguyễn Trọng Khôi", "ông Trần Doãn Nho" v.v... Và anh cũng đã gọi tôi bằng "ông" như vậy.
 Tôi ôn tồn nói với anh: "Mấy bụi này là rau mác, không phải lục bình anh à! Lục bình là loại thủy thực vật nổi với căn hành dài, lá có cuống phù xốp, phiến lá láng; còn rau mác thuộc loại nê thực vật có củ, lá thon hoặc lá bầu; do đặc tính đó nên lục bình thì lang bạt nổi trôi trên mặt nước, còn rau mác lại thích bám rễ sống trên mặt bùn như cái vũng lầy này, nhưng cả hai đều có bông màu tím và đều có thể ăn sống được, nhất là ăn với mắm kho càng bắt cơm lắm!"
Lâm Chương "à" một tiếng rồi vứt tàn thuốc lá xuống bụi cỏ gần đó sau khi rít một hơi  dài. Như đang theo đuổi cái ý nghĩ sẽ nhổ vài bụi rau mác, vài bụi lác mang về nhà trồng vào cái chậu nhỏ, Lâm Chương nhìn những bụi rau, bụi lác bên rìa cái đầm lầy lấp xấp nước đến mắt cá chân như người bị bùa. Trông anh có vẻ đang mê ly mấy loài cỏ nội hoa đồng này lắm. Mà anh mê thật, vì chừng như lâu lắm rồi, Lâm Chương mới gặp lại những loài cỏ mà ngày nào chiến tranh còn mịt mù khói súng đạn bom trên khắp cùng quê hương, mỗi bước chân người lính đi ngang qua vùng hành quân đều phải nhiều phen vướng bận những đầm lầy đầy những cánh hoa màu tím của loài lục bình phiêu bạt, giang hồ. Bây giờ, bắt gặp những loài cỏ hoang dã cũ, làm anh nhớ lại những vùng quê heo hút, hoang rậm tiêu điều, và cũng gợi anh nhớ về một thời binh lửa xa xăm... Những vùng thôn dã mà đã biết bao lần người dân phải chạy bườn lên nhau để tìm chỗ trú đạn rú, súng gầm nghe như rượt đuổi sát rạt từ phía sau lưng nóng bỏng...
Lâm Chương hỏi tôi cỏ bồn bồn là loại cỏ gì? Tôi nhắc anh còn nhớ truyện ngắn "Rừng Mắm" của Bình Nguyên Lộc không? Ở trong truyện này có nhắc cảnh hai vợ chồng ở xa, nghe đâu từ trên miệt Sa Đéc, bơi xuồng xuống vùng Ô Heo nhổ bồn bồn về làm dưa để bán kiếm tiền mua gạo, rồi gặp thằng Cộc giữa vùng hoang dã ít người này. Lâm Chương "à" một tiếng như vừa nhớ ra câu chuyện Rừng Mắm rồi. Tôi nói tiếp, cỏ bồn bồn cũng là một loại nê thực vật đa niên. Lá dẹp, dài, cứng, thẳng đứng và có bẹ ôm thân; bồn bồn thường mọc và sống nơi đầm lầy, lung vũng, ao hồ cạn; dưa bồn bồn ăn giòn giòn như dưa ngó sen vậy mà! Rồi tôi chỉ cho anh mấy bụi bồn bồn gần chỗ anh đang đứng. Lâm Chương gật gật đầu như vừa đồng ý, vừa không mường tượng được dưa bồn bồn ra làm sao vì anh chưa ăn dưa bồn bồn lần nào, nhưng anh có ăn dưa ngó sen mà má anh đã mua ở chợ làng cho anh ăn hoài hồi anh còn nhỏ lúc ở nhà quê. Lâm Chương vừa bật cái hộp quẹt ga, châm thêm điếu thuốc mới. Anh hít một hơi dài . Khói thuốc gắt làm anh hơi sặc nhẹ. Tôi thấy anh hơi đỏ mặt. Không biết có phải vì nắng nóng hay vì anh mới vừa hắt hơi mấy cái... Và rồi, khi vừa tàn điếu thuốc, Lâm Chương rủ tôi nhổ vài bụi rau mác về trồng cho vui . Tôi thấy anh hì hục lựa lựa, chọn chọn một hồi rồi cũng nhổ được mỗi loại một bụi còn xanh dờn, và anh bỏ vào cái túi nylon gọn gàng, tâm đắc. Nhưng anh than với tôi: "Bây giờ sao tui yếu quá ông Trung; mới nhổ có vài bụi bồn bồn, rau mác mà nghe trái tim đập đùi đụi, thở không kịp ông Trung à!" Tôi nói với Lâm Chương, mình bây giờ già rồi anh. Vả lại, ai cũng vậy, giống nhau, "sanh, lão, bịnh..." là con đường ai cũng phải qua mà, làm sao tránh khỏi! Tui cũng đâu hơn gì anh. Sau nhiều năm lội thụt mạng trong rừng tràm vùng U-Minh Thượng rồi về quê làm ruộng cơ cực, bây giờ chưn tay cũng rã rời, bủn rủn như con bún thiu. Lâm Chương nhìn tôi thông cảm như có bạn đồng hành trên con đường lận đận tuổi ngoài năm mươi này...
 Phía trước mặt chúng tôi, cách cái đầm lầy nhỏ này chừng vài mươi thước là hồ Mystic thênh thang nước mát. Tôi đề nghị Lâm Chương đến mé nước rửa tay vì vừa dính chút bùn non. Bước qua khỏi con lộ nhỏ, bờ hồ nằm sát bên mé lộ. Tôi sững sờ nhìn xuống mặt hồ khi tình cờ bắt gặp một mảng lớn bông súng xanh lặt lìa chạy dài gần giáp chu vi cái hồ rộng. Những chiếc lá bông súng hình tròn lớn bằng cái dĩa bàn, nhỏ bằng cái miệng chén che khuất mặt nước bít chịt xen lẫn nhiều chiếc bông đã nở màu trắng nhụy vàng rải rác khắp mặt hồ. Tôi mừng như chưa bao giờ được mừng khi được đứng bên mé nước nhìn những bụi bông súng đang ngâm mình trong hồ nước mát này.
Tôi kể cho Lâm Chương nghe về những cánh đồng bông súng của miền đồng bằng sông Cửu Long. Hằng năm, vào những mùa nước nổi, nhà nghèo thường giạt về miệt Ba Răng, Đốc Vàng, Đồng Tháp Mười, Cầu Số Năm, Tri Tôn hoặc qua An Phú, Hồng Ngự, Lỳnh Quỳnh, Ba Thê để nhổ bông súng về bán. Bông súng mọc vượt theo nước. Nơi nào nước sâu bông súng có cọng dài, nơi nào nước cạn bông súng ngắn; có nơi bông súng dài đến bốn, năm thước là thường. Bông súng nở vào buổi sáng khi mặt trời vừa mọc. Người ta nhổ bông súng là nhổ những cọng nào có bông, dù bông búp hay bông nở. Do đó mà những xuồng ghe nhổ bông súng thường bắt đầu lên đồng vào sáng sớm tinh sương để chiều về tìm nơi trú ngụ, phòng khi mưa bão vào ban đêm và sáng hôm sau lại đi nhổ bông súng tiếp cho đến khi đầy ghe, đầy xuồng mới về đem bán khắp các chợ. Cánh đồng bao la với nước là nước, khi có mưa chướng sóng to là mối nguy cho những ghe xuồng bềnh bồng trên đồng trống... Tôi kể cho Lâm Chương nghe thêm, ở trên đồng có hai loại bông súng. Đó là bông súng ta và bông súng ma. Bông súng ta cọng lớn, đài hoa xanh, cánh hoa trắng, nhụy hoa vàng; còn bông súng ma cọng nhỏ, rất mảnh mai, bông nở nhỏ. Vì phần đông từ các nơi phải đi xa nhổ bông súng là để bán, nên người ta chỉ nhổ bông súng ta mà thôi. Bông súng ma nhổ lâu đầy xuồng mà bán cũng chẳng được mấy đồng nên ít người nhổ là vậy.
Lâm Chương hỏi tôi: "Vậy chớ bông súng ngoài việc ăn cái cọng, mình còn ăn được gì nữa không ông Trung?"
Tôi trả lời anh: "Được chớ anh, lá non ăn với cá kho, mắm kho, cá lóc nướng trui cũng ngon lắm."
Rồi tôi kể cho Lâm Chương nghe tiếp vào những năm đồ khổ, ở miệt dưới tôi, người nghèo bị đói lên đói xuống vì loạn lạc, vì ruộng nương thất bát quá mạng, người ta còn hái trái bông súng về ăn nữa anh à! Lâm Chương tỏ vẻ nghi ngờ người ta mà ăn trái bông súng nữa sao! Tôi giải thích thêm, trái bông súng tròn bằng cườm tay, hột nhỏ rứt như hột é tía, người ta gọt vỏ rồi nấu chín ăn cũng đỡ khổ. Có một loại gần giống với bông súng về hình dáng, về cách mọc, về môi trường sống nhưng chỉ khác với bông súng là bông của chúng rất nhỏ và gốc của chúng có củ. Và loại củ này, ở miệt ruộng vào những tháng nước giựt, người nhà quê hay đi móc những củ này về nấu chín rồi lột vỏ ăn, rất ngon. Đó là những bụi củ co mọc rải rác khắp các lung vũng trên đồng, một loai cỏ thủy sinh đa niên nhỏ, lá có màu xanh đậm mặt trên và màu nâu ở mặt dưới. Có củ nhỏ bằng ngón chân cái, nhưng có củ cũng lớn bằng cườm tay nữa. Loại củ co này ăn gần giống củ nưa, hoặc như củ khoai môn đúm, khoai cao. Nhiều lúc người ta cũng ăn củ co cho đỡ đói nữa!
Đang nói chuyện bông súng, củ co, Lâm Chương nhìn xuống nước thấy hai con ốc đang đeo bụi bông súng nhúc nhích cử động. Tôi vói tay vớt hai con ốc đưa cho Lâm Chương và tôi nói loại ốc này là ốc bươu vì có cái đít nhọn, vỏ mỏng.
Lâm Chương tò mò hỏi thêm, "còn ốc lác là ốc gì ông Trung?"
Tôi lại giải thích: "Ốc lác là ốc có cái đít bằng, vỏ ốc dày, sống chui dưới đất vào mùa nắng, mùa mưa bò lên theo các vũng nước."
Sẵn có Lâm Chương hỏi, tôi như có dịp nhớ đồng, nhớ ruộng kể luôn cho anh nghe về cách bắt ốc, hái rau ở nhà quê. Tôi thí dụ cho anh thấy, chẳng hạn như đám bông súng trước mặt đây, ốc đeo theo mấy lá bông súng khuất bên dưới. Muốn bắt ốc chỉ cần chống cái xuồng rà ngang cho lá bông súng chìm xuống là bao nhiêu ốc đều rời khỏi nơi nó đang đeo rồi nổi lên mặt nước. Cứ thế mà lượm ốc bỏ vô xuồng. Hết vạt rong này đến đám bông súng khác, nếu đi suốt ngày ốc có khi đầy xuồng hoặc ít nữa cũng được vài thùng, vài giạ.
Rồi tôi kể cho Lâm Chương cách bắt ốc khác cũng dễ dàng lắm, là chặt những cây đu đủ già lão, rồi chẻ làm hai đem bỏ những thân đu đủ này xuống mương, xuống lung vũng để vài hôm sau trở lại, ốc đeo đầy mấy thân cây đu đủ này. Chỉ còn có cách lượm ốc bỏ vô xuồng đem về luộc với lá ổi, lá chanh, lá bưởi, lá sả rồi dùng gai cam, gai bưởi lể ốc béo ngậy chấm nước mắm sả ớt đưa cay vài lít rượu trắng mới ra lò là hết sẩy.
Lâm Chương vốn ưa rượu, nghe tôi kể, bèn bảo: "Ông Trung nói làm tui thèm quá mạng!", rồi anh hỏi tiếp: "Còn ốc gạo là ốc gì nữa?"
Tôi trả lời anh: "Khác với hai loại ốc bươu, ốc lác ở trên đồng, ốc gạo lại sống dưới sông cái dọc theo các đuôi cồn mới nổi. Đặc biệt, vùng sông Tiền Giang, dưới Sa Đéc, Vĩnh Long người ta mò hoặc cào ốc gạo để bán cho khách bộ hành qua lại hai bên bờ bắc Mỹ Thuận nhiều lắm. Những con ốc này lớn bằng ngón tay, hoặc ngón chân, vỏ màu xanh lợt, ruột ốc trong ngần trông thấy phát thèm. Người ta bán ốc bằng cái lít đong gạo. Khi mua ốc gạo coi chừng ốc bị chết vì người ta rộng lâu ngày. Trong một nồi ốc mà có vài con ốc chết là mất ngon."
Tôi đề nghị Lâm Chương cầm hai con ốc bươu này về cho vô bếp lửa là anh sẽ có hương vị ốc bươu nướng ngon lành. Nhưng anh nói hai con ít quá, thôi phóng sanh cho nó sống làm phước. Tôi nhìn vẻ thành khẩn của anh. Lâm Chương nói tội nghiệp nó. Hai con ốc được anh bỏ dưới nước và chúng từ từ bò đi vài tấc... Đứng gần mé nước, tôi thấy da mặt mát lại.
Lâm Chương vì biết tôi nhà quê, nên có dịp là anh hay hỏi tôi đủ điều, nhất là những chữ dùng ở địa phương, những loài bông hoa, những tên gọi một vài vật dụng vào thời điểm cách xa bây giờ để anh dùng cho những truyện ngắn anh đang viết. Có lần anh hỏi bông sao, bông dầu khác nhau thế nào; cào cào khác châu chấu ra làm sao; cái "cạt- vẹt" xe còn gọi là gì nữa; chệt đai con sau lưng khác với đồng bào thượng mang gùi không? và còn nhiều câu hỏi nữa...
Là một nhà văn với tập truyện đầu tay Đoạn Đường Hốt Tất Liệt do Văn Mới xuất bản, Văn Nghệ tổng phát hành tại Hoa Kỳ (1998), được văn giới biết đến như một luồng gió mới, một tác giả tạo được uy tín hiện nay trên văn đàn nhưng Lâm Chương vẫn giữ được cái đức tính khiêm cung đáng quí, luôn lắng nghe những nhận xét của người đọc. Trong các truyện của anh, cái cẩn trọng luôn luôn được anh quan tâm từng chữ dùng, từng dấu chấm, dấu phết, làm thế nào, dù người đọc khó tính vẫn khó mà bắt bẻ anh được. Câu văn của anh luôn ngắn gọn. Họa hoằn lắm người đọc mới có dịp bắt gặp một câu tương đối dài, nhưng ở đó cũng có nhiều dấu phết ngắt đoạn. Độc đáo nhất, ở truyện của Lâm Chương là những câu đối thoại gần như những câu mà anh đối đáp, trao đổi với bằng hữu hằng ngày, tạo cho người đọc có ấn tượng mình phải theo hoài những mẩu đối thoại có duyên, hấp dẫn để tìm ra cá tính của mỗi nhân vật. Dịp này, tôi có đưa ra nhận xét một cách tổng quát vừa nêu trên đối với các văn phẩm của anh như vậy.
Lâm Chương trầm ngâm một hồi, rồi không chần chừ, anh hỏi tôi: "Ông Trung dạo này có đọc mấy báo Văn và Văn Học không?"
Tôi nói: "có."
Anh hỏi tiếp: "Ông thấy "Trường Sơn, Gửi Lòng Ở Lại" của tôi trên Văn Học số Tháng 7-99 được không?"
Với một câu hỏi quá đột ngột về một truyện mới nhứt của anh, nói đúng hơn đây là một loại ký sự, hoặc tùy bút, tôi không thể nói dối anh được, nên đành trả lời: "Tôi thấy thích "Thượng Du, Niềm Thương Nhớ" hơn "Trường Sơn, Gửi Lòng Ở Lại", dù cả hai cùng viết về những năm tháng cùng với núi rừng, một đằng núi rừng Hoàng Liên Sơn, một đằng với núi rừng Trường Sơn. Nhưng dù là "niềm thương nhớ" hay "gửi lòng ở lại", cả hai đều nói lên cái tính cách nhân bản, tình người của chính tác giả."
Lâm Chương dường như không phải suy nghĩ và gật đầu như đồng ý với nhận xét của tôi. Dường như Lâm Chương là một trong hai nhà văn mà tôi được gặp luôn luôn lắng nghe ý kiến của người đọc và chịu khó xem kỹ lại bản thảo của mình khi cần. Người thứ hai là bạn văn của anh, nhà văn Trần Hoài Thư. Trường hợp truyện ngắn "Những Ngày Mắc Cạn" của Lâm Chương, trên Văn Học, là một thí dụ về bản thảo được anh sửa đi sửa lại nhiều lần sau khi bạn bè anh đọc thử và có đưa ra vài nhận xét.
Dưới mặt hồ có vài con cá đang ụp móng. Theo kinh nghiệm những tháng năm giăng câu trên đồng, tôi đoán dọi cá ụp móng như vậy là cá lớn.
Tôi khều tay chỉ cho Lâm Chương và nói như tôi đang nhớ những ngày đi giăng câu, giăng lưới hồi còn ở bên nhà: "Mấy con cá này, nếu có một tay lưới cá trắng bủa cập mé bông súng là dính liền đó nghe anh!"
Lâm Chương hỏi tôi cá dính lưới rồi làm sao gỡ. Tôi trả lời anh, lo gì anh, mình nằm xấp xuống mũi xuồng, cứ thủng thẳng nắm con cá cho chắc ăn rồi gỡ cá bỏ vô khoang xuồng mấy hồi. Cá nào lớn hơn lỗ lưới mình gỡ ngược. Cá nào vừa bằng lỗ lưới mình gỡ xuôi.
Tôi sẵn dịp nói đùa với Lâm Chương chơi cho vui: "Chẳng khác nào như anh viết văn vậy mà! Có cảm hứng về một đề tài nào, lo gì không có tác phẩm hay, hấp dẫn."
Như nhớ lại gần cả tháng nay anh thường bị chứng "nhức đầu đông", Lâm Chương tâm sự:" Gần tháng nay tôi bị nhức đầu quá mạng ông Trung. Bác sĩ cho thuốc uống thì đỡ đỡ, nhưng uống thuốc này lại bị ngầy ngật quá!" Rồi anh tiếp: "Ông có đọc "Hồi Ký Viết Trên Gác Bút" của Nguyễn Thụy Long chưa?" Tôi trả lời anh: "Có đọc rồi." Lâm Chương hỏi tôi thấy sao? Tôi nói với anh, làm nhà văn như Nguyễn Thụy Long, nghĩ cũng quá lận đận phải không anh? Lâm Chương chậm rãi một hồi, rồi đưa ra nhận xét:"Đọc quyển sách đó mình biết thêm về nhiều điều lúc mình không có mặt ở Sài Gòn sau năm 75, nhưng theo tôi, dường như tác giả bây giờ già quá rồi và rượu làm hại ông quá mạng, nên "hồi ký vẫn là hồi ký".
Tôi không hiểu Lâm Chương muốn nói gì qua mấy chữ "hồi ký vẫn là hồi ký", nhưng lại sợ Lâm Chương nhức đầu, nên tôi bắt qua chuyện đồng quê với hồ bông súng trước mặt. Tôi giải thích thêm cho anh về cách rê cá lóc trên những vạt bông súng bằng mồi nhái như vạt bông súng này. Nhất là mấy chỗ nào người ta chưa đến câu, mình rê một hồi là đầy giỏ như chơi. Lâm Chương dường như nhớ lại hồi còn trẻ, mỗi lần từ Tây Ninh xuống thăm người chú ở miệt kinh xáng Bốn Tổng, anh cũng thường theo xách giỏ cho ông chú rê cá lóc dọc theo bờ kinh xáng, hoặc mấy cái lung, mấy miệng đìa, mà nhiều lúc cá nhiều quá anh quẩy không muốn nổi.
Rồi Lâm Chương nói nhanh như đã suy nghĩ từ lâu lắm: "Ông Trung là một người làm ruộng rặt, không ai nông phu hơn ông."  Tôi cười và tiếp lời anh: "Tôi mừng nhứt là ai ai cũng biết mình làm ruộng. Tôi thích nghề này lắm anh, vì làm ruộng là nghề của mọi nghề mà!"
Tôi nhìn một lượt qua mặt hồ và đếm thử có bao nhiêu bông súng đang nở nhưng mắt tôi không làm sao đếm nổi vì cả mặt hồ này như một cánh đồng nước nổi tháng tám, tháng chín, tháng mười ở vùng đồng ruộng quê tôi. Tôi đếm đi đếm lại nhiều lần nhưng đành bất lực. Nhìn cái túi nylon đựng mấy bụi rau mác, bồn bồn Lâm Chương đặt gần mé nước còn tươi rói, tôi rủ anh cùng về với tôi. Chúng tôi đi về ngang qua con lộ nhỏ, và tôi còn nhìn ngoái lại những vạt bông súng xanh rì phía sau lưng. Bất chợt, tôi bắt gặp Lâm Chương tay xách túi nylon đựng rau mác cũng nhìn những bông súng trắng nhụy vàng lớp lớp trên mặt hồ Mystic giữa trưa hè... Đi ngang qua mấy người bạn Quảng Nam đang vui chơi trên một nền cỏ cạnh bờ hồ, như một buổi picnic, các anh Phan Xuân Sinh, Trần Trung Đạo, Dư Mỹ, Nguyễn Ngọc Thanh và nhiều người quen khác, ai cũng hỏi Lâm Chương về mấy bụi bồn bồn, rau mác đựng trong túi nylon. Lâm Chương rất vui vẻ chỉ chỗ cái đầm lầy kế bên bờ hồ còn đầy dẫy những bụi cỏ quen quen với màu xanh của đồng ruộng chưa cày phơi đất.
Trên đường về, trời nắng chang chang. Ngọn gió nóng hầm hập lùa vào cửa xe, nhưng tôi thấy dường như Lâm Chương không để ý mấy. Anh cứ giữ chặt cái túi nylon vì sợ mấy cây cỏ nội hoa đồng của anh bị héo giập vì trời quá nóng. Tôi chợt tự hỏi mình: “Làm sao có thể hiểu được một người xa cố hương đang nghĩ gì khi họ tình cờ gặp lại những loài cỏ nội hoa đồng quen thân cũ cũng đang có mặt ở một hồ nước u tịch xa lạ này!!!”
 
Lương Thư Trung

Thơ Lâm Hảo Dũng, Ngọn gió-nồm-nam thổi cuối trời… - Lương Thư Trung

 
Nhắc tới thơ văn vùng sông nước Hậu Giang, không thể không nhắc đến nhà thơ Lâm Hảo Dũng, có lúc anh còn ký bút hiệu Mây Viễ n Xứ (1). Lâm Hảo Dũng bắt đầu làm thơ từ thời còn đi học tại trường trung học Hoàng Diệu (Sốc Trăng) và sau này khi vào đời, anh tiếp tục làm thơ viết văn cùng thời với các lớp văn nghệ sĩ như Trần Phù Thế, Lưu Vân, Triều Uyên Phương, Trầm Mặc Nghệ Thế và rồi Phù Sa Lộc, Nguyễn Bạch Dương, Ngô Nguyên Nghiễm, Hà Thúc Sinh, Lâm Chương, Tô Đình Sự, Trần Hoài Thư… Tác phẩm đã xuất bản: Ngày Đi Thương Sợi Khói Bên Nhà (thơ), Đi Giữa Thời Tan Nát (thơ), Tóc Em Dài Em Cài Bông Hoa Lý (thơ)
 
Lâm Hảo Dũng quê làng Bố Thảo, Sốc Trăng. Nói về quê Bố Thảo của anh, tác giả cho biết:”Quê Bố Thảo của tôi cũng bình dị như bao làng quê khác, người dân sống bằng nghề ruộng rẫy, không có nét dặc biệt như ở Kế Sách nổi tiếng về cây trái, Phú Tâm có bánh pía, mè lau … Năm 19 tuổi tôi dã rời xa quê, đi học, đi làm và đi lính. Châu Đốc đối với tôi mới thật sự là có nhiều kỷ niệm, cảnh núi sông, bạn bè văn nghệ như Ngô Nguyên Nghiễm, Lưu Như Thủy, Nguyễn Thanh Xuân, Trấn Biên Thùy, Cao Thoại Châu (di lính, gặp ở Pleiku)”.
Thiệt tình ra, cái nét bình dị của làng Bố Thảo cũng là cái nét tiêu biểu của bao làng mạc miền Tây Nam nước Việt. Cũng năm ba bụi tre làng, cũng hàng bần dưới mé sông; cũng bao mái nhà lá đơn sơ, cũng gốc cà gốc ớt, cũng dưa leo đậu đũa, hàng cau, vườn trầu, đống rơm, bông so đũa, cọng rau om, rau thơm, bông điên điển, mương lạch, đìa bàu… Tất thảy đều nói lên cái nét đơn sơ mà thân thiết với đời sống người dân nơi sông nước miền Tây Nam này . Xin mời bạn cùng tôi ghé lại thăm căn nhà của thi sĩ qua bài thơ “Nhà tôi”
 
“Ơi những ngày xưa dưới mái nhà
Mẹ ngồi lựa thóc ngắm mây xa
Những lo mưa sớm bên đồng nội
Làm mất màu tươi mấy gốc cà
 
Xanh ngắt một màu bên liếp rẫy
Giàn dưa leo sớm bỏ vòi cong
Còn ghen đậu đũa vừa đơm trái
Hay lũ rau thơm đám cúc tần
 
Có mấy hàng cau nhỏ thế thôi
Mẹ thường nhắc nhở những khi vui
Một mai đám cưới không lo thiếu
Trầu tốt cau ngon thuốc đượm mùi
 
Đây đống rơm khô dưới gốc gòn
(Là nơi tôi rải mộng lang thang)
Chờ em từ thuở con trăng tối
Cho đến trăng đầy em mới sang
 
Thèm quá nồi canh chua cá lóc
Chút bông so đũa cọng rau om
Ai lên phố thị mà không nhớ?
Mùi vị dưa nồng điên điển thơm
 
Mười mấy năm rồi đi biệt xứ
Nhà tôi còn đó mẹ tôi không?
Nghe thương những cánh chim tu hú
Mãi gọi bên sông điệp khúc buồn.”
 
Ngôi nhà của Lâm Hảo Dũng chỉ chừng ấy nét bình dị quen thân mà khắn khít biết bao! Dường như ai đã từng sanh ra và lớn lên nơi các làng quê đều nghe như mái nhà của tác giả cũng chính là mái nhà yêu dấu của chính mình. Bức tranh quê  nơi sông nước miền Tây còn được Lâm Hảo Dũng làm đầy thêm bằng những tâm cảm thiết tha qua nỗi lòng của một đứa con xa quê nhớ về mẹ già qua bài thơ “Về với má” trong thi tập “Ngày Đi Thương Sợi Khói Bên Nhà”. Ở đó, chúng ta bắt gặp lại dòng sông Hậu với nắng, mà lại là “nắng lưa thưa” mới tuyệt diệu. Bạn có nhớ ra “nắng lưa thưa” là nắng gì không? Xin thưa cùng bạn “nắng lưa thưa”là nắng vào lúc gió nồm nam thổi qua có mang theo hơi nước từ vùng biển Rạch Giá, Cà Mau làm mây đen như báo hiệu trời muốn chuyển mưa ; và những vạt mây đen ấy kéo qua che khuất ánh sáng mặt trời làm cho bầu trời đang nắng bổng dịu mát lại; khi mây bay qua khỏi, bầu trời lại chan hòa ánh nắng…Chỗ này, chỗ kia lác đác những vạt mây đen như vậy làm cho nắng cũng lưa thưa man mác cả một vùng; tức là khi thì nắng, khi mát, cứ thay nhau liên tiếp đến khi trời quang mây tạnh. Rồi tác giả còn dẫn ta về thăm lại cây dừa lão, thăm lại mùa lúa chín, thăm lại mấy gốc bần, giàn mướp khía, cây bình bát, dây me đất, đám ô rô, đám mái dầm, mùi thơm cúc tần cùng hương thơm loài rau có tên sao nháy, cùng vị chua của mớ lá vang…, hết thảy  những hình ảnh và hương vị đồng quê ấy càng làm nỗi nhớ của người con xa quê chập chùng thêm biết bao…:
 
“Con cũng muốn về thăm lại má
Thăm dòng sông Hậu nắng lưa thưa
Có cây dừa lão thân gầy qúa
Đứng khóc theo mùa con nước đưa
Thấy nhớ làm sao mùa lúa chín
Má ngồi khâu áo ở đầu sân
Thương thằng hai đã nằm trong đất
Thằng Út mơ màng tính vượt biên
Con gởi buồn theo mấy gốc bần
Mấy giàn mướp khía mới đơm bông
Mấy dây bình bát dây me đất
Và đám ô rô lũ mái dầm
Má biết con yêu thích cúc tần
Cái hương sao nháy rất thanh tân
Từ khi con bỏ quên đời lính
Lòng chết còn thương những lá vang”
 
Còn nữa, nào là kinh xáng múc, rồi có cả tiếng chim bìm bịp kêu mỗi lần nước lớn, cùng tiếng chim tu hú gọi Tết về nơi những bụi tre sau nhà cứ vang vang bên tai mỗi ngày nhưng nay không còn nghe lại nữa càng làm vấn vương hoài trong tâm tưởng của tác giả qua lời trách móc nhẹ mà đau như cắt ruột:
 
“Ai cắt lià chi từng núm ruột
Mà kinh xáng múc cạn khô dòng
Mà chim bìm bịp chim tu hú
Cũng trốn bay về chốn biển đông.”
(Về với má)
 
Đời sống người dân quê nơi các làng mạc miền Nam chỉ mơ xã hội yên bình để làm một người dân bình thường hầu lo cày bừa cắt gặt kiếm sống qua ngày; nhưng ước mơ bình dị ấy nhiều lúc thời cuộc biến đổi, xã hội loạn lạc, đâu phải ai cũng sống an cư lạc nghiệp được với ruộng vườn của mình. Chính vì thế, trong dân gian có thêm hạng “phó thường dân”, tức là hạng người thấp kém, chưa được là người dân bình thường như mọi người, nên họ là hạng người không bằng ai ngay tong làng quê của mình, nói gì đến các nơi chợ búa phố phường! Tuy vậy, Lâm Hảo Dũng lại “chỉ muốn làm phó thường dân” thôi, mà lại là “phó thường dân Nam bộ”mới là đúng mực Nam Kỳ, tức cũng là một phó thường dân như mọi phó thường dân nhưng rất chịu chơi, không ngán ngại điều gì. Mời bạn nghe tác giả tả nỗi lòng của mình qua niềm mơ ước làm một  người dân quê quèn ấy:
 
“Phó thường dân tà tà đi bát phố
Ngắm quần loa ống túm áo chim cò
Ngắm tóc dài của tiểu muội tiểu thơ
Đâu cần biết ngày mai mưa hay nắng
 ( Phó thường dân dường như lười biếng tắm)
Đi giữa đồng thèm hát khúc hoài lang
Áo bà ba ai xanh tím đen vàng
Chàng yêu hết nên đem về nhốt kín
Phó thường dân thích giăng câu đặt trúm
Thích lai rai nghe gío mới se buồn
Ngủ dật dờ bên xáng múc chiều hôm
Đời trôi chậm hay nhanh chàng bỏ mặc”
 
(Tôi Chỉ Muốn Làm Phó Thường Dân Nam Bộ)
 
Nhưng rồi Lâm Hảo Dũng cũng đành trách than cùng số phận của kẻ xa quê biền biệt mấy mươi năm:
 
“Phó thường dân mấy mươi năm biệt xác
Bỏ đồng không hiu quạnh gái quê hiền
Bỏ mất hồn thương mãi tiếng chim quyên
Là vĩnh biệt đất nồng thơm sửa mẹ
 
(Tôi Chỉ Muốn Làm Phó Thường Dân Nam Bộ)
 
Nỗi thất vọng về một mơ ước đơn giản ấy không thành lại chính là nỗi thất vọng lớn vô cùng, nếu không muốn nói là nhiều lúc nhà thơ của chúng ta tuyệt vọng đến kinh hoàng… Nỗi tuyệt vọng không làm được “phó thường dân Nam Bộ” đó cứ mãi làm cho tác giả càng thấy nhớ mây, nhớ trăng, nhớ con đường làng quê đến não nùng:
 
“Tôi có cuồng chưa có hóa điên
Khi nhìn mây trắng nóc trời xanh
Con trăng đất khách mà như ngỡ
Đi giữa làng quê của Việt Nam”
(Tên Lữ Hành Phương Đông”
 
Để rồi thi nhân thả hồn mình hồ nhập cùng hồn quê qua những ngày thân ái cũ:
 
“Tôi vẫn thèm nghe mắt để trông
Cái hồn cây cỏ thở mênh mông
Những hàng ổi dại bầy chim sẻ
Xô nát rừng phong rực sắc hồng
 
Những chiếc đầm bay kênh kiệu quá!
Đâu vải quê nghèo áo của tôi
Ai trong buổi tiệc mà không nhớ
Màu cá đồng xanh lục tỉnh ơi!”
(Tên Lữ Hành Phương Đông)
 
Có thể nói Lâm Hảo Dũng dù ở bất cứ nơi đâu hồn anh cứ mênh mang về một nỗi nhớ quê nhà. Như lời kể của tác giả, một trong những địa danh làm nên nỗi nhớ của nhà thơ là Châu Đốc, một tỉnh lỵ vùng biên giới Việt-Miên một thời lúc tuổi thanh xuân dạt dào nhựa sống anh đã dừng chân và để lại hồn mình miên man trôi theo dòng nước mát với những mùa trăng trên bến nước Cửu Long và nay vẫn còn đọng lại trong trái tim người thì sĩ đầy lãng mạn qua những dòng thơ vừa tình tứ mà ngọt ngào, vừa êm đềm mà tha thiết biết bao với dòng sông, ngọn núi, ánh trăng cùng người yêu bé nhỏ một thời dù nay đã lâu quá rồi và cũng xa quá rồi một thời nhiều nhựa sống ấy … :
 
“em khóc dòng sông khóc nước sông
ta đi sầu ngát tận trong lòng
nhớ trăng đầu núi trăng đông nội
và những mùa trăng sông Cửu Long
 
em ở bên kia trời cách biệt
mắt buồn vây kín núi Sam xa
ta như lữ khách không nhà cửa
ngủ đậu trên chùa mỗi tháng ba
 
em khóc dòng sông đó phải không
ngàn năm vẫn nhớ má em hồng
vẫn yêu đường đá miền Châu Phú
những chuyến đò đêm nước ngược dòng
 
bởi ta lười biếng làm sao thấy
em đẹp như là hoa hướng dương
vu vơ em hát hay ta hát
mà tóc tung bay rất ngập ngừng
 
em khóc dòng sông đó phải không
đêm mơ về thấy chín con rồng
vẫy đuôi trên nóc Tây An Tự
đón hội Long Hoa một tối rằm”
 
 (Bài thơ gợi nhớ về Châu Đốc)
Dĩ nhiên rồi, Lâm Hảo Dũng làm sao quên được những bạn bè ngày cũ của anh nữa qua bốn câu kết bài thơ với nỗi lòng chân thành cùng bằng hữu thật tha thiết:
 
“ta nhớ một đời riêng để nhớ
những mùa trăng cũ bạn hiền xưa
Cồn Tiên bên quán ngồi châm thuôc
rượu ngất ngây hồn vị tiễn đưa”
 
(Bài gợi nhớ về Châu Đốc)
 
Nhớ về Châu Đốc là thế, ở đó có nét đẹp riêng của một tỉnh lẻ miền Tây Nam Nam phần mà ai đã có ghé qua và ở lại đó rồi mới thấy được cái nơi tưởng chừng như quạnh quẽ đìu hiu ấy vậy mà rồi khi rời xa hồn vẫn bâng khuâng lưu luyến mãi hoài …
 
Lâm Hảo Dũng là một chàng trai lớn lên giữa thời chiến, cũng như anh, những chàng trai thời ấy không chọn cho mình cái nghề đánh giặc thế mà rồi cũng phải lên đường ra trận. Có bận anh về qua Năm Căn, Cà Mau với dòng sông Trẹm như một kỷ niệm khó quên dù nay không còn chiến tranh như bao mùa binh biến cũ với lời thơ vừa như tâm tình vừa như trách móc:
 
sontrem
  
 “Ấy dòng sông Trẹm tôi quen
Nắng cao để lắng vị phèn đỏ hoe
Người đi đâu biết sang hè
Chỉ nghe quanh quẩn tiếng ve gọi sầu
Em khăn tắm quấn ngang đầu
Nhìn tôi con mắt bạn thù ai hay?
 
Ấy dòng sông Trẹm xưa nay
Còn thương cây mắm rễ cài trên không
Lênh đênh em một chiếc xuồng
Ðời tôi lính trận cỏ bồng chân mây
Xa nhà mượn chén rượu cay
Khóc khi mai biết tuổi đầy buồn lên
 
Ấy dòng sông Trẹm tôi quen
Nhà ai đã vội đốt đèn đêm nay
Dầu mù u ngọn lắt lay
Em nơi âm phủ khói bay tìm về
Hận người con muỗi vo ve
Nằm trong cuộc chiến bạn bè giết nhau
 
Ấy dòng sông Trẹm trôi mau
Nước đi nhắc lại cái màu thời gian
Nhớ hồi ở miệt Năm Căn
Rải quân mấy cụm đóng đồn giữ dân
Mùa khô con cá thưa dần
Tôi xui xẻo biết em làm giao liên
Ấy dòng sông Trẹm tôi điên
Thề không trở lại đi thuyền năm xưa.”
 
 (Ấy dòng sông Trẹm tôi quen)
 
Là một người lính, Lâm Hảo Dũng nay đóng quân ở nơi này mai nơi khác như một kẻ giang hồ phiêu bạt. Rời Nam Căn miệt U Minh, nhà thơ và người lính Lâm Hảo Dũng lại ra trấn thủ vùng cao nguyên Pleiku, Kontum như một thách đố với con người vốn sanh ra và lớn lên từ miền châu thổ đồng bằng. Nhưng cũng chính nhờ vào những chuyến đi mang nhiều thay đổi ấy, tác giả đã cho người đọc có những câu thơ viết về vùng cao nguyên xa mù ấy thật dạt dào:
 
“Con đường ấy vẫn hoen màu bụi đỏ,
Gió lơ thơ nghe nắng mới ngập hồn.
Anh sống thở trong tâm hồn trai trẻ,
Nghe nỗi buồn đâu đó đến phân vân.
 
Hoa cúc dại thắm trên đường xa tắp,
Và quê hương tha thướt lá xanh trà.
Em có thả những chòm mây nhung nhớ,
Cho rừng hoang im vắng tiếng chim ca.
 
Đời viễn khách mơ hồ không biết được,
Bước chân vang rộn rã buổi quay về.
Em mắt biếc hồn nhiên bên cánh cửa,
Gửi hư ơng nồng quay quắt bóng người đi .”
(Chiều hàm Rồng)
 
 Ngày nay dù qua đi hơn 35 năm, nhưng đọc lại những câu thơ Lâm Hảo Dũng viết về vùng ba biên giới với những địa danh một thời ngập tràn khói lửa, lòng tôi sao thấy nao nao về một nỗi hiểm nguy ghê rợn của ngày nào … Những địa danh như núi Phượng Hoàng, Pleiku, KonTum, Tân Cảnh, Daksut, Dakpet, Ngok Long, Poko, Konko, Dakbla, Đường 14, và nhiều địa danh khác là những dấu binh lửa một thời khó phôi pha trong lòng người lính và nhà thơ Lâm Hảo Dũng. Xin mời bạn đi vào một vài chứng tích ấy qua một vài câu thơ của tác giả:
“Một mai về lại tam biên đó
Hãy ngắm Poko núi Phương Hoàng
Thấy tao như một vầng trăng nhỏ
Ngủ dưới chân rừng đêm tối đen”
 
(Một mai về lại tam biên đó)
 
Và trong “Tân Cảnh hồn tôi”, Lâm Hảo Dũng cho người đọc thấy được khói lửa chiến tranh đang ngùn ngụt cháy ở nơi vùng núi đồi cao nguyên với núi rừng bao la ấy và lúc nào cũng ngan ngát cái dũng khí của một người lính trận nhớ núi nhớ rừng:
 
“Từ dạo tôi rời thị trấn núi
Bỏ con đường dốc nắng lưa thưa
Bỏ chùa hiu quạnh hàng thông đứng
Bỏ giáo đường im bóng xác xơ
Những trưa quán cốc nhìn mưa xám
Còn thấy mây mù đỉnh Ngok Long
Giặc cắt đường về trên Daksut
Hỏi đồn Dakpet lạnh lùng không?
Ai lên Trí lễ mùa cam chín?
Ngắm hộ dùm tôi cảnh Phượng Hoàng
Địch chở đạn bom về gởi bán
Nên trong mùa gặt ngút điêu tàn
Quê hương buồn gởi theo biên giới
Những lá rừng xanh mới của tôi
Hãy ngang tàng lớn đừng kinh khiếp
Cho đất miền cao đẹp núi đồi”
 
Mặc dù trên những mặt trận mà người lính thi sĩ ấy đi qua đầy những vết tích chiến tranh với biết bao gian nguy, thế nhưng khi biết mình sắp đổi về đồng bằng, Lâm Hảo Dũng thấy nhớ lại những ngày lãng mạn một thời qua bốn câu kết trong bài “Pleiku Sầu Gởi Lại”
 
“Đời lính trận trên cây cầu sống chết
May còn em làm ấm chút vui lây
Rời bỏ núi tôi sắp về châu thổ
Lửa buồn ơi đem hỏa táng tôi đây”
 
Nhưng có lẽ hình ảnh chiến tranh rõ nét nhất nơi con đường 14 với mùa Hè Đỏ Lửa năm nào :
 
“Ai biết con đường loang máu đổ
Những hồn lưu lạc dưới Poncho
Những hồn vất vưởng bên bờ suối
Đi hái hoa xuân mọc dưới mồ
Ta bỗng cười khan đùa chiến trận
Bình Tây chưa chết vẫn còn đây
Hạ Lào đi suốt vùng biên giới
Nhìn Ngok Tu Ba xác ngập đầy
Hè nay ta lại trên đầu súng
Chợt xót xa cho khách chiến bào
Đang đốt đời trong cao điểm đó
(Bao giờ thấy lại ngọn Chư Pao?)
 
 (Đường số 14)
 
Và viết về mùa hè năm 1972 đã qua rồi ấy, Lâm Hảo Dũng có một bài thơ khó làm cho người đọc bỏ qua được với mấy câu thơ mà mỗi lần đọc lại tôi vẫn nghe lòng mình buồn vô hạn…:
 
“Khi em bỏ Pleiku về với biển
Một ngày vui tôi kiếm cũng không ra
Nắng tháng năm nóng theo màu cuộc chiến
Tôi lên rừng săn đuổi đám mây xa
Đồi Lam Sơn để ngóng về Tân Cảnh
Dakto ơi !tôi tạm biệt bao giờ
Rồi soát điểm rồi nằm quanh Trung Tín
Rồi hoa đời chưa nở đã tuơi khô
Cho tôi thấy một mùa hè đỏ sắc
Đẹp não nùng trong từng gốc gai thơm
Và trên những chỗ ngồi ươn ướt đất
Bằng hữu tôi vừa trút thở linh hồn”
(Đã qua rồi một mùa hè) (1972)
 
Theo nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh, “Lâm Hảo Dũng có hai câu thơ đọc nghe nhức nhối, như luồng điện dí vào da thịt. “Chư Pao ai oán hờn trong gió.
Mỗi một khăn tang một tấc đường. ”
Câu thơ của những ngày hè đỏ lửa 1972, khi chốt Chư Pao của Bắc quân cắt ngang đường tiếp tế cho Kontum đã biết bao nhiêu chiến sĩ hai bên hy sinh và biết bao nhiêu tấn bom đạn đã đổ trên mỏm núi.”(2)
 
Lâm Hảo Dũng còn nhiều lắm những bài thơ viết về chiến tranh như vậy, nên làm người đọc có cảm tưởng anh đang viết bút ký chiến tranh bằng thơ. Nhưng có lẽ cũng ghi nhận thêm một điều này nữa là ngoài những nỗi nhớ mang mang về chốn cũ kể cả nơi làng quê vùng đồng bằng và các vùng chiến địa cao nguyên một thời mà anh đã xông pha nơi các trận mạc ấy, Lâm Hảo Dũng khi chợt nhận ra mặt trận nào rồi có ngày sẽ êm tiếng súng, chiến tranh nào rồi cũng kết thúc một thời kỳ và người lính trẻ năm nào rồi cũng phải giã từ vũ khí với màu thời gian phảng phất trên mái tóc điểm sương khi tuổi đời thấp thoáng ở ngưỡng cửa năm mươi, cái tuổi mà người xưa gọi là “Ngủ thập tri thiên mệnh”, và rồi tác giả có bài thơ “Cho tôi hoài ở tuổi năm mươi”. Chắc có lẽ bài thơ này tác giả làm khi anh vào độ tuổi năm mươi ấy, nay thì đã qua rồi cái thủa “năm mươi” rồi mà sao nghe như vẫn tha thiết lắm về một ước vọng xa xăm …
 
Cho tôi hoài ở tuổi năm mươi
Để tôi thấy tôi còn xuân sắc
Mây vẫn chở khoảng trời xanh ngan ngát
Tôi sợ rồi ai gọi tiếng buồn ôi
 
Tôi cô đơn ôm bóng tối cuộc đời
Tôi kinh khiếp đếm thời gian lặng lẽ
Tôi còn trẻ nghìn năm tôi vẫn trẻ
Đừng mang tôi rời bỏ tuổi năm mươi
Đêm quạnh quẽ tưởng chừng như lắng đọng
Tiếng tôi rên từng nhịp thở rung đều
Tôi cứ chờ triệu ngàn năm ánh sáng
Một bóng hình tôi ghét gọi người yêu
 
Cho tôi hoài ở tuổi năm mươi
Tôi thấy có thiên đường và địa ngục
Tôi bật cười đâu hay tôi sắp khóc
Tình yêu ơi tôi chối bỏ lâu rồi”
 
Dĩ nhiên rồi, làm sao ở mãi tuổi năm mươi, làm sao níu lại được thời gian, phải không thưa anh? :
 
“Thế là tôi lừa dối chính tôi thôi
Thế là tôi chôn sống trái tim người”
(Cho tơi hồi ở tuổi năm mươi)
 
Vốn thi sĩ là những nghệ sĩ với một tâm hồn lãng mạn vơ bờ và tâm hồn Lâm Hảo Dũng cũng bềnh bồng trong sơng nước giĩ trăng lãng mạn ấy . Với bài thơ “Tôi Vẫn Biết Em Buồn Bên Mái Lá”, là  một trong những vần thơ chan chứa cái chất lãng mạn ấy:
 
“Tôi vẫn biết em buồn bên mái lá
Hàng bụp thưa đôi búp nhú ơ hờ
Đất xa trời bao năm mà đất nhớ
Những ngày giông đêm tối hẹn hò mưa”
 
Nhưng điều tôi muốn ghi nhận nơi đây là cái chất quê nhà ở trong thơ Lâm Hảo Dũng nó bền bỉ biết dường nào ! Khi bạn nghe ra những chữ như “thương hàng cau ngan ngát”, “em hãy cắn giùm tôi vài quả ổi”, “chùm mận tươi khi gió chuyển mùa sang”, “Nhớ đầu doi cuối vịnh”, “mái chèo”… là bạn sẽ cảm nhận nơi thơ Lâm Hảo Dũng dù có trải qua bao năm tháng dài bao lâu đi chăng nữa và tuổi đời dù có không được “ở hoài tuổi năm mươi” đi nữa, thơ anh vẫn thênh thang một trời quê nhà yêu dấu ấy :
 
“Em có mắt của một đời xa xứ
Thương hàng cau ngan ngát mấy chân vườn
Thương chết được nhưng bao giờ thấy lại
Bóng hình tôi về ngủ giữa hồn em
Tiếng chim hót sao nghe buồn qúa đổi
Bởi ngày qua nắng tắt sợi thu vàng
Em hãy cắn giùm tôi vài qủa ổi
Chùm mận tươi khi gío chuyển mùa sang
Tôi vẫn biết em buồn bên mái lá
Hỏi giòng sông đưa nước đến bao giờ?
Sông xa nguồn chắc sông sầu muốn khóc
Nhớ đầu doi cuối vịnh mái chèo khua
Đâu chỗ vá trên áo người cô phụ
Một thời xưa duyên dáng cuốn qua rồi
Nghe đứt ruột tưởng chừng trong đáy cốc”
 (Tôi vẫn biết em buồn bên mái lá)
 
Tóm lại, theo thiển ý của tôi, cho dù có phải trải qua những mùa chinh chiến cũ, cho dù có phải lang bạt kỳ hồ ở bất cứ gốc biển chân trời nào, hồn thơ của Lâm Hảo Dũng chính là ngọn gió nồm nam vùng Bố Thảo (Sốc Trăng) mãi hoài mang hương đồng cỏ nội vùng sông nước Hậu Giang thổi mãi tận cuối trời … Chính vì thơ anh là ngọn gió nồm nam vùng Bố Thảo ấy nên cái nét đặc sắc của nó là mát và ngọt. Cái mát của gió và cái ngọt của sông nước Hậu Giang, của những mảnh vườn ngào ngạt hương hoa, của những cánh đồng lúa vàng bông trĩu ngọn làm thành những câu thơ chuyên chở được cái hương nội cỏ đồng dù quê mùa đó nhưng êm đềm; dù nghèo khó đó mà thơm tho, thanh bạch; dù giản dị đó mà thâm thuý vô cùng. Cái nét đặc thù ở thơ Lâm Hảo Dũng là do cái tinh chất của gió, của nước, của ruộng rẫy, của vườn quê làm nên những câu thơ mang phong cách rất riêng và rất trữ tình của vùng châu thổ miền Tây Nam nước Việt vậy !
 
Phụ chú:
(1) “Trần Phong Giao và những người viết trẻ” của Trần Hoài Thư, trên mục “Nguyễn Xuân Hoàng và Bạn Hữu” trang VOA, ngày 03-11-2010
(2)Bài “Giới thiệu thơ Lâm Hảo Dũng” của Nguyễn Mạnh Trinh, trang báo Người Việt Boston, ngày 28-2-2009
 
Lá Thư Văn Nghệ
Gởi Nhà Thơ Cái Trọng Ty
 
Mến chào anh Cái Trọng Ty,
Dù cùng nơi cư ngụ với anh ở Houston cách nay cũng vài ba năm, dù cùng có dịp cụng ly với anh vài ly rượu ấm hôm nào, dù cùng ngồi nhiều buổi cà phê Nguyễn Ngọ với anh trong những dịp cuối tuần, nhưng tôi chưa lần nào nghe anh kể về những bài thơ anh viết, những gian truân trong mỗi bước chân đời, những trăn trở về những thời khốn khó mà anh đã có những ngày phải để hết tâm tư mình cố vượt qua nó! Anh thì điềm đạm, khiêm nhường, thích lắng nghe với nụ cười hiền, ít nói, càng làm cho người quen biết quanh anh càng khó nhận ra ở anh có một đời sống tâm hồn vô cùng phong phú qua gần năm mươi bài thơ mà tôi vừa tình cờ đọc được qua một trang nhà...
 
Thật thế, thưa anh. Với tuổi trẻ, anh đã có một thời khoác chiến y với súng trên vai đi vào miền gió cát bụi mù… Và những ngày tuổi đôi mươi ấy có lần anh đã ghi lại vào một buổi chiều trên bải biển Tuy Hòa (Phú Yên) với “cuộc rượu bốn người”:
 
“năm ấy ra trường về phố biển
trời Tuy Hòa màu áo trận buồn hiu
bờ cát vắng dấu giày saut sóng xóa
quán bên đường nhìn xuống biển mù khơi”
 
(Cuộc rượu tay tư)(*)
 
Thế rồi, theo dấu binh lửa, ba người bạn của anh từ chiến trường Kontum xuôi về miền duyên hải cùng vui trong “cuộc rượu” ấy nay đã tản lạc hết rồi, để anh ngậm ngùi ngồi ghi lại cái bi thảm của một thời chinh chiến cũ:
 
“soi mình một bóng trên đồi đá
ngọn nến võ vàng áo trận phai
màu nắng chiều vàng màu thuở đó
quán nhậu ngày mưa tìm ở đâu
ta về như nắng về xa lạ
thấy cả chiều xưa cuộc rượu tàn.”
 
(Cuộc rượu tay tư)
 
Rồi đời lính chiến ấy như mãi hoài làm anh nhớ lại những buổi di hành, những chiều dừng quân, những lúc hiểm nguy, những lần thoát chết trong đường tơ kẻ tóc... Nỗi nhớ ấy mang trong anh biết bao địa danh trải dài suốt dãy đất miền Trung khô cằn qua từng nhịp thở của một người lính trẻ... Hết làng ven biển Lương Sơn với hàng dừa vi vu trong gió chiều của Nha Trang ngày nào rồi quay về Phan Rí Cửa, Tuy Phong  của Phan Thiết với gạo trắng hạt dài ngon cơm ngày mùa mới gặt; rồi lại ngược lên Sông Pha bên này chân đèo Ngoạn Mục với núi rừng cao nguyên chớn chở, nhìn về phía bên kia đèo cao vòi vọi, khách lữ hành nhìn thấy quận lỵ Đơn Dương của Đà Lạt nằm ẩn mình dưới chân đèo bao bọc bởi gió thông reo; và anh lại phải trở xuống miền xuôi để xuôi về Nam qua Mường Mán (Phan Thiết) vào những ngày binh lửa sắp tàn với sân ga một thời hiu hắt…
 
“Lương Sơn xa lắc đồi rỉ máu
ta ngựa cuồng quay quắt chiến trường xưa
đồng đội cũ đâu lưng từ nổi chết
suy gẫm đời chung thân thế phiêu du”
 
(…)
 
“rừng âm u còn vọng tiếng quân đi
khuya Mường Mán
đường qua Ga hiu hắt
đơn vị tàn
sông núi cũng tàn theo…”
 
(Tháng tư bẻ súng)
 
Thế nhưng người lính chiến ấy với tâm hồn lãng mạn của một thi sĩ anh không quên ghi lại những mối tình qua mỗi chặng dừng quân trên đường ra trận:
 
“quê em tận đồng sâu heo hút
lúa ngoài đồng lép hạt gió Lào khô
buổi sáng di quân quay quắt em nhìn
sau tay áo có lệ nhòa giấu kín
trong bụi mù tôi thấy bóng em trôi…”
 
(Tình em rau đắng)(*)
 
Và rồi, với những niềm riêng thổn thức trong lòng khi cảnh vật chung quanh tiêu điều, hoang phế làm anh chợt nhớ lại quê mình:
 
“đời rong ruổi rừng thâm u muỗi vắt
chút nước sình gạn lọc nấu nồi canh
những gói cơm khô nhai hoài nhạt thếch
thèm bát canh chua. mẹ nấu chiều xưa
 
tình tôi một cánh chim trôi dạt
đáy ba lô mệt nhọc những âu lo
chân bước xuống thuyền lính thú lên ngàn
nghe vượn hú nhớ vườn quê da diết
 
giữa đêm trăng non bãi gò hoang dã
lửa ma trơi nhòe nhoẹt gió đồng không
ngày lưới đạn đêm trói mù hỏa pháo
biết bao giờ em hỡi chút tình quê.”
 
(Tình em rau đắng)
 
Nhớ quê, nhớ Mẹ, và rồi người lính Cái Trọng Ty ấy lại nhớ bạn, nhớ đồng đội một thời nay đã ra người thiên cổ từ độ nào:
 
“đầm hoang chạy mãi về phương bắc
đơn vị hành quân trục lộ Tuy An
chi khu cằn cỏi kề núi đá
thôn xóm đìu hiu đất triệt người
đường vắng chiều lên dốc Đại Hàn
trường sơn xa hút ngày sắp hết
nương rẫy nhà ai khói thở ra
 
đất sầu lạnh lẽo mờ hốc đá
quanh quẩn đồng chiều địch bắn nheo”
…..
 
“ngày đó đơn vị về Củng Sơn
Củng Sơn khí độc da xanh mét
bốn hướng trời tru
đất diệt người
bên kia Trường Sơn cọp gầm rú
chàng bơ vơ giữa núi rừng già
một tối qua đèo địch phục kích
xác nằm phơi suối độc sông sâu
chàng không về lại Nha Trang cũ
biển chiều nay đỏ quạch máu người
mẹ già xa như khói trà hôm sớm
con của mẹ vùi thây nơi xó rừng…”
 
(Qua đầm Thị Nại)
[*Tưởng niệm Trung Úy Phước.Bạn tôi]
 
Thưa anh,
 
Theo dấu chân anh, tôi cũng nhận ra trong từng địa danh anh dừng lại dường như nơi nào anh cũng để lại chút tương tư. Chẳng hạn như anh về Sông Mao, Chợ Lầu, Phan Rí thuộc vùng Phan Thiết, anh cũng có “những đêm trăng hoang dại” để thấy đời “bạc bẽo” mà nhớ hoài, nhớ mãi tới tận bây giờ…
 
“về sông mao
về chợ lầu phan rí
phòng tuyến dài từ dạo ấy sang xuân
sân ga vắng phố chàm trăng hoang dại
tháp hời khuya chìm vô vọng trăm năm
đồi sương đọng dấu giày mờ cỏ lát
trảng lưa thưa mưa xóa bãi mìn chông”
….
 
“đêm hôm ấy trăng khuya đồi bát ngát
tôi theo trăng về muộn trước sân ga
nghe xa vắng còi tàu qua phố chợ
thân xác bọt bèo sống chết như chơi
dòng sông đục nước trôi mù mịt sóng
cuồn cuộn tai ương
đời bạc bẽo vô cùng
 
(Đêm trăng hoang dại)
 
Trong những ngày lang bạt theo những dấu chân di hành qua khắp các vùng đất khô cằn ấy, người lính-làm thơ ấy ngồi nghĩ lại phận mình cùng thân phận tuổi trẻ của những người cùng thế hệ anh mà đành buông tiếng thở dài “thiên địa bất nhân”, một lời trách mà cũng là một lời ta than đất trời, với tôi, nghĩ cho cùng lời than trách ấy không lấy gì làm quá đáng:
 
“dòng sinh tử dường như đùn ải bắc
cõi nhân quần chuyển động bến lao xao
tôi bơ vơ buổi chiều vàng chướng khí
trên vách đời mờ tỏ dấu chân em
lòng thấm lạnh tôi quay về ấp ủ
đêm vỗ về từ cội rễ tâm linh
 
sao ngơ ngác khi đất trời chuyển dịch
cấy tinh trùng thai nghén cuộc nhân sinh
chí cùn sức kiệt dài mơ ước
bão tố vần xoay thiên địa bất nhân…”
 
(Thiên địa bất nhân)
 
Qua những lời trách móc vừa qua, hình như anhmuốn nhìn lại mình thêm một lần để cạn tỏ những suy tư về mình, về tha nhân, về thân phận con người chẳng khác nào một chu kỳ giữa đến và đi qua những làn sóng nhấp nhô vổ vào chân cầu chơi vơi giữa dòng nước mùa nào cũng chảy xiết:
 
“như một lần tôi qua cầu độ nhật
dưới sông sâu nước chảy luân hồi
chỉ thấy tôi trôi
cùng mây về với biển…”
….
“sóng nước vô hồi
chẳng thấy biển về đâu
khúc dạo đầu bên kia cầu phổ độ
mưa hạc vàng thẩm thấu những đời xa…”
 
(Sóng nước luân hồi)
 
Với dòng nước trôi ngang qua cầu “phổ độ” không hề ngừng lại ấy, anh cũng phải nhận ra rằng sau những mùa chinh chiến tàn dường như cũng đồng nghĩa với những ngày tháng dài dằng dặc  phải qua những trại tù Trà Bương, Xuân Phước không hẹn ngày về:
 
“tuyệt đường Kỳ Lộ lưu đày
kiếp tù thay vật kéo cày vỡ hoang
dấu chân mộ huyệt rũ tàn
xó rừng Xuân Phước gian nan nẽo về
 
xương tàn bóng ngã dài lê
vàng mai hú vọng Em về đêm mưa
vườn Uyên phương ấy mùa xưa
nhớ người u ám nắng vừa khuất mây
 
tù qua đây đất loay hoay
nghe trong lao nhục lưỡi cày khổ đau…”
 
(Bên dòng Trà Bương)
Thế nhưng, trớ trêu thay, khi người lính được trở lại nhà thì anh cũng phải chứng kiến bao cảnh đời đổ nát của những người chung quanh trong đó có bạn bè mình mà nghe như “khúc tù ca” còn âm ỉ mãi mãi trong lòng:
 
“ra khỏi trại tù ngỡ ngàng hụt hẫng
quê hương lầm than đoạn đời cơ khổ
gặp lại mày một thời thân aó khố
những ân tình cũ thoáng bơ vơ…”
 
(Khúc tù ca)
 
Rồi nào là cha đau bại liệt, nào là vợ con nheo nhóc, rồi nào là một hôm người vợ lính ấy lại bỏ quê chồng về lại quê mình, Phan Thiết, thật chia cắt đoạn trường. Đứt ruột kẻ ở đã đành mà còn đau lòng người đi nữa! Quả thật hậu quả của chiến tranh thật bi thảm biết dường nào! Nhà thơ Cái Trọng Ty là người cùng quê với anh bạn một thời gốc Huế ởcố đô, anh thay bạn diễn tả lại nỗi lòng kẻ phải xa lìa vợ con giữa những ngày cam khổ ấy:
 
“Huế nắng Huế mưa nặng tình da diết
mày cô đơn chăn chiếu rộng một mình
bữa đói bữa no từng bữa mong manh
cha mẹ qua đời quê nhà tách biệt…”
 
(Khúc tù ca)
 
Thưa anh,
 
Qua những ngày chinh chiến, qua những năm tháng tù đày nhưng dường như với người lính làm thơ như anh không phải không có“một thời để nhớ”,phải không anh? Một thời để nhớ ấy của anh thấp thoáng qua những vần thơ của anh mà tôi vừa bắt gặp, nếu không lầm, có lẽ đó là:
 
“anh thoáng thấy môi em tròn buông xả
nơi nụ cười vô ngại
rót từ tâm…”
…..
 
“ngôn ngữ nào chuyên chở nụ hoa lành
tình cứ thế bềnh bồng thơm hạnh phúc
 
khi có em
ghé thăm ngày tháng mới
chốn không gian đi ngược với thời gian
những ước ao len lén chợt nồng nàn”
….
 
“đêm có muộn
trăng trôi hoài ra biển
mà ngày mai chỉ tội nhớ nhau thôi
mối tình đó lặng câm thăng hóa
ấp ủ kín bưng thuyền ngược sóng đời
 
phố phù hoa
đoá phong lan xa quá
cánh tay ngà mơ mộng gối đêm mưa
em đi qua đời anh tình khách lạ
đêm thu mình ôm kín mảnh tình riêng”
 
(Chỉ là mây sao)
 
Với“Chỉ là mây sao”vừa kể hay chỉ là mộng tưởng trong mối “tình vọng tưởng” sau đây của anh chắc cũng là những kỷ niệm một thời đáng nhớ ấy nữa của riêng anh?
 
“tình u mê làm loài chim bói cá
sóng đong đưa nghìn dặm kiếm tìm em
 
tình vọng tưởng chỉ là Hương nguyệt mật
dẫu hân hoan chỉ là chốn riêng mình
nơi eo gió hạnh phúc tròn túi mật
nơi cội nguồn cách biệt.móng tăm xa…”
 
(Tình vọng tưởng)
 
Rồi tôi lại bắt gặp ở anh một thời đáng nhớ nữa qua các vần thơ trong “Chuyến đò ba bến”, “Tháp hời trăng cổ lũy”, “Sợi nắng”, “ Màu thời gian”, “Bèo chơ vơ tiếng sóng”, “Có một mùa trăng xa như biển”, “ Thư tình trên cát” vân… vân… Mỗi mỗi câu thơ qua những bài thơ ấy đều chuyên chở những kỷ niệm một thời, dĩ nhiên trong những niềm nhớ tưởng ấy có nỗi buồn man mác như gió chiều nhẹ thổi qua vườn nhà cũ mà nghe ra xao xuyến biết dường nào!!! Nhưng bài thơ “Mẹ”mà tôi được đọc có lẽ là niềm thương nhớ trong anh vô bờ bến bởi lẽ trên cõi đời này không ai chiếm trọn trái tim mình bằng người sanh ra và nuôi nấng dưỡng dục mình từ lúc mới lọt lòng mẹ cho chí đến những ngày khôn lớn... Người con có hiếu ấy lại có một tâm hồn nghệ sĩ nữa thì tình thương mẹ tăng lên gấp bội phần qua những vần thơ chan chứa biết bao tình mẫu tử:
 
“đêm ấy giữa mịt mù sóng biển
con đã xuống thuyền
sinh tử đỏ đen
ngoãnh lại bờ xa
thấy lờ mờ phố nhỏ
Mẹ vẫn đứng ngồi dưới ngọn đèn khuya
thắp một nén nhang
trước bàn thờ Tiên Tổ
nguyện cầu cho con sóng nước bình yên…”
(…)
 
“đêm nay mưa ướt trong hơi thở
đêm đoạn đành
con phải vượt biên
thuyền đã biển khơi
giữa hai lằn ranh giới
con chỉ muốn quay về hơi ấm Mẹ thôi
nhớ thương mà quay quắt trong lòng
đời Mẹ ngày một héo hon
nỗi mất còn ngày một ngọn gió thu
thăm thẳm trong tim
ngọt ngào tiếng Mẹ
một đời con
con ve sầu chưa lột xác
nhặt nhạnh thu gom
những quá khứ hao mòn
tóc Mẹ ưu phiền thêm bạc trắng ra
như cánh buồm giạt gió mưa nhòa.”
 
(Mẹ)
 
Thưa anh,
 
Qua gần năm mươi bài thơ của anh mà tôi vừa đọc được, theo thiển ý của tôi, có thể đúc kết lại thành một chuỗi thời gian dài tạo thành một dòng sống liền mạch trong tâm hồn anh qua“những ngày lính chiến- những lúc tù đày và một thời để nhớ” với những bài thơ đa phần làm theo thể tự do mà như dòng nước từ trong núi thẳm của cõi lòng anh với chút lãng mạn của người nghệ sĩ nócứ rì rào tuôn chảy mãi hoài bất tận vậy! Dường như ở đó, thơ anh là tiếng nói của lòng anh đã đành mà nó còn cưu mang nỗi niềm của những người lính trẻ một thời với thế hệ của anh giữa những ngày mùa chinh chiến cũ nữa!
 
Như phần đầu lá thư tôi có nhận xét:“Anh thì điềm đạm, khiêm nhường, thích lắng nghe với nụ cười hiền, ít nói…” và có lẽ chính vì cái nét ít nói rất dễ mến ấy khi tôi tình cờ đọc được những suy tư của anh về chiến tranh, về cuộc đời, về những kỷ niệm một thời đáng nhớ với những trăn trở của người lính trẻ ngày nào cùng cách nhìn đời của một người già dặn của anh hôm nay càng làm cho tôi càng thêm thích thú biết bao!
 
Hôm nay qua rồi gần bốn mươi năm cuộc chiến đã tàn mà chừng như nỗi niềm người lính-làm thơ Cái Trọng Ty vẫn man-thiên nỗi nhớ thuở nào! Phải thế không, anh Cái Trọng Ty?
 
Mến chúc anh cùng gia đình luôn luôn bình an và hạnh phúc mãi mãi…
Thân mến,
 
Lương Thư Trung
 
* Mời Xem Những Bài Viết Khác Của Lương Thư Trung Ở Mục Văn Xuôi

Trao Đổi Với Nhà Thơ Cao Thoại Châu - Lương Thư Trung

Vài nét về nhà thơ Cao Thoại Châu:
* Nhà thơ Cao Thoại Châu, tên thật Cao Đình Vưu.
-Sinh Năm 1939, tại Giao Thủy, Nam Định, Bắc Việt. Vào Nam năm 1954.
-Tốt nghiệp đại học Sư Phạm Sài Gòn. Cựu giáo sư các trường Trung Học Thủ Khoa Nghĩa, Kontum, Pleime và Tân An.
Khởi viết năm 1963 trên các tạp chí Văn, Nghệ Thuật, Khởi Hành, Văn Học, Thái Độ… -Hiện sống tại Long An Việt Nam.
* Tác Phẩm đã xuất bản:
- Bản Thảo Một Đời (Thơ 1991)
- Rạng đông một ngày vô định (Thơ năm 2006)
- Ngựa Hồng (Thơ 2009)
- Vớt lá trên sông. (Tạp văn, 2010)
- Vách đá cheo leo (Tạp bút, 2012)
- Mời em uống rượu (Thơ trước 1975, đang in)
 
LƯƠNG THƯ TRUNG (LTT):
Kính chào nhà thơ Cao Thoại Châu,
Trước hết xin phép được gọi thi sĩ bằng Thầy, vì nhiều lẽ. Thứ nhất là nếu gọi bằng ông thì quá xa lạ, làm cho cuộc trao đổi mất vui; còn nếu gọi bằng anh thì thiệt tình tôi không dám vì tự đáy lòng của một đứa học trò tỉnh lẻ Long Xuyên những năm 1957-1963, như tôi, tôi thấy có chút gì áy náy lắm; chi bằng xin phép được gọi thi sĩ bằng Thầy là hợp đạo nghĩa nhất vì quan niệm miền quê Long Xuyên-Châu Đốc học trò tụi tôi là rất kính trọng các nhà mô phạm, quý vị giáo sư và các Thầy Cô giáo các cấp dù mình có học hoặc chưa học với các Thầy Cô ấy ngày nào. Nên xin Thầy cho phép vậy!
Thứ đến, được biết , bắt đầu sự nghiệp dạy học của Thầy thì ngôi trường Trung học Thủ Khoa Nghĩa (Châu Đốc) là nhiệm sở đầu tiên Thầy ghé lại. Thầy có thể chia sẻ thêm với bạn đọc và học tró cũ của Thầy về những ngày xưa thân ái ấy không?
CAO THOẠI CHÂU (CTC):
Tôi vào nghề năm 1963 khi mới 22. Trường dạy đầu tiên là trường Thủ Khoa Nghĩa tại Châu Đốc tỉnh An Giang, khi ấy có tên khác là Châu Phú, đường phố hẹp nhà nhiều tầng thật quá hiếm. Và tại thị xã này tôi bắt đầu thực sự tiếp xúc với vùng đất gọi là Lục tỉnh hay miền Tây, với lối sống, ngôn ngữ mà thực sự trước đó tôi chỉ biết có Sài Gòn, nơi dễ hòa tan mọi thứ. Còn tại nơi tôi vừa đến, tôi như cục đường thả vào ly nước nhưng không tan ngay mà cứ rõ nét ra giữa đường và nước như một sự bơ vơ những chiều biên giới.
Cái tuổi 22 vào thời kỳ đó dường như chưa được chuẩn bị chín mùi cho một người làm thầy. Một trải nghiệm của tôi là, dù ở tuổi ấy nhưng nếu đã hay đang yêu thì người ta “chững chạc” hơn, ổn định hơn, ứng xử ra tấm ra món hơn. Còn tôi, chỉ những học là học không một bạn gái nào cho nên khi vào nghề tôi rơi ngay vào mâu thuẫn phải làm một người lớn khi tuổi còn chưa trưởng thành. Gần một năm đầu nhìn, tiếp xúc với nữ sinh cứ lấn cấn như với một… thiếu nữ!
Ở trường ấy và nhất là địa phương ấy, vào thời ấy, một người nói giọng Bắc là điều bất lợi; là một người có máu văn nghệ sẽ cộng chung bất lợi thêm vào. Tổng số này sẽ tăng hơn khi tôi không tự nhủ phải tuân thủ những quy định tủn mủn bởi không hề có ý tiến thân trong thang bậc của nghề.
Học sinh của tôi khi ấy không hiểu sao chúng đều to cao khỏe mạnh, lác đác những cái hũ chìm và ống khói, nghịch ngơm và đang bị “nhuộm” màu Sài Gòn, rõ nhất là mê làm thơ viết truyện! Một lần, tôi cùng một nhóm những Phạm Yến Anh, Hà Văn Nghĩa, Láng, Trạc… cùng với một vài người đã rời trường như Ngy Do Thái, Song An Châu… ra một giai phẩm! Hình như đó là “Thế kỷ mới” gì đó. Tôi lo phần tìm người vẽ bia và in ấn tại Sài Gòn. Cũng còn quá trẻ, tôi gánh phần này mà quên rằng in từng ấy cuốn báo phải có tiền! Không hiểu bằng cách nào tôi in thiếu được ở một nhà in nhỏ và quen, sách lấy ra, phần gửi về Chân Đốc, phần giữ lại Sài Gòn và tôi đã làm việc không mấy thầy giáo nào dám làm là dẫn theo một số học sinh, xin vào các trường Sài Gòn để… bán! Lỗ to và tôi mang nợ với ông chủ nhà in cả năm sau mới trả hết! Cái ranh giới thầy trò lúc ấy hình như đã bị gạt sang một bên, không phải vì tôi yêu chuyện viết lách mà chỉ vì… tôi chưa trưởng thành! Và tôi phải trả giá!
Thành cái gai trong mắt một số người. Cuối cùng, chỉ hai năm sau đó người ta bẻ cái gai ấy…Những ngày ở Châu Đốc quả là một thời giống như cổ tích…
 
LTT:
Vâng, rồi khi nào Thầy bắt đầu chìm vào cõi thơ văn? Khi về Châu Đốc, lúc bấy giờ Thầy đã có thơ văn đăng trên các tạp chí văn học nghệ thuật ở Sài Gòn chưa? Ngoài ra, trong bài thơ Bài Giảng Khai Trường có hai câu:"Chúng ta bây giờ như những mộ bia / Ghi đầy đủ những người đã chết…" có phải là bài thơ của buổi Thầy dự ngày khai trường đầu tiên của mình ở trường Thủ Khoa Nghĩa không?
CTC:
1/ Trước khi xuống Châu Đốc tôi đã có thơ đăng ở các nhật báo với bút danh khác,tức là chỗ không thể tiến xa.
2/ Bài thơ anh nêu tôi làm ở Pleiku năm 1970 tức đã xa Châu Đốc mấy năm rồi.
 
LTT:
Thầy còn nhớ kỷ niệm nào về bút danh “Cao Thoại Châu”?
CTC:
Ở trường Thủ Khoa Nghĩa này tôi có bút danh như ngày nay và bài thơ đầu tiên ký bút danh ấy. Cái duyên là, một lần tôi làm thơ ký TN, vô tình mấy học trò đến lúc bản thảo để trên bàn. Một cô học trò đệ Tam coi nhưng không nói gì về thơ mà nói về bút danh, cách gợi ý xa xôi của cô làm tôi nhận ra mình đang ở đâu (Châu Đốc), chữ lót tên cô học trò và họ Cao của tôi… trong một phút bất chợt hình thành bút danh dùng hết đời tôi. Thật hên, với bút danh này thơ tôi được các báo đăng như người đã thành danh! Châu Đốc đã cho tôi một món quà vô giá như thế đó.
 
Chỗ ngồi của nhà giáo thời chiến
Tuổi hai mươi bước vào nghề giáo
Dẫm lên chông gai những lối mòn
Thầy nhủ thầm mình làm nhân chứng
Cho sự chán chường chạy khắp châu thân
Quê các em có núi có sông
Có máu chảy loang từng cánh đồng
Có trận tuyến trên nhiều cây số
Các em đào dần khoảng trống trong tim
Thầy dạy các em tình yêu sông núi
Yêu đồng bào tổ quốc quê hương
Nhưng trót giấu đi bề ngang bề rộng
Và trọn bề sâu của nỗi cô đơn
Các em say mê con người sáng tạo
Mê áo cơm và Thượng đế trên trời
Thầy dậy các em về lòng dũng cảm
Làm người chân thành mãi mãi không thôi
Rồi một đêm khoác áo ra đường
Với nỗi sầu với phẫn nộ như điên
Đạn vẫn nổ ầm phá tung đêm lạnh
Máu vẫn chảy hoài trên mỗi bản tin
Bảng với phấn và Thầy tự nhiên vô dụng
Và bơ vơ giữa bóng tối xây thành
Các em sau này lớn lên mỗi đứa
Đứng nơi nào trong cuộc chiến tranh ?
Cao Thoại Châu
Châu Đốc 1963.
 
LTT:
Ở trên Thầy có kể:"Học sinh của tôi khi ấy không hiểu sao chúng đều to cao khỏe mạnh, lác đác những cái hũ chìm và ống khói, nghịch ngơm và đang bị “nhuộm” màu Sài Gòn rõ nhất là mê làm thơ viết truyện!” Thấy có nhắc đến những Phạm Yến Anh, Hà Văn Nghĩa, Láng, Trạc… cùng với một vài người đã rời trường như Ngy Do Thái, Song An Châu… Rồi sau này Thầy có tên trong bút nhóm nào khác không? Các bút danh như Phạm Yến Anh, Ngy Do Thái có phải do Thầy đặt tên cho học trò của mình không?
CTC:
Tôi chỉ có 1 mình, không bao giờ có bút nhóm nào hết cả. Tôi và các em ấy chỉ tụ lại có một lần đó thôi. Các bút danh ấy hoàn toàn do các em tự chọn.
 
LTT:
Kể ra cũng đã hơn sáu mươi năm vui thú cũng như lăn lộn với nàng thơ, nếu phải nhìn lại những đoạn đường, Thầy thấy vào những thời khắc nào thầy làm thơ hứng thú nhất? Và nếu phải tự đánh giá các tác phẩm của mình như nhà văn Nguyễn Hiến Lê tự nhận định các tác phẩm của ông, Thầy sẽ nhận định các tác phẩm của mình như thế nào?
CTC:
Tôi hiểu hai từ "thời khắc" của anh là giai đoạn, thời kỳ. Tôi không có một giai đoạn nào làm thơ hứng thú nhất bởi vì… lúc nào cũng hứng thú cả, Với tôi, đó là những khoảnh khắc "lên đồng"! Nhận định vế các tác phẩm của tôi? Nhường lại cho người đọc, tiện hơn!
 
LTT:
Dường như vài ba năm trở lại đây Thầy viết nhiều về văn xuôi như tùy bút, ký sự, tiểu luận; dĩ nhiên là một nhà thơ thành danh từ những năm 1960, Thầy thấy các trang văn xuôi của mình có là một cách viết mới hơn so với thơ không?
Ngoài ra, theo thiển ý của tôi, nhạc là phải hát, vọng cổ phải ca và thơ phải ngâm thì mới diễn đạt được hết những chất say đấm nồng nàn trong từng câu ca lời nhạc và các vần thơ mà các bậc nghệ sĩ đã để hồn mình vào các cung bậc thiết tha u trầm ấy. Và Thầy có thích nghe ngâm thơ không?
CTC:
Văn xuôi cũng như thơ của tôi, nhận định về chúng là việc làm của người đọc chứ không phải của tôi! Có thích nghe ngâm thơ.
 
LTT:
Là một người trẻ làm thơ giữa những năm chinh chiến, Thầy có bài thơ tình nào trong thời chinh chiến ấy không? Thầy nghĩ gì về thơ tình Miền Nam giữa những mùa binh lửa ấy?
CTC:
Mãi đến ngoài hai mươi tuổi- chính xác là lâu hơn thế- tôi mới có bài thơ tình đầu tiên cho mình. Đúng ra, trước đó cũng có được đôi bài nhưng là thơ tình “cóc gặm” của một cậu học trò thích lang thang hơn bám trường bám lớp. Thơ tình miền Nam trước 1975 là một mảng của tấm lụa là gấm vóc chứ không phải “hiện sinh chủ nghĩa” hiểu một cách bệnh họan là “yêu cho gấp và yêu bất kể chết ” như một số “nhà nghiên cứu” quy chụp đâu. Say đắm một cách đắm say, mới mẻ và kinh thánh, và khổ nỗi cũng có nhiều nỗi buồn thời đại quá, tôi vẫn nghĩ thế khi nhớ lại một thời thơ tình miền Nam.
Khi nhà thơ và cũng là người thầy của tôi, Nguyên Sa, tung ra hình ảnh này “Hôm nay Nga buồn như con chó ốm/ Như con mèo ngái ngủ trong tay anh” là ông đã tham gia vào lớp người mở một khu vườn mới cho thơ tình giai đoạn đất nước vừa chia cắt, mà theo tôi là nhà thơ mang ở bên Tây về nóng hổi. Hình ảnh “chó ốm” trong hình dung thi ca là sự làm nũng của một cô gái được yêu và “ngái ngủ” phải chăng là chú mèo nấn ná không muốn ra khỏi vòng tay đầy hơi ấm của người vuốt ve nó? Và đó là hình tượng mới, “đời” hơn những gì cách điệu ước lệ trước kia.Có điều là khi gieo xuống Sài Gòn nó lại rất Việt Nam, nghĩa là rất thơ và rất… người! Trong trí nhớ tôi – một người đọc thơ mẫn cán và chuyên nghiệp- vẫn còn sự bồi hồi của một cảm xúc như tiếng gió reo nhè nhẹ rồi vù vù không thiếu phần cổ trang trong mô tả một nhan sắc “Em đi như vẽ trên đường nắng / Em nói như đàn trong miệng ai” của Hòang Trúc Ly, thì hai người thi sĩ này bên tám lạng bên nửa kí lô gram! Người con gái ấy chuyển động theo hướng “đi, nói” sao mà diễm lệ đến thế, không xao lòng nhận lấy những ba động mà được chăng? Mấy câu khác “Em giấu đi những nỗi lòng vỡ rạn / Anh cũng thề giấu hết gió mưa đi/ Bao nhiêu ánh đèn rũ rượi tái tê/ Những ngõ vắng tối tăm anh giấu hết” ( thơ Hoàng Anh Tuấn) thì cũng là gió mới ở Tây về , nghe trái tim nhân bản vô cùng.
Sài Gòn những năm sau 1954 đang có một làn gió văn chương hiện sinh thổi vào, qua ngả giảng đường đại học hoặc do các tiệm sách lớn, và nơi tiếp nhận chính là văn chương tại chỗ. Người ta bắt đầu làm quen với cảm xúc mới mẻ này “Đời sống ôi buồn như cỏ khô/ Này anh, em cũng tợ sương mù/ Khi về tay nhỏ che trời rét/ Nghe giá băng mòn hết tuổi thơ” ( Nhã Ca), thì đấy, không đấu tranh, không cuồng vội, chỉ là thơ và người thôi! Thơ tình miền Nam chào giã biệt một thời đại thi ca – thường gọi là Thơ Mới- mà không cần đến lễ lạc hoặc một sự hủy diệt nào, để ra riêng cho mình một cơ ngơi hiện đại.
Đất nước bị chia cắt thì than ôi, có những cuộc tình bị chia thành hai nửa “ Hai đứa mình hai bến sông sâu/ Dây thép gai giăng mắc ngang cầu/ Đôi tay anh cuốn tròn thương nhớ / Đôi mắt em buồn như mưa ngâu ”. Nếu tôi không quán xuyến được hết, thì theo tôi, “dây thép gai” lần đầu tiên có mặt trong thơ miền Nam là ở mấy câu này của Hoàng Khanh đăng trên báo khoảng năm 1958.
Chẳng bao lâu thì chiến tranh bùng phát ngày một khốc liệt và dai dẳng. Nó động đến từng gia đình và thanh niên bị cuốn vào cơn lốc đó, không có ngoại lệ cho những người cầm bút. Một cuộc chiến tranh mà cả những người không thích nó cũng phải mặc áo lính như một bổn phận công dân. Nguồn xúc cảm của thi ca không thể ở nhà khi tác giả ra đi và những lo âu, thậm chí những đổ vỡ trong các cuộc tình hiện dần trên báo.Những nhà thơ thời ấy họ rất thật tình và ngay thẳng, bom đạn và chết chóc đe dọa những mối tình đẹp và họ đã không nói khác đi- họ ngay thẳng và thật tình. “Anh trở về hàng cây nghiêng ngã/Anh trở về hòm gỗ cài hoa/Anh trở về bằng chiếc băng ca/Trên trực thăng sơn màu tang trắng” (…) “Mai anh về em sầu thê thiết/Kỷ vật đây viên đạn màu đồng/Cho em làm kỷ niệm sang sông/ Đời con gái một lần dang dở” ( thơ Linh Phương) như một tâm trạng chung của nhiều thanh niên cùng thời với tác giả. Có thể về trong hai cách đấy và có thể ( nay gọi là nhiều khả năng) người ở nhà nhận một kỷ niệm như viên đạn bắn cho không chết nhưng ngắc ngoải tan hoang! Tình yêu và hạnh phúc thường xuyên trong tình trạng khẩn cấp như một thành phố nào đó bị thiết quân luật!
Còn không thì lối về cũng chẳng hanh thông gì “ Tôi về ngơ ngác đôi tay/chân đi hồn rã áo bay lạ người/vẫn mình trên phố ngược xuôi/nghe trong cơn rộn tiếng đời héo hon /mai đây bỏ lại phố phường/bụi se cát mỏi trên đường tôi đi” ( thơ Lâm Chương) – ở đâu về và rồi đi đâu trong những năm tháng dang dở mộng chưa thành ấy?
Khi 26 tuổi tôi mất một mối tình cũng trong tình cảnh chung đó, nên tôi hiểu và trọng sự vội vã và cái quyền bị lung lay này “… em hỡi em/người anh yêu/anh có quyền hôn em lúc này/bởi ngày mai anh trở ra mặt trận/ở đó, anh không thiếu một thứ gì/kể cả máu/chỉ duy có thứ này/hãy viện trợ cho anh/đó là giọt lệ em xanh biếc…” nhà thơ bị mất một chân vì mìn nổ Luân Hoán đã viết như tiên tri thế ấy. Không thiếu một thứ gì, máu thì nhiều không kể xíêt giống như cái chết lởn vởn xung quanh, trong cảnh tượng đó, những “giọt lệ em xanh biếc” bỗng trở thành một thứ khát khao dù rằng lệ hay máu thì cũng là bi thương thôi. Tôi nghe một sự lẩn quẩn giữa hai dòng nước này của con người Thời chiến tranh là nền cho nhiều bài thơ tình mang dấu ấn của nó , có điều là tính hùng tráng hay bi tráng mà thôi.”Tặng cho em trái lựu đạn cay/Hạch nước mắt của thời đại mới/Thứ nước mắt không buồn không vui/Đang ràn rụa trên mặt anh chờ đợi/Tặng cho em cuộn dây thép gai/ Thứ dây leo của thời đại mới/ Đang leo kín tâm hồn ta hôm nay/ Đó là tình yêu anh, em nhận đi đừng hỏi/ Tặng cho em cuộc chiến tranh đang tàn/ Trên quê hương của bao nhiêu bà mẹ/ Nơi đồng bào ta ăn bom đạn thay cơm/ Nơi vải xô không đủ để chít đầu con trẻ”. ( thơ Trần Dạ Từ). Những thứ dùng để hạ sát được nhà thơ mang làm tặng vật như tặng cho nhau một tâm trạng thừa mứa những vô vọng nghịch lý của một thời. Bài thơ này dường như thay lời muốn nói cho cảm quan nghệ thuật trước cuộc sống bị đắp bờ bao của phẫn nộ. “Tặng vật tỏ tình” không hùng tráng mà bi tráng thấy rất rõ- và chắc hẳn không ít người có thời đã coi như bài thơ viết cho mình, thậm chí “ứng” vào mình. Mấy câu khác của Hồ Minh Dũng “Còn ba năm nữa anh sẽ về/ Anh biết chắc không còn quê hương để ở/ Em gắng sắm cho anh một cây đàn bầu Làm bằng nắp hòm người lính nghèo/ Chết ngoài mặt trận” nghe có vẻ như báo động một tương lai khi nhà thơ hết hạn kỳ đối diện với chết chóc, nhưng sao đó lại không là thơ tình viết bằng trái tim người làm thơ bị cuốn vào cuộc chiến?
Chiến tranh là hòa bình bị dán đè lên một mảnh giấy, ai cũng biết thế và ai cũng nuôi trong lòng một hy vọng ngày mảnh giấy rơi xuống. Nhà thơ vốn là người bén nhạy hơn “ Và có thể nào đêm nay không còn tiếng súng/Không còn nghe tiếng còi hụ giới nghiêm/ Ba giờ sáng xuống Ngã tư quốc tế / Ăn một tô mì thơm ngát bình yên” ( Phạm Cao Hoàng). Thật tuyệt vời cho tô mì ăn vào phút đầu tiên của hòa bình! Nó như một niềm hân hoan bé mọn không ít lần bị hụt hẫng. Phải đã từng có mặt ngòai phố , đứng ở một gốc cây, sau một tảng đá, trong giờ giới nghiêm mới hình dung ra được ảo ảnh một phút giây hòa bình là thế nào.
Thơ tình thời chiến không phải là mảng chánh yếu trong thơ tình trước 1975 của thành thị miền Nam, nhưng tràn ngập trên các báo là thơ lọai ấy. Những bài thơ đấy như một sự bộc phát cá nhân, không một định hướng nào, một sự khích lệ cũng không. Người đọc thơ nhận ra cái đáng yêu của những nhà thơ phải ra trận, họ không là tráng sĩ ra biên cương, chỉ là những thân phận người thời chiến, một đôi khi chịu nhận thiệt thòi- một cuộc tình như nói ở trên, chẳng hạn- và họ chuyển hóa thành thơ với nguồn cảm hứng, những hình tượng còn tươi ( thay vì chế biến) là họ có lòng tự trọng và chân thật. Rồi “đời đã bắt kẻ làm thơ đi làm lính/ mang trong đầu những ý nghĩ trong veo / xem cuộc chiến như tai trời ách nước” (thơ Nguyễn Bắc Sơn). Và, với tôi, đây là những câu thơ tình hay nhất của một thời đại trong thi ca miền Nam:
Người yêu tôi ở tận đồng bằng
Tôi đánh điện về nàng xin hỏi cưới
Ông già vợ chịu thằng trai tứ chiếng
Cho nàng theo cầm bước chân tôi
Nàng đứng đưa tay chờ đợi chân đồi
Tôi chạy xuống ôm chầm hôn tới tấp
Ðám cưới không nhà cao nhà thấp
Không áo quần lễ lạc xênh xang
Tôi quá nghèo chỉ bộ đồ xanh
Dăm thằng bạn quen nhau thời khốn khó
Nàng thì thào bên tôi cần gì thứ đó
Miễn tình anh vô lượng như thơ anh
(thơ Trần Hoài Thư )
Thơ tình thời chiến ở miền Nam trước 1975- hiểu gọn là thơ “Sài Gòn”- không có không khí hào hùng nhưng đó là một nét đẹp bởi nó chân thật, làm nên một giai đọan thi ca đáng lưu giữ và trân trọng, nó có tính lịch sử rõ ràng. Tuy nét đó là một nỗi buồn có phần bị động, khó lòng nói hết.
 
LTT:
Thầy thấy sao về dòng thơ hôm nay kể cả thể cách và ý tưởng so với thơ trước đây ở Sài Gòn, có khác nhau nhiều lắm không?
CTC:
Thi ca mang tính thời đại, tôi nghĩ thế. Thật khó có thể nghĩ gì theo nghĩa so sánh về thơ hôm nay và thơ trước hôm nay. Chỉ có thơ “thật’ và thơ “giả làm thật” thôi!
 
LTT:
Vâng, vậy có thơ "thật" và thơ "giả làm thật" nữa sao Thầy? Xin Thầy chia sẻ thêm một chút về hiện tượng này.
CTC:
Anh ơi, "Trung ngôn nghịch nhĩ", "Sự thật mất lòng"…mà "trái tai, mất lòng" thì…làm sao sống? Thế nhé!
 
LTT:
Khởi đi từ Châu Đốc và cũng để kết thúc cuộc trò chuyện này, xin Thầy cho biết sau 60 năm qua rồi, Thầy còn nhớ gì về Châu Đôc và có lần nào Thầy trở lại thăm Châu Đốc không?
CTC:
Tôi nhớ nhưng không trở lại nơi ấy vì lâu rồi, người năm xưa giờ chẳng còn mấy ai. Nếu còn thì đó cũng là những người “già” bị thời gian và thời thế làm cho già mà tôi lại chỉ thích người trẻ!
 
LTT:
Xin chân thành cảm ơn Thầy đã bó công sức và thời giờ chia sẻ cùng học trò cũ và bạn đọc về một khoảng đời dạy học và làm thơ của Thầy dài có tới hơn sáu mươi năm trôi qua rồi và kính chúc Thầy luôn luôn dồi dào sức khỏe, an vui, hạnh phúc.
Trân trọng kính chào Thầy.
CTC:
Cảm ơn anh LTT.
 
Lương Thư Trung

Trao...* Lương Thư Trung

 
Trao Đổi Ngắn
Với Nhà Văn Trần Yên Hòa
Lương Thư Trung
 
Lương Thư Trung (LTT):
Mến chào anh Trần Yên Hòa,
Qua nhà thơ Trần Phù Thế, tôi mới quen biết anh từ vài năm qua, nhưng cho tới nay tôi và anh chưa gặp nhau lần nào, nên xin phép anh có vài câu hỏi nhỏ cùng anh trong cuộc trao đổi ngắn này. Anh đã xuất bản được bao nhiêu tập thơ rồi anh Trần Yên Hòa? Riêng tập truyện "Đi Mỹ" của anh, anh viết nó trong hoàn cảnh nào vậy anh?
 
Trần Yên Hòa (TYH):
Kính anh Lương Thư Trung!
Tôi đã in:
- 3 tập thơ: Khan cổ gọi tình, về (2001), Uyên Ương, Phượng hề và Khát vọng (2009). Một tập thơ in chung với các bạn ở Đà Lạt, 1971: Lời Ru Tình.
- 3 tập truyện ngắn là: Những chuyến mưa qua (2001), Áo Gấm Về Làng, (2004), và Net em (2009).
- 2 tập truyện dài: Mẫu Hệ, (2004), Đi Mỹ (2011)
Tôi có viết về hoàn cảnh tôi Đi Mỹ in trong đầu trang, ngắn thôi, nhưng đó là những lời tâm sự thực tình. Hình như tôi đã gởi biếu anh cuốn Đi Mỹ, nếu anh chưa có, tôi sẽ gởi...
 
LTT:
Anh Trần Yên Hòa,
Vâng, tôi đang có cuốn "Đi Mỹ" của anh. Ở cuối phần "Mở", anh viết:"Ở đây tôi chỉ ghi một vài chuyện nhỏ trong muôn hình vạn trạng kia thôi. Dĩ nhiên là hư cấu".
Trong một bài viết về cuốn sách "Bất Cứ Lúc Nào, Bất Cứ Ở Đâu" của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, phần kết tôi có viết:
"Dường như cách tốt nhất để nhận biết về một thời đại nào, bạn nên tìm đọc những tác phẩm được sáng tác vào thời đại ấy. (...)
Nhân vật trong truyện phần nhiều là do tác giả dựng lên, nhưng phần nào đó có thể cũng phản ảnh được những người thật ngoài đời."
Anh có nhận xét thế nào về ý nghĩ của tôi vừa rồi và qua các nhân vật trong "Đi Mỹ" của anh, có chút nào gần với sự thật như thế không?
 
TYH:
Kính anh Lương Thư Trung!
Đúng vậy anh à. Trong những truyện của tôi (truyện dài và cả truyện ngắn) tôi đều lấy những gì tôi đã trải, hoặc nhiều hoặc ít, rồi tôi hư cấu thêm.
 
LTT:
Anh Trần Yên Hòa,
Đọc "Đi Mỹ" của anh tôi mới thấy mình chưa biết gì về việc "Đi Mỹ". Ở trên đời này sao có quá nhiều những cảnh đời ngang trái mà dân quê tụi tôi đành chịu chết, không thể nào tưởng tượng ra nổi. Phục có vợ là Nguyệt, rồi có bồ là Hạnh Nhân, Tiên Phước. Rồi lại thêm nhân vật nữ có tên Bắc, những người phụ nữ chắc chỉ có trong tiểu thuyết, tôi hy vọng vậy, để cho đời bớt xấu đi nét đẹp của những người một thời họ rất đẹp. Nhưng nói gì thì nói, nhân vật "Đông" của anh dù là nhân vật phụ, đứa con gái của vợ chồng Ngàn và Nga, nhưng làm những trang sách của anh rất hấp dẫn; đây có thể nói cách dựng nhân vật của anh rất linh hoạt gần với sự thật. Nhưng rồi khi có chuyến bay thì số phận của "Đông" ra sao?, hồ sơ của gia đình Ngàn và Nga có trở ngại gì không anh Trần Yên Hòa? Ngoài ra, các câu đối thoại của truyện dài "Đi Mỹ" có được cái nét rất tự nhiên và gần giống như ngoài đời, mà tôi nghĩ là một yếu tố nữa làm cho các trang sách hấp dẫn. Nhưng đọc suốt mấy trăm trang "Đi Mỹ" dường như yếu tố tình dục cũng hơi mặn mòi một chút. Về khía cạnh này, câu chuyện tự nhiên dẫn đến những hoàn cảnh như vậy hay anh có dụng ý nào khác không, thưa anh Trần Yên Hòa?
 
TYH:
Kính anh Lương thư Trung!
Được thư anh tôi mới sực nhớ có vài điều tôi chưa trả lời anh "đủ". Lần trước hình như tôi đã trả lời anh có một phần, là những nhân vật trong Đi Mỹ là tôi rút ra từ những cuộc đời thật của "lũ chúng tôi" - những người phải đi "học tập cải tạo" trở về - có nhân vật phải phân thân thành hai, như Ngàn và Phục...
Tất cả những Phục, những Ngàn, những Thiều, những Chức là có mặt thật trong đời sống đó, anh ạ. Những người đàn bà cũng có thực,có lẽ đời sống quá đa đoan và quá khổ cực sau 1975, đã tạo nên những con người như vậy, phải không anh?
Còn nhân vật Đông thì cô bé phải ở lại thôi, trong cuối truyện tôi có viết gia đình Ngàn đã phỏng vân đậu. Dĩ nhiên là được ra đi. Đông phải 15 năm sau mới đoàn tụ
Theo nhà thơ Thành Tôn thì ở đoạn cuối: Khi phỏng vấn bị rớt, Tiên Phước và gia đình người chồng "hờ" lên xe taxi trở về nhà, nàng đã có một câu nói rất nhân bản:
- Mẹ chịu trách nhiệm về việc này, các con tha lỗi cho mẹ. Bây giờ trong hoàn cảnh này, mẹ và các con sẽ không còn ngăn cách nữa. Mẹ là mẹ của cả ba đứa. Mẹ có trách nhiệm và tình thương với tất cả, mẹ sẽ lo cho các con như nhau, nghen."
Viết truyện có thêm chút sex cũng hay, nhưng phải nghệ thuật. Bây giờ các nhà văn nữ như Lê Thị Thẩm Vân, Nguyễn Thị Thanh Bình, Trịnh Thanh Thủy... viết bạo lắm mà hay. Tôi chỉ muốn tô điểm chút xíu cho truyện hấp dẫn hơn thôi, chứ không chủ đích.
 
LTT:
Như anh vừa cho biết, “Khan cổ gọi tình, về” ra đời năm 2001, tôi có tìm đọc bài viết của tác giả Hà Khánh Quân về thi phẩm ấy, trong đó có một nhận xét về bài thơ dưới đây của anh:
 
em, tình ta, mái hiên đời nắng dịu
sao bỏ đi xa ngút tận trời nào
năm tháng cũ ta hoài giơ tay níu
dư hương còn sót lại chút trăng sao
 
tình ta là hoa cau nhà mẹ
ngát hương thơm những buổi trăng rằm
mẹ bổ cau têm trầu đãi khách
cô gái bên nhà đôi mắt lá răm
 
tình ta là áo cha sờn vai
oằn nỗi đau một thời lận đận
hằn vết xước ngày đói cơm muối mặn
cõng ta đi suốt chặng đường dài
 
tình ta, em cô gái quê mùa
bận áo ba ba, đội vành nón lá
nghiêng nghiêng mắt môi lúng liếng nụ cười
trái tim ta có những ngày rất lạ
 
tình ta là quê hương cổ tích
thơm những lời ru thơm những điệu hò
bè lục bình trôi tím bông điên điển
xuôi chảy theo dòng sông nước quanh co
 
tình ta là dòng suối mát êm
tuôn tràn qua cánh đồng cỏ mượt
một sớm mai nào ta đứng lặng im
cũng quay lưng về vùng ngút mắt
 
ta đứng gọi khan, tình ơi, trở lại
để ta được nhìn tuổi ấu thơ xưa
để ta được nằm trong nôi của mẹ
giấc mộng trẻ thơ nói mấy cho vừa
 
tình ơi, tình ơi, sao la lại mất
tình ơi, tình ơi, sao bỏ ta đi
ta khan cổ gào, gọi tình u uất
ta khan cổ gào nước mắt hoen mi
 
gọi mẹ, gọi cha, gọi em, gọi nước
ở đâu xin về đùm bọc đàn con
con sống lấy lây phía ngoài tổ quốc
hãy dắt con về tìm lại giang san
 
(KCGT,V 100-103)
 
“Sự phong phú “tình” trong chỉ một bài thơ, chưa phải là nét xuất sắc nhất của Trần Yên Hòa. Thái độ thiết tha, khẩn khoản được bày tỏ trong thơ mới là điểm son. Chân tâm của tác giả, đi từ gợi mở qua nhớ nhung, sang buồn bã đến hoài nghi, rồi dằn vặt. Sự diễn tiến tâm lý có thứ tự hợp lý. Để rồi kết thúc như một lời hứa hẹn, có hậu. Bốn câu thơ cuối bài, hay, chí tình, có thể phản ánh đúng niềm hy vọng, ước mong của tác giả. Nhưng tôi vẫn thấy ở đây, có chút gì khá công thức, thiếu chút ít bâng khuâng. Có thể tôi lệch lạc, nên xin được trích lại bốn câu cuối, để bạn đọc suy nghiệm:
 
gọi mẹ, gọi cha, gọi em, gọi nước
ở đâu xin về đùm bọc đàn con
con sống lấy lây phía ngoài tổ quốc
hãy dắt con về tìm lại giang san”
 
Anh nghĩ sao về nhận xét của tác giả Hà Khánh Quân?
(*) Nguồn :Tiếng Thơ Gọi Tình Của Trần Yên Hòa của Hà Khánh Quân
(đăng trên Bạn Văn Nghệ ngày 10/07/2010)
 
TYH:
Kính anh Lương Thư Trung!
Đọc qua lời bình của Hà Khánh Quân (HKQ) tôi rất khoái, vì HKQ đã viết đúng tim đen của tôi. Dĩ nhiên 4 câu cuối bài có chút công thức, nhưng mà đó là tình cảm thật đó anh. Bài thơ này tôi làm đâu khoảng năm 1999 hay 2000 gì đó, vì tập thơ "Khan Cổ Gọi Tình, Về “ được in năm 2001. Thời gian đó hoàn cảnh cuộc sống tôi rất buồn bã, nên 4 câu đó có thể là một tiếng kêu, gọi, thống thiết những gì mình mất đi, đã xa rời...như có một ai đó nói, vịn câu thơ mà đứng dậy, thì tôi cũng vậy...gọi những mất mát trở về như cha mẹ, người tình, quê hương, và mong tìm lại một giang san xưa...có lẽ nó cũng công thức...
 
LTT:
Anh Trần Yên Hòa,
Trong một bài phỏng vấn nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng do Lê Quỳnh Mai thực hiện, được đăng lại trên trang nhà Da Màu nhơn có số chuyên đề về “Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng”, ngyên văn câu hỏi và câu trả lời như dưới đây:
LQM: Theo ông, hạnh phúc lớn nhất của một người viết văn là gì?
NXH: Hạnh phúc của một người viết văn là khi chấm dứt chữ cuối cùng của một sáng tác. Hạnh phúc lớn nhất của họ là được người đọc. Nhưng tại sao cô không hỏi nỗi đau khổ của người cầm bút?
Là một người vừa viết văn, vừa làm thơ, theo anh thì “nỗi đau khổ của người cầm bút” là gì? Riêng anh, anh có gặp những “nỗi đau khổ” ấy không?
 
TYH:
Kính anh Lương Thư Trung!
Cái đau khổ của một người viết văn hay làm thơ là tác phẩm của mình viết ra không ai đọc. Tuy nhiên cũng có một đau khổ khác là khi mình viết một nhân vật phản diện (đó là nhân vật) thế mà ngoài đời bị ví cho là viết về người này, người nọ… rồi bị tiếng là viết bôi xấu người khác...Thế mới đau!
 
LTT:
Anh Trần Yên Hòa,
Vậy thì theo anh, mục đích trước nhứt của công việc sáng tác là mình viết cho mình hay viết cho người đọc?
Ngoài ra, tôi cũng có trò chuyện với một số các tác giả về việc sáng tác trong thời gian gần hai ba năm qua, nhưng tôi cứ băn khoăn hoài về tính chính danh của mấy danh từ “nhà văn”, “nhà thơ”.Vậy theo anh khi nào thì nên gọi một tác giả nào đó là “nhà văn” hoặc “nhà thơ”? Có những chuẩn mực nào cho việc gọi tên này không? Và nếu có thì những chuẩn mực ấy là gì? Có “nhà văn lớn”, “nhà văn nhỏ” không? Cũng như có “người viết mới”, người viết cũ” không? Nếu có, thì người viết nào hay hơn? Còn hai chữ “thi sĩ” thì sao, thưa anh?
 
TYH:
Kính anh!
Anh đặt ra những câu hỏi nhẹ nhưng cũng làm tôi suy nghĩ. Trong Văn Học Nghệ Thuật, theo tôi, môn nào (hội họa, thơ, văn, âm nhạc...) trước tiên phải nói đến năng khiếu trước đã, nói theo tiếng dân gian là "có khiếu trời cho". Có khiếu về họa thì tự nhiên vẻ đẹp, rồi học thêm ở trường lớp sẽ phát huy ra, cả văn, thơ cũng vậy. Cho nên người làm thơ, viết văn hay, trước tiên phải có năng khiếu.
Tôi viết văn, làm thơ vì biết mình có chút năng khiếu đó (chứ ví như về ca hát, tôi không chút năng khiếu nào, chỉ biết thưởng thức, nên dù một bản nhạc quá hay mà tôi hát cũng thành dỡ, không có giọng thì chịu.)
 
Tôi nghĩ tôi có chút năng khiếu nên tôi mê văn thơ và tập tành viết. Mới đầu thì viết như một giải tỏa cho mình, sau thì muốn đăng báo, in sách, và sau cùng thì mong được nhiều người đọc và thích văn mình. Đó là một hạnh phúc anh à.
 
Tôi kể anh nghe, tôi có một số lần được hạnh phúc đó, số là tôi đi dự một đám cưới của người quen, khách tham dự phần đông là xa lạ, bỗng có một chị đến gần tôi và hỏi, anh có phải là TYH không, tôi đọc anh nhiều lắm, tôi thích văn anh...". Tôi thật sự sướng "rên mé đìu hiu" lên.Tôi cảm ơn chị độc giả đó, và về nhà còn sướng tiếp.
Sau đó cũng có thêm mấy lần tương tự như vậy...
Tôi muốn xác định như nhà văn Hoàng Khởi Phong đã xác định trên báo Người Việt trước đây, là "nhà văn là người viết truyện". Đúng, tôi đồng ý và thêm, nhà văn là người viết truyện hay (tôi thêm vào chữ hay) để xác định rõ vị trí nhà văn. Bây giờ trên các cơ quan truyền thông, báo chí, danh xưng nhà văn, nhà thơ được dùng lạm phát quá, trong một sinh hoạt nào đó, nếu có mấy ông, mấy bà chỉ viết "lăng nhăng", cũng được gọi nhà văn, nhà thơ loạn xà ngầu cả lên.
Chưa có một mức độ nào để xác định ai là nhà văn hay nhà thơ chính hiệu, cho nên tôi thêm là nhà văn là người viết truyện hay, được nhiều người yêu thích, được các nhà phê bình đánh giá cao...
Còn nhà văn lớn, nhỏ, nhà thơ lớn, nhỏ cũng khó nói, làm thơ ít mà hay, như Vũ Hữu Định chỉ có bài "Còn một chút gi để nhớ" mà ai cũng biết,(VHĐ có in cả tập thơ nhưng bài này được biết đến nhiều) thì gọi VHĐ là nhà thơ lớn hay nhỏ đây...Điều này phải có một một bài viết dài mới nói hết.
Người viết mới, nếu tiếp tục viết và sau một thời gian, có những tác phẩm hay, chắc chắn là thành cũ thôi. Với tôi, quan trong là viết có hay hay không thôi.
Tôi nghĩ chữ "thi sĩ" hơi xưa rồi. Tuy nhiên tôi yêu từ này, nó nhẹ nhàng, có tính lãng tử, thi sĩ là một người làm thơ hay...thế thôi.
Mời anh vào xem thêm một bài viết của tôi về những điều anh nêu trên:
Xin click vào:
Giữa hai lằn đạn
 
LTT:
Anh Trần Yên Hòa,
Như anh vừa cho biết, theo nhà văn Hoàng Khởi Phong thì "nhà văn là người viết truyện"; còn anh bổ túc thêm: "nhà văn là người viết truyện hay." Nếu vậy thì các tác giả viết các thể văn khác như du ký, tùy bút, tạp ghi, biên khảo, chẳng hạn, không phải là truyện, thì các tác giả này chưa phải hoặc không phải là "nhà văn" sao anh TYH? Và theo anh thì khi nào một truyện được anh cho là hay?
 
TYH:
Kính anh!
"Nhà văn là người viết truyện hay". Nói riêng và chính xác là vậy. Như Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Đình Toàn, Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Hoàng, Viên Linh... hay Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nhã Ca, Tuý Hồng...là nhà văn đúng nghĩa, vì họ là những người viết truyện được nhiều người yêu thích, được các nhà phê bình văn học đánh giá cao...Còn cái hay trong thơ và văn thì tuỳ mỗi người đọc, tùy trình độ nhận thức...Theo tôi, như bài thơ Ta Về của Tô Thuỳ Yên, hay truyện Cánh Đồng Bất Tận của Nguyễn Ngọc Tư (trong nước) là hay...Về vấn đề hay, dỡ, chắc phải viết một bài dài quá...nào là về văn phong, về ngôn ngữ, về cốt truyện v.v...
Bây giờ thì từ nhà văn cũng được dùng chung cho các nhà viết du ký, tạp ghi, biên khảo chẳng hạn...nhưng theo tôi thì không chính xác lắm...
 
LTT:
Cảm ơn anh Trần Yên Hòa đã bỏ nhiều thời giờ cho những câu trả lời trong cuộc trò chuyện ngắn này. Chúc anh luôn sáng tác nhiều thơ văn thêm nữa.
Mến chào anh.
 
Lương Thư Trung

Nhơn Câu Hỏi...* Lương Thư Trung

Nhơn Câu Hỏi: Thơ Đến Từ Đâu?
 
Trong loạt bài phỏng vấn trên trang nhà Talawas.org, Nguyễn Đức Tùng đã lập lại nhiều lần câu hỏi “Thơ đến từ đâu” với nhiều tác giả làm thơ và dĩ nhiên, mỗi người trả lời mỗi cách khác nhau.
 
Với Nguyễn Viện: Bài thơ của tôi bắt đầu bằng một hình ảnh, có khi bắt đầu bằng một từ, một khái niệm… Nhiều khi, nó cũng bắt đầu bằng một sự trống rỗng, hoặc một khao khát bày tỏ. Nhưng chắc chắn nhất là tôi thường không biết bắt đầu từ đâu.
 
 Inrasara: Thường thì tôi bắt đầu một bài thơ qua gợi hứng từ chữ. Tôi thấy một chữ hay, nắm lấy nó, tìm tứ và hình ảnh rồi khi bắt được nhịp thì bài thơ trào ra.
 
 Thận Nhiên: Bấy lâu nay tôi vẫn thở ra hít vô đều đặn, như vậy gọi là sống. Tôi không phân biệt thế nào là “sống trong thơ” và “sống ngoài thơ”. Chỉ sống thôi và thỉnh thoảng có hứng thì làm thơ, chừng đó cũng đã mệt lắm rồi.
 
Đỗ Quyên: Đây là lần thứ một triệu chúng ta nói: thơ giống như tình yêu, làm thơ giống như làm tình ở chỗ không sao quy định được quá trình của nó. Tức là không thể trả lời nổi “Bài thơ của anh bắt đầu ra sao?” trừ khi người đó làm được đúng một bài thơ, rồi dọt thẳng!
 
 Nguyễn Thế Hoàng Linh: Bắt đầu từ một câu đột nhiên xảy đến khi đang không hoặc có ý định làm thơ. Câu thơ đó có thể được dùng làm câu đầu bài thơ hoặc ở một phần nào đó.
 
 Nguyễn Thị Hoàng Bắc: Không hiểu tại sao nhiều người cũng có câu trả lời như tôi: tập tành làm vè trước rồi mới ziết zăng sau.
 
 Lý Đợi: Làm sao tôi biết được! Bởi nếu nhìn theo quan điểm sẵn có trong cộng đồng văn học, văn hoá và tư tưởng tại Việt Nam thì tôi là người hoàn toàn không có đủ thẩm quyền đề trả lời. Nếu nhìn theo quan điểm ấy thì tôi không làm thơ. Còn hiện nay, thơ đến từ đâu ư? – Anh nên hỏi thêm những người khác vậy.
 
 Ngô Tự Lập: Thoạt tiên, một cảm giác lạ lùng nào đó xuất hiện. Một cảm giác khó diễn tả, nhưng phải mới mẻ, ít nhất là với tôi. Thế rồi tôi cố tìm trong ký ức một hình ảnh, một giai điệu, một cốt truyện, một màu sắc hay bất cứ thứ gì tương ứng với nó
 
 Lê Vĩnh Tài: Và tất nhiên, cả những gì đang diễn ra hàng ngày mà tôi “cảm hứng” được, những cái làm cho anh nhận thấy trong thơ tôi “có những vấn đề xã hội” chăng?
 
 Trần Hữu Dũng: Bài thơ gần đây nhất tôi mới làm vào ngày 29 tháng 10 năm 2006, chưa chỉnh sửa gì cả, viết thẳng trên máy vi tính trong một đêm trằn trọc khó ngủ. Lâu lâu tôi vẫn có những cơn hoảng loạn như thế.
 
Nam Dao: Đó là bài “Tiễn bạn” qua ba tấu khúc năm 1995. Tôi đành tự nhủ, thôi, không làm thơ nữa, vì cứ thế này chắc rồi tôi sẽ quay ngược lại về thời Sở từ của Khuất Nguyên mất.
 
Ngoài ra, còn nhiều thi sĩ được hỏi và trả lời như vậy, nhưng ở đây, trong chừng mực của một đúc kết gọn, nên chúng tôi chỉ xin ghi lại các câu trả lời vừa dẫn để qua đó thấy được điều gì đã được các tác giả bắt gặp và làm ra thơ cho mình.
 
Với mỗi người mỗi hoàn cảnh khác nhau mà làm ra thơ, nhưng dường như các tác giả bị người phỏng vấn đẩy vào cái thế phải trả lời câu hỏi “Thơ đến từ đâu”? mà thao thao bất tuyệt về cái hứng của mình. Nhưng có một điều chắc chắn còn thiếu và làm nền cho mọi bài thơ chính là thơ bắt đầu từ con người, nói như Lâm Ngữ Đường, “thơ là kết tinh tình cảm của con người” (1). Điều này dường như là một điều hiển nhiên, không cần phải lý giải dong dài.
 
Từ xưa đến nay chỉ có con người mới làm thơ, còn mọi sinh vật khác không một ai có thể đẻ ra thơ được. Chim chóc hót rất hay nhưng tiếng hót thánh thót của các loài chim không phải là thơ. Tiếng kêu ồ ề của loài voi, tiếng gầm rú của loài cọp lại càng phản cảm hơn nữa. Và loài rắn không kêu thành tiếng, nên khó hiểu rắn muốn nói gì? Loài giạt sành, ve sầu rả rít mùa hè, loài ếch nhái ễnh ương rền vang khi mưa dầm cũng chỉ được con người ca ngợi như khúc nhạc đồng quê là cùng, chưa thể nào là thơ. Đến các vật vô tri như đá, núi, cỏ cây, trăm thứ đều có đời sống riêng của mỗi loài nhưng không thể chế biến ra thơ được, mà phải nhờ con người tả cảnh núi sông làm lung linh hồn người…
 
Nhưng con người làm thơ do đâu thì lại là một lối rẽ khác của từng cá nhân mỗi người. Người dốt thì họ làm thơ qua câu hò câu hát “nghêu ngao mặt nước, vui say giữa trời”. Họ ứng khẩu thành thơ khi trong lòng tràn ngập niềm vui cùng trời nước bao la giữa cánh đồng nước nổi, hay giữa miếng ruộng vàng bông trĩu hột đang theo gió rì rào làm thành những lượn sóng nhấp nhô trên biển lúa mênh mông. Thơ của họ chạy nhảy theo tiếng dế dưới lớp đất vừa cày trở. Có khi thơ của họ miên man trong trại ruộng, trong lùm cây trốn nắng đụt mưa hay trên thềm đìa, bờ kinh, bờ đập… Có người đi giữa rừng già nơi cao nguyên làm thơ. Tiếng thơ của họ là hứng khởi từ cái nét trầm mặc của rừng già. Có người đi trên sông làm thơ. Tứ thơ của họ là tiếng nước trôi, dòng sông sóng vỗ vào be xuồng, là những bến bờ đất bồi, đất lở từng mùa qua, là con nước chảy qua cầu với màu thời gian đong đầy rong rêu đu đưa theo con nước lên nước xuống cùng trăng già, trăng xế.
 
Thơ đối với họ là nỗi niềm rung cảm, không bị gò ép bởi chữ bởi vần miễn sao ngâm nga lên nghe nó êm tai và quấn quýt bên hồn như một khúc nhạc, một lời ru, một lời tình tự làm cho thiên nhiên và con người hòa vào nhau thành một. Đối với họ thơ không có tính toán, không có bàn thảo, không có chê khen mà tất tất chỉ nhằm làm cho đời thêm chút niềm vui với cảnh đời mà họ nhận ra mình đang hạnh phúc cùng mùa màng và thiên nhiên, cây cỏ.
 
Thêm vào đó, có một lớp người khác, cũng sống nơi miền quê và ưa làm thơ, đó chính là các bậc biết chữ Nho, không hề đi dự khoá thi nào ở trường ốc, nhưng là các bậc được người đời trong làng xóm kính nể. Những bậc này làm thơ ngâm vịnh cuộc đời. Mỗi mỗi tiếng chim kêu, tiếng gà gáy, tiếng chuông chùa công phu mỗi sáng, mỗi chiều họ đều ngẫu hứng làm thơ đề vịnh. Thơ của các bậc này là thơ viết về cuộc đời, nó cao hơn thơ cũa giới ít biết chữ một bậc và có nhiều bài lưu lại hậu thế nhiều đời bằng những bức tranh thơ khắc ghi lên đá, lên tường nơi chùa đình miếu miễu. Và nhiều bài thơ trở thành những bài kệ trên các bảo tháp của các vị chân tu đã viên tịch.
 
Ở làng tôi, cách nay sáu bảy mươi năm, những bậc nho sĩ nhà quê ấy thường làm thơ ngâm vịnh với nhau như món ăn tinh thần giữa chốn quê mùa mà tao nhã. Chẳng hạn hai bài thơ xướng họa dưới đây của ông Sáu Khiêm nhơn ngày giỗ nhà bạn, ông Thầy Bảy Hiển, mà bạn không mời:
 
“Tai nghe đám giỗ tại nhà thầy,
Muốn đến chung vui sợ nỗi rày.
Chưa thỉnh nếu đi coi cũng ngặt,
Không mời nên phải nín làm khuây.
Anh già lụm cụm mà quên đó,
Chị yếu lăng xăng chẳng nhớ đây.
Rượu thảo một ve xin gởi cúng,
Vật khinh tình trọng tưởng lòng này.”
Và Thầy Bẩy Hiển họa lại:
“Rượu một ve kia cảm nghĩa thầy,
Lễ xin dưng lại buộc đừng rầy.
Bởi đương cơn túng mà sơ sót,
Dẫu gặp ngày chay dám lảng khuây.
Lạt lẽo tạm dùng dưa với muối,
Mặn nồng chi bẵng đó cùng đây.
Kiền thành nguyện trước ông bà chứng,
Thiếu hụt xin thương cái phận này.”
 
Đó là một trong vô số bài thơ xướng họa giữa các bậc nhà Nho miệt nhà quê, nhưng có lẽ sáu bài thơ trên bảo tháp của ông Yết Ma Trụ Trì chùa Tân Phước Tự tại làng Tân Bình là sáu bài thơ tuyệt bích của cụ Bùi Xuân Hòa ở chợ Cái Tàu Thượng (Lấp Vò) làm. Và đây có lẽ là cái phần cao quý nhứt của các nhà Nho của làng tôi còn lưu lại tới ngày nay dù làng quê tôi đã phải trải qua biết bao mùa hưng phế trong vòng gần bảy tám chục năm qua.
 
Xin trích lại đây một trong sáu bài tiêu biểu:
 
Bài thứ sáu:
 
“Thế gian tứ khổ kỷ nhơn tri,
Đặc đạt phương năng hối ngộ chi.
Lục độ ân cần vô thiểu giải,
Tứ đề miễn lệ bất dung khuy.
Kim cang bất hoại thiên thu tại,
Bửu tháp trường tồn vạn cổ thùy.
Viễn cận đàn na giai ngưỡng mộ,
Bổn sư xuất thế dĩ tây qui.”  
 
Người xưa ở quê tôi làm thơ là thế. Thơ về cuộc đời, về tình người, về tấm gương, về đạo hạnh, về bằng hữu, về lễ giáo…
Và đây là thơ của một người chưa già lắm mà cũng không còn trẻ ký tên là Nguyễn Minh Thoại, một người làm thơ hôm qua cũng đong đầy trong trí nhớ mỗi khi khi có dịp tôi nhớ về:
 
Qua chợ Lấp Vò
 
Sáng qua chợ vẫn đông người
Lầu cao áo lụa sáng ngời phố vui
Gặp em trong ánh mắt đời
Cười nhau một chút cũng hời hợt thôi
Thấy em nhan sắc tuyệt vời
Tóc bay thơm cả một trời quê hương
Anh về giữ chút yêu thương
Nghìn năm nào đó khói hương cũng buồn
Thôi rồi mấy chuyện yêu đương
Cho anh xin chút mộng bình thường lãng du.”
 
Và một bài thơ khác cũng viết về Lấp Vò của Nguyễn Minh Thoại, gồm bốn đoạn mà tôi chỉ còn nhớ được hai đoạn 1 và 3:
 
Lấp Vò
 
Lấp Vò có mấy con kinh nhỏ
Xuôi ngược trong lòng con ấu thơ
Đò dọc Tân Bình xuôi mấy ngã
Từ con xa xứ sở quê mùa…
 
Trầu vàng mới hái em ngồi liểng
Anh chợt thèm thương những ngón tay
Bán cuộc đời anh mua chưa nổi
Mớ trầu và môi mắt chân mày…”
 
Làng quê tôi ngày nay bị đô thị hoá hơi nhiều, đường làng bùn lầy ngày trước nay thay bằng đường nhựa, cầu ván thay cầu khỉ bắc qua sông và người làm thơ cũ không còn ai. Nhưng mỗi lần có một thầy giáo từ Sài Gòn, giáo sư Nguyễn Tấn Hưng, ghé lại thăm chòm xóm, rồi vô vài ly rượu đế với cá lóc nướng trui chấm nước mắm bằm xoài, ông cũng khoái đọc thơ cho mấy người nhà quê khá bộn tuổi cỡ tôi nghe thơ của ông dịch từ nhũng bài thơ cổ. Điều đó cho thấy thơ không chỉ thưởng thức nơi văn minh đô hội, mà nó còn được ngâm nga nơi làng quê, dưới bụi tre gai hay gốc xoài, gốc mận vườn tôi, nơi chốn có một thời thơ đã ra đời và được trân trọng lâu rồi qua nhiều thế hệ trải dài gần cả trăm năm…
 
Sau những năm ở trại cải tạo về, do ngẫu hứng, có lần tôi cũng đọc bốn câu thơ của đời tôi cho ông nghe dưới bóng xoài:
 
“Mười năm trở lại căn nhà cũ
Tía má mười năm đã ngủ vùi
Nghi ngút khói hương nhà vẫn lạnh
Mấy mùa mưa nắng, mấy sương rơi!”
 
Có lẽ bài thơ sau đây, có lần Nguyễn Tấn Hưng đọc trong buổi nhậu sau vườn nhà tôi rất hợp với câu hỏi “Thơ đến từ đâu” của Nguyễn Đức Tùng, bài “Ngẫu Thành” của Nguyễn Trãi mà ông dịch là “Tình cờ làm nên bài thơ” (2) như sau:
 
Ngẫu thành
 
Thế thượng hoàng lương nhất mộng du
Giác lai vạn sự tổng thành hư
Như kim chỉ ái sơn trung trú,
Kết ốc hoa biên độc cựu thư.”
 
(Nguyễn Trãi)
 
Tình cờ làm nên bài thơ
 
Là thôi! Tỉnh giấc kê vàng
Mới hay muôn sự thảy toàn hư không
Dựng nhà trong núi mà ưng,
Sách xưa ngồi đọc nghe rừng nở hoa.”
(Bản dịch của Nguyễn Tấn Hưng)
 
Thơ không cần biết nó đến từ đâu, miễn làm sao thơ làm cho người đọc thơ mà cảm được là thơ đó có người mê và nhớ nó. Thơ không làm giàu nhà thi sĩ, bởi thi sĩ làm thơ chắc không nhằm mục đích đem thơ ra chợ để bán như rau cà mà chỉ để làm cho mình. Nếu nhà thi sĩ nào định làm thơ cho người khác thì thơ đó chưa làm, tôi tin chắc thơ đó khi ra đời sẽ ít hấp dẫn người đọc…
--------------------------------
Ghi chú:
 
*) Thật ra, tôi phải cám ơn nhà văn Nam Dao đã có lần hỏi: “Sao dân miệt vườn hổng làm thơ giống như Lục Vân Tiên, mà cứ làm thơ giọng văn chương Bắc Hà?” Tôi cứ băn khoăn hoài về câu hỏi đó… Và rồi tôi ngồi một mạch viết xong bài này. Còn các chi tiết về làm thơ và đọc thơ ở làng quê tôi là có thật 100%. Tôi cũng cảm ơn nhà thơ Nguyễn Đức Tùng và các nhà thơ qua loạt phỏng vấn “Thơ đến từ đâu”, nhờ đó tôi mới có bài viết này.
 
1/ ”Nhân Sinh Quan và Thơ Văn Trung Hoa” của Lâm Ngữ Đường, do Nguyễn Hiến Lê dịch, Ca Dao xuất bản, Sài Gòn, năm 1970; nhà Xuân Thu tái bản, Hoa Kỳ, năm 1991, trang 90.
 
2/ Giáo sư Nguyễn Tấn Hưng là rể làng tôi, nên mỗi bận về quê vợ, ông đều ghé lại thăm anh em tôi và lai rai vài ba xị đế nếp than. Ông có thơ in chung với 17 tác giả, có tựa “Trước sân nhà”, nhà xuất bản Trẻ, Việt Nam, năm 2000. Trong cuốn thơ này ông có 11 bài thơ dịch gồm: “Giang Hồ Tự Thích” của Trần Tung (Tuệ Trung Thượng Sĩ), “Giang Thôn Thu Vọng” của Bùi Tông Quán, “Quá An Long” của Trần Quang Triều, “Địa Lô Tức Sự” của Huyền Quang, “Cúc Hoa Vịnh” của Trương Hán Siêu, “Thôn Cư” của Nguyễn Sưởng, “Bạch Đằng Giang” của Trần Mạnh (Trần Nhân Tông), “Thu Dạ Khúc” của Phạm Tông Ngộ, “Thán Bần” của Trần Danh Án, “Ngẫu Thành” của Nguyễn Trãi, “Mậu Tý Nguyên Đán Cảm Tác” của Phan Đình Phùng. (từ trang 152 đến trang 176).
 
Lương Thư Trung
 
Mời Xem Những Bài Viết Khác Của Lương Thư Trung Ở Trang Văn Xuôi

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013