Thi Ảnh

Đỗ Hồng Ngọc

Thăm Nhà Văn Trang Thế Hy - Đỗ Hồng Ngọc

Do Hong Ngoc

Tôi vốn không ưa thuốc lá, không ưa cả người hút thuốc lá. Cũng bởi mình là thầy thuốc, lại làm việc trong Chương trình phòng chống tác hại thuốc lá. Nhưng lần này tôi bỗng thấy mê một người hút thuốc lá. Mê thiệt. Thấy cái cách ông ngậm điếu thuốc chếch qua một bên khóe miệng, thấy cái cách ông khum khum đôi bàn tay ấp ủ ngọn lửa như một bông hoa tự dưng thấy lòng xao xuyến.

Một người gần 90 tuổi, ghiền thuốc lá từ ngày còn trẻ, ngồi bên cạnh mình, nhẹ nhàng rút một điếu, nâng niu đưa lên miệng, rồi ân cần xoay xoay chiếc hộp quẹt trong tay chuẩn bị bật lửa… có cái gì đó như một nghi lễ tôn giáo, khiến tôi chỉ biết ngồi im, lặng ngắm, không dám hó hé. Tôi biết thứ thuốc lá ông hút chẳng phải nhẹ nhàng gì, nhưng người ta đặt tên dịu dàng với bao bì thanh mảnh dễ thương chẳng qua để người hút tưởng nó nhẹ, nó không nhiều chất độc vậy thôi. Người đàn ông đó, người đàn ông hút thuốc lá mê hoặc được tôi đó chính là nhà văn Trang Thế Hy, buổi trưa nắng gắt ngày 10/11/2009 tại nhà riêng của ông ở dưới chân cầu Rạch Miễu, Bến Tre mà tôi có dịp lần đầu đến thăm sau nhiều lần dự định mà không thành.

Bác sĩ Trần Đức Dũng người quen của gia đình ông đưa tôi đến, theo yêu cầu của tôi, không báo trước. Tôi vẫn nghe từ lâu ông là một nhà văn khó tánh. Nổi tiếng trên văn đàn từ những năm 50 của thế kỷ trước, được nhiều người ngưỡng mộ, đang sống ở thành phố Sài Gòn, ông lặng lẽ từ biệt Saigon phồn hoa đô hội, tự mình “đi chỗ khác chơi”. Nhà thơ Thanh Thảo thì dùng một câu ca dao Nam bộ để viết về ông: “Gió đưa gió đẩy, về rẫy ăn còng, về sông ăn cá, về đồng ăn cua… “. Còn nhà văn Nguyên Ngọc thì đã gọi ông một cách trân trọng: “người hiền của văn học Nam bộ”. Còn ông tự coi mình chỉ là “người tình thoáng chốc của văn chương”. Rời bỏ cuộc chơi, lánh về ẩn cư chốn quê nhà, “rửa tay gác kiếm”. Thế nhưng hình như người tình của ông thì chẳng bao giờ chịu rời bỏ ông cứ y như người tình của Tchekov ngày nào…

Tôi muốn được đến thăm ông như một độc giả mê văn ông từ thời Mỹ Thơ – tên một truyện ngắn của ông- trên báo Nhân Loại hơn nửa thế kỷ trước. Dĩ nhiên sau này ông còn có nhiều truyện ngắn hay hơn, sâu sắc hơn, nhưng với tôi, Mỹ Thơ vẫn mãi đọng lại với tiếng còi xe lửa xình xịch Saigon-Mỹ Tho thời đó. Tôi cũng mê thơ ông, đặc biệt bài thơ có tựa là “Đắng và Ngọt”, đã được đổi thành “Cuộc đời” khi đăng báo mà sau này trở thành “Quán bên đường”, do Phạm Duy phổ nhạc. Từ lâu, mỗi lần nghe “Quán bên đường” tôi lại thấy rưng rưng, như muốn khóc. Cái người có một bài thơ làm mình muốn khóc đó bây giờ ra sao thôi thúc tôi tìm đến thăm ông. Thơ kể chuyện thôi mà, có tân hình thức có hậu hiện đại gì đâu, cớ sao mình mới nghe đã thuộc, đã nhớ, đã thổn thức, đã rưng rưng?

Bác sĩ Dũng hỏi tôi cần mua gì làm quà cho bác Tư không? Tôi bảo thôi. Không cần đâu. Không sao. Tôi giục. Dũng mượn cái nón bảo hiểm, vèo chở tôi đi ngược về phía chân cầu Rạch Miễu, và dừng lại ở một con hẻm nhỏ, bên cạnh một con rạch. Phía bên kia đường là khu dưỡng lão với những ngôi nhà ngói đỏ au. Bác Tư Trang Thế Hy đang sống với vợ chồng cô con gái trong một căn nhà nhỏ bé, thấp lè tè, yên ả giữa mảnh vườn xanh um, dừa chuối bưởi bòng. Đã mấy lần tôi định tìm thăm ông- một người bạn văn của cậu tôi, ông Nguiễn Ngu Í, thời Bách Khoa- để được nhìn ngắm ông, hỏi han sức khỏe ông và… nhờ ông giải thích cho vài chỗ còn lờ mờ trong bài thơ. “Khét năng hôi trâu thèm đi học” thì tôi biết, nhưng “tóc bánh bèo” thì chịu.

Trước kia tôi vẫn ngỡ bài thơ đó là của Bình Nguyên Lộc, có người còn nói của Khổng Nghi. Khi Phạm Duy phổ nhạc vẫn chỉ ghi tác giả là “khuyết danh” mà! Bây giờ biết tác giả là ông, tôi càng háo hức. Lạ, dù qua giọng ca Thái Thanh ngày xưa hay sau này Ý , con gái Thái Thanh, cứ mỗi lần nghe hát, tôi lại thấy rưng rưng nhớ lại những ngày thơ ấu của mình. Câu chuyện kể trong bài thơ đó quá xúc động, không dừng ở câu chuyện riêng, mà ở một triết lý sống, một triết lý nghệ thuật với câu kết “Thì cứ hỏi cuộc đời” như mở toang một cánh cửa trống hoắc…!

Dũng đưa tôi đến đúng lúc bữa cơm trưa của ông cùng với một người khách quen, Nguyên Tùng, hội nhà văn Bến Tre đến chơi. Dũng lí nhí giới thiệu bác sĩ Ngọc đến thăm bác Tư nè bác Tư. Ông kêu đem thêm chén đũa. Vẻ dè dặt. Tôi cười cười ngắm nghía ông. Thấy thương ghê. Ốm nhom ốm nhách trong bộ bijama lụa lùng nhùng đặc sệt Nam bộ. Tóc bạc lênh đênh chùi về phía sau, dồn cái trán rộng về phía trước, miệng móm mém, mũi cao, thẳng, mắt sâu và sắc như một thiền sư khổ hạnh. Tôi phân vân không biết nên gọi ông là chú hay là anh.

Sau cùng tôi gọi ông bằng…anh vì nghĩ đã là một nhà văn như ông, hẳn nên được đối xử như một người không có tuổi, nhất là nhà văn này đối với tôi còn là một nhà thơ mà tôi hằng quý mến. Cho nên tôi gọi bằng anh. Gần gũi hơn, ấm áp hơn là chú, là bác, là ông, là cụ hay là… nhà văn! Tôi “thăm dò” bằng cách hỏi han ông: Anh có khỏe không? Hơi yếu hơn trước. Lúc này anh có bệnh gì không? Không. Chỉ bị phổi tắt nghẽn mạn tính thôi. Chắc tại anh hút thuốc lá hơi nhiều? Phải, nhưng nay đã bớt hút rồi. Bây giờ chỉ hút khi có khách. Tôi được biết năm ngoái ông đã từng phải vào cấp cứu ở bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre vì khó thở, rồi phải điều trị theo chương trình mất tám tháng. Trong khi tim mạch vẫn rất tốt. Huyết áp ổn định. Ông lại với tay lấy gói thuốc, rút một điếu nữa, bật quẹt. Anh ốm quá, được bốn chục ký không? Bốn chục ký non. Hôm trước 40, nay còn 39 thôi. Vẫn lạnh nhạt, dè dặt.

Nhà văn Trang Thế Hy

Trên bàn là những món ăn tốt cho người già, tôi quan sát. Cơm trắng cá kho, canh rau, trái cây, rồi nào bưởi nào chuối luộc… Và một ly rượu nhỏ. Chắc có Nguyên Tùng đến nên Tùng một ly, ông một ly. Ông kêu Tùng rót thêm hai ly nhỏ nữa cho tôi và Dũng. Thấy Dũng hớp vội xong nhỏm dậy lo chạy việc riêng, tôi nhờ anh bấm cho vài tấm hình kỷ niệm. Ông để yên cho chụp không nói gì.

Tôi bấm thêm mấy tấm cận ảnh lúc ông ngậm điếu thuốc, với cái dáng điệu nghệ mà tôi mê. Bỗng ông lên tiếng: Này, người ta nói “tốt xấu ”, hiểu không? Tốt khoe xấu che. Chụp hình tôi thì chụp nhưng đừng có đăng báo đó nghe! Tôi cười cười trong bụng nghĩ đúng là ông già khó tánh. Tôi nói, già có cái đẹp của già chớ anh Tư! Mà quả thật, tôi thấy ông đẹp. Và khỏe nữa. Tai thính này. Mắt tinh này. Ông cho biết mới mổ cườm, vẫn đọc sách báo tốt. Và đặc biệt, trí nhớ tuyệt vời!

Rồi tôi lảng sang chuyện khác: Bài thơ được phổ nhạc với tên Quán bên đường của anh sao mọi người vẫn tưởng là của Bình Nguyên Lộc? Bởi vì Bình Nguyên Lộc là người đăng bài đó lên báo mà! Báo Vui Sống, khoảng 1960 gì đó phải không? Không, 1959 chớ. Mỗi lần nghe hát bài này sao tôi đều thấy muốn khóc. Lạ thiệt. Tôi nói. “Khét nắng hôi trâu thèm đi học…”, rồi “khoai sùng lượm mót…” À, mà “tóc bánh bèo” là tóc làm sao anh Tư? Có phải ba vá không? Không, không phải ba vá. Tóc bánh bèo, này Tùng- ông bỗng gọi- Tùng biết tóc bánh bèo không? Tùng nói: dạ có phải cạo trọc, để lại một chùm đằng sau ót, tròn tròn… Ông cầm cái chén lên, vo vo theo miệng chén bảo đúng rồi, cạo trọc, để lại một miếng tròn như vầy, nhưng ở giữa phải có một chùm tóc như cái nhưn bánh bèo vậy! Thì ra thế. Cả tôi cả Tùng đều không biết.

Nhìn đồng hồ, thấy sắp đến giờ hẹn với Dũng, tôi bèn mở túi xách lấy mấy cuốn sách mang theo từ Saigon xuống tặng ông. Đó là Già ơi… chào bạn!, Những người trẻ lạ lùng và Thư gởi người bận rộn. Xin gởi tặng anh Tư vài cuốn sách đọc cho vui, tôi nói. Ông nhìn tên tác giả trên bìa sách rồi ngạc nhiên: Ủa , Đỗ Hồng Ngọc hả? Tôi có đọc Đỗ Hồng Ngọc. Tôi thích cái style của Đỗ Hồng Ngọc đó! Ông lật lật, cười tươi, cởi mở, nồng nhiệt, thân thiện. Bỗng ông đứng lên, vui vẻ kêu: Ngọc ơi, đi qua đây, đi qua đây nghe bài hát Quán bên đường này. Tùng nữa. Qua đây. Một người bên Đức gởi tặng tôi dĩa này do Thái Thanh và Quỳnh Giao ca đó. Ông kéo tôi và Tùng qua phòng bên. Một phòng nhỏ, rất riêng, rất bề bộn của một nhà văn… Nào phin lọc cà-phê, tách trà, bình thủy… nào sách báo ngổn ngang các thứ. Rồi ghế xích đu, rồi võng…. Ông chỉ chiếc ghế salon nhỏ cạnh bàn nước, kêu tôi ngồi, chỉ Tùng chiếc võng.

Ông bật máy cassette rồi ngồi xuống chiếc ghế xích đu cạnh đó. Giọng Thái Thanh lảnh lót. Ngày xưa ngày xửa ngày xưa… Rồi giọng Quỳnh Giao… Tôi lắng từng lời từng lời, lòng vẫn thấy rưng rưng… Thấy tôi gật gù, ông bỗng nở nụ cười: “bẹo”, “chữ bẹo”… Ông nằm bật ngửa sảng khoái trên ghế xích đu, ngón chân nhịp nhịp theo bài hát, mắt lim dim. Nghe xong, tôi nói: Bài này còn có bản do Ý Lan ca rất hay nữa anh Tư à. Ý Lan là con gái Thái Thanh đó. Tôi chưa có bản đó, ông nói, hôm trước Phạm Duy xuống thăm cũng nói vậy. Ông lại hỏi: Quỳnh Giao con Dương Thiệu Tước phải không? Dạ phải. Thái Thanh hát technique nhiều, Quỳnh Giao hát có lòng hơn. Lúc phổ nhạc, người ta đã thêm bớt nhiều quá! Nhưng đành vậy thôi. Ông nói.

Rồi kéo tôi và Nguyên Tùng trở lại bàn ăn. Một Trang Thế Hy khác: sôi nổi, hoạt bát, sắc sảo, dí dỏm… Chúng tôi nói về những người Việt trẻ tài năng. Ông nhắc Lê Bá Hùng, một thanh niên gốc Việt, hạm trưởng một tàu hải quân Mỹ USS Lassen vừa cặp cảng Đà Nẵng. Tôi nhắc một người gốc Việt khác, Philipp Roesler 36 tuổi là bộ trưởng y tế Đức. Tùng nhắc nhà văn Nam Lê ở Úc với The boat. Chúng tôi lại nói đến giải Nobel, rồi đến Cao Hành Kiện. Có đọc bài diễn văn nhận giải Nobel của Cao Hành Kiện không? Ông hỏi rồi nhắc luôn những ý chính của bài diễn văn đó, đại khái nhà văn cần phải đứng cao hơn những ràng buộc và cám dỗ để đạt được tự do và độc lập trong tư tưởng…

Im lặng một lúc, ông nói: Hôm trước có cô nhà văn gì đó hỏi tôi tại sao không ưa… mà thích Lỗ Tấn? Tôi không trả lời, nhưng hôm nay nói cho Đỗ Hồng Ngọc nghe nha: Tôi thích Lỗ Tấn vì… Ông đột ngột hỏi tôi: Có đọc Nhật ký người điên của Lỗ Tấn do Phan Khôi dịch rồi phải không? Tôi gật. Ông đọc thuộc lòng ngay một đoạn, đoạn kết của truyện ngắn Nhật ký người điên đó. Thấy chưa, Lỗ Tấn là như vậy đó…. Ông đâu có quốc tịch. Ông là nhân loại. Là con người… “Hãy cứu lấy trẻ con vì nhiều em chưa kịp ăn thịt người!”. Nhà văn trong bối cảnh nào cũng có cách riêng của nó. Nếu nó hòa hợp được thì nó đã hòa hợp, còn không, nó có cách riêng…

Khi biết tôi là cháu gọi Nguiễn Ngu Í bằng cậu, ông hỏi Ngu Í còn sống không? Đã mất từ 1979 sau những cơn điên nặng. Hồi trước Nguiễn Ngu I có phỏng vấn anh mà, loạt bài trên báo Bách Khoa đó. Tôi nhắc. Đúng. Nguiễn Ngu Í phỏng vấn tôi lúc nào cũng viết Trang Thế Hi, với chữ I cụt! Lại móm mém cười. Rồi ông hỏi thăm tôi về bác sĩ Lương Phán, một người bạn thân của ông. Rồi cùng nhắc bác sĩ Trần Hữu Nghiệp. Tôi nói anh Chín Nghiệp quê ở Mỹ Tho? Không, Ba Tri, Bến Tre chớ! Rồi cùng nhắc đến Trần Hữu Dũng và nhiều nhân vật khác…

Thấy đã quá trưa, nên rút để ông nghỉ. Dũng vẫn chưa trở lại. Tùng tình nguyện đưa tôi về để kịp giờ hội thảo buổi chiều. Ông đặt bàn tay trên mấy cuốn sách tôi tặng xoa xoa và nói đến thăm nhà văn mà nhà văn không có gì để tặng lại… Tôi cười “Già ơi… chào bạn!” là … Bonjour vieillesse đó anh, cũng như… Bonjour tristesse vậy mà! Ừ, Sagan, một cô bé mới mười mấy tuổi đầu mà đã viết Bonjour Tristesse… Ngay trong câu mở đâu cô đã viết… Rồi ông đọc vanh vách nguyên một đoạn mở đầu đó của F. Sagan cho tôi nghe. Tùng đã nổ máy xe đợi ngoài cổng. Ông lững thững theo tôi ra. Tôi bỗng muốn ôm chặt lấy ông một cái nhưng không dám, chỉ nắm cánh tay ông siết nhẹ: – Thưa Thầy, em về!
Ông cười mắt nheo lại thật tươi.

Đỗ Hồng Ngọc

Thở Và Thiền - Đỗ Hồng Ngọc

Do Hong Ngoc

Lieu Quan (hinh) Tôi đến với Thiền rất trễ. Trước đó, những năm hai mươi tuổi tôi cũng có đọc  thiền, biết thiền qua sách vở, qua Krishnamurti, Suzuki, thầy Minh Châu, thầy Nhất Hạnh… nhưng đọc để biết, để có kiến thức thế thôi. Tôi cảm thấy thiền là cái gì đó huyền bí xa vời, có phần như mê tín dị đoan nên chỉ “kính nhi viễn chi”. Tôi là một bác sĩ, hơn 12 năm làm ở Cấp cứu Bệnh viện Nhi đồng Saigon, rồi hơn 20 năm phụ trách Trung tâm truyền thông và Giáo dục sức khỏe, thực hiện các chương trình Chăm sóc sức khỏe ban đầu (Primary Health Care), tham gia giảng dạy ở đại học Y, viết sách báo v.v… làm việc như điên, cho đến một hôm người ta phải đưa tôi đi bệnh viện để mổ sọ não cấp cứu vì tai biến mạch máu não. Từ lúc lơ mơ đến lúc tỉnh dậy ở phòng hồi sức… hình như tôi đã trải qua một cuộc… phiêu lưu kỳ thú! Khi bước đi được trên nền đất những bước đầu tiên lẩm đẩm như một em bé, tôi thấy quả là một phép lạ. Tôi nhìn tôi trong gương với cái đầu trọc lóc mà thấy tức cười.

Bạn bè trong ngành ai cũng thương cho thật nhiều thuốc. Tôi chọn dùng một thứ duy nhất bởi biết bệnh mình không thể chữa bằng thuốc mà phải thay đổi cách sống, cách nghĩ, cách làm. Phải tìm một con đường khác thôi. Rồi tình cờ tôi đọc lại Tâm Kinh “ Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát Nhã ba-la-mật-đa thời chiếu kiến ngũ uẫn giai không, độ nhất thiết khổ ách…”. Những câu kinh xưa mịt mờ bây giờ bỗng sáng rõ lạ lùng với tôi. Phải rồi. Phải tự tại thôi. Phải dựa vào chính mình thôi. Tôi vừa tìm hiểu kinh thư vừa lục toang đống sách y khoa đã học từ mấy chục năm trước để tìm kiếm con đường mới mẻ này. Thì ra đã sẵn có một con đường mà bấy lâu tôi mãi xa lạ. “Đây là con đường độc nhất dẫn tới thanh tịnh cho chúng sanh, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng đắc Niết Bàn…” (Satipatthana, Tứ Niệm Xứ).

Con đường độc nhất ư? Có thể dẫn tới thanh tịnh ư? Còn mong gì hơn khi ta đang sống trong một thời đại đầy “điên đảo mộng tưởng”.  Có thể diệt trừ khổ ưu ư? Còn mong gì hơn khi ta đang sống một nếp sống đầy khổ đau và phiền muộn. Rồi còn thành tựu chánh trí nữa ư?… Thì ra cái “trí” của ta bấy lâu chỉ là cái trí tích cóp, cái “thức” của ta bấy lâu chỉ là cái thức phân biệt, thị phi…

Thầy thuốc chỉ chữa được cái đau mà không chữa được cái khổ, chỉ chữa được cái bệnh mà không chữa được cái hoạn. Do vậy mà dù khoa học y học ngày càng phát triển với những thành tựu đáng kinh ngạc nhưng cũng chỉ là manh mún và thiếu sót, lệch lạc, tình trạng tâm thần, tự tử, bạo lực, bất an và các bệnh do hành vi lối sống gây ra như tim mạch, tiểu đường, béo phì… cứ ngày càng phát triển! Thiền, phải chăng là một lối thoát?

“… Và này các Tỳ-kheo, như thế nào là tu tập nhập tức xuất tức niệm?  Ở đây vị Tỳ- kheo đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, ngồi kiết già, lưng thẳng và trú niệm trước mặt. Chánh niệm vị ấy thở vô; chánh niệm vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy biết: “Tôi thở vô dài” hay thở ra dài, vị ấy biết: “Tôi thở ra dài” Hay thở vô ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở vô ngán” Hay thở ra ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở ra ngắn”… (Anapanasatisutta, Thích Minh Châu dịch).

Với “kỹ thuật” thiền Anapanasati – Nhập tức xuất tức niệm, An-ban thủ ý hay “Quán niệm hơi thở”-  được dạy trong kinh Tứ niệm xứ (Satipathana): “con đường độc nhất dẫn tới thanh tịnh cho chúng sanh, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí…”, một phương pháp thiền căn bản, có cơ sở khoa học, sinh y học, mang lại sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống vừa là con đường tâm linh, giúp “thấy biết” Vô thường, Vô ngã, Không, Duyên sinh, Thực tướng vô tướng…  đưa tới “giải thoát và giải thoát tri kiến” … chẳng phải tuyệt vời sao?

Tôi vừa tìm hiểu Anapanasati trong kinh sách vừa lục lọi lại toàn bộ kiến thức y khoa của mình về cơ thể học, sinh lý học, sinh lý bệnh học và cả mối quan hệ giữa thân và tâm, cơ chế hoạt động của não bộ v.v… rồi có kế hoạch đi vào thiền tập, thực hành, sau khi tham vấn một vài vị sư, thầy mà tôi tin tưởng, quý mến.

Có một sự nhất quán, xuyên suốt trong lời dạy thiền định của Phật, từ Tứ niệm xứ (Satipatthàna) tới Thân hành niệm (Kàyagatàsati), rồi Nhập tức xuất tức niệm (Ànàpànasati), đó là THỞ. Kinh viết “Thở vào thì biết thở vào, thở ra thì biết thở ra. Thở vào dài thì biết thở vào dài, thở ra ngắn thì biết thở ra ngắn…”. Tóm lại, là luôn quán sát hơi thở, đặt niệm (Sati, nhớ, nghĩ) vào hơi thở. Chỉ có vậy. Mà vô vàn. Mà “bất khả tư nghì”!

Nhưng khi đọc câu “Thở vào thì biết thở vào, thở ra thì biết thở ra…” có thể gây hiểu lầm ở đây, bởi ai mà chẳng biết thở cơ chứ! Mới sinh ra thì đã phải thở rồi kia mà! Thế nhưng ở đây không phải là biết thở, mà là nhận thức được (recognize), ý thức rõ (realize), cảm nhận được (perceive) cái sự thở, cái hơi thở đang đi vào và đang đi ra. Đó mới là điều cốt lõi! Nhận thức, ý thức, cảm nhận, ấy chính là niệm (nhớ), là quán (quan sát, suy tưởng) về sự thở, về hơi thở. Nhờ đó mà một mặt, ta giải thoát tâm ta khỏi những vướng mắc lăng xăng, một mặt ta nhận ra ý nghĩa cuộc sống và từ đó, buông bỏ bao nỗi lo toan, sợ hãi của kiếp nhân sinh để có sức khỏe và hạnh phúc.

Dù gọi là Thiền (Việt) hay Chan (Hoa), Zen ( Nhật)… thì cũng đều có nguồn gốc từ Dhyana (Sanskrit) hay Jhanas (Pali). Theo ngữ nguyên thì Jha là nhìn, là quán sát, là theo dõi và Ana là thở, hơi thở, là khí. Vậy, jhanas hay dhyana chính là “quán sát hơi thở”, “nhận thức hơi thở”.  Vấn đề là tại sao và cách nào để chỉ từ một việc có vẻ rất giản đơn là quán sát hơi thở lại có thể dẫn tới tuệ giác, một sự chuyển hóa từ “khí” mà thành “trí”?

Âu Mỹ mới đi sâu nghiên cứu về thiền chừng khoảng hơn nửa thế kỷ nay nhưng ngày nay thiền đã được coi là một phương pháp trị liệu hiệu quả trong y học. Trong thiền định, hành giả có thể giảm hơn 40% nhu cầu Oxy và giảm 50% nhịp thở. Lúc đầu các nhà khoa học nghĩ rằng thiền cũng giống như giấc ngủ hay nghỉ ngơi tích cực, nhưng qua các nghiên cứu cho thấy thiền khác hẳn, thực sự là một trạng thái tỉnh giác, ở mức tiêu thụ năng lượng thấp nhất tùy trình độ hành giả! Ở những hành giả thực hành thiền dài khoảng 30-40 phút thấy mức lactate trong động mạch giảm, phenylalanine tăng 20%, hoạt động hệ giao cảm giảm trên bề mặt da và nhịp tim cũng giảm đáng kể. Về nội tiết, thấy giảm cortisol (hormone chủ yếu của stress) và ACTH; TSH cũng giảm, trong khi đó arginine vasopressin, được coi là có vai trò trong học tập và trí nhớ lại gia tăng đáng kể. Hiện ngày càng có nhiều nghiên cứu về beta-endorphin, corticotropin, melatonin, DHEA, hứa hẹn giải thích cơ chế tác dụng của thiền trên nhiều mặt về y sinh học…  Hoạt động điện não đồ EEG cho thấy thiền có sự khác biệt với nghỉ và ngủ. Nhờ những tiến bộ về kỹ thuật thăm dò chức năng não bộ như PET (Positron Emission Tomography) và nhất là fMRI (functional Magnetic Resonance Imaging) đo lượng tưới máu não, cho thấy ở thiền giả một số vùng não được tưới nhiều hơn vùng khác, chứng tỏ thiền không phải là giấc ngủ, trái lại là một trạng thái an tịnh tỉnh giác (state of restful alertness). Điều này cho thấy thiền giả không phải tiêu hao nhiều năng lượng cho các hoạt động của vỏ não. Các nghiên cứu về sinh lý học trong thiền vẫn còn đang tiếp diễn, thế nhưng đã chứng minh được thiền có khả năng làm giảm stress, giảm huyết áp, tạo sự sảng khoái… là yếu tố của sức khỏe, của chất lượng cuộc sống.Thống kê của cơ quan bảo hiểm y tế cho thấy thiền  giúp giảm thời gian nằm viện của bệnh nhân và giảm số lần đi khám bệnh.

Nghiên cứu đối chứng về cơn đau kinh niên, lo âu, trầm cảm, thiền làm giảm 50% các triệu chứng tâm thần nói chung và giảm 70% triệu chứng lo âu.

Một nghiên cứu  trên học sinh cấp 2 có thực tập thiền, cho thấy kết quả học tập tốt hơn, có khả năng tập trung, có thói quen làm việc, cải thiện hành vi (xung đột, hung hãn), tăng lòng tự tín, khả năng hợp tác và quan hệ với người khác.

Thiền cũng giúp làm giảm cân, giảm béo phì, nghiện thuốc lá, rượu và các chất ma túy nói chung. Đặc biệt, một nghiên cứu đối chứng ở 44 bệnh viện cho thấy thiền đã giúp làm giảm sai sót chuyên môn y khoa đến 50%, đồng thời cũng làm giảm 70% các vụ khiếu kiện của bệnh nhân đối với bệnh viện.

Trở lại với thiền Anapanasati, câu hỏi đặt ra là tại sao quán sát hơi thở? Sao lại không chọn các đối tượng khác để quán sát? Thật ra “quán sát” gì cũng được, từ hòn đá, cục sỏi, tới làn sóng, tiếng gió, hạt sương, ánh nắng  … nhưng quán sát hơi thở thì tiện lợi hơn, hiệu quả hơn mà không sợ những tai biến có thể có trong quá trình “hành thiền”. Ngay cả trong cơ thể, tim đập khó theo dõi, hoàn toàn ngoài ý muốn, khó can thiệp. Dạ dày thì làm việc âm thầm, cũng khó mà quan sát. Trừ hơi thở! Hơi thở dễ quan sát nhất vì nó nằm ngay trước mũi mình, ngay dưới mắt mình! Lúc nào cũng phải thở. Ở đâu cũng phải thở. Cái hay nữa là quán sát nó thì không ai nhìn thấy, chỉ riêng ta biết với ta thôi! Mỗi phút lại phải thở cả chục lần. Lúc mau lúc chậm, lúc ngắn lúc dài, lúc phì phò lúc êm dịu. Hơi thở lại rất nhạy với cảm xúc. Trước một cảnh đẹp, ta “nín thở”. Lúc lo âu, ta hổn hển. Lúc sảng khoái ta lâng lâng. Lúc sợ hãi, hồi hộp ta thở nhiều kiểu khác nhau, muôn hình vạn trạng. Và nhờ đó mà thấy vô thường. Nhờ đó mà ta quán sát được cái tâm ta. Thở lại gắn mật thiết với các hoạt động cơ bắp. Khi mệt, ta mệt “bở hơi tai”, mệt đứt hơi, mệt hết hơi; khi khỏe, ta thở nhẹ nhàng sảng khoái! Nhờ đó mà ta quán sát được cái thân ta. Hơi thở chính là sợi dây nhạy cảm nối kết thân với tâm. Thở vừa ý thức, vừa vô thức. Như không cần ta. Như ở ngoài ta. Như không có ta. Ở đó, một trạng thái vô ngã, không thời gian, không không gian. Thở gắn với sự sống chết của kiếp người. Còn sống còn thở, chết hết thở, tắt thở, ngừng thở. Đời người thực ra chỉ là… một hơi thở! Khi chào đời em bé khóc thét lên một tiếng thật to để hít mạnh không khí vào phổi để rồi khi lìa đời, cụ già lại thở hắt ra một cái, trả lại cho đời tất cả những gì đã vay mượn! Giữa hai lần thở vào thở ra đó là những đợt thở… lăn tăn như những làn sóng nhỏ, mà nối kết các làn sóng nhỏ lăn tăn đó lại với nhau ta có cuộc rong chơi trong cõi “Ta bà”! Mỗi hơi thở vào ra trung bình khoảng 5-10 giây. Mỗi giây, trong cơ thể con người đã có hằng trăm triệu tế bào hồng cầu bị hủy diệt và hằng trăm triệu hồng cầu khác được sản sinh. Quán sát hơi thở do đó ta thấy được sự sinh diệt trong từng sát-na.

Thở có thể làm chuyển biến tâm trạng, chuyển hóa cảm xúc, hành vi ta nữa. Đang sôi giận mà kịp nhớ lại, quán sát sự thở của mình thì thấy tức cười, bèn quên giận mà hơi thở được điều hòa trở lại lúc nào không hay: điểm hưng phấn trên vỏ não đã bị dịch chuyển! Nói khác đi, ta có thể dùng cách quán sát hơi thở để tự kiểm soát cảm xúc và hành vi của mình. Quán sát hơi thở cũng lôi kéo ta trở về hiện tại  – không còn đắm mình vào dĩ vãng hay tương lai. Bởi vì thở là thở trong hiện tại. Ở đây và bây giờ.

Phổi ta như một cái máy bơm, lồng ngực như cái xy-lanh (cylindre), cơ hoành là cơ hô hấp chính, như một cái pit-tông (piston) thụt lên thụt xuống ( giống bễ lò rèn). Cơ hoành có thể nhích lên xuống khoảng 7 cm, mà mỗi 1 cm đã hút vào hoặc đẩy ra 250 ml không khí. Thực tế cơ hoành chỉ cần nhích lên xuống chừng một vài cm là đủ… sống. Cũng cần nhớ rằng phổi “phình xẹp” để đưa khí vào ra là nhờ có áp suất thay đổi. Khi áp suất âm trong phổi và các phế nang thì khí bên ngoài tự động lùa vào, tuôn vào, lấp đầy phổi, cho đến một lúc lượng khí bên trong đầy dần lên thì chuyển sang áp suất dương, sẽ đẩy khí ra. Có một thời điểm áp suất cân bằng nhau, hay nói cách khác, áp suất bằng không (0 = zéro), thì khí bên trong cơ thể và bên ngoài vũ trụ chan hòa thành một, không phân biệt. Đó chính là quãng lặng. Quãng lặng đó ở cuối thì thở ra – trước khi thở vào trở lại – thường kéo dài, thong dong, nhẹ nhàng, yên tịnh, vì không hề tốn năng lượng. Như chim lượn bay, không phải vỗ cánh, như xe ngon trớn chạy ở số không, không tốn nhiên liệu! Tôi cho đó chính là giai đoạn “Prana”. Pra có nghĩa là trước và Ana là thở vào (trước thì thở vào cũng có nghĩa là sau thì thở ra). Prana đã được biết đến từ xa xưa. Yoga, khí công, cũng như y học Đông phương đã nói đến Prana từ thời cổ đại. Trong yoga có “pranayama” là kiểm soát hơi thở. Trong thiền định, không còn là vấn đề kiểm soát hơi thở nữa mà hơi thở sẽ tự kiểm soát! Đến một lúc nào đó, khi vào sâu trong thiền định, hành giả sẽ không cảm nhận mình thở nữa (tứ thiền). Hơi thở nhẹ gần như ngưng bặt. An tịnh. Hòa tan. Tan biến. Có thể nói đến một phương pháp thiền – tạm gọi là “Pranasati” ở đây chăng? – tức đặt “niệm” vào quãng lặng. Và thực chất cũng không còn cả niệm, một trạng thái “vô niệm” hoàn toàn chăng? Những hành giả giàu kinh nghiệm (thiện xảo) cho biết có thể vào định ngay hơi thở đầu tiên có lẽ nhờ rèn tập mà khoảng lặng ngày càng dài ra, mênh mông ra như không còn biên giới, như hòa tan vào hư không, lắng đọng, thanh thoát. Lúc đó không còn ý niệm về không gian, thời gian, về ta, về người…

Hô hấp diễn ra trong từng tế bào, nhằm tạo ra năng lượng cho cơ thể hoạt động và tồn tại. Người lao động nặng cần năng lượng gấp ba bốn lần người bình thường, trong đó hoạt động cơ bắp đã chiếm gần một nửa.  Riêng não bộ, với trọng lượng rất nhỏ bé, chỉ khoảng 2% thể trọng mà đã tiêu dùng đến 25% năng lượng của cơ thể. Giận dữ , lo âu, sợ hãi tiêu tốn rất nhiều năng lượng. Cho nên những lúc đó ta dễ cảm thấy kiệt sức, rã rời! Ngủ là một cách giảm tiêu hao năng lượng, nhưng vẫn còn co cơ, vẫn còn chiêm bao. Một đêm ác mộng sẽ thấy bải hoải toàn thân khi thức giấc! Thiền giúp tiết giảm tiêu thụ năng lượng một cách đáng kể, còn hơn cả giấc ngủ. Một khi cơ thể giảm tiêu thụ năng lượng thì các tế bào được nghỉ ngơi, nên toàn thân cảm thấy thấy nhẹ nhàng sảng khoái. Trạng thái nhẹ nhàng sảng khoái đó xảy ra trên từng tế bào của cơ thể. Một cảm giác lâng lâng dễ chịu toàn thân của hành giả, đó chính là trạng thái hỷ lạc (thiền duyệt).

Cơ thể ta có khoảng trăm ngàn tỷ tế bào. Mỗi tế bào thực chất là một “sinh vật” háo ăn, háo làm, háo tiêu thụ Oxy (để kết hợp với thức ăn qua những phản ứng gọi là Oxyt-hóa) nhằm tạo ra năng lượng. Nhưng Oxyt-hóa càng mạnh thì càng tạo thêm các gốc tự do và các chất… bã, làm cho cơ thể mau mệt mỏi, mau già nua! Giống như một thanh sắt để ngoài nắng gió một thời gian sẽ bị Oxyt-hóa thành rỉ sét. Khi cơ thể đã chùng xuống, đã giãn cơ, tức giảm tiêu hao năng lượng một cách đáng kể rồi thì cũng sẽ thấy không cần thiết phải cung cấp các dưỡng chất qua thức ăn (bột, đạm, dầu mỡ)… nữa. Ăn ít mà vẫn đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng thì cơ thể đỡ vất vả, các tế bào đỡ hùng hục làm việc, tinh thần sẽ sảng khoái. Các nghiên cứu trên sinh vật bị cho nhịn đói vừa phải thấy sống lâu hơn và trẻ lâu hơn! Hành giả thực hành thiền hơn 5 năm có tuổi già sinh lý trẻ hơn 12 năm so với người cùng tuổi, dựa trên 3 yếu tố là huyết áp, khả năng điều tiết nhìn gần của thị giác và khả năng phân biệt của thính giác.

Ai có thể ‘thở” giùm ai? Ai có thể “thiền” giùm ai?

Đỗ Hồng Ngọc

Sáng Mắt - Đỗ Hồng Ngọc

        
* Tặng Nguyễn Xuân Thiệp           
                                                                                                                                 
Bạn thân,
Cảm ơn bạn đã nhắc khéo tôi coi bộ muốn giống Ông già lười làng Hải Thượng rồi hay sao mà đã lâu chẳng thấy có bài nào mới cả. “Ông già lười làng Hải Thượng” chính là Hải Thượng Lãn Ông, ông tổ của ngành Y đó bạn ạ, không dễ mà bắt chước đâu! Ông tự nhận mình là “Ông già lười” chỉ vì ông luôn ước muốn sao cho mọi người không ai phải đau ốm bệnh hoạn gì cả để ông được thảnh thơi làm thơ uống rượu, tự tại thong dong…
Tôi thì mấy lúc nay hơi bận bịu vì một số chuyện phải lo để đi mổ mắt cườm (cataract) đó bạn. Cườm già đó mà. Lão hóa đó mà! “Ai bảo… già chi?”. Thế nào bạn cũng cười! Nhưng thời buổi này ai mà không già kia chứ? Rồi bạn cũng sẽ thế thôi. Theo các nghiên cứu thì từ năm 1000 đến năm 1900, tuổi thọ bình quân của loài người chỉ tăng từ 24 đến 30, nhưng từ 1900 đến 2000 thì tuổi thọ bình quân đã tăng lên hơn gấp đôi, đến 65. Các vấn đề bệnh tật của tuổi già trở thành tâm điểm của ngành Y hiện nay. Nhờ những tiến bộ của khoa học y học mà những điều trước kia tưởng không thể làm được thì nay đã trở nên chuyện thường ngày. Chẳng hạn xưa kia một người già bị cườm đành chịu mù lòa thì nay người ta đã có thể lấy cườm đó ra và thay vào một thủy tinh thể nhân tạo…
Trường hợp tôi phức tạp một chút, vì 20 năm trước đây tôi đã từng được mổ cườm một lần- cườm chấn thương, sinh biến chứng, phải đi cấp cứu. Lần này thì cườm già ở mắt còn lại. “Con mắt còn lại nhìn một thành hai” (TCS) bạn nhớ không? Người bạn đồng nghiệp trẻ chuyên khoa mắt ở bệnh viện sau khi giúp tôi làm các thủ tục hành chánh rồi siêu âm, thử máu, khám tổng quát nội tim mạch… các thứ đã nói không chỉ bị cườm già mà tôi còn thoái hóa hoàng điểm nên mắt mổ xong cũng sẽ nhìn kém so với những trường hợp khác. Tôi cười dù vậy cũng còn khá hơn một số người mà! Mọi người nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên.
Thiệt ra tôi cũng hồi hộp. Mổ mắt đâu phải chuyện dễ. Tôi tự nhủ tùy duyên, tùy hỷ, quán niệm hơi thở… vậy mà huyết áp cũng vọt lên như thường.
Kinh nghiệm cho biết người trong ngành mỗi khi có chuyện thường rắc rối hơn thiên hạ! Trước kia, một người bạn tôi bị viêm ruột thừa, được một giáo sư ngoại khoa đầu ngành mổ… mất 3 tháng sau mới lành, trong khi người bình thường chừng tuần lễ là xong! “Cưng” quá mà! Cũng vậy, nhiều nữ bác sĩ rặn đẻ hoài không ra, phải can thiệp! Thì ra trong nghề, biết nhiều quá dễ sinh sự. Người đồng nghiệp trẻ “động viên” tôi, nhẹ nhàng thôi, nhanh thôi, không đau, anh yên tâm. Người phụ mổ nói bác sĩ P mát tay lắm, đừng lo. Rồi người ta chích cho tôi một phát vào mắt để gây tê. Sau đó tùy hỷ. Muốn làm gì thì làm, tôi nhủ. Nghe có tiếng nói quả tôi có duyên với bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, vì 20 năm trước, chính tôi cũng đã phụ mổ ca của bác sĩ, lúc đó biến chứng nặng. Lại có tiếng reo vui ủa, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc hả, em rất mê cuốn Nghĩ từ trái tim của thầy. Hôm nào em mang đến nhờ thầy ký tên nhé.
Xong rồi. Tốt đẹp – bác sĩ P nói – anh có thể về được rồi. Người bạn đọc mê sách tôi bấy giờ tình nguyện dắt tôi về phòng. Lần đầu tiên tôi biết thế nào là… phải vịn vào vai người khác lò dò đi vì mắt đã được băng kín. Bỗng dưng tôi nghĩ mình may mắn ở trong ngành nên đã được nhiều ưu đãi, mọi thứ nhanh chóng, nhẹ nhàng, răm rắp… và ước chi điều này có được với tất cả mọi người. Sáng đến thấy bệnh nhân đông nghẹt, chen chúc, gây gổ, hỏi sao hôm nay đông vậy, cô điều dưỡng bảo hôm nay trời mưa nên chỉ bằng một phần ba những hôm trước!
Sáng ngày hôm sau tôi mở băng mắt của mình ra trước gương soi và giật mình thấy một …quái vật đang trừng trừng nhìn tôi! À mà không, một người lạ quắc! Lắc lắc vài cái, thì ra mình đó. Không ngờ mình già đến thế! Nhăn nheo, nhăn nhúm, da mồi, tóc bạc, tàn nhang đâu đó đậm đà, rõ nét. Tóc nào bạc thì ra bạc, trắng xóa. Tóc nào đen thì đen thủi đen thùi. Nếp nào nhăn thì ra nhăn, sâu hóm… Đâu đó rõ ràng phân minh chứ không lờ mờ như xưa khi nhìn với con mắt bị cườm che lấp. Thì ra cái thủy tinh thể nhân tạo mới thay nó làm việc tử tế rồi. Thế mới hiểu ra tại sao lâu nay mình “trẻ” thế mà nhiều người già khằn cứ gọi mình bằng bác và xưng con xưng cháu ngon lành!
Khổ cái lâu nay quen mang kiếng cận thị, bây giờ hết cận rồi mà đi đâu cũng mò mò tìm kiếng. Cái tivi bị oan. Lâu nay cứ tưởng nó hư, điều chỉnh đủ cách mà hình cứ mờ mờ thấy ghét thì ra là tại mắt mình. Thế mới biết phải “phản quan tự kỷ”, coi lại chính mình như Tuệ Trung Thượng Sĩ (thầy của vua Trần Nhân Tông) bảy trăm năm trước đã căn dặn. Ngay đêm thứ nhì sau mổ tôi đã được xem trận chung kết giữa Barcelona và Manchester United. Tuyệt vời!
Lạ lùng hơn nữa là sách báo, vi tính… từ nét chữ, hình ảnh, màu sắc các thứ đâu đó đều hiện ra rõ ràng, sắc sảo. Thế mà lâu nay mình cứ chê ỏng chê eo sách báo lem nhem chữ nghĩa lờ mờ hình ảnh nhòe nhoẹt… (bác sĩ điều trị chưa cho phép tôi đọc sách báo, làm việc trên vi tính). Phố xá xe cộ cây cối gì quanh tôi cũng… đẹp hẳn ra, màu nào ra màu đó. Đỏ thì thiệt đỏ, Vàng thì thiệt vàng. Xanh thì thiệt xanh. Tím thì thiệt tím.
Hóa ra lâu này mọi thứ đều đẹp lạ lùng đến vậy mà mình không biết. Tôi ngờ rằng những người có đôi mắt tốt xưa nay chắc chưa bao giờ có được cái cảm giác “hạnh phúc” như tôi lúc này. Dĩ nhiên rồi nay mai tôi cũng sẽ quen đi, sẽ không còn nhận ra những thứ tuyệt diệu quanh mình như thế nữa.
Một tuần lễ đã trôi qua. Tôi đã làm quen được với bộ mặt “thật” của mình. Tôi đã “sáng mắt” ra nhiều thứ. Tuy có già đi nhưng thấy mình cũng… dễ thương bạn ạ!
Tôi muốn cảm ơn bệnh viện, cảm ơn các bạn đồng nghiệp của tôi một lần nữa, ở đây.
Vậy là tôi đã “giải trình” đâu đó cho bạn rồi nhé. Đừng có kêu là tôi lười nữa!
 
“Bổn Lai Diện Mục”.
ĐÔI DÒNG CHO TẬP
LÃNG CA CỦA LỮ KIỀU
 
Viết về tập thơ “đầu tay” của một người bạn thiết đã ngoài tuổi bảy mươi ư?  Chẳng khác nào viết về mối tình đầu của một người ngoài chín mươi tuổi! Chỉ có Trời mới biết! Mà Trời có nói gì đâu! Lặng thinh thôi. Lặng thinh như niệm này vừa dứt mà niệm kia chưa sanh, giữa khoảng trống không mênh mông đó là cõi vô niệm. Đó cũng là cõi lặng giữa hai tiếng đập của tim, tâm thu và tâm trương, khi chưa loạn nhịp. Đó cũng là cõi lặng giữa hai hơi thở, hơi thở vào Ana và hơi thở ra Apana: “con đường độc nhất dẫn tới thanh tịnh cho chúng sanh…” – Anapanasati - mà tôi gọi là “Pranasati”… cho dễ nhớ trong thiền tập. Ở đó, phải ở đó, ta có thể nhận ra bổn lai diện mục của chính mình.
Còn “bổn lai diện mục” của bạn tôi, Lữ Kiều Thân Trọng Minh ư? Có khi tưởng anh là một bác sĩ tim mạch, thường lắng nghe tiếng lặng của tim người; có khi tưởng anh là một họa sĩ, thường bày biện nơi này nơi khác; có khi tưởng anh là người viết kịch, đóng kịch với những ngôn từ cay đắng, ngọt ngào, chanh chua, khinh bạc… Cho nên nói về anh không dễ, dù chúng tôi là bè bạn thân thiết của nhau đã hơn nửa thế kỷ dưới mái trường y khoa và trong cõi “văn chương”. Nhưng hôm nay, ngoài tuổi bảy mươi, chàng bỗng dưng gom góp những bài thơ một thuở như “chút nắng vàng giờ đây cũng vội” (TCS) để sẻ chia cùng bè bạn anh em. Tôi biết viết gì đây khi chàng bảo hãy viết đôi dòng cho một tập thơ !…
Thân Trọng Minh làm thơ rất sớm. Những bài thơ tình đầu tình cuối như bao nhiêu bạn bè trang lứa, bên bờ dòng Hương ngát xanh, nơi người ta chẳng thể chẳng làm thơ, nơi có đường phượng bay mù không lối vào(*), có người áo tím qua cầu tà áo tím phai mầu …(**). Và tôi, may mắn được đọc thơ chàng từ những ngày xa xưa đó.
 
Vậy mà, thật tình, với tôi chỉ đọng lại mỗi ba bài thôi. Ba bài là đủ cho một thi sĩ!
Hãy thử đọc đi. “Người bạn gái vùng giới tuyến” là một. Đó là một bài thơ, chàng cho tôi xem đúng nửa thế kỷ trước, dưới mái trường Y khoa Saigon, 28 Trần Quý Cáp. Chiều đó sau giờ học, chúng tôi ngồi ở bệ gạch trước sân ngắm những tà áo qua lại như thường lệ, chàng nhẹ nhàng đưa bài thơ. Tôi đọc và thấy mình muốn khóc. Chẳng có gì là thơ cả đâu! Chỉ là một câu chuyện kể về một cô giáo ở vùng giới tuyến ngày đó. Chuyện kể về một người con gái. Nhưng, vậy mà không phải vậy. Hãy đọc đi trong tập thơ này.
Chàng không làm thơ đâu! Không có ý định làm thơ đâu! Chàng chỉ kêu tiếng kêu từ cõi lòng tức tưởi, từ nỗi cay đắng xót xa, từ những phận người, trên một đất nước giữa thời nhiễu nhương!
Chàng chỉ “thật thà kể chuyện”. Vậy thôi. Mà, bây giờ, nửa thế kỷ đã qua, khi đọc lại, tôi vẫn còn thấy mình muốn khóc. Sau này, khi chàng vùi mình vào với màu với cọ, bạc đầu với chữ nghĩa ngôn từ - như một lãng quên - đã là một Lữ Kiều khác.
Bài thơ thứ hai, Tự thán, là những ngày lửa đỏ của chúng tôi ở trường y, những buổi xuống đường, những ngày bãi khóa, không khí ngột ngạt oi bức lạ lùng của những năm 65, lúc tôi viết những bài thơ Thư cho bé sơ sinh, Lời Ru, Tâm sự Lạc Long Quân, Cổ tích về ngôn ngữ…  Hãy thử đọc đi.
Giờ không còn bè bạn/ Ta một mình nơi đây/ Đưa tay mà vuốt mặt/ Mỗi ngày một lạ thêm…/ Những tưởng mình anh hùng/ Ôm bom vào giữa trận/ Thương thay ta hèn hạ/ Ôm mặt khóc thương thân/ Hỡi ơi đời đã nặng/ Ta ngã đầu được chăng (1965)
 
Và rồi ở tuổi 60, một buổi sáng trong quán café vắng, chàng ngồi né vào một góc khuất, che đi chút ánh nắng phà lên mặt, nhẹ nhàng nói về những chiếc lá bàng vàng úa lắt lay trong bệnh viện Nhi đồng, nơi chàng vừa nhận kết quả Anapath từ một người bạn…
Vẫn là một sự im lặng giữa hai chúng tôi. Không ai cần nói với ai điều gì. Đây là bài thơ thứ ba: Những chiếc lá cuối năm:
 
Lòng hư vô mà chiều cuối năm
Chân đi theo bóng lá rơi vàng
Ôi gió đời ta sao chẳng lặn
Vẫn ngửa nghiêng hoài chiếc lá khô
 
Một xác phàm thôi sao nặng quá
Nặng cả hai vai, một cuộc đời
Muốn gánh giùm em niềm tuyệt vọng
Nhưng vết thương không chia được cho người.
 
Bạn cũ gọi về trong trí nhớ
Lá vẫn bay và ta cuối năm
Đôi mắt nhung đen, hàng lệ nhỏ
Thì thôi, lá chọn đất ân cần.
(2003)
 
Tôi nói bạn tôi chỉ có mỗi ba bài thơ là vậy đó! Ba bài thơ đọng lại trong tôi, và với tôi, cũng đủ cho một thi sĩ.
Bởi ở đó, ta thấy được « bổn lai diện mục » của chàng !
 
Đỗ Nghê
Sunday, 09 November 2014 18:18
Written by Đỗ Hồng Ngọc
Những "Hạt Mầm"...
 
Những “Hạt Mầm” Đã Vươn Lên!
 
Bài viết “Đi tìm mộ ông Nguyễn Hiến Lê” của Trần Thị Trung Thu in từ năm 2009 trên Nguyệt san báo Pháp luật gần đây được các cư dân mạng dẫn lại và nhận được nhiều sự quan tâm của giới trí thức cũng như cộng đồng mạng yêu kính Nguyễn Hiến Lê.
 
Tôi nhận được email cùng lúc của Bùi Văn Nam Sơn, Huỳnh Như Phương, Huỳnh Ngọc Chiến, Nguyễn Duy Chính (Mỹ)… và nhiều bạn bè khác hỏi thăm thêm một số chi tiết, và nhất là về chuyện tôi kể trên một trang mạng gần đây rằng có một số bạn trẻ ở miền Bắc đi xe máy 2200 km vào tận Lấp Vò, Đồng Tháp thăm mộ Nguyễn Hiến Lê.
 
Năm 1984 khi cụ Lê mất thì tro cốt được cụ bà Nguyễn Thị Liệp đưa về Long Xuyên, để trong một ngôi tháp mộ nhỏ, khiêm cung, đặt ngay trong sân nhà ở 92 đường Tôn Đức Thắng. Sau đó, bà dời tháp mộ về chùa Phước Ân ở ngả tư Cái Bường, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Nếu đi từ Long Xuyên về Saigon, qua bắc Vàm Cống một quảng thì tới ngả tư Cái Bường, quẹo phải chừng cây số sẽ đến chùa. Lâu nay cũng có nhiều đoàn ghé thăm thắp nén nhang cho cụ Lê.
 
Năm 2003, trong cuốn NGUYỄN HIẾN LÊ, Con người & Tác phẩm (NXB TRẺ) của nhiều tác giả: Trần Huiền Ân, Trần Văn Chánh, Lê Phương Chi, Nguyễn Duy Chính, Lê Anh Dũng, Nguyễn Hướng Dương, Nguyễn Ngọc Điệp, Lê Minh Đức, Dương Hội, Xuân Huy, Nguiễn Ngu Í, Trần Khuyết Nghi, Đỗ Hồng Ngọc, Văn Phố, Minh Quân, Quách Tấn, Lê Ký Thương, Nguyễn Hoàng Xanh cũng đã cung cấp nhiều hình ảnh về ngôi nhà, căn phòng, nơi làm việc… rất giản dị của Nguyễn Hiến Lê ở Long Xuyên và cả hình ảnh địa chỉ ngôi tháp mộ của Nguyễn Hiến Lê ở chùa Phước Ân (ảnh của Nghê Dũ Lan). Nếu tác giả Trần Thị Trung Thu được đọc cuốn này sớm thì không phải vất vả đến thế.
Ở Úc, có một cuốn sách viết về Nguyễn Hiến Lê do những học trò của ông biên soạn, đặc biệt kể về những ngày ông nằm bệnh và qua đời tại Bệnh viện An Bình.
 
Cũng đã có những nghiên cứu về sự nghiệp của Nguyễn Hiến Lê như luận văn thạc sĩ về “Vấn đề lao động nhà văn trong các trước tác của Nguyễn Hiến Lê” của Nguyễn Ngọc Điệp, bảo vệ tại trường Đại học Sư phạm TP.SG 12 năm trước đây do TS Huỳnh Như Phương hướng dẫn và gần đây Huỳnh như Phương cũng đang hướng dẫn một luận văn khác “Sự nghiệp nghiên cứu văn hóa, văn học của Nguyễn Hiến Lê” cho một nhà báo ở Cần Thơ.
 
Và thật thú vị, ảnh hưởng Nguyễn Hiến Lê ngày càng thấm sâu trên đất Bắc. Ngày 10.7. 2012, tôi nhận được email của một bạn trẻ không quen biết từ Hà Nội, Trần Văn Thuấn, 28 tuổi, cho biết về chuyến “Hành trình Xuyên Việt vượt 2200km bằng xe máy tri ân thầy Nguyễn Hiến Lê”. Trong thư Thuấn cho biết nhóm của em hiện có Nguyễn Trung và Nguyễn Tiến đang đi xuyên Việt bằng xe máy, vượt hành trình dài 2200km từ Hà Nội vào thẳng chùa Phước Ân tại Lấp Vò, Đồng Tháp “để thắp hương tri ân tới thầy Nguyễn Hiến Lê”. Em viết: “sách của thầy viết giản dị, chân thành, là thầy mà cũng như là bạn, chúng con rất vui là đã lan tỏa được sách của thầy tới anh em thanh niên, vì trước đây sách của thầy ngoài Bắc cũng hiếm ạ”. Em cho biết các em Trung và Tiến rất mong gặp tôi để được “ hiểu thêm về cuộc sống của thầy Lê qua những trải nghiệm thực tế của bác với thầy, bác thật may mắn!” Trong thư, em gởi kèm một số hình ảnh của nhóm vừa đến Ninh Bình, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình….” Chuyến đi sẽ vất vả lắm, nhưng anh em chúng con rất vui vì luôn tâm nguyện rằng thầy Lê sẽ che chở cho chúng con [...]
 
Tôi vừa cảm kích, vừa băn khoăn. Cảm kích vì tấm lòng của các bạn trẻ từ phương Bắc như đã vừa phát hiện ra một Nguyễn Hiến Lê tận phương Nam xa xôi, còn ngại ngần vì thấy hình ảnh các em mặc áo phông in hình cụ Lê, mang cờ có ảnh NHL và câu chữ “Học làm người với Nguyễn Hiến Lê”… Vì thế, tôi đã trả lời: rất cảm kích, nhưng các cháu nên nhớ cụ Lê là một người rất khiêm cung, không thích sự ồn ào, vì thế các cháu nên học với cụ tinh thần tự học và giữ sự tĩnh lặng, không khoa trương. Bác thấy(…) đó không phải là tính cách của Cụ Lê (...)
 
Rồi tôi giới thiệu các em liên hệ với Phùng Hoàng Anh, giáo viên, cháu gọi em ruột cụ Lê bằng Bà nội, đã từng vào Nam nhiều lần thăm nhà và tháp mộ cụ Lê ở Đồng Tháp để biết đường đi nước bước. Phùng Hoàng Anh hiện đang sống ở Phương Khê, xã Phú Phương, huyện Ba Vì, Hà Nội, nơi có nhà thờ họ và đã lập được một thư viện với hàng ngàn cuốn sách của Nguyễn Hiến Lê.
Thuấn có vẻ không vui. Em trả lời: “…thực ra đối với thanh niên ở ngoài Bắc có thiệt thòi hơn trong Nam nhiều, là ít được tiếp xúc với sách của cụ Lê(…), chúng con cũng phải dằn vặt mãi, mới quyết định làm, cũng xuất phát từ sự chân thành mong muốn tri thức Nguyễn Hiến Lê đến gần hơn, giúp đỡ cho thanh niên được nhiều hơn (…); nếu vì tri thức của cụ mà được mang lên tận các tỉnh miền núi như Lào Cai, Tuyên Quang, Sơn La, Thái Nguyên....giúp ích cho thanh niên ở đó, thì chúng con xin phép vẫn tiếp tục ạ. [...]
 
Phùng Hoàng Anh cho tôi biết sau chuyến đi từ Bắc vào Nam thăm mộ cụ Lê, các em Tiến và Trung đã có đến gặp, cà phê cà pháo với nhau một buổi, kể về chuyến đi rất thành công của các em. Tôi cũng vui vì đã “ráp” được các bạn trẻ đó với nhau. Sau này, Tiến gởi tôi email nói em rất hiểu tôi, và sẽ nhớ lời tôi dặn về tính cách Nguyễn Hiến Lê.
Hiện cụ Lê còn có cô cháu gọi bằng bác ruột là Nguyễn Thị Hạnh đang sống ở Cần Thơ. Ngôi nhà 92 Tôn Đức Thắng, Long Xuyên phía trong vẫn là trường Mẫu giáo, bên ngoài rào cho thuê làm một quán cà phê.
 
Trọn đời Nguyễn Hiến Lê đã chọn con đường “văn hóa”, và nay những “hạt mầm” đã vươn lên.
 
Thư Gởi Bạn Xa Xôi…
“Sinh hoạt văn nghệ”
 
Kể chuyện sinh hoạt văn nghệ gần đây hả? Ừ được. Trong tháng 9 này cũng khá sôi nổi. Mình kể bạn vài “vụ” mình có tham dự thôi nhé.
* Đầu tiên là Thứ bảy 7.9, mình nói chuyện ở chùa Xá Lợi về “Vận dụng tư tưởng Kim Cang Bát Nhã trong cuộc sống”. Ủa, cái chuyện vận dụng này không phải “văn nghệ” hả? Mình lại thấy nó văn nghệ. Nếu không, sao lúc này thấy thơ bạn nhiều bài về thầy và chùa? Nào có người tự dưng mang con giao cho thầy, rồi tự dưng đến đòi lại, nào chuyện thầy quét lá trước cổng chùa gặp… tiền kiếp của mình v.v... Vậy mà không văn nghệ là gì? Chỉ cần “vận dụng” câu ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm hay “tức phi / thị danh” cũng đủ quá văn nghệ rồi? Vì nó làm cho cuộc sống đẹp hơn, bạn không thấy sao?
* Ngày 14.9 có buổi “Tọa đàm khoa học” về Bùi Giáng ở trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn (Văn khoa). Nghe “khoa học” mình cũng hơi ớn! Bùi Giáng hồi đó chắc không tính làm thơ cho “tọa đàm khoa học” chi đâu! Nhưng ôi, đông quá. Những người yêu mến Bùi Giáng và sinh viên tề tựu rất sớm. Gia đình Bùi Giáng có đại diện là nhà nghiên cứu triết học Bùi Văn Nam Sơn (vai chú BG) và các vị từ Quảng Nam vào. Có các bài trình bày của Huỳnh Như Phương, Nhật Chiêu, Lê Minh Quốc… Mình gặp ở hành lang rất nhiều bạn bè, có cả cô Kim Cương. Gặp Kim Cương đi… cà nhắc. Hỏi sao vậy? Bị viêm khớp, đau chân! Mình mong được nghe bài của Giao Hưởng (Trần Phá Nhạc) về Phật tánh trong thơ BG mà không được vì thiếu thời gian. Thơ BG thường hạ mấy chữ “hà dĩ cố?” (tại sao vậy?) trong kinh Kim Cang nhớ không? Nhưng mình vẫn nhớ nhất 2 câu: “Em ơi em đẹp vô cùng/ Vì em có cái lạ lùng bên trong” mà mình đã xin phép thêm: “Em ơi em đẹp vô song/ Vì em có cái bên trong lạ lùng” (rồi cứ thế đọc lòng vòng) trong một bài viết về Cái Đẹp năm nào.
* Ngày 15.9 lại dự ra mắt tạp chí Quán Văn 16, chủ đề Sông Seine. Nhóm bạn cũ mới của Ý Thức cũng đều có mặt hôm đó. Nào Thân Trọng Minh, Trần Hữu Lục, Trần Duy Phiên, Sâm Thương, Từ Hoài Tấn, và Nhật Chiêu, Cao Quảng Văn, vợ chồng Trương Văn Dân - Elena… . Nhiều bạn cũ lâu ngày gặp lại, người nào cũng đầu hai mái tóc, có người một mái trắng phau. Hơn 40 năm rồi còn gì. Mới thôi! Nguyên Minh mời mình phát biểu vài câu. Mình nhắc chuyện Nguyên Minh cùng Chu Trầm Nguyên Minh, Cao Quảng Văn… đi Tây, và nhờ đó mà cảm hứng làm tập “chuyên đề” về Sông Seine này! Chuyến đi đó Nguyên Minh bệnh suýt chết. Về được đến nhà mừng quá, bà xã cho ăn luôn mấy con chim bồ câu cho lại sức, rồi chàng mời bọn mình đến khui chai vang, ăn cùng pâté gan… vịt! Quán Văn với Nguyên Minh cũng giống như “Thư Quán Bản Thảo” của Trần Hoài Thư vậy. Sự mê say làm báo của các bạn khiến mình rất nể phục.
* Ngày Thứ bảy 21.9 mình tham dự buổi tọa đàm về cuốn Ngàn năm áo mũ của Trần Quang Đức, một nhà nghiên cứu văn hoá trẻ, chưa đến 30 tại Café Thứ Bảy của nhạc sĩ Dương Thụ. Ngàn năm áo mũ nghiên cứu về “áo mũ” từ ngàn năm của người Việt, so sánh với Trung Hoa, Nhật, Triều Tiên… Gần đây, các phim cổ trang Việt có vấn đề về “áo mũ” và gây nhiều tranh luận. Nghiên cứu có chiều sâu và đáp ứng nhu cầu tìm hiểu trong lãnh vực này. Không ngờ người dự rất đông, đặc biệt là các bạn trẻ. Bạn thấy đó, chuyên “áo mũ” của ngàn năm mà được các bạn trẻ bây giờ quan tâm đến vậy cũng là một tín hiệu đáng mừng phải không?
* Ngày CN 22.9 lại có Lễ trao giải Sách Hay 2013 ở Rex. Đông ơi là đông! Chứng tỏ người ta đang rất quan tâm đến sách và sách hay. Đây là một giải thưởng văn học tư nhân rất có uy tín hiện nay của nhóm các nhà văn hóa-giáo dục Nguyên Ngọc, Chu Hảo, Bùi Văn Nam Sơn, Quách Thu Nguyệt, Giãn Tư Trung… Đây đã là năm thứ ba. Năm ngoái đã trao giải cho tiểu thuyết của Nguyễn Mộng Giác nhớ không? Năm nay thấy trao các giải Sách Hay cho Tạ Chí Đại Trường, Lê Tất Điều (Mỹ), Nguyễn Văn Tuấn (Úc), Quế Sơn (Canada), Bùi Ngọc Tấn, Trần Văn Thủy… Tiêu chí của giải là sách hay, không kể trong nước hay ngoài nước. Đây là một giải có chất lượng, đáng trân trọng.
* Hôm nay Thứ bảy 28.9, có buổi Tưởng niệm 10 năm ngày mất của nhà thơ Kim Tuấn… Rất đông bạn bè anh em về dự. Thơ Kim Tuấn không phải ai cũng biết, cũng nhớ… nhưng nhạc phổ thơ Kim Tuấn thì ít ai không biết không nhớ! “Anh cho em mùa xuân, mùa xuân này tất cả, lộc non vừa trẩy lá…” (Kim Tuấn/ Nguyễn Hiền) hay “Từng bước từng bước thầm/ Khi người yêu không đến/ Tuổi xanh buồn lặng căm/ Em yêu gì xa văng/ Cho trời mây ướp buồn…” (Kim Tuấn/ Y Vân)…
Nhà thơ Bảo Khôi, con trai Kim Tuấn “nối nghiệp” cha, cùng in chung tập thơ “Con Đường…” với 26 bài của Kim Tuấn cùng 22 bài của Bảo Khôi. Rất nhiều kỷ niệm về Kim Tuấn được anh em nhắc lại từ thời Pleiku, Saigon... Riêng mình vẫn nhớ buổi sáng cùng Kim Tuấn và Bùi Nghi Trang ngồi café ở bờ sông Saigon. Kim Tuấn nhắc những kỷ niệm tuổi thơ gian khổ ở Phan Thiết rồi nói không biết sau này anh em có còn gặp nhau không. Chẳng ngờ không lâu sau đó, anh đã đột ngột qua đời vì cơn nhồi máu cơ tim.
Có nhiều giọng hát, giọng ngâm thơ rất hay của Miên Đức Thắng, Tôn Thất Lan, Bảo Cường, Thu Thủy, Trầm Ka, Minh Hoàng… trong buổi hôm nay.
Tường trình xong rồi đó nhé. Đừng có bảo quên bạn… xa xôi nữa nhé!
Thân mến,
 
Đỗ Hồng Ngọc.

Võ Hồng...* Đỗ Hồng Ngọc

Đỗ Hồng Ngọc

Võ Hồng,
Và Nỗi “Cô Đơn Uy Nghi”
 
Võ Hồng là một nhà thơ. Dù ông viết truyện ngắn, truyện dài gì thì với tôi cũng đều là  thơ. Thơ xuôi. Đọc ông thấy lòng lành ra. Tuy nhiên ông cũng đã in hẳn một tập Thơ cho riêng mình.  Chân tình và mộc mạc. Đằm thắm những yêu thương.
 
Trong thư gửi tôi, kèm tập thơ năm đó, ông thổ lộ: “Đọc lại văn mình moa thấy: nếu là văn xuôi thì Ngộ, còn thơ thì Ngượng. Cái gì mà yêu thương, nhớ nhung, đợi chờ… mắc cỡ thấy mồ!”. Tôi hiểu ông. Bởi vì văn thì còn đổ thừa tại bị “hư cấu” nọ kia, tại bị tâm lý nhân vật này khác, chứ thơ thì hết phương… chối cãi!
 
Vợ mất sớm vì bệnh tim lúc ông hãy còn rất trẻ. “Một nách ba con” còn nhỏ xíu. Ông vẫn ở vậy, không tục huyền, dù không ít cô thầm thương trộm nhớ ông thầy giáo, ông nhà văn nho nhã, dễ mến. Gà trống nuôi con. Tất cả đều thành đạt. Tất cả đều học xa rồi sinh sống ở nước ngoài. Chỉ còn có ông… gà trống ngày một lớn tuổi, loay hoay một mình với cây trứng cá, cây khế và mấy gốc dừa…
 
Năm giờ sáng mở mắt
Nhìn quanh : chỉ ghế bàn
Thèm thấy một khuôn mặt
Thèm nghe tiếng dịu dàng
 
Mười giờ đêm thâm u
Bóng tối như cõi chết
Tình yêu, tìm nơi đâu
Hạnh phúc, chào vĩnh biệt
…….
 
Võ Hồng
(Quạnh hiu) 
 
Quạnh hiu. Hoang vắng. Cô đơn. Không muốn “độc cư” mà thành độc cư. Với một tâm hồn vô cùng nhạy cảm, ông héo hắt dần với tháng năm. An ủi của ông trong tuổi già là những người con đều thành đạt, hiếu thảo, nhưng vì hoàn cành riêng mà phải sống xa nhau kẻ chân trời người góc biển.
 
Nay các con nên người
Mỗi đứa đi một ngả
Mình cha căn nhà xưa
Trông vừa quen vừa lạ
 
Không còn ngày gian khổ
Chỉ dư ngày tiêu điều
Vắng con như cây cỏ
Héo úa giữa quạnh hiu
 
Võ Hồng
(Ba mươi năm sau)
 
Quen biết, thân thiết với ông đã hơn 40 năm, nhưng nhớ mãi lần tôi với Nguyễn Thiện Tống đến thăm, lúc đó ông mới ngoài tuổi 70, từ trên gác lững thững xuống mở cổng, con chó ùa ra sủa ầm lên. Tôi hơi hoảng, hỏi: chó có dữ không anh? Ông trả lời tỉnh queo: nó còn hiền hơn moa! Lúc nào ông cũng xưng hô “toa, moa” với tôi như vậy. Rồi ông dẫn bọn tôi lên gác. Vẫn căn gác nhỏ với một phòng chừng hơn chục mét vuông, vừa là chỗ ăn chỗ ngủ, chỗ làm việc, tiếp khách… lổn nhổn những sách vở, thư từ, bản thảo… tràn lan trên bàn, trên nệm, dưới gầm. Nhờ cái sân thượng phía trước khá rộng có bóng râm cây khế, cây dừa mà ông có một khoảng không để mà trầm tư, mà hoài cố nhân… Ông khoe cái chậu nhỏ xíu trong đó có một cây gai bàn chải to bằng bàn tay. Ông nói miền quê ông đi đâu cũng gặp cây gai bàn chải mọc dọc hai bên đường. Ông nhớ nó quá nên tìm một gốc về trồng và giấu nó ở một góc sân thượng, sợ người ta trông thấy cho là lập dị! Lần đó tôi bấm cho ông mấy tấm ảnh kỷ niệm, có cảnh ông ngồi trên chiếc ghế “cô đơn uy nghi” đặt ở sân thượng, dưới tàn cây trứng cá. Lúc đó, ông mới 74 tuổi, còn hoạt bát lắm, đòi khoác áo đàng hoàng rồi mới chịu cho chụp hình.
 
Mỗi khi có dịp về Nha Trang tôi đều ghé thăm ông. Ông mừng lắm. Kể chuyện huyên thuyên. Có lần thấy ông treo tấm hình một cô diễn viên Hồng Kông, đang định hỏi thì ông đã nói ngay: Cháu moa nó coi ti-vi nói cô này trông rất giống vợ moa. Mà giống thiệt nên moa mới đem treo lên đó! Ông kể năm 70 tuổi, người ta dựng một  phim ngắn về ông: Thầy Võ Hồng. Ông cảm động lắm vì được trở về thăm lại chốn xưa, trường cũ, ngôi nhà thờ, ngôi chùa thân quen ngày nào… nhưng vẫn thấy ngường ngượng vì phải “đóng phim”! Khi tôi gởi ông bản thảo “Già ơi… chào bạn!” để nhờ ông đọc, ông cười: Sau “Già ơi chào bạn” toa sẽ viết tiếp cái gì nữa đây? Ông là vậy. Lúc nào cũng hóm hỉnh, sâu sắc mà sảng khoái trừ những lúc một mình trong nỗi “cô đơn uy nghi” nhớ đến người thân.
 
Những lúc sau này tôi thường phone hỏi thăm ông khoẻ không, ông nói khoẻ gì nổi, bệnh rề rề. Nhiều tuổi rồi, con ở xa, bệnh cũng làm biếng đi bệnh viện nữa. Phải nhờ người quen đưa đi khám hoài ngại quá!
 
Mấy năm gần đây, tình trạng sức khỏe ông yếu dần, nằm liệt giường, được chuyển xuống tầng trệt cho tiện chăm sóc. Cô con gái lớn Diệu Hằng vẫn thường từ Pháp về thăm cha. Rồi cô lại đi, bận bịu bao điều, nhưng vẫn quán xuyến lo toan. Người con trai thứ ở Đức đã dựng riêng cho cha một trang web, tập hợp toàn bộ các tác phẩm của cha, với nhiều tài liệu quý.
 
 Năm ngoái, có dịp ngang Nha Trang, tôi lại ghé thăm ông, bấy giờ ông đã 91 tuổi, đã  dần dần khó tiếp xúc… Cô Đạm, người học trò cũ qúy thương ông vẫn là người hằng ngày trực tiếp đến chăm sóc ông cùng với một người giúp việc. Ông tuy nằm liệt giường đã lâu vậy mà trông vẫn thanh mảnh, sạch sẻ lắm. Tôi cảm động nói với cô Đạm, thay mặt những bạn bè thân quen gần xa của nhà văn Võ Hồng, trân trọng cảm ơn cô.
 
Ông đã sẵn một bài thơ gọi là “Di ngôn” viết về nỗi “cô đơn uy nghi” của mình:
 
Cho đến một ngày kia … tôi sẽ nhẹ nhàng giã từ / Hạnh phúc yêu thương … Băng giá mây mù …/ Nhưng trên sân, chiếc ghế cô đơn uy nghi còn đó / Tiếp tục ngồi chờ, lặng lẽ chờ cho mãi đến thiên thu.
 
Nhớ Võ Hồng, vừa thương vừa cảm, vừa xót vừa xa. Thấy trôi đi một kiếp nhân sinh phù thế: Ngũ uẩn phù vân không khứ lai / Tam độc thủy bào hư xuất một…  (Chứng đạo ca).
 
Mà mừng ông nay đã vào cõi “tịch diệt vi lạc”!
…………………………………………
 
Di ngôn
 
Sau khi tôi chết
Xin giữ y nguyên dùm mọi dấu vết
Của những ngày u buồn trĩu nặng hồn tôi
Ðây: cây bút màu đen sớm tối không rời
 
Ðây: cuốn vở cất đầy những mảnh lòng hiu hắt
Kia:  chồng sách không bao giờ ngăn nắp
Này: góc vườn, hoa rụng trải lối đi
Trên khung rào thưa, lá khẽ thầm thì
 
Nơi sân thượng xin để nguyên chiếc ghế
Kê sát lan can, hướng xuống mặt đường
Nơi những đêm dài, trong tối đầy sương
Tôi ngồi lặng, mắt chong chờ đợi
Ðợi một người đi không hẹn trở lại
 
Hun hút đường dài… vun vút xe qua
những dáng ngược xuôi… những cặp hẹn hò
Bầy chó lang thang… hàng cây đứng lặng
Chia sẻ nỗi niềm: từng ngôi sao xa
 
Người đi không về. Giờ đang nơi đâu?
Cực lạc non Bồng hay cõi Diêm phù
Ðêm trắng trải dài… Mỏi mòn đêm trắng
Canh hai… canh ba… từng canh qua mau
 
Cho đến một ngày kia… tôi sẽ nhẹ nhàng giã từ
Hạnh phúc yêu thương… Băng giá mây mù …
Nhưng trên sân, chiếc ghế cô đơn uy nghi còn đó
Tiếp tục ngồi chờ, lặng lẽ chờ cho mãi đến thiên thu.
 
Võ Hồng
(Thời gian mây bay)
 
----------------------------------------------------
(Mời xem những bài viết khác của BS Đỗ Hông Ngọc ở Trang Văn Xuôi)

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013