Thi Ảnh

Nguyễn Văn Lục

Quyền Của Người Đọc Dịch - Nguyễn Văn Lục

NVLuc-Aug-2010

Trên diễn đàn talawas, tôi đếm ra được 299 tên tác giả ngoại quốc được chuyển ngữ ra tiếng Việt so với khoảng 400 tên tác giả Việt Nam. Ðó là một tỉ lệ xét về số lượng đáng khích lệ lắm. Nếu đầu tư nước ngoài là đường đi lên của kinh tế nước ta, thì dịch là lối đi ra của kiến thức. Dịch là con đường phải đi vì đỡ tốn kém nhất, đỡ mất thì giờ nhất để rút ngắn thời gian học hỏi, để thu thập vốn liếng làm sẵn của người làm của mình. Vì thế dịch bao nhiêu cũng không đủ. Cần dịch tất cả, dịch đủ thứ, dịch từ thấp lên cao, dịch cho mọi lứa tuổi, dịch chuyên môn, dịch từ trình độ trung học lên đại học…

Vì thế, hãy khoan bàn chuyện cải cách giáo dục, nếu chưa tính xong chuyện dịch. Trong tương lai, thay vì thầy dạy thì sách dạy, thay vì chỉ chăm chăm, chú chú nghe thì chăm chú đọc. Có đủ tài liệu dịch, vai trò thầy dạy chỉ còn là “vai trò đỡ đẻ” kiến thức. Quan trọng nhất là loại kiến thức cập nhật và thiết thực. Lúc đó không còn nạn “nô lệ giáo dục” đi học đêm học ngày. Hãy khoan và giới hạn việc đi du học các ngành về khoa học nhân văn để dành tiền dịch sách. Một trăm ngàn đô la dành cho một người thì nay ích lợi cho trăm người, cho ngàn người và vạn người. Có sách dịch rồi, ngồi ở Việt Nam học cũng chẳng thua ai. Tôi cứ ngồi đây để thấy chúng ta ngớ ngẩn lắm, lãng phí nhiều thứ lắm.

Tôi không được biết rõ sinh hoạt dịch ở các ngành nghề khác như thế nào, nhưng về phạm vi văn học, tiểu thuyết, lý luận văn học, trào lưu tư tưởng thì có được đọc. Tôi cũng không có điều kiện để biết rõ ngành dịch ở Hà Nội, vì trước đây tôi sống trong Sài Gòn. Tôi sẽ chỉ viết về những gì tôi đã đọc, đã biết, đã thích. Ðó là hạn chế không tránh được. Gần đây lại có nhiều tranh luận nảy ra từ lãnh vực dịch như phương pháp dịch, kỹ thuật dịch, dịch sai, dịch đúng, dịch dở, dịch cao, dịch thấp, dịch lành mạnh, dịch táp nham, dịch cái gì và không dịch cái gì. Bài viết này đứng ở quan điểm người đọc để trình bầy, để nhận xét.

Cái khổ và cái mong muốn của người đọc sách dịch

Người dịch chắc là khổ lắm. Đánh vật với chữ nghĩa. Ai đã trải qua việc dich đều biết điều đó. Dịch giả Trần Đình Hiến, trong một bài phỏng vấn do Khánh Phương thực hiện, đã trả lời: “Tác giả (tức Mạc Ngôn) là một người nổi tiếng am hiểu khẩu ngữ Bắc Kinh, nên việc dịch vừa khó khăn lại vừa thú vị”. Nhưng người đọc cũng khổ không kém: đánh vật với các bản dịch. Việc đầu tiên, xin các dịch giả dịch thế nào cho người đọc dịch bình thường hiểu được.

Ðòi hỏi đó có quá đáng chăng? Dịch mà người đọc không hiểu thì dịch làm gì? Thầy dậy trò không hiểu thì tại thầy hay tại trò? Làm đầu bếp, món ăn không ngon, không lẽ chê người ăn không biết thưởng thức? Người đọc làm sao hiểu biết những khó khăn về ngữ pháp, về cấu trúc, về văn phong, về tư tưởng mà người dịch gặp phải. Nhưng hãy dịch thế nào như Hàn Giang Ngạn dịch Kim Dung. Hay như Liêu Quốc Nhĩ dịch hơn 40 truyện của Quỳnh Dao. Hãy khoan bàn đến chuyện cao thấp. Chuyện của Quỳnh Dao đáp ứng được các lứa tuổi con gái chanh cốm từ 13, 14 đến 55 chưa có chồng. Chưa có chồng, chưa có hơi hám đàn ông, đọc là phải thích thôi. Hay là hãy dịch như ông tổ ngành dịch là Nguyễn Văn Vĩnh dịch truyện Con ve và con kiến, Cô gái quàng khăn đỏ của Perrault. Ðừng vội chê là truyện trẻ con. Mỗi dịch phẩm có cái chỗ của nó. Cùng lắm dịch phóng như ông Hoàng Hải Thủy. Ông này phóng tác cuốn chuyện Les hauts de Hurlevent (Ðỉnh gió hú), của Emily Bronté, sách nổi tiếng được quay thành phim mà người dịch cũng đạt. Nhưng vốn có máu tham, dịch em rồi ông dịch luôn bà chị là Charlotte Bronté với cuốn Jane Eyre (Kiều Giang). May là ông đã tha không dịch cô em út là Anne với cuốn Agnes Grey.

Có người sẽ nói, tại anh dốt nên không hiểu điều người ta dịch. Nói thế là ngược ngạo, chả coi độc giả ra gì. Dĩ nhiên, có những cái khó như triết học, đôi khi không phải là chỗ ai vào cũng được. Hồi tôi còn thanh niên, có anh bạn lên thư viện tranh mượn cuốn Phénoménologie… gì đó của Trần Đức Thảo, anh mượn chỉ để giở ra rồi gấp sách vào. Chẳng hiểu gì. Nhưng lần nào lên thư viện, anh cũng mượn Trần Đức Thảo, bầy tô hô trên bàn để lòe thiên hạ, nhất là để lòe người đẹp tên PL. Anh chọn ngồi ngay ở lối đi vào, Trần Đức Thảo nằm đó, vậy mà nàng đi qua không thèm nhìn. Anh lại mua một cuốn Les mains sales của J.P. Sartre. Chọn cuốn này chỉ vì nó là loại sách bỏ túi, rẻ nhất không còn cuốn nào rẻ hơn. Anh kẹp nó ra bên ngoài, nhất là để sau cái porte bagage xe đạp. Lần này thì anh thành công. Cái sướng nhất của anh là được một nữ sinh hỏi: Anh cũng học triết? Anh trả lời, dạ vâng, tôi đang đọc Sartre. Nàng trả lời tỉnh queo: Tưởng ai, ông này thì em có gặp, nói chuyện mấy lần. Nhiều lúc đọc không hiểu, anh tự chửi mình: Tiên sư bố anh, lúc học Pháp văn không chịu khó chia verbe, bây giờ ra nông nỗi này. Sau này, vào năm 1992, Trần Đức Thảo có sang Pháp và phổ biến một bài: La liason du Biologique, Du Social et Du Pshychique. Anh đọc cũng không hiểu. May quá, có bản dịch của một người chắc có chuyên môn là ông Ðỗ Thuận Khiêm. Anh đọc cũng không hiểu nốt. Anh kể lại là có quen một ông thầy “chuyên trị triết Heidegger”. Có lần nghi ngờ kiến thức của thầy, anh bạo mồm hỏi thẳng ông giáo sư: Ông dạy Heidegger, tình thực ông có hiểu Heidegger không? Ông thầy có khựng lại một chút, không giận, chỉ cười ruồi. Từ đó anh đâm nể phục ông giáo sư.

Riêng tôi nhận xét, triết không phải lúc nào cũng khó lắm đâu. Tôi đã có lần đọc cuốn Buồn Nôn (La nausée) của J.P. Sartre do Phùng Thăng dịch, thấy mình dốt mà vẫn hiểu được. Chỉ cần đọc hai trang Lời giới thiệu đã nắm bắt được nội dung cuốn sách rồi. Hóa ra hiểu hay không hiểu còn ăn thua vào người dịch.

Nhân tiện nói luôn, ông Như Hạnh nào đó có dịch 2 cuốn Thiền đạo tu tập của Chang chen Chi và Thiền Suzuki. Thấy cũng không đến nỗi nào. Nhưng không hiểu Như Hạnh có phải sau này là giáo sư Như Hạnh, giáo sư tôn giáo đối chiếu đại học Harvard không? Nếu đúng thì ông này là sư tổ. Tôi có đọc hai bài ông viết: Tàng Thức (Alayavijnana) từ Thực tại luận đến giải thoát luận trong triết học duy thức. Bài nữa là: Tỳ sa môn Thiên Vương (Vaisravana) Sóc Thiên Vương và Phù Đổng Thiên Vương trong tôn giáo Việt Nam thời trung cổ. Phải đọc từng chữ cũng không nuốt trôi. Nghe đồn, thầy Viện trưởng Thích Minh Châu, đại học Vạn Hạnh có lần đang giảng bài thấy Như Hạnh vào lớp dự thính liền cắp cặp đi ra khỏi lớp. Hay cuốn Đạo của vật lý của Fritjof Capra do Nguyễn Tường Bách biên dịch, nhà xuất bản Trẻ, 1999, cũng không phải là dễ nuốt. Khoa học đã khó rồi, lại lồng đủ thứ triết lý ở trong thì dễ đầu gì nhá nổi.

Nói cho cùng, những người giỏi triết thuộc chủng loại đặc biệt, trời cho. Và những người dịch triết hoặc đọc được triết cũng nằm trong chủng loại cá biệt đó. Cái gì của trời thì ta không bàn được.

Ðiều thứ hai, cần chú trọng đến nhu cầu của người đọc dịch, nói cách khác là dịch cái gì độc giả thích. Đem cái thích của mình làm cái thích của người, nhiều khi cũng không nên. Khuynh hướng chung của người dịch là đã dịch thì phải dịch cái gì cho đáng. Vì thế thường chọn tác giả nổi tiếng nhất, có được giải thưởng như Nobel chẳng hạn. Ðó là một tiêu chuẩn chọn lựa, nhưng không nhất thiết lúc nào cũng phải như vậy. Theo tôi, người ngoại quốc chọn theo xu hướng, theo biến cố, theo tính cách mới mẻ của sự việc, theo những vấn đề đương đại, đương là đề tài gây chú ý. Vì thế, sách gốc vừa mới ra, tháng sau đã có sách dịch.

Trong khi đó, sách dịch của chúng ta kéo lùi lại những vấn đề, những quan niệm đến 50 năm về trước hoặc hơn thế nữa. Chúng ta chậm lụt hơn người từ nửa thế kỷ đến một thế kỷ. Chẳng hạn, ta in lại các sách thời tiền chiến, sách của các nhà văn Tự Lực Văn Đoàn như một nhu cầu đọc, nhu cầu giải trí cho người đương thời thay vì là một nhu cầu khảo cứu, nhu cầu tìm hiểu. Cũng vậy, ta dịch lại Sartre, Camus, Saint Exupéry, Tolstoi, Dostoievsky như một nhu cầu đọc cho người bây giờ như món ăn hằng ngày. Thế là không được. Ăn cái món ăn để lâu ngày đến 50 năm vẫn thế nào ấy.

Nguyễn Văn Lục

Chúc Thư...* Nguyễn Văn Lục

Chúc Thư Văn Học Của Nhất Linh
Một Cái Chết Định Sẵn
 
Lời dẫn của Đỗ Quyên:
 
Trong trả lời phỏng vấn của Hội Luận[1], để Hội Nhập sao cho Trong-Ngoài có điều kiện gầy dựng một nền văn hóa Việt Nam, không phân biệt văn chương hải ngoại hay văn chương trong nước, nhà biên khảo Nguyễn Văn Lục nói: “Tôi nhìn thấy nhiệm vụ của mình bây giờ là cày xới lại 20 năm văn học miền Nam để cho mọi người chưa có dịp biết thì biết. Chỉ có trong lãnh vực này, chúng tôi còn chút tin tưởng là hiện nay chính quyền cho in lại các sách vở cũ của miền Nam”
Hôm nay, độc giả Hội Luận có dịp đến với bài “Chúc thư Văn Học của Nhất Linh: Một cái chết định sẵn” như một tư liệu văn học sử có giá trị và cần thiết, được tác giả gởi kèm trả lời phỏng vấn. Bài này cũng đã đăng trên tạp chí Tân Văn (California) trong tháng qua.
Việc nhìn lại vấn đề Nhất Linh nói chung rất có ý nghĩa với văn học và thời cuộc Việt Nam, mà đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có cơ hội tìm hiểu tương xứng với vị trí của cha đẻ của Tự Lực Văn Đoàn, nhà văn-nhà văn hóa-nhà cách mạng Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Ở đây, tác giả Nguyễn Văn Lục đã đưa ra và lý giải một quan điểm rất khác so với nhiều đánh giá từ trước của văn giới và dư luận xã hội miền Nam về cái chết của Nhất Linh: “Trước hay sau, ông sẽ tìm cái chết như một giải thoát hơn là một thái độ phản kháng.”
 *
Đã hơn nửa thế kỷ kể từ khi Nhất Linh quyết định đưa chúc thư văn học này ra trước công chúng. Qua chúc thư này, có nhiều điều nay cần được nhìn lại và quả thực là không thừa khi tôi làm công việc này. Đồng thời chuẩn bị trong một thời gian không bao xa nữa, Tân Văn sẽ có một số đặc biệt về tờ Văn Hóa Ngày Nay của Nhất Linh.
Và sau đây là nội dung bản chúc thư.“Trong hương trầm của đêm 30 tết và mắt mờ đi vì thương cảm những người cũ đã khuất hoặc mất tích, tôi nghĩ tới những nhân tài mới khả dĩ đem lại một nguồn sinh lực rồi rào hơn làm cho Tự Lực thay đổi luôn và mới trẻ mãi, tôi có mấy lời cảm xúc này và cũng là chúc thư luôn thể, với một bài thơ gởi các anh em cũ (bất cứ ở khu nào) và mấy nhân viên tương lai của Tự Lực Văn Đoàn. Trong bảy tám nhà văn mới chọn lọc được trong hai năm nay, tôi thấy có ba nhà văn chắc chắn xứng đáng, là nhân viên Tự Lực Văn Đoàn và tôi tin anh Đỗ Đức Thu cũng như mấy anh mất tích sau này trở về, cũng như tôi sẽ bỏ phiếu bầu một khi ba nhà văn đó có đủ một số sáng tác để sự quyết định có căn cứ. Ba người đó là Nguyễn Thị Vinh, Tường Hùng và Duy Lam. Những lúc ngoảnh về quá khứ, kiểm điểm những việc mình đã làm, tôi thấy rõ ràng công việc tốt đẹp lâu bền và có ích nhất của đời tôi là sự thành lập được Tự Lực Văn Đoàn và công việc sáng tác. Nhưng Tự Lực Văn Đoàn không thể ngưng lại ở số người cũ và đứng yên, người qua, nhưng đoàn phải mới và tiến mãi. Ngoài sự cố gắng của anh em cũ còn lại, tôi mong những nhà văn tương lai, trước và sau khi gia nhập cũng đem hết tâm hồn và khả năng để làm rạng rỡ tên tuổi của đoàn mình, coi mình với đoàn là một, giữ được tinh thần cố hữu trước kia đã sáng tỏ giữa anh em quá cố: giúp đỡ nhau, đùm bọc lấy nhau, cùng nhau sát cánh để phụng sự văn nghiệp và đoàn mình, nghiệp văn dù chung một kiếp người, đoàn văn cùng chung tiếng để mãi tới kiếp sau. Đã bảy năm tôi mới lại có dịp làm thơ và thơ tôi vẫn không hay nhưng lòng và ý thành thực là đủ rồi:
 
Tự lực, vườn văn mới trỗi lên
Bỗng dưng thời thế đảo huyên thiên
Thương dăm lá cũ vừa rơi xuống 
Mừng mấy mầm tươi vụt nhú lên
Mạch cũ, nhựa non rồn rập chảy
Vườn xưa, hoa mới điểm tô thêm
Người qua, sách mọt, đời thay đổi 
Tự lực, danh chung, tiếng vẫn truyền
 
Nhất Linh
2 giờ sáng mồng một tết, năm Quý Tỵ
14/2/53”
 
Đây là một lá chúc thư, lời lẽ chân tình chan chứa cảm xúc. Ngậm ngùi nhớ tiếc. Người ấy ngồi một mình, nghĩ lại đời mình, bạn bè, kẻ còn người mất, nghĩ tới tương lai Tự Lực Văn Đoàn (TLVĐ), thành quả duy nhất đạt được trong đời một nhà văn sáng chói một thời. Không khí chúc thư cho ta có cảm tưởng như thể của một người sắp ra đi, muốn nhắn nhủ lại. Vì thế mọi chuyện từng chữ, từng câu trong lá chúc thư vỏn vẹn một trang này chứa đựng tâm tư, nỗi lòng thương nhớ bè bạn xa gần cũ cũng như những hoài bão, lòng mong đợi của Nhất Linh. Tôi sẽ hết sức mình viết và nhận định với một sự trung thực tối đa, sự công bình đối với riêng ông Nhất Linh và nhất là đối với văn học.
 
1. Vấn đề ai là nhà văn thuộc nhóm TLVĐ?
 
Đây là thắc mắc của nhiều người đặt ra khi nhìn lại nhóm TLVĐ. Thắc mắc đó là chính đáng và cần tìm lời giải đáp. Theo anh Duy Lam, nhóm TLVĐ mới đầu thật ra chỉ có ba người, ba anh em ruột gồm: Nhất Linh, Thạch Lam và Hoàng Đạo. Họ họp nhau ở Thái Hà. Lúc bấy giờ tiền thân của TLVĐ vẫn còn là tờ Phong Hóa.
 
Người đầu tiên gia nhập nhóm TLVĐ là Khái Hưng, khi ông này viết một bài về Truyện Kiều được Nhất Linh khen ngợi và mời gia nhập nhóm. Trong bấy nhiêu người được mời trong nhóm TLVĐ lúc ban đầu thì đây là một lời mời hợp tác mang nhiều ý nghĩa nhất, đem lại vinh dự nhất cho TLVĐ và cho văn học VN nói chung. Theo tôi, ngoài Thạch Lam, khó có ai trong TLVĐ có thể sánh bì với Khái Hưng. Nói ông là nhà văn hàng đầu, thật không quá đáng. Rất tiếc ông đã bị Việt Minh thảm sát vào năm 1947, tại bến Đò Cựa Gà, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định dịp tết Đinh Hợi. (Tài liệu của chính quyền cộng sản nay cũng xác nhận Khái Hưng chết ở bến Đò Cựa Gà).
Như nhiều trường hợp khác của một số nhà văn, trí thức Việt Nam đã bị sát hại, Việt Minh chịu trách nhiệm cái chết của một nhà văn lớn của VN. Cho đến nay, họ cho in lại sách vở của Khái Hưng trong tuyển tập: Văn xuôi lãng mạn Việt Nam, nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội. Nhưng vẫn chưa có một lời xin lỗi. Cùng lắm, trong Đại Hội Văn Nghệ toàn quốc, năm 1957, Trường Chinh gián tiếp nhìn nhận như sau: ”Việc uốn nắn lại thái độ hẹp hòi máy móc đối với những giá trị văn học cũ, không những có tác dụng sửa chữa những thái độ bất công đối với nhiều tác phẩm mà còn có tác dụng mở rộng con đường cho sáng tác văn nghệ hiện thời”.
 
Người thứ năm gia nhập TLVĐ vốn là bạn của Nhất Linh, trước cùng làm thư ký với nhau ở sở tài chánh vào năm 1920: Nhà thơ Tú Mỡ Hồ Trung Hiếu. Ông trở thành nhà thơ trào phúng hàng đầu không những chỉ trong nhóm TLVĐ mà còn trong cả văn chương Việt Nam.
Trong tập thơ Giòng Nước Ngược, Tú Mỡ phụ trách mục Giòng Nước Ngược trong báo Phong Hoá, đã có bốn câu thơ đề tặng Nhất Linh như sau:
“Ít lời lẽ ngang phè
Mấy vần thơ lỗ mỗ
Tặng anh Nguyễn Tường Tam
Đáp tấm ơn tri ngộ”
Cũng theo Tú Mỡ, có khi số in của tờ Phong Hóa tăng vọt lên đến hàng vạn số, mỗi kỳ. Không biết Tú Mỡ có hăng quá nên vung tay quá trán không? Vì tôi đọc Nhất Linh trong Nói Chuyện Cũ, ông viết như sau: ”Lúc chúng tôi sắp nhận làm báo Phong Hóa thì các tuần báo không có vẻ thịnh vượng, ít tờ xuất bản được đến 2000 số. Chúng tôi lúc đó mong bán được ba nghìn số và đã tự cho là “tham lam” quá.”
Cũng xin ghi lại đây cái không khí anh em, gia đình, tình đồng chí trong việc làm báo mà sau này ít khi có dịp còn tìm thấy cái không khí làm báo như thế nữa. Tú Mỡ ghi lại như sau: ”Trên căn gác ấm cúng nhà số 80 đường Quan Thánh, chúng tôi quây quần, thân mật như hồi ở Ấp Thái Hà.”
 
Người thứ sáu gia nhập TLVĐ là Thế Lữ, người đóng góp thơ mới trong Phong Hóa. Sau này Nhất Linh có mời ông vào nhóm TLVĐ. Người ta thường chỉ nhìn Thế Lữ như một nhà thơ, nhưng thật ra ông viết đủ loại. Truyện tiêu biểu của ông như Thoa, Ông Phán Nghiện, Câu Truyện Trên Tàu Thủy. Chưa kể ông là cây bút viết châm trích khá ác ý những nhà văn nhà thơ không cùng nhóm. Như Lãng Nhân, Nguyễn Trọng Thuật, Lê Văn Trương, Trương Tửu, Nguyễn Công Hoan, Lan Khai… Chửi nhau, tố cáo ăn cắp, đạo văn cũng dữ dội lắm. Đây là cái dở của TLVĐ? Nhiều khi bất công đối với những nhà văn ngoài nhóm. Có vẻ như đố kỵ. Báo Ngày Nay số 51 đã có bài viết “Chống dâm uế”, công kích thiên phóng sự Lục sì của Vũ Trọng Phụng. Ông Lê Thăng gọi Vũ Trọng Phụng là thằng khốn nạn, là văn sĩ nửa mùa. Dĩ nhiên, Vũ Trọng Phụng đáp lễ công kích Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng của nhóm TLVĐ. Chửi liên tiếp. Chửi tất cả. Kể cũng là lạ ở thời kỳ đó, người ta đã chửi nhau như thế. Một giai thoại được truyền lại trong văn giới: Thế Lữ chế diễu cuốn Làm Đĩ của Vũ Trọng Phụng như sau. Một ông khách vào một tiệm sách hỏi cô bán sách: ”Cô có Làm Đĩ không?” Cô gái đỏ mặt. Không vừa, cô trả lời: “Ở đây không có Làm Đĩ, chỉ có Cái Tát thôi.” Có người lại bảo cô hàng bán sách đáo để đã trả lời rằng, “Dạ không, em không có Làm Đĩ. Chỉ có Những Kẻ Khốn Nạn thôi.” (Les misérables của Victor Hugo).
 
Người thứ bảy gia nhập TLVĐ là nhà thơ Xuân Diệu. Đã có Thế Lữ lại có thêm Xuân Diệu nên sau này Nhất Linh nói đùa rằng ông khỏi cần phải làm thơ, vì trong nhóm đã có hai nhà thơ là Thế Lữ và Xuân Diệu. Theo Thụy Khuê thì Xuân Diệu chỉ được thu nhận sau này khi ông cho xuất bản tập Thơ Thơ, 1938. Tập Thơ Thơ được giải thưởng TLVĐ, sau đó Nhất Linh mới chú ý đến Xuân Diệu và nhận vào nhóm.
Cũng theo Thụy Khuê, người thứ bảy của nhóm phải là Nguyễn Gia Trí, nhưng vì ông là họa sĩ nên đã bị loại ra khỏi nhóm. Cũng trong Di Bút Đời Làm Báo của Nhất Linh, ông chỉ ghi “Nguyễn Gia Trí, họa sĩ” mà thôi.
Tóm lại, nay thì TLVĐ tạm gọi là đã có thất tinh (hay thất hiền?): Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng, Tú Mỡ, Thế Lữ và Xuân Diệu. Nguyễn Gia Trí không được nhắc tới nữa.
Tuy là có bảy nhân vật chính, nhưng thực ra họ có mặt trong TLVĐ một cách tự nhiên, như anh em, không có nội quy, cũng chẳng có điều lệ gì. Nhưng đối với bên ngoài thì có 7 người là thành viên của TLVĐ.
 
Chữ Tự Lực xuất phát từ ý chí muốn tự lập về tài chánh. Nói đúng ra không muốn lệ thuộc vào bất cứ ai. Vì thế, quyết định rằng, mỗi thành viên phải đóng góp 500 đồng để gây quỹ. Nên nhớ, lương công chức thời đó không quá 20 chục đồng. Vì thế, có cái cảnh Khái Hưng phải vay tiền bà chị để ra làm báo. Cái khổ của Khái Hưng gần một thế kỷ trước đây thì hiện nay hình như cũng không khác bao nhiêu đối với những người làm báo?
Sau này, theo lời đề nghị của Khái Hưng có thêm Trần Tiêu, em của Khái Hưng với các tác phẩm Con Trâu, Năm Hạn, Chồng Con. Cá nhân tôi rất thích cuốn Con Trâu. Khổ sách của cuốn Con Trâu nhỏ đến không thể nhỏ hơn được, chữ nhỏ li ti. Chẳng hiểu tại sao lại được in ấn như thế? TLVĐ đã đứng ra in cuốn truyện đó. Nhưng căn cứ theo “Đời làm báo” của Nhất Linh thì ngay cả cái tên Trần Tiêu cũng không có trong danh sách những tác giả viết cho TLVĐ. Có thể là vì lý do chính trị đã khiến Nhất Linh gạt tên Trần Tiêu ra khỏi TLVĐ? Nhưng phải giải thích làm sao trường hợp ba người ở lại hợp tác với Cộng sản là Thế Lữ, Xuân Diệu và Tú Mỡ?
Sự hợp tác làm văn học với nhau thì có. Nhưng tự nó, TLVĐ đã tan đàn vì những lý do chính trị. Phải chăng cũng là nỗi buồn và tuyệt vọng của Nhất Linh?
Sau này, trong chúc thư Văn học, Nhất Linh có nhắc thêm Đỗ Đức Thu. Điều đó làm nhiều người không khỏi ngạc nhiên. Nhưng trong bản thảo “Đời làm báo” với nhiều xóa tẩy, ông chỉ ghi là Đỗ Đức Thu (tiểu thuyết). Có nghĩa là ông Thu không thuộc nhóm TLVĐ.
Nhưng sư thực Đỗ Đức Thu là người của TLVĐ. Bởi vì khi viết bản chúc thư thì Nhất Linh đang ở trong Nam mà Đỗ Đức Thu thì còn ở ngoài Bắc. Đó là lý do để Nhất Linh viết rằng sau này Đỗ Đức Thu chắc cũng đồng ý với ông trong việc thu nhận ba nhà văn nữa.
Nếu kể những nhà thơ, nhà văn viết cho nhóm TLVĐ mà không thuộc nhóm TLVĐ thì cũng nhiều, như: Lưu Trọng Lư, Nguyễn Khắc Hiếu, Phạm Thị Cả Mốc, tức Phạm Cao Củng, Huy Cận, Bùi Hiển, Tô Hoài, Vi Huyền Đắc, Nguyễn Công Hoan, Trọng Lang. Hoạ sĩ như Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Cát Tường, Trần Vinh Lộc, Trần Văn Cẩn, Lưu Văn Xìn.
Có những nhà thơ như Tản Đà bị nhóm TLVĐ mang ra chế diễu nhiều lần. Như trong bài: “Giời đầy Nguyễn Khắc Hiếu”. Tản Đà không giận chỉ cười. Vì thế, sau này Nhất Linh lại mời Tản Đà hợp tác trong mục làm thơ Đường. Tình bạn văn đã không mất.
Cũng trong chúc thư của ông Nhất Linh có nói đến 7, 8 người thuộc diện ứng cử viên. Vậy họ là những ai? Tôi có hỏi anh Duy Lam, anh cũng không biết chắc là những ai? Và Nhất Linh đã quyết định dừng lại ở ba người như chúng ta đã biết. Theo nhà văn Duy Lam thì ông cũng không thực sự biết được những người được mời là ai; nhưng đáng chú ý nhất là nhà văn Bình Nguyên Lộc. Nhiều người lại cho rằng Nhật Tiến là người của nhóm TLVĐ?
Không phải vậy. Chính thức Bình Nguyên Lộc và Nhật Tiến không có chân trong TLVĐ. Trong tổng số 11 số báo Văn Hóa Ngày Nay đã xuất bản, tôi chỉ thấy có một vài truyện của Nhật Tiến như Đêm Tân Hôn, Đôi Guốc Trắng. Sau này, khi có báo Tân Phong do Nguyễn Thị Vinh làm chủ nhiệm thì quả thực Nhật Tiến có viết nhiều hơn trước. Vì Nhật Tiến là do Nguyễn Thị Vinh giới thiệu với Văn Hóa Ngày Nay. Trong một chương trình sinh hoạt văn học nghệ thuật của đài Little Sài Gòn sau này, ký giả Đinh Quang Anh Thái hình như có giới thiệu Nhật Tiến là thành viên của nhóm TLVĐ? Không có chuyện đó, nếu không nói là chưa bao giờ có chuyện đó! Thuỵ Khuê cho biết, Nhất Linh không ngỏ lời mời Nhật Tiến vào TLVĐ. Đọc lại danh sách những người biên tập cho Văn Hóa Ngày Nay trong Số 1, tôi thấy có tên các tác giả sau đây: ”Đỗ Đức Thu, Nguyễn Thành Vinh, Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo, Duy Lam, Tường Hùng, Trương Bảo Sơn.” Riêng Đỗ Đức Thu được giới thiệu là thành viên của TLVĐ.
Sự chọn lựa thành viên của nhóm TLVĐ này qua những tên tuổi trên, chưa vội nói tới giá trị văn chương và tác phẩm, dễ khiến cho người ta liên hệ sự chọn lựa đó là vì con cháu trong nhà. Đó là trường hợp Tường Hùng và Duy Lam. Tôi có đề cập đến sự kiện tế nhị này thì anh Duy Lam cũng cho rằng, tuy điều này có làm cho anh hãnh diện nhưng cũng khiến anh hơi khó chịu đôi chút, vì anh là cháu của Nhất Linh? Riêng trường hợp bà Nguyễn Thị Vinh thì sao? Có nhiều dữ kiện khiến tôi nghĩ rằng nên viết hẳn một chương về trường hợp của bà.
 
2. Cái chết định trước của Nhất Linh
 Đây là phần quan trọng nhất, mục đích của bài viết này là đi tìm lại ý nghĩa việc Nhất Linh tự tử.
 
Trong bản chúc thư ở trên đã có điềm dự báo về cái chết không tránh khỏi của ông sau này. Những giọt nước mắt trong bản chúc thư này là những giọt nước mắt tiễn đưa của 10 năm sau? Tất cả như một hành trình tâm linh của một người, của một thân phận dẫn dần tới cái chết như mô tả định mệnh đã an bài. Không chết cách này cũng chết cách khác. Và chọn lựa cái chết vào ngày song thất (7 tháng 7) là một chọn lựa chủ ý, như một thứ suicide intentionnelle theo Tây phương hay theo nghĩa Nghiệp, Karma theo Đông phương?
Khi nhắc về cái chết của Nhất Linh để phản đối chế độ của Tổng thống Ngô Đình Diệm, dư luận thường kết luận một cách rõ ràng, minh bạch: Cái chết đó như một bản án chính tri dành cho chế độ Ngô Đình Diệm. Mọi người, mọi giới đều coi việc Nhất Linh tự tử như một hành vi lý tưởng, dám đem thân mình, sự sống đời mình thách thức cả một chế độ, không chịu khuất phục và không chịu để cho tòa án thời đó xử án ông. Không ai nói khác được, không ai có thể nghi ngờ sự trong sáng, vẹn toàn về cái chết đó. Giấy tờ chúc thư còn để đó. Nó biểu tượng cho một lý tưởng và không khác gì ngọn lửa Thích Quảng Đức trước đó không bao lâu và nó cũng góp phần làm suy sụp nhanh chóng nền Đệ nhất Cộng hòa.
Kể từ ngày 7 tháng 7 năm 1963, ngày mà Nhất Linh tuẫn tiết, đến nay, đã gần nửa thế kỷ trôi qua, xác thân Nhất Linh nay chỉ là nắm tro tàn nguội lạnh, nhưng tôi không muốn tin như thế. Tôi vẫn muốn đi tìm ý nghĩa đích thực của cái chết ấy.
 
Công việc trước tiên của tôi là gạt ra ngoài những loại văn chương ai điếu. Cái thứ văn chương mà hễ có nhân vật nổi danh nào nằm xuống là phải có sẵn một bài tụng niệm theo kiểu sáo ngữ như: ”Riêng tôi, trên đường đi, tôi cảm nhận hơn một lần, hình như khi đưa tiễn Nhất Linh tôi đang đưa tôi, đang đưa một chặng đường văn học của quãng đời thanh xuân của mình. Chừng đó cũng đủ gợi cho tâm thức một thứ ánh sáng thúc giục lên đường để tự giác ngộ. Tôi đã đưa tiễn Nhất Linh trên đường lên chùa Từ Đàm với một chút lòng sao lạnh, xen lẫn tri ân.” (Trích “Đưa tiễn Nhất Linh”, talawas.org) Đối với tôi thì hiểu Nhất Linh quan trọng gấp bội lần “vinh danh” Nhất Linh như trên.
Nói về cái chết của một người là nói về một bí nhiệm. Phải đâm thủng được bức màn bí nhiệm ấy để hy vọng thấy được những khe hở còn che đậy. Công việc không phải là dễ. Mỗi cái chết tự nó là một thông điệp của người chết gửi người sống, một ý nghĩa.
Ở trong triết học, tự tử mang ý nghĩa từ chối đời sống vì không tìm thấy trong đời sống một ý nghĩa gì khả dĩ để tiếp tục sống nữa. Tự tử như vậy là một chọn lựa tối hậu khi không còn có chọn lựa nào khác.
Nhất Linh đã tự tử. Sự chọn lựa đó phải chăng do những biến cố thời cuộc chính trị của những năm 1963 hay là một chọn lựa tiền định, tiềm ẩn? Thực tế, ông đã để lại một thông điệp 72 chữ mà nhiều người có thể lập lại một cách thuộc lòng như: “Đời tôi để lịch sử xử”. Nhưng lịch sử là ai? Ai xử? Xử như thế nào? Đã xử chưa?
Có thể nào nghĩ rằng khi đọc hết bài này, có thể đổi câu chúc thư trên như sau: “Đời tôi, để tôi tự xử?”
Phải chăng đó chỉ là cách nói của ông? Phải chăng điều căn bản, không chối cãi được ở đây là ông đã tự chọn lựa một cái chết cho mình mà sự việc gì xảy ra trong năm 1963 đã được sắp xếp, tính toán trước như một điều không thể khác?
 
Thật sự, giữa ông Ngô Đình Diệm và ông Nhất Linh, có một sự đố kỵ về cá tính, về lý tưởng? Trong phạm vi cá nhân với cá nhân, ông Nhất Linh không coi trọng ông Ngô Đình Diệm và nghĩ rằng chỉ có ông Hồ Chí Minh mới là kẻ đối đầu có tầm cỡ, sánh ngang tầm với ông? Hay ông hận vì đã bị chính quyền Ngô Đình Diệm bỏ quên? Việc một hai tờ báo thân chính chế diễu, gọi Nhất Linh là nhà văn viết truyện khiêu dâm? Nhất Linh đã gán cái trách nhiệm chết yểu của tờ Văn Hóa Ngày Nay là do sự ngấm ngầm chống phá của chính quyền Ngô Đình Diệm không cho nhà phát hành Thống Nhất phát hành báo Văn Hóa? Tất cả những vấn đề này, chúng tôi sẽ bàn kỹ trong một số báo đặc biệt về tờ Văn Hoá Ngày Nay. Theo lời bà Nguyễn Thị Vinh viết lại: ”Anh chống lại chính phủ Ngô Đình Diệm ít nhất về quyền tự do ngôn luận bị xâm phạm nặng nề. Tờ Văn hóa Ngày Nay chỉ là giai phẩm, đã không được cấp giấy phép chính thức mà còn bị đóng cửa.”
Thật sự, cho đến bây giờ, tôi chưa hề nghe ai trong giới báo chí nói chính phủ Ngô Đình Diệm đóng cửa tờ Văn Hoá Ngày Nay. Tôi có hỏi thẳng anh Duy Lam về việc này. Anh nói, ông Nhất Linh có tâm sự và cho biết do những khó khăn về tài chánh nên phải đình bản tờ báo. Hy vọng bà Nguyễn Thị Vinh cho một lời giải thích đầy đủ và rõ ràng hơn.
Có thể đổ cho chế độ Ngô Đình Diệm nhúng tay làm việc đó hay không? Và nếu như thế thì cắt nghĩa làm sao sự chết yểu của Hiện Đại, Thế kỷ 20 cũng trong thời kỳ đó? Và dĩ nhiên, mọi người hiểu rằng Hiện Đại, Thế kỷ 20 đóng cửa vì hết tiền tài trợ.
Nhìn lại nhóm những người trí thức đối lập trong nhóm Caravelle thì hơn phân nửa là những người đã từng cộng tác với ông Diệm. Sự chống đối không khỏi có những yếu tố riêng tư trong đó. Nhiều người đã bị bắt, riêng Nhất Linh lại được miễn trừ? Khi hai phi công ném bom dinh Tổng thống Ngô Đình Diệm mà theo nhiều người, đã có tay trong để biết giờ giấc trong dinh. Nhưng đến phút chót, một quả bom của phi công Nguyễn Văn Cử đã không nổ. Vai trò ông Nhất Linh trong vụ ném bom này như thế nào? Chỉ biết khi vụ ném bom xảy ra vào sáng hôm ấy, có sự có mặt hai ông Nguyễn Văn Lực và Nhất Linh đang quan sát diễn tiến nội vu. Làm chính trị đối lập thì khác. Nhưng dính dáng vào một vụ mưu sát thì thực tế chính quyền nào cũng có đủ pháp lý để mang ra xử tội? Lúc đó thì nên để lịch sử xử hay để chính quyền xử? Mật vụ há không biết sao? Họ có làm ngơ không? Chính quyền dù dân chủ cách mấy cũng sẽ không làm ngơ cho chuyện này? Quả bom đã không nổ vì chưa đủ vòng quay đã làm Nhất Linh chán nản tuyệt vọng, tin rằng cái số dòng họ nhà Ngô hãy còn lớn lắm. Thất vọng chồng chất thất vọng mà những người chung quanh Nhất Linh đều nhận thấy.
Có thể nói cuộc đời Nhất Linh lúc đó chồng chất những thất bại. Những giấc mơ không thành. Bằng chứng trong bức hình vẽ chân dung Nhất Linh của họa sĩ Nguyễn Gia Trí vẽ còn dang dở vì sau đó họa sĩ Trí bị đi tù. Khi trở về, ông Nguyễn Gia Trí định vẽ tiếp thì Nhất Linh không cho. Ông đòi để nguyên vì cho rằng, bức họa dang dở giống như cuộc đời của ông. Nó như một tác phẩm chưa hoàn tất. Thất bại của ông thì nhiều, trải dài trong suốt cuộc đời làm chính trị khiến ông bị căn bệnh trầm uất triền miên. Depressive psychosis với ba giai đoạn phát triển tuần tự của bệnh từ suicidal ideation, suicidal planning và cuối cùng sucidal attempt. Từ ý tưởng sang kế hoạch và sau cùng là thi hành.
 
Bệnh tâm thần của Nhất Linh là có thật. Nhưng ít ai trực tiếp nói thẳng ra.
Thứ nhất: Ám ảnh tự tử luôn luôn lẩn quất trong truyện của ông trong hai phần ba cuộc đời. Đó là giai đoạn suicidal ideation. Ngay từ khi còn làm báo Phong Hóa, Tú Mỡ đã ghi nhận như sau: “Tâm thần bị giao động nhiều, gần như bệnh. Cần phải đi dưỡng bệnh.” Đó là những dấu hiệu có tính cách tiên báo trước.
Bệnh càng trở nên trầm trọng theo thời gian vì ông mang quá nhiều gánh nặng trên vai của một kẻ sĩ, của một người trí thức sống trung thực, có lòng với đất nước. Nếu ông không phải một trí thức, không có cái tâm của một kẻ sĩ, tâm trạng của ông có thể ông đã không bi quan như vậy. Chính ông thất vọng về chính ông, vì ông không làm gì được.
Trong những bài viết bàn về cái chết của Nhất Linh, tôi thấy chị Thụy Khê đã ra khỏi những lối suy nghĩ định sẵn và tới gần được Nhất Linh nhất qua những gì ông đã viết. Chị Thụy Khuê đã đào sâu vào những biện luận triết học và suy nghiệm trong tác phẩm văn chương của Nhất Linh tìm ý nghĩa của cái chết ấy.
Phần tôi, tôi đào sâu ý nghĩa việc tự tử này trong sự truy lùng hiện trạng con người, vấn đề tâm thần và lịch sử cuộc đời của Nhất Linh. Xem ra chúng tôi đã đi cùng đường (piste) và do đó tôi tin tưởng vào những điều viết ra ở đây.
Qua từng những chi tiết nhỏ, những nhận xét xem ra rời rạc, nối kết lại với nhau. tôi có cảm giác đã hiểu được phần nào cái chết bi kịch ấy. Càng tìm hiểu, càng tôn trọng con người ấy và những lựa chọn không tránh được của ông. Cái mà ông nói tới như định mệnh con người, định mệnh đời ông, hay như cái Karma của đời ông theo nhà văn Võ Phiến.
Ở trong phạm vi văn chương, thử tìm hiểu xem, ông đã gửi gắm gì trong những truyện của ông. Trong truyện Người Quay Tơ, truyện đầu tay của ông, tôi cảm nghiệm cái cách làm chính trị cách mạng của Nhất Linh rất lãng mạn, rất tự huỷ. Làm chính trị có nghĩa đi đôi với hy sinh đời mình, sẵn sàng chết. Làm cách mạng đồng nghĩa với chết. Thật vậy, trong truyện, Người Quay Tơ, người đọc không biết đích thực ông tú đã làm gì, đã chống đối chính quyền thực dân Pháp ra sao. Chỉ biết ông bị đi tù Côn đảo và đã hy sinh. Cũng vậy, Dũng đã nghĩ về Thái như sau: ”Anh Thái đi như vậy để làm gì? Chẳng qua không biết làm gì nữa thì liều lĩnh”. Thế giới của Dũng là chấp nhận sự bất lực, sự bế tắc và chấp nhận cái chết như một hành vi cao cả và “đáng sống” nhất như một thoát ly: ”Cái chết của Thái đối với Dũng chỉ là một thoát ly, vì thế tôi không sợ chết, vì đất mát lắm.” Ám ảnh về cái chết, về sự tự hủy như một cứu cánh đời sống, ám ảnh ông, bàng bạc trong các tác phẩm của ông, nhất là trong truyện Bướm Trắng?
Có điều gì liên hệ giữa văn chương đến cuộc đời? Những ám ảnh về tự tử trong truyện có thể dẫn đường cho việc giải thích việc tự tử của ông sau này, vào năm 1963 hay không? Chính vì thế, ông đã không muốn cho con cái trong nhà đọc Bướm Trắng khi còn nhỏ? Trong truyện, nhân vật Trương biết mình không còn sống bao lâu nữa đã có những ý nghĩ đen tối là tự tử. Nhân vật Trương nghĩ rằng: “Cách tốt nhất là nhồi một viên đạn nhỏ vào trong sọ. Tạch một cái, thế là hết. Ngọt như mía lùi. Lý luận thêm: “Hèn nhát thì không bao giờ tự tử được, mà có can đảm như trời cũng không thể tự tử được. Tự tử được hay không là ở cảnh chứ không phải ở người”.
 
Nói trắng ra, Nhất Linh nhà văn có phải là một con người bình thường khi quyết định việc tự tử nhằm chống đối chính quyền Ngô Đình Diệm? Việc tự tử đó có thể coi là một hành vi, hay một quyết định sáng suốt của một người biết mình phải làm gì?
Có thể là sự đau buồn, cô đơn vì cái chết yểu của Thạch Lam, của Khái Hưng. Nhất là cái chết của Hoàng Đạo, một người em, một đồng chí cách mạng. Nguyễn Tường Bách viết lại như sau: ”Song tại đây, một sự mất mát và đau buồn vô tận cho chúng tôi đột ngột tới, đó là cái chết của anh Hoàng Đạo trên một chuyến xe hỏa từ Hồng Kông về tháng 8/1948. Đặc biệt là đối với Nhất Linh, vì hai anh em gần gụi nhất từ nhỏ, và từng sát cánh mật thiết trong sự nghiệp văn hóa, cách mạng.” (“Tưởng nhớ anh Nhất Linh”, Nguyễn Tường Bách, trang 65, sách “Nhất Linh”, nhiều tác giả). Rồi sự thay đổi lập trường chính trị của Nguyễn Tường Bách cũng như sự rạn nứt hệ phái Quốc Dân Đảng với Vũ Hồng Khanh, Tự Lực Văn Đoàn tan đàn nát gánh, thất bại trong việc ký Hiệp ước sơ bộ rồi tản mát chạy sang Tàu. Rồi sự thất vọng khi làm Bộ trưởng ngoại giao dưới chính phủ Hồ Chí Minh và làm nhân vật đối lập dưới thời Ngô Đình Diệm. Bấy nhiêu nỗi thất vọng, chán chường về chính trị có đủ đưa đến quyết định quyên sinh của Nhất Linh sau này hay không?
Bà Nguyễn Thị Vinh đã nhận xét về con người của ông như sau: ”Hằng ngày, tôi ít dám nói chuyện với anh, bởi vì trên gương mặt anh toát ra một vẻ nghiêm khắc, trầm lặng, rất buồn bã. Ánh mắt luôn luôn như nhìn về một cõi xa xăm, mọng lên nỗi chất chứa u sầu. Tới nỗi tôi có cảm tưởng, nếu có một tiếng động dù nhỏ, bất chợt vang lên, cũng đủ làm cho các màng nước trong mắt anh oà vỡ. Cặp môi anh có lúc rung rung như đang nói truyện với ai đó, vô hình, đôi khi lại thoáng nét nhẹ, thật nhẹ, như mỉm cười.” (Trích “Nhất Linh và Xóm Cầu Mới”, Nguyễn Thị Vinh, trong “Nhất Linh”, nhiều tác giả, trang 88).
Đó là thái độ, cung cách của người mắc bệnh tâm thần. Nhất Linh nhất định không thể là một người tâm trí bình thường lúc cuối đời. Ông có vấn đề. Vấn đề của chính ông. Không ai có thể làm gì cho ông được. Ông rơi vào cô đơn và tuyệt vọng. Từng ngày, từng năm tháng sắp tới? Về tâm linh, ông đã chết dần và ông chết từng ngày?
Ông Trương Bảo Sơn, chồng bà Nguyễn Thị Vinh cũng nhận xét như sau: “Phải chăng việc mất hai người em thân yêu như mất hai cánh tay đắc lực, đã làm cho Nhất Linh Nguyễn Tường Tam xót xa đau lòng khiến nhiều đêm ông đã âm thầm khóc một mình và chán nản, ngưng làm chính trị mất ba bốn năm trời, ẩn cư ở núi rừng Đà lạt? (Trích “Những kỷ niệm riêng với Nhất Linh”, trong “Nhất Linh”, nhiều tác giả, trang 73).
Triệu chứng tâm thần đã rõ. Nó dẫn đưa ông đến ý tưởng quyên sinh. Không thiết sống nữa.
Ông Nguyễn Tường Bách là một thầy thuốc đã nhận xét về hiện trạng tinh thần của anh mình như sau: ”Sự tang tóc này khiến cho bệnh suy nhược thần kinh của Nhất Linh càng nặng thêm. Một ngày năm 1950, tôi ra Hồng Kông, chỗ anh ở trên một sườn đồi, bên cạnh một suối trong… Anh cũng đồng ý về nước với quyết tâm sẽ không tham dự hoạt động chính trị nữa, ít ra trong giai đoạn này.” (“Tưởng nhớ anh Nhất Linh”, trích dẫn như trên).
Như vậy việc tự tử của Nhất Linh do tình trạng suy nhược thần kinh đã là nguyên nhân thúc đẩy đến cái chết không tránh được?
Cái chết đã định trước. Đã tính toán. Đã dự liệu. Đã không muốn sống. Ông đã tính toán, đã dự liệu như thế nào?
 
Đó là giai đọan hai, giai đoạn suicidal planning. Như lời của bà Nguyễn Thị Thế: “Có lần tôi hỏi thẳng anh, họ đã tha cho anh không bắt, vậy anh có tự do rồi, anh muốn làm gì thì làm, sao anh còn ngại. Anh trả lời, cô không hiểu tôi, tôi chỉ ngồi đây đợi hai năm nữa thôi. Anh nói đến đây thì chị Tam ở dưới nhà lên nên anh lại không nói gì nữa. Riêng tôi về sau cứ mãi băn khoăn về câu anh nói chờ hai năm nữa là ý nghĩa ra sao. Vào một hôm trước ngày 7 tháng 7, các con tôi lên thăm anh Tam về cho biết bác có trát đòi và chắc bác ra tòa xử ngày mai, và chắc họ sẽ kết tội bác phá rối trị an và bỏ tù bác chứ không tha đâu. Tôi vội lên thăm anh Tam ngay. Tôi thấy hai con mắt anh sáng ngời, vẻ mặt hồng hào.”(Trích “Hồi ký về gia đình Nguyễn Tường”, Nguyễn Thị Thế, trang 158).
Những lời bộc bạch tự nhiên của bà Thế giúp tôi nghĩ rằng những suy nghĩ về cái chết của Nhất Linh về nguyên do đưa đến cái chết ấy đã không đi trật đường. Phải chăng điều căn bản, không chối cãi được ở đây là ông đã tự chọn lựa một cái chết cho mình mà 1963 chỉ là điểm chung cuộc?
Trước hay sau, ông sẽ tìm cái chết như một giải thoát hơn là một thái độ phản kháng.
Tôi đã tự đặt cho mình những câu hỏi như thế và đã lắng nghe những biện luận đồng thuận của anh Duy Lam là: Cái chết của nhà văn Nhất Linh là một cái chết định sẵn. Nhất Linh nhà văn có phải là một con người bình thường khi quyết định việc tự tử nhằm chống đối chính quyền Ngô Đình Diệm không? Việc tự tử đó có thể coi là một hành vi, hay một quyết định sáng suốt của một người biết mình phải làm gì? Nó có bị chi phối, ảnh hưởng hay thúc đẩy bởi một động lực tâm lý, một quá trình đời sống với gánh nặng quá khứ chán nản và tuyệt vọng của một người không còn làm chủ được đời mình không? Việc tự tử là một giải thoát cho chính ông? Hay là một hành vi dùng cái chết để chống đối một chế độ? Phải đắn đo và công bằng với lịch sử để trả lời những câu hỏi này.
Tôi nghĩ rằng những tiết lộ của Nguyễn Tường Thiết, con trai nhà văn, giúp chúng ta một phần để trả lời hai câu hỏi trên.
“ Nhất Linh thường viết trong đêm khuy khoắt. Những khi giật mình thức giấc nửa đêm tôi thường thấy, qua khe cửa, đèn trong phòng ông còn bật sáng. Có đêm lũ chúng tôi lòm còm bò dậy vì còn tiếng khóc trong phòng cha tôi. Tiếng khóc lúc đầu còn nhỏ sau lớn dần không kìm hãm được. Lũ chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau… Không ai có thể đoán biết ông khóc cái gì, ngay cả mẹ tôi cũng không thể nào biết được. Nhưng sự khám phá này đã gieo vào tuổi thơ của tôi một ấn tượng mạnh mẽ, rằng cha tôi là một người cô đơn và đau khổ. Ngoài ra những giấc mơ kỳ lạ và kinh hãi cũng được tôi hình dung thấy qua giấc ngủ của ông, qua cách ông trằn trọc ú ớ trong đêm”.(“Nhất Linh cha tôi”. Nguyễn Tường Thiết, trang 19)
Những tiếng khóc về đêm khuya khoắt là dấu hiệu một tình trạng bệnh trầm cảm, cô đơn và tuyệt vọng? Thoạt đầu tiên khi làm báo, ông lấy tên báo là “Tiếng cười”. Nhưng cả cuộc đời ông chỉ là những”tiếng khóc”.
Đọc tiếp những trang hồi ký của Nguyễn Tường Thiết thật không cầm nổi xúc động. Nhưng cũng cho thấy rằng, Nhất Linh đã chuẩn bị cái chết của mình một cách chu đáo, từng chi tiết một.
 
Đó là giai đọan suicidal attempt.
Đến Nguyễn Tường Triệu, con trai ông, ở cạnh ông cũng bị ông qua mặt, bị ông đánh lừa trước mặt, “chỉ 15 phút là xong”. Chẳng khác gì: “Chỉ tạch một cái” là xong. Nhiều lúc thật bình thản. Như ông từng nói từ năm 1951: ”Tôi mà tự tử thì chẳng ai biết tôi dùng loại độc nào1” (trích bài “Nhất Linh, người định nghĩa sống và chết”, Lưu Văn Vịnh, trong ”Nhất Linh”, nhiều tác giả, trang 177)
Đến đây tôi có thể dám chắc rằng, ý định tự tử đã bám dính vào ông, nhất là ở giai đoạn chót cuộc đời ông. Và ông đã có kế hoạch để tự hủy mà không ai biết được. Từ kế họach tự tử sang đến chỗ thực hiện chỉ là một bước nhảy: Bước nhảy từ cõi sống vào cõi chết. Cần một triggering factor, le facteur déclenchant, chỉ cần một động lực để nhảy, để… lảy cò.
Thần chết đã đến gõ cửa rất lâu trước ngày 7 tháng 7, 1963. Nó đã không tha ông vì ông đã sẵn sàng đi theo như một định mệnh, như một cái nghiệp không tránh được. Ông mới chỉ bị gọi ra tòa. Thế là xong. Ông chỉ chờ có thế. Đó là thời điểm để ông có đủ can đảm thực hiện nếu không muốn nói là ông mong đợi nó đến. Cái trát đòi ra tòa là một facteur déclenchant. Nó đã đến nên mắt ông tươi sáng hẳn lên, mặt ông hồng hào. Ông sống làm gì nữa? Vào tù ư? Để chịu nhục? Để kéo dài sự cô đơn và tuyệt vọng? Chỉ có cái chết giải thoát ông.
Cái chết đã định trước từ lâu? Biến cố 1963 chỉ là giọt nước tràn đầy ly.
Ông Ngô Đình Diệm chỉ là người chịu trách nhiệm xử án ông Nhất Linh. Nhưng trách nhiệm giết ông Nhất Linh. Chính là bạn bè ông, những người đồng chí của ông, những người nước mắt tiễn đưa ông. Tất cả vô tình đã giết ông, vì đã đặt tất cả trách nhiệm lịch sử lên đôi vai ông mà thực sự ông không thể chu toàn được. Một người mà cả cuộc đời làm chính trị là một thất bại. Đến phút cuối cùng trở thành kẻ chiến thắng bằng chính cái chết của mình.
 
Lịch sử quả là trớ trêu và oan nghiệt.
Dù sao, chết như Nhất Linh chứng tỏ ông là kẻ sĩ của cả một thời đạị văn học. Thời đại Nhất Linh như ông từng cân nhắc viết: ”Những lúc ngoảnh về quá khứ, kiểm điểm những việc mình đã làm, tôi thấy rõ ràng công việc tốt đẹp lâu bền và có ích nhất của đời tôi là sự thành lập được Tự Lực Văn Đoàn và công việc sáng tác”.
Bài toán về cái chết của ông coi như đã được giải đáp một phần nào trong lời thú nhận chót của ông.
Ông đã chết vì kỳ vọng của chính mình và của các đồng chí của ông. Điều chắc chắên là ông đã chết sung sướng và có thể mỉm cười nơi chín suối. Dòngsuối đam mê bên những giòlan rừng. Đó mới là chỗ ông về và đem lại cho ông những phút thư thái nhất lúc sống cũng như lúc chết.
 
California, 11/2/2008
Nguyễn Văn Lục
 
***
Phần Phụ Lục
Nguyễn Thị Vinh, Nhất Linh với Tự Lực Văn Đoàn
 
Có rất nhiều người đàn bà trong Tự Lực Văn Đoàn (TLVĐ) mà theo tôi không có họ thì không có Nhất Linh, không có Thạch Lam, không có Duy Lam, không có Thế Uyên. Họ tưởng chừng như không có dính dáng gì đến văn học. Vậy mà không có họ thì có thể nói khó có TLVĐ. Bà mẹ Nhất Linh, bà vợ Nhất Linh hay bà Nguyễn Thị Thế, em ruột Nhất Linh. Như lời bà Nguyễn Thị Thế viết về mẹ ruột mình: ”Một mình mẹ tôi buôn bán phụng dưỡng mẹ chồng và nuôi đàn con ăn học thành tài, giá như người khác, các anh tôi chỉ có đi làm thợ hay đi làm thuê thôi” (Trích “Hồi ký về gia đình Nguyễn Tường”, Nguyễn Thị Thế, trang 132). Riêng ông bà Nhất Linh. Họ khác nhau về đủ thứ. Quanh năm ngày tháng, Nhất Linh bỏ đi. Con cái như Nguyễn Tường Thiết nhiều khi lâu không gặp bố thấy xa lạ. Nhất Linh lúc ở bên Tàu, lúc ở Đà Lạt, vậy mà cái bóng của bà Nhất Linh vẫn phủ lên đời ông? Bà Nhất Linh trả lời như sau về đời sống gia đình của bà: ”Tôi lấy nhà tôi là do cha mẹ mối manh, dạm hỏi và cưới xin linh đình. Khi tôi về nhà chồng rồi thì chỉ biết lo buôn bán để gánh vác giang sơn nhà chồng, làm gì có thì giờ đọc sách, đọc báo ạ? Với lại sách báo là việc của đàn ông, đàn bà mình ngó vào làm gì?” (Trích bài viết của nữ sĩ Anh Thơ về Nhất Linh, “Nhất Linh, nhiều tác giả” trang 107) Trong văn chương, truyện ngắn Người Quay Tơ, phải chăng nhân vật nữ người quay tơ là hiện thân của bà Phạm Thị Nguyên, vợ Nhất Linh và nhân vật ông Tú phải chăng là chính là Nhất Linh? Rồi còn lá thư tuyệt mệnh để lại cho bà trước khi tự tử. “Mình, mối tình của đôi ta đẹp đẽ lắm rồi. Mình không còn mong muốn gì hơn nữa.” Di chúc cho vợ mà ông nhắc nhở đến mối tình của đôi ta thay vì nói tới tình nghĩa vợ chồng. Kể là đẹp và trọn vẹn.
Chính anh Duy Lam sau này theo nghiệp văn cũng là do ý muốn của mẹ anh. Bà Thế chỉ mong sau này con trai bà trở thành nhà văn như những người của dòng họ Nguyễn Tường. Và giấc mơ của người mẹ đã thành hiện thực.
Nhưng còn những người đàn bà trong văn chương TLVĐ? Trong truyện và trong đời sống? Trong văn chương, Nhất Linh đã mê một thiếu nữ mà ông đặt tên là “cô áo trắng”. Cô áo trắng trong đời sống sau này, theo Huy Cận tiết lộ, chính là nhân vật truyện tên Thu trong tiểu thuyết Bướm Trắng của Nhất Linh..
Còn trong đời thường, đó là trường hợp Nguyễn Thị Vinh. Bà Vinh đã từng sống bên cạnh Nhất Linh khi ở bên Tàu. Với tư cách là đồng chí, là người bạn, là người tình, là bạn văn? Hay là tất cả những thứ đó cộng lại?
Riêng Nguyễn Thị Vinh, trong trường hợp nào bà quen biết và trở thành người của nhóm TLVĐ? Tôi chưa liên lạc trực tiếp được với bà Nguyễn Thị Vinh để hiểu rõ vấn đề này. Nhưng chỉ biết rằng hai chị em Nguyễn Thị Vinh có mở một tiệm sách ở Hà Nội, rồi sau này bà Nguyễn Thị Vinh, lấy Trương Bảo Sơn, một đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng. Phải chăng vì mối liên hệ đảng phái mà sau này bà Nguyễn Thị Vinh có nhiều dịp gần gũi với Nhất Linh? Nhất là khi trôi dạt sang Tàu, vợ chồng Trương Bảo Sơn, Nguyễn Gia Trí và Nhất Linh sống chung một nhà. Chính ông Trương Bảo Sơn viết về những kỷ niệm riêng với Nhất Linh cho biết như sau: ”Lần đầu tiên tôi được gặp ông, tiếp xúc với ông là ở chiến khu Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ), trong tỉnh Vĩnh Yên, sau khi ông từ chức Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao trong chính phủ Liên Hiệp kháng chiến, trên đường ông đi sang Trung Hoa, ở Côn Minh, Trùng Khánh, rồi Thượng Hải. Nơi đây tôi gặp ông lần thứ hai vào cuối năm 1946. (trích “Những kỷ niệm riêng với Nhất Linh Nguyễn Tường Tam”, trong “Nhất Linh, người nghệ sĩ, người chiến sĩ”, trang 69).
Nhưng mãi đến năm 1948, nghĩa là ba năm sau, bà Nguyễn Thị Vinh, vợ ông Trương Bảo Sơn đã cùng con gái ba tuổi từ Hà Nội mới sang ở với ông Trương Bảo Sơn. Có thể từ 1948, bà Nguyễn Thị Vinh mới được quen biết với Nhất Linh. Cũng trong thời gian này, Nhất Linh đã khuyến khích Nguyễn Thị Vinh viết cuốn Thương Yêu và bà Linh Bảo viết cuốn Gió Bấc.
Khi ở bên Tàu, còn có nhiều người như ông Nguyễn Gia Trí, Đỗ Đình Đạo, Trần Văn Tuyên, Phan Quang Đán, Nguyễn Văn Hợi cùng ở chung với Nhất Linh. Hoặc tới hội họp như cụ Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Bảo Toàn, Lưu Đức Trung, Tạ Nguyên Hải. Khi ở chung, cũng có xảy ra những chuyện cãi cọ như giữa Nguyễn Gia Trí, Trương Bảo Sơn? Sau này Nguyễn Tường Ánh, lúc đó chỉ là một cậu bé hơn 10 tuổi đầu, đã có dịp chứng kiến những màn cãi nhau đó. Dĩ nhiên là Nguyễn Tường Ánh “bất đắc dĩ” có dịp nhìn thấy hết. Có thể có một mối tình tay ba, tay tư không? Tôi tin là có, khi nhìn lại những hình ảnh Nhất Linh ôm ẵm và cưng chiều con gái út của Nguyễn Thị Vinh là Trương Kim Anh. Điều gì cũng có thể xảy ra được. Sau này, khi đọc hồi ký của bà Nguyễn Thị Thế, em gái Nhất Linh và là mẹ các nhà văn Duy Lam và Thế Uyên, có đoạn kể về cô con gái nuôi, Trương Kim Anh, này như sau: ”Khi tôi dở chăn ra để được ngó mặt anh tôi, thời có cái sáo rơi xuống. Tôi lấy làm lạ hỏi cháu Thoa thời nó cho biết có con gái nuôi của cậu cháu (con gái chị Nguyễn Thị Vinh) tối qua đem sáo vào nhà xác thổi suốt đêm cho ông nghe. Thổi xong nó tặng luôn chiếc sáo và nói từ nay nó sẽ không còn thổi sáo cho ai nghe nữa đâu. (trích “Hồi ký về gia đình Nguyễn Tường”, Nguyễn Thị Thế, trang 159). Trong bài “Tưởng nhớ về Nhất Linh”, cô Trương Kim Anh đã viết như sau: “Sau một lúc, mẹ tôi bảo tôi lấy sáo trúc ra thổi một bản tiễn bác. Tôi gạt nước mắt, đưa ống sáo ngang miệng, chọn bản Thiên Thai, bản mà bác thường bảo tôi thổi mỗi lần bác đến nhà chúng tôi. Tiếng sáo u uẩn vang trong khu nhà xác, lạnh lẽo. Nhưng chỉ được nửa bản, tiếng sáo ngưng trong tiếng nấc nghẹn ngào, âm thanh như đọng lại trong không gian, tiễn đưa hương linh bác về nơi vĩnh cữu. (Trích “Nhất Linh, người nghệ sĩ, người chiến sĩ”, trang 153).
Trong mục “Lan Hàm tiếu” dành cho các thiếu nhi trên VHNN, Nhất Linh đã không quên mà người đọc cũng khó bỏ qua bóng dáng Nguyễn Thị Vinh qua cháu Trương Kim Anh. Em bé Trương Kim Anh, lúc ấy 12 tuổi đã tập tành viết văn như mẹ cháu, dưới sự hướng dẫn của bác Nhất Linh qua tác phẩm đầu tay của cháu “Ở vậy”.
Người ở lại sau cùng trong cái đêm cuối cùng trước khi Nhất Linh đi vào lòng đất là bà Nguyễn Thị Vinh và cô con gái. Và trước khi tuẫn tiết, ngoài bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm, người được Nhất Linh đến gặp lần cuối cũng lại là bà Nguyễn Thị Vinh. Trương Kim Anh kể lại: “Mãi sau này tôi mới biết, chuyện quan trọng đó là: bác Tam nhận được trát đòi ra hầu tòa, cùng với một số bạn chiến đấu của bác, trong đó có ba tôi, “Ông Trương Bảo Sơn”. Tôi hơi ngạc nhiên về chú thích để trong ngoặc kép này… Khoảng một tiếng sau, từ trên cửa sổ nhà Thúy nhìn xuống nhà mình, tôi thấy bác Tam đang từ giã mẹ tôi.”
Đây là một cử chỉ chỉ có người trong cuộc, trong giờ phút giữa sống chết, bên bờ tử sinh mới thấm thía hết được ý nghĩa cuộc gặp gỡ định mệnh này.
Cô Trương Kim Anh, con nuôi của Nhất Linh, sau này lấy nhà văn Dương Kiền. Theo các con cháu của Nhất Linh như anh Duy Lam, cũng cho rằng nhiều phần Nhất Linh và Nguyễn Thị Vinh phải có cái gì với nhau. Nhưng nó cụ thể như thế nào thì không ai dám chắc. Nhưng trong cách thức của bà Nguyễn Thị Vinh khi nói về Nhất Linh thì bà thường làm ra cái vẻ như thể bà là người tình của Nhất Linh, hay đóng kịch như thế và gây cho mọi người có cảm tưởng là giữa bà và Nhất Linh hẳn phải có một mối dây liên lạc đặc biệt..
 
Nhưng hay nhất vẫn là để Nguyễn Thị Vinh tỏ bày: “Đời tôi từ bấy lâu nay, thời gian qua đi già nửa thế kỷ, đã từng được ở những nơi nhà cao cửa rộng, đầy đủ tiện nghi, mà sao tôi vẫn không thể quên được, túp lều (trên núi) của chúng tôi. Chao ơi mỗi khi tắm, tôi chưa thấy có một vòi hoa sen nước nào có thể so sánh được với dòng suối ngày ấy. Tôi biết kể sao cho hết nỗi vui thích của tôi mỗi khi ra suối tắm”. (Trích “Nhất Linh, người nghệ sĩ, người chiến sĩ”, trang 85/86).
Khó quên là phải. Làm sao quên được. Cá tính bà Nguyễn Thị Vinh theo nhân xét vài người quen biết của bà trước đây hay người trong gia đình Nhất Linh cho biết là một người đàn bà đa tình và vô cùng lãng mạn. Gần như không có một biên giới nào. Chuyện Trương Bảo Sơn và Nguyễn Thị Vinh chia tay nhau thì cũng là chuyện đành phải là như vậy. Sau khi Nhất Linh chết vào năm 1963, bà Nguyễn Thị Vinh thường đi xe lam lên thăm mộ Nhất Linh ở nghĩa trang Bắc Việt ở Hạnh Thông Tây. Mộ Nhất Linh gần mộ nhà văn nổi tiếng miền Nam Hồ Biểu Chánh. Bà Nguyễn thị Vinh thăm viếng mộ Nhất Linh là đốt 4 điếu thuốc lá Bastos xanh cắm vào bốn góc mộ, sau đó mở hai chai lade 33 tưới lên phần mộ để tưởng nhớ Nhất Linh. Nhất Linh khi còn sống hút thuốc lá Bastos xanh không ngừng và khoái uống la de. Cậu thanh niên Nguyễn Hữu Nhật đã gặp bà Nguyễn Thị Vinh tại nhà của nữ thi sĩ Trần Thị Tuệ Mai, con cụ Á Nam Trần Tuấn Khải. Một hôm ông Nguyễn Hữu Nhật cùng hẹn với bà Nguyễn Thị Vinh đi thăm mộ Nhất Linh dù đã hứa hôn với một nữ sinh viên trường Luật tên Bình. Vài tuần sau, hai người kết thành đôi lứa, ông Nhật từ hôn với cô Bình và sau này Nguyễn Hữu Nhật chính thức làm chồng bà Nguyễn Thị Vinh cho đến ngày hôm nay mặc dù tuổi tác hai bên chênh lệnh nhau có thể đến trên dưới 20 năm.
Mối nhân duyên này đúng là duyên kỳ ngộ và như có sự chứng giám của một người đã chết. Sự hiện diện của bà Nguyễn Thị Vinh trong TLVĐ hay trong đời sống Nhất Linh hình như chỉ là một?
 
Nguyễn Văn Lục

Đã Một Thời Như Thế... * Nguyễn Văn Lục

Đã Một Thời Như Thế:
Hiện tượng Phạm Công Thiện
 
Ông Phạm Công Thiện vừa mới qua đời ngày 8 tháng 3, 2011 trong một tình trạng thể xác mà theo gia đình “ông mệt dần, bắt đầu nhập định và ra đi nhẹ nhàng”.
Theo nguyện vọng cuối cùng của ông thi sĩ Phạm Công Thiện, ông muốn “không làm tang lễ rườm rà, chỉ hoả thiêu".
Việc ra đi của ông kể như xong một kiếp người! Thật đơn giản và có thể thật nhẹ nhàng thanh thoát đối với ông!
Một cái chết nhẹ nhàng! Thế là xong.
Con người thực và những hành trạng của thi sĩ Phạm Công Thiện
 
Mặc dầu là một cái chết nhẹ nhàng, nhưng cái chết đã được chuẩn bị hay báo trước ngay từ thời trẻ. Ông thường luôn bị nỗi ám ảnh thường trực về cái chết. Ông viết lúc 25 tuổi:
“Mấy thời gian gần đây, tao thường nghĩ đến cái chết của tao. Tao thấy rằng nếu tao chết ngay bây giờ thì tao cũng chẳng hối tiếc một mảy may nào cả. Tao đã sống trọn vẹn với tao từng giây từng phút; tao đã khổ đến điên người, tao đã sướng đến run lên, tao có thể chết được ngay lúc này hay bất cứ lúc nào (...) đối với tao, thời gian chỉ là một hơi khói bốc lên hay một mùi thơm của con gái xông lên nồng ấm vào lúc ba giờ sáng; còn cái chết chỉ là sự sống bị lột truồng ra, như tao hay mầy lột truồng con Nanou hay con Nicole tại xóm St. Denis ở cái thành phố Paris chó má này.”
Trích thư Lettre à un poète Vietnamien avant son suicide trong tuyển tập Tribu, Paris 19-8-1964, trang 52.
Ngay từ năm 1964, theo như phần ghi lại tiểu sử chính thức của gia đình, ông phải ra Nha Trang: sống an dưỡng sau một “cuộc khủng hoảng tinh thần”. Năm 1964, tính theo năm sinh của ông là 1-6-1941, có nghĩa là cuộc khủng hoảng tinh thần này xảy ra năm ông mới 23 tuổi!
Không ai biết rõ mức độ cuộc khủng hoảng tinh thần này thế nào và có giữ vai trò gì trong những sáng tác sau đó chừng một năm của ông không?
Nhưng một điều chắc chắn là những ám ảnh về tự huỷ đã được cấy mầm như ở trên. Lúc ấy ông đã 25 tuổi - hai năm sau cuộc khủng hoảng tinh thần vào năm 1964.
Trong phần cáo phó của gia đình, có phần ghi nhận ông nổi tiếng thần đồng về ngôn ngữ. Năm 15 tuổi đã học thông viết thạo năm ngoại ngữ: Anh, Pháp, Nhật, Hoa, Tây Ban Nha. Ngoài ra còn biết tiếng Sanskrit, La Tinh.
1957, 16 tuổi ông xuất bản cuốn tự điển Anh Ngữ Tinh Âm.
Cộng tác với Bông Lúa, Phổ thông, Bách Khoa, Văn, Giữ thơm Quê mẹ.
Trong dịp ra đi của thi sĩ Phạm Công Thiện, một số bạn bè ông trong giới văn học, nhà thơ, nhà văn, hoạ sĩ và nhất là giới thi sĩ đã lên tiếng nói về ông một lần chót. Trong đó cóTrịnh Cung, Du Tử Lê, Trần vấn Lệ, Viên Linh, v.v...
Những lời chia sẻ đối với người quá vãng phần lớn là những lời thương mến, nhớ thương và nhắc nhở hay hơn thế nữa bày tỏ một sự kính trọng mà bấy lâu khi tác giả còn sống không tiện nói ra.
 
Riêng đối với Phạm Công Thiện thì tiếng nói của những người bạn của ông hầu như cùng chung ý nghĩ: Họ cảm phục một nhân tài - đôi khi còn có vị không cầm được dòng cảm xúc và không ngần ngại gọi Phạm Công Thiện là một thiên tài, một triết gia - một danh xưng mà những người từng đi qua cổng trường học của Platon thường dè dặt đúng mức để chỉ thị ai có thể được gọi là triết gia.
Những tiếng nói ấy có thể phần lớn dành cho người người sống nhiều hơn cho người đã nằm xuống.
Bên cạnh những lời chia sẻ của các văn hữu còn có tiếng nói chính thức của GHPGTN đã khấp báo tổ chức một lễ cầu siêu ở Hải Ngoại- phần khác cũng là dịp để vinh danh một giáo sư đã có công góp nhiều cho Văn Học và triết học Phật giáo.
Trong ban tin “Giáo sư triết học nổi tiếng Phạm Công Thiện qua đời” đăng tải ở nhiều trang phật giáo trên mạng có ghi thêm về học vị của người quá cố, “…Giáo sư, triết gia, thi sỹ, Phật tử Phạm Công Thiện, pháp danh Nguyên Tánh, - Tiến sỹ triết học tại Đại học Sorbonne, Pháp, nguyên Giáo sư triết học tại Đại Học Toulouse,…”
Điều này có thể có sai sót.
Danh sách các vị đỗ tiến sĩ từ 1930 đến nay ở các đại học Pháp, không có người nào tên Phạm Công Thiện. Anh LKH, anh ruột của vợ Phạm Công Thiện, chị LKTH khi được anh LKH hỏi về bằng cấp của Phạm Công Thiện, chị LKTH chỉ cười mà thôi.
Có lẽ người duy nhất có thể có thẩm quyền tinh thần để nói về những gì liên quan đến Phạm Công Thiện là người vợ cũ của Phạm Công Thiện - người đã sống chung với Phạm Công Thiện từ 1971 và có bốn đứa con huyết thống.
Nhưng cái cười đó phải chăng chứng tỏ là việc đỗ tiến sĩ ở Sorbonne chỉ là một lời đồn, hay tự xưng đúng sự thật?
Người ta còn nhớ lại, cách đây cũng nửa thế kỷ, đại học Vạn Hạnh - không câu nệ hình thức và các bó buộc tiêu chuẩn bằng cấp - đã mời một trí thức mới 25 tuổi đời làm khoa trưởng.
Người mời Phạm Công Thiện là thượng toạ Thích Minh Châu, lúc ấy Phạm Công Thiện đang ở Paris-beatnit, để tóc dài rồi sau đó ông cạo trọc đầu, khoác áo cà sa về Sài Gòn dạy học.
Việc nhận lãnh chức khoa trưởng này cũng được Phạm Công Thiện viết cho H. Miller và H.Miller đã trả lời rất ngoại giao như sau:
“Cũng vậy, ở tuổi 25 mà là là khoa trưởng văn chương ở trong xứ sở của ông! Fabuleux! Ausgezeichnet! Wunderbar!Evcharisto!”
Thật phi thường quá, thật khó tin, thật như chuyện huyền thoại !
(Trích thơ của H. Miller đề ngày 8 tháng tám, 1966.)
Đúng là một điều phi thường.
Ở cùng một thời điểm đó, người viết mới ra trường mà phần kiến thức học được hầu như còn ở giai đoạn “VỠ ĐẤT”. Chưa đọc xong một tác phẩm triết học nào cho đến nơi đến chốn như Heidegger, Merleau Ponty, J.P. Sartre; tệ hơn nữa chưa thuộc tên hết một số triết gia thì đã có một người trẻ cùng thế hệ là khoa trưởng khoa văn, viết sách: “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học”. Người ấy đã dõng dạc cho rằng:
“Còn Ivo Andrich và Erich Fromm, bây giờ tao thấy hai tên này còn non nớt, còn về Somerset Maugham, André Gide, Fédérico Schmidt, Aldous Huxley, Hemingway, Jean-René Huguenin, tao thấy chỉ thấy nên liệng vào cầu tiêu công cộng (…)
Còn trường hợp Faulkner, Nikos Kazantsakis, Kafka, Sariyan, Thomas Wolf, Jean Paul Sartre thì tao đã dứt nợ với họ rồi, những tên này chỉ đáng bỏ vào một xó tối ở công cộng, dành riêng cho những mụ đàn bà có chửa, dành riêng cho những đàn bà đọc những lúc sắp sinh con hay những lúc chờ chồng đi xa trở về.”
(Trích trong Tribu, Phạm Công Thiện, trang 53.) Sự cao ngạo đi đến chỗ tột cùng của nó.
Giả dụ cứ cho rằng tôi thông thạo tiếng Anh, tiếng Pháp, giả dụ tôi có đủ điều kiện để có đủ các sách trong kệ sách và giả dụ tôi thật thông minh thì ìt nhất tôi cũng phải để ra 10 năm, không ăn, không ngủ, không làm tình, không cờ bạc may ra mới đọc được một phần ba các tác giả kể trên.
Vậy mà với tuổi đời trên 20, Phạm Công Thiện, thông lầu kiến thức thiên hạ và đã thẳng tay vứt tất cả các tác giả trên vào thùng rác sau khi đọc xong.
Xin ghi lại ở đây của Nguyễn Hưng Quốc trên Blog VOA và được đăng lại trên Diendan theky. Nguyễn Hưng Quốc viết :
Sự ngưỡng mộ của người đọc thường được bộc lộ một cách rất nồng nhiệt và sôi nổi. Biến thành những lời trầm trồ, bàn tán, khen ngợi ở khắp nơi.
Phân tách ai là là những người ngưỡng mộ Phạm Công Thiện trong giới bạn bè của ông? Nguyễn Hưng Quốc đưa ra nhận xét 3 loại người:
- Một học không có gì xuất sắc.
- Hai cách ăn nói hơi tàng tàng.
-Ba ở dơ, tóc tai thì bù xù, quần áo thì bẩn thỉu, người ngợm thì rất hiếm khi được tắm rửa.
Dần dần tôi cố giấu sự say mê của mình, có đọc Phạm Công Thiện thì cũng đọc "lén" ngoài tầm nhìn bạn bè. (...)
Nhân cách của ông có cái gì ngang tàng, phóng đãng, bạt mạt, bay bổng, vượt ra ngoài khuôn phép và quy ước của xã hội, những điều hoàn toàn bị cấm kỵ dưới xã hội chủ nghĩa.
Có lẽ nhận xét của Nguyễn Hưng Quốc phản ánh một phần nào điều mà tôi gọi Là Hiện Tượng Phạm Công Thiện ở đầu bài viết này. Thời thập niên 1960-1970, có rất nhiều hiện tượng xxã hội như hiện tượng Hippies (để tóc dài, mọc quần Jeans, nhạc cuồng loạn, xử dụng ma tuý, chống lại những quy ước xã hội, có nhóm chống lại chiến tranh, xá láng tình dục như ở bên Pháp, bên Đức.
Phạm Công Thiện là một hiện tượng xảy ra trong văn học và triết học. Một thứ hiện tượng phủ nhận của phủ nhận, phủ nhận tuyệt đối, khước từ mọi giá trị đến từ xã hội.
Vì thế viết bài này tôi không đánh giá giá trị các tác phẩm của Phạm Công Thiện, cũng không phê bình những người yêu thích Phạm Công Thiện, vì nó ở ngoài khuôn khổ các giá trị đã được chuẩn nhận. Chẳng hạn khi nói rằng tác phẩm của đại triết gia nọ triết gia kia chỉ đáng vứt vào sọt rác.
Điều đó là một khẳng định vô bằng.
Một hiện tượng là một sự kiện mang tính xã hội khác thường, không giống ai, một thứ độc đáo "chống" lại số đông tập thể về cách sống, cách nghĩ, thái độ và nó thể có gây ra những phản ứng trái chiều hoăc đồng thuận.
Nó rất dễ được giới trẻ chấp nhận như một cách nói thay cho họ, phản ứng ngược chiều với những giá trị, những truyền thống vốn được tôn trọng.
Tiêu biểu như nhà thơ Nguyễn Hữu Chánh, trong Tiền Vệ, sinh năm 1958 trong bài viết" Rực rỡ của tuyệt vong". Trong tưởng tượng của tôi, nếu chọn 10 tác giả của Sài Gòn trước 1975, trong số đó có Phạm Công Thiện. Còn nếu chọn 5, trong số đó vẫn có Phạm Công Thiện. Và nếu chỉ chọn một, thì người đó dĩ nhiên là Phạm Công Thiện.
Nhận xét của nhà thơ trẻ trên cực đoan và võ đoán y hệt sự đánh giá của Phạm Công Thiện về Henri. Miller như sau trong thư gửi bạn thi sĩ của ông như sau:
Chỉ có một người duy nhất tao vẫn kính mến, thương yêu và quý phục đến cùng độ, người ấy là Henri. Miller, năm nay vẫn còn sống, sắp đến 73 tuổi rồi.
Tao cho rằng Henri Miller là thiên tài vĩ đại nhất của cả Đông Phương và Tây Phương trong suốt ba bốn ngàn năm văn hoá nhân loại. Tao cho rằng Henri Miller vĩ đại hơn Lão Tử, Héraclite, Parménide và Empedocle.
Về Henri Miller, tao muốn nói lên lời tiên tri tối hậu rằng từ năm chục năm nữa trở đi thì Henri Miller sẽ ảnh hưởng dữ dội đến nhân loại còn hơn là Jésus Christ ảnh hưởng đến Tây Phương hay Phật Thích Ca ảnh hưởng đến Đông Phương... Tao mong mày sống dai và sẽ thấy những gì tao báo trước hôm nay.
Nguyễn Văn Lục
Thư từ trao đổi với Henry Miller
Có lẽ “người duy nhất” được Phạm Công Thiện kính nể và tôn sùng là Henry Miller. Tôi nghĩ rằng có thể từ chỗ gặp Henry Miller ở California, rồi có ý định muốn dịch tác phẩm của Henry Miller, sau đó Phạm Công Thiện liên lạc thư từ với Henry Miller. Hai người - một trẻ, một già - đã trở thành những người bạn tâm tình kéo dài cả hơn chục năm.
Lúc đầu, Henry Miller rất trân trọng Phạm Công Thiện, coi Phạm Công Thiện như một “đại sư”, một Rimbaud Việt Nam (Rimbaud là một thần đồng về thơ của Pháp, từ lúc 17 tuổi). Sự cảm mến và trân trọng một người trẻ tuổi đi đến chổ Henry Miller sẵn sàng giúp đỡ vật chất cho Phạm Công Thiện. Phạm Công Thiện đã trân trọng giữ lại những thư của Henry Miller gửi cho ông và đã cho in trong tập “Tribu”, dầy hơn 160 trang (Impression: COREP Toulouse et Imprimerie 34 pour le planches intérieures et la couverture ISSN: 0758-8100. Numéro publié avec la collaboration du Centre de Promotion Cuturelle L’Université de Toulouse-LeMirail… Dépôt legal: 1er trimester 1984.) Tuy nhiên đây chỉ là dấu tích trao đổi một phía. Phạm Công Thiện không công bố thư của ông gởi cho Henry Miller trong tập “Tribu”. Đó là một điều thật đáng tiếc, vì sau này, không ai biết thực sự Phạm Công Thiện đã viết gì cho Henry Miller. Cùng lắm chỉ biết được gián tiếp qua những lá thư ngắn của Henry Miller trả lời cho Phạm Công Thiện.
Xin được trích dẫn một số trong những lá thư ấy hiếm hoi có giá trị lịch sử văn học này. Một lá thư của Henry Miller đề ngày 28 tháng 9 1972 (thời gian Phạm Công Thiện đã có gia đình và ở bên Pháp chưa có công ăn việc làm); Henry Miller đã viết phản bác lại ý kiến của Phạm Công Thiện phê bình Durell (Durell là bạn thân của Miller) như sau:
Tôi muốn nói đến việc ông phê bình Durell, nhưng buộc lòng tôi phải nói với ông rằng không thể nào cho bất cứ ai nếu không được nuôi dạy trong dòng tiếng Anh lại có thể thưởng thức và đánh giá trọn vẹn đầy đủ về ông ta. Ông ta là thứ đại sư của tiếng Anh (“master of English”). Còn về những công trình sáng tác của ông ta, nó đã đem lại cho chúng ta điều gì và có ý nghĩa gì thì lại là một câu hỏi khác. Đối với tôi, ông đã hoàn toàn nhầm lẫn khi ông nói rằng ông ta thiếu lửa “Fire”. Tôi nghĩ rằng trong “Quartetr” thì tràn đầy lửa, và phải chăng đó lại là chính cái điểm yếu của “Quartet”, nếu ông muốn tìm một điểm yếu của nó.
 
Nguyễn Văn Lục

Đã Một Thời Như Thế: Hiện Tượng Phạm Công Thiện - Nguyễn Văn Lục

 
Ông Phạm Công Thiện vừa mới qua đời ngày 8 tháng 3, 2011 trong một tình trạng thể xác mà theo gia đình “ông mệt dần, bắt đầu nhập định và ra đi nhẹ nhàng”.
Theo nguyện vọng cuối cùng của ông thi sĩ Phạm Công Thiện, ông muốn “không làm tang lễ rườm rà, chỉ hoả thiêu".
Việc ra đi của ông kể như xong một kiếp người! Thật đơn giản và có thể thật nhẹ nhàng thanh thoát đối với ông!
Một cái chết nhẹ nhàng! Thế là xong.
Con người thực và những hành trạng của thi sĩ Phạm Công Thiện
 
Mặc dầu là một cái chết nhẹ nhàng, nhưng cái chết đã được chuẩn bị hay báo trước ngay từ thời trẻ. Ông thường luôn bị nỗi ám ảnh thường trực về cái chết. Ông viết lúc 25 tuổi:
“Mấy thời gian gần đây, tao thường nghĩ đến cái chết của tao. Tao thấy rằng nếu tao chết ngay bây giờ thì tao cũng chẳng hối tiếc một mảy may nào cả. Tao đã sống trọn vẹn với tao từng giây từng phút; tao đã khổ đến điên người, tao đã sướng đến run lên, tao có thể chết được ngay lúc này hay bất cứ lúc nào (...) đối với tao, thời gian chỉ là một hơi khói bốc lên hay một mùi thơm của con gái xông lên nồng ấm vào lúc ba giờ sáng; còn cái chết chỉ là sự sống bị lột truồng ra, như tao hay mầy lột truồng con Nanou hay con Nicole tại xóm St. Denis ở cái thành phố Paris chó má này.”
Trích thư Lettre à un poète Vietnamien avant son suicide trong tuyển tập Tribu, Paris 19-8-1964, trang 52.
Ngay từ năm 1964, theo như phần ghi lại tiểu sử chính thức của gia đình, ông phải ra Nha Trang: sống an dưỡng sau một “cuộc khủng hoảng tinh thần”. Năm 1964, tính theo năm sinh của ông là 1-6-1941, có nghĩa là cuộc khủng hoảng tinh thần này xảy ra năm ông mới 23 tuổi!
Không ai biết rõ mức độ cuộc khủng hoảng tinh thần này thế nào và có giữ vai trò gì trong những sáng tác sau đó chừng một năm của ông không?
Nhưng một điều chắc chắn là những ám ảnh về tự huỷ đã được cấy mầm như ở trên. Lúc ấy ông đã 25 tuổi - hai năm sau cuộc khủng hoảng tinh thần vào năm 1964.
Trong phần cáo phó của gia đình, có phần ghi nhận ông nổi tiếng thần đồng về ngôn ngữ. Năm 15 tuổi đã học thông viết thạo năm ngoại ngữ: Anh, Pháp, Nhật, Hoa, Tây Ban Nha. Ngoài ra còn biết tiếng Sanskrit, La Tinh.
1957, 16 tuổi ông xuất bản cuốn tự điển Anh Ngữ Tinh Âm.
Cộng tác với Bông Lúa, Phổ thông, Bách Khoa, Văn, Giữ thơm Quê mẹ.
Trong dịp ra đi của thi sĩ Phạm Công Thiện, một số bạn bè ông trong giới văn học, nhà thơ, nhà văn, hoạ sĩ và nhất là giới thi sĩ đã lên tiếng nói về ông một lần chót. Trong đó cóTrịnh Cung, Du Tử Lê, Trần vấn Lệ, Viên Linh, v.v...
Những lời chia sẻ đối với người quá vãng phần lớn là những lời thương mến, nhớ thương và nhắc nhở hay hơn thế nữa bày tỏ một sự kính trọng mà bấy lâu khi tác giả còn sống không tiện nói ra.
 
Riêng đối với Phạm Công Thiện thì tiếng nói của những người bạn của ông hầu như cùng chung ý nghĩ: Họ cảm phục một nhân tài - đôi khi còn có vị không cầm được dòng cảm xúc và không ngần ngại gọi Phạm Công Thiện là một thiên tài, một triết gia - một danh xưng mà những người từng đi qua cổng trường học của Platon thường dè dặt đúng mức để chỉ thị ai có thể được gọi là triết gia.
Những tiếng nói ấy có thể phần lớn dành cho người người sống nhiều hơn cho người đã nằm xuống.
Bên cạnh những lời chia sẻ của các văn hữu còn có tiếng nói chính thức của GHPGTN đã khấp báo tổ chức một lễ cầu siêu ở Hải Ngoại- phần khác cũng là dịp để vinh danh một giáo sư đã có công góp nhiều cho Văn Học và triết học Phật giáo.
Trong ban tin “Giáo sư triết học nổi tiếng Phạm Công Thiện qua đời” đăng tải ở nhiều trang phật giáo trên mạng có ghi thêm về học vị của người quá cố, “…Giáo sư, triết gia, thi sỹ, Phật tử Phạm Công Thiện, pháp danh Nguyên Tánh, - Tiến sỹ triết học tại Đại học Sorbonne, Pháp, nguyên Giáo sư triết học tại Đại Học Toulouse,…”
Điều này có thể có sai sót.
Danh sách các vị đỗ tiến sĩ từ 1930 đến nay ở các đại học Pháp, không có người nào tên Phạm Công Thiện. Anh LKH, anh ruột của vợ Phạm Công Thiện, chị LKTH khi được anh LKH hỏi về bằng cấp của Phạm Công Thiện, chị LKTH chỉ cười mà thôi.
Có lẽ người duy nhất có thể có thẩm quyền tinh thần để nói về những gì liên quan đến Phạm Công Thiện là người vợ cũ của Phạm Công Thiện - người đã sống chung với Phạm Công Thiện từ 1971 và có bốn đứa con huyết thống.
Nhưng cái cười đó phải chăng chứng tỏ là việc đỗ tiến sĩ ở Sorbonne chỉ là một lời đồn, hay tự xưng đúng sự thật?
Người ta còn nhớ lại, cách đây cũng nửa thế kỷ, đại học Vạn Hạnh - không câu nệ hình thức và các bó buộc tiêu chuẩn bằng cấp - đã mời một trí thức mới 25 tuổi đời làm khoa trưởng.
Người mời Phạm Công Thiện là thượng toạ Thích Minh Châu, lúc ấy Phạm Công Thiện đang ở Paris-beatnit, để tóc dài rồi sau đó ông cạo trọc đầu, khoác áo cà sa về Sài Gòn dạy học.
Việc nhận lãnh chức khoa trưởng này cũng được Phạm Công Thiện viết cho H. Miller và H.Miller đã trả lời rất ngoại giao như sau:
“Cũng vậy, ở tuổi 25 mà là là khoa trưởng văn chương ở trong xứ sở của ông! Fabuleux! Ausgezeichnet! Wunderbar!Evcharisto!”
Thật phi thường quá, thật khó tin, thật như chuyện huyền thoại !
(Trích thơ của H. Miller đề ngày 8 tháng tám, 1966.)
Đúng là một điều phi thường.
Ở cùng một thời điểm đó, người viết mới ra trường mà phần kiến thức học được hầu như còn ở giai đoạn “VỠ ĐẤT”. Chưa đọc xong một tác phẩm triết học nào cho đến nơi đến chốn như Heidegger, Merleau Ponty, J.P. Sartre; tệ hơn nữa chưa thuộc tên hết một số triết gia thì đã có một người trẻ cùng thế hệ là khoa trưởng khoa văn, viết sách: “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học”. Người ấy đã dõng dạc cho rằng:
“Còn Ivo Andrich và Erich Fromm, bây giờ tao thấy hai tên này còn non nớt, còn về Somerset Maugham, André Gide, Fédérico Schmidt, Aldous Huxley, Hemingway, Jean-René Huguenin, tao thấy chỉ thấy nên liệng vào cầu tiêu công cộng (…)
Còn trường hợp Faulkner, Nikos Kazantsakis, Kafka, Sariyan, Thomas Wolf, Jean Paul Sartre thì tao đã dứt nợ với họ rồi, những tên này chỉ đáng bỏ vào một xó tối ở công cộng, dành riêng cho những mụ đàn bà có chửa, dành riêng cho những đàn bà đọc những lúc sắp sinh con hay những lúc chờ chồng đi xa trở về.”
(Trích trong Tribu, Phạm Công Thiện, trang 53.) Sự cao ngạo đi đến chỗ tột cùng của nó.
Giả dụ cứ cho rằng tôi thông thạo tiếng Anh, tiếng Pháp, giả dụ tôi có đủ điều kiện để có đủ các sách trong kệ sách và giả dụ tôi thật thông minh thì ìt nhất tôi cũng phải để ra 10 năm, không ăn, không ngủ, không làm tình, không cờ bạc may ra mới đọc được một phần ba các tác giả kể trên.
Vậy mà với tuổi đời trên 20, Phạm Công Thiện, thông lầu kiến thức thiên hạ và đã thẳng tay vứt tất cả các tác giả trên vào thùng rác sau khi đọc xong.
Xin ghi lại ở đây của Nguyễn Hưng Quốc trên Blog VOA và được đăng lại trên Diendan theky. Nguyễn Hưng Quốc viết :
Sự ngưỡng mộ của người đọc thường được bộc lộ một cách rất nồng nhiệt và sôi nổi. Biến thành những lời trầm trồ, bàn tán, khen ngợi ở khắp nơi.
Phân tách ai là là những người ngưỡng mộ Phạm Công Thiện trong giới bạn bè của ông? Nguyễn Hưng Quốc đưa ra nhận xét 3 loại người:
- Một học không có gì xuất sắc.
- Hai cách ăn nói hơi tàng tàng.
-Ba ở dơ, tóc tai thì bù xù, quần áo thì bẩn thỉu, người ngợm thì rất hiếm khi được tắm rửa.
Dần dần tôi cố giấu sự say mê của mình, có đọc Phạm Công Thiện thì cũng đọc "lén" ngoài tầm nhìn bạn bè. (...)
Nhân cách của ông có cái gì ngang tàng, phóng đãng, bạt mạt, bay bổng, vượt ra ngoài khuôn phép và quy ước của xã hội, những điều hoàn toàn bị cấm kỵ dưới xã hội chủ nghĩa.
Có lẽ nhận xét của Nguyễn Hưng Quốc phản ánh một phần nào điều mà tôi gọi Là Hiện Tượng Phạm Công Thiện ở đầu bài viết này. Thời thập niên 1960-1970, có rất nhiều hiện tượng xxã hội như hiện tượng Hippies (để tóc dài, mọc quần Jeans, nhạc cuồng loạn, xử dụng ma tuý, chống lại những quy ước xã hội, có nhóm chống lại chiến tranh, xá láng tình dục như ở bên Pháp, bên Đức.
Phạm Công Thiện là một hiện tượng xảy ra trong văn học và triết học. Một thứ hiện tượng phủ nhận của phủ nhận, phủ nhận tuyệt đối, khước từ mọi giá trị đến từ xã hội.
Vì thế viết bài này tôi không đánh giá giá trị các tác phẩm của Phạm Công Thiện, cũng không phê bình những người yêu thích Phạm Công Thiện, vì nó ở ngoài khuôn khổ các giá trị đã được chuẩn nhận. Chẳng hạn khi nói rằng tác phẩm của đại triết gia nọ triết gia kia chỉ đáng vứt vào sọt rác.
Điều đó là một khẳng định vô bằng.
Một hiện tượng là một sự kiện mang tính xã hội khác thường, không giống ai, một thứ độc đáo "chống" lại số đông tập thể về cách sống, cách nghĩ, thái độ và nó thể có gây ra những phản ứng trái chiều hoăc đồng thuận.
Nó rất dễ được giới trẻ chấp nhận như một cách nói thay cho họ, phản ứng ngược chiều với những giá trị, những truyền thống vốn được tôn trọng.
Tiêu biểu như nhà thơ Nguyễn Hữu Chánh, trong Tiền Vệ, sinh năm 1958 trong bài viết" Rực rỡ của tuyệt vong". Trong tưởng tượng của tôi, nếu chọn 10 tác giả của Sài Gòn trước 1975, trong số đó có Phạm Công Thiện. Còn nếu chọn 5, trong số đó vẫn có Phạm Công Thiện. Và nếu chỉ chọn một, thì người đó dĩ nhiên là Phạm Công Thiện.
Nhận xét của nhà thơ trẻ trên cực đoan và võ đoán y hệt sự đánh giá của Phạm Công Thiện về Henri. Miller như sau trong thư gửi bạn thi sĩ của ông như sau:
Chỉ có một người duy nhất tao vẫn kính mến, thương yêu và quý phục đến cùng độ, người ấy là Henri. Miller, năm nay vẫn còn sống, sắp đến 73 tuổi rồi.
Tao cho rằng Henri Miller là thiên tài vĩ đại nhất của cả Đông Phương và Tây Phương trong suốt ba bốn ngàn năm văn hoá nhân loại. Tao cho rằng Henri Miller vĩ đại hơn Lão Tử, Héraclite, Parménide và Empedocle.
Về Henri Miller, tao muốn nói lên lời tiên tri tối hậu rằng từ năm chục năm nữa trở đi thì Henri Miller sẽ ảnh hưởng dữ dội đến nhân loại còn hơn là Jésus Christ ảnh hưởng đến Tây Phương hay Phật Thích Ca ảnh hưởng đến Đông Phương... Tao mong mày sống dai và sẽ thấy những gì tao báo trước hôm nay.
Nguyễn Văn Lục
Thư từ trao đổi với Henry Miller
Có lẽ “người duy nhất” được Phạm Công Thiện kính nể và tôn sùng là Henry Miller. Tôi nghĩ rằng có thể từ chỗ gặp Henry Miller ở California, rồi có ý định muốn dịch tác phẩm của Henry Miller, sau đó Phạm Công Thiện liên lạc thư từ với Henry Miller. Hai người - một trẻ, một già - đã trở thành những người bạn tâm tình kéo dài cả hơn chục năm.
Lúc đầu, Henry Miller rất trân trọng Phạm Công Thiện, coi Phạm Công Thiện như một “đại sư”, một Rimbaud Việt Nam (Rimbaud là một thần đồng về thơ của Pháp, từ lúc 17 tuổi). Sự cảm mến và trân trọng một người trẻ tuổi đi đến chổ Henry Miller sẵn sàng giúp đỡ vật chất cho Phạm Công Thiện. Phạm Công Thiện đã trân trọng giữ lại những thư của Henry Miller gửi cho ông và đã cho in trong tập “Tribu”, dầy hơn 160 trang (Impression: COREP Toulouse et Imprimerie 34 pour le planches intérieures et la couverture ISSN: 0758-8100. Numéro publié avec la collaboration du Centre de Promotion Cuturelle L’Université de Toulouse-LeMirail… Dépôt legal: 1er trimester 1984.) Tuy nhiên đây chỉ là dấu tích trao đổi một phía. Phạm Công Thiện không công bố thư của ông gởi cho Henry Miller trong tập “Tribu”. Đó là một điều thật đáng tiếc, vì sau này, không ai biết thực sự Phạm Công Thiện đã viết gì cho Henry Miller. Cùng lắm chỉ biết được gián tiếp qua những lá thư ngắn của Henry Miller trả lời cho Phạm Công Thiện.
Xin được trích dẫn một số trong những lá thư ấy hiếm hoi có giá trị lịch sử văn học này. Một lá thư của Henry Miller đề ngày 28 tháng 9 1972 (thời gian Phạm Công Thiện đã có gia đình và ở bên Pháp chưa có công ăn việc làm); Henry Miller đã viết phản bác lại ý kiến của Phạm Công Thiện phê bình Durell (Durell là bạn thân của Miller) như sau:
Tôi muốn nói đến việc ông phê bình Durell, nhưng buộc lòng tôi phải nói với ông rằng không thể nào cho bất cứ ai nếu không được nuôi dạy trong dòng tiếng Anh lại có thể thưởng thức và đánh giá trọn vẹn đầy đủ về ông ta. Ông ta là thứ đại sư của tiếng Anh (“master of English”). Còn về những công trình sáng tác của ông ta, nó đã đem lại cho chúng ta điều gì và có ý nghĩa gì thì lại là một câu hỏi khác. Đối với tôi, ông đã hoàn toàn nhầm lẫn khi ông nói rằng ông ta thiếu lửa “Fire”. Tôi nghĩ rằng trong “Quartetr” thì tràn đầy lửa, và phải chăng đó lại là chính cái điểm yếu của “Quartet”, nếu ông muốn tìm một điểm yếu của nó.
 
Nguyễn Văn Lục

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013