Thi Ảnh

Nguyễn Lệ Uyên

Tháng Ngày Lầy Lội - Nguyễn Lệ Uyên

Nguyen Le Uyen Gốc

Tôi bị giam giữ trong căn phòng bốn ngày liền, không bị trói hai tay như trước, cũng không thấy ai kêu lên hỏi han điều gì nữa. Duy nhất có những du kích thay phiên nhau canh gát, nhưng cũng hiếm khi thấy họ lảng vảng trước cửa phòng, trừ những lần họ đưa cơm tới. Ngay cả nhu cầu vệ sinh cá nhân hàng ngày dường như họ cũng quên bẵng. Tôi cũng không buồn yêu cầu họ mang đến dụng cụ vệ sinh, cố gắng kềm chế và chỉ khi nào không thể nhịn được nữa mới phải làm công việc không mấy lịch sự như cái ngày đầu tiên tôi bị giam trong căn phòng này. Mỗi ngày tôi chỉ nhận được chén cơm nóng nguội thất thường với mẫu cá khô bốc mùi, hay cục lương khô sản xuất từ Trung quốc. Nước thì chứa trong chiếc ấm nhôm méo mó, ám đen khói. Ăn uống với tôi, bây giờ không còn là điều cần thiết, khi mà không biết được số phận của mình sẽ ra sao.
Trong căn phòng, những người bạn thân thiết, san sẻ cho nhau lúc này là bầy muỗi. Chúng tha hồ bâu bám và đốt. Những tiếng vo ve khó chịu ban đầu, giờ nghe đã quen tai. Để chống lại chúng, tôi dùng những tờ giấy báo thắt thành hình chóp chụp kín xuống tận vai, khoét hai lỗ nhỏ ở hai mắt. Hai tay và chân thọc vào những hộp giấy. Dưới lưng và trên ngực là những tấm bìa carton. Dẫu không thể nhìn thấy được chính mình, nhưng với cách thức đó hẳn tôi giống một tên robot? Những khi nằm ngửa, nhìn lên phía trên, dàn rui kèo và mái tôn dính chặt như bầu trời sà thấp, sắp ôm choàng lấy tôi.
Những lúc hoang mang, tôi thường nghĩ về Hà. Không biết giờ này nàng ở đâu, làm gì? Có thể nàng đã xuống tàu cùng gia đình. Có thể nàng cũng trong tình cảnh như tôi bây giờ, cũng nháo nhác về số phận người cha và anh Tuyên. Cha Hà là công chức cao cấp ở Bộ Thông Tin Chiêu Hồi. Trong những ngày cuối cùng ở mặt trận Thành Sơn, Phan Rang tôi về Sài Gòn gặp ông, nói: “Tình hình có vẻ đen tối quá rồi. Bác liệu tìm cách đưa gia đình...”. Không đợi hết câu, ông gạt phăng: “Tuyên còn ngoài mặt trận, không biết sống chết thế nào, bác không thể bỏ nó. Vả lại, không thể trốn chạy một cách hèn hạ như vậy được. Bác biết chúng sẽ không tha thứ cho đối phương, nhất là những người như bác. Nhưng nếu có chết thì cùng chết, ngẩng cao đầu mà chết”. Một ông già dân khu 5, từng sống và chứng kiến trọn vẹn cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền của Việt Minh năm 45 hẳn ông sẽ biết mình cần phải làm gì hơn là lời khuyên của đứa con nít 25 năm trước chưa được sinh ra. Tôi chào ông bước ra cổng. Hà mở cửa. Trông Hà xanh xao vì mất ngủ. Tôi nói: “Em có thể đi loanh quanh đâu đó với anh một lúc không?”. Hà gật đầu. Từ bà Huyện Thanh Quan, chúng tôi đi bộ lên La Pagode. Hai ly cà phê trên bàn kính nhìn chúng tôi. Còn chúng tôi thì nhìn ra ngoài đường. Xe cộ vẫn đều đặn ngược xuôi. Chiến tranh không có mặt trong thành phố. Mọi thứ cứ bình thản trôi đi hay ít ra sự bình thản kia là vòng quay héo mòn, nẫu ruột được giấu kín bên trong không thể nhìn thấy?
“Tuyên bây giờ ở đâu?”. Hà xoay ly cà phê có bụi nước bám ngoài thành ly, buồn bã: “Thư cuối cùng ảnh gửi về là ở Nha Trang, Lần gọi điện cuối cùng về cho ba hình như ở cầu gì đó giữa Cam Ranh và Phan Rang. Em nhớ rồi cầu Du Long. Mẹ em lo quá, khóc suốt”. Tôi bóp nhẹ bàn tay mảnh mai của Hà: “Em chớ lo, anh hiểu Tuyên. Nó là đứa giỏi xoay trở trong những lúc bất trắc. Sống với nó từ nhỏ anh biết”. Hà ngước nhìn tôi với bộ mặt mệt mỏi, thất vọng: “Nhưng tình hình ngày càng đen tối. Sư đoàn nào cũng tan tác cả. Còn Liên đoàn của ảnh hết tăng viện cho chiến trường này lại tăng viện cho chiến trường khác. Ảnh mà có mênh hệ gì thì mẹ em không sống nổi”. Tôi an ủi: “Em chớ nghĩ quẩn. Tình huống xấu nhất là tù binh, mà tù binh thì không thể mang ra xử bắn được. Công ước quốc tế sẽ không buông tha cho những hành vi dã man kia đâu”. Hà bật khóc: “Cái quốc tế mà anh nói đó, lần lượt quay lưng lại với chúng ta khi quyền lợi không còn nữa. Đúng là bi thảm. Một đất nước bi thảm, một dân tộc bi thảm...”
Tiếng mở khoá lách cách cắt đứt dòng hồi tưởng. Cửa mở toang. Một chút ánh sáng yếu ớt hắt vào. Tôi bật dậy. Người du kích lùi lại vài bước, kêu lên khi nhìn thấy lớp bao giấy trên đầu, tay chân tôi:
-Cái gì vậy? Ông làm cái gì vậy?
Vừa tháo lớp giấy bao, tôi giải thích:
-Chống muỗi.
-Ngộ quá héng. Có kiểu chống muỗi thiệt ngộ! – Anh ta nói với giọng hết sức trẻ con và ngạc nhiên như chưa hề trông thấy bao giờ.
Một lát sau:
-Ông rửa mặt mũi, ăn tạm chút lương khô rồi chúng tôi đưa ông lên C.
Tôi không hiểu C là nơi nào, nhưng chắc chắn không phải là chốn bình yên ban đầu, như căn nhà trọ, như ở băng ghế giảng đường. Tôi không buồn hỏi tiếp, bước tới phía khạp nước người du kích dẫn lại, dùng chiếc lon rỉ sét múc từng lon nhỏ. Quấn áo bốc mùi. Nhưng muốn tắm thì không thể, biết vậy nên tôi dùng chiếc khăn tay nhúng nước kỳ cọ khắp người.
Người du kích khoát súng trên vai, miệng phì phèo điếu thuốc nhìn tôi không hề hối thúc. Tôi chậm rãi lau xoáy từng kẽ tay, vành tai... mát mẻ và sảng khoái đến lạ kỳ. Xong việc, tôi nói:
-Xong rồi.
-Ăn đi rồi đi cho sớm – Nói và người du kích thò tay vào túi áo lấy mẫu lương khô ném tung về phía tôi. May mà tôi chụp nắm kịp, nếu không thì khẩu phần ăn trong ngày bị rơi xuống vũng bùn đọng gần khạp nước. Tôi cắn từng miếng nhỏ, nhai mà không nghe thấy mùi vị gì nữa.
Chờ tôi ăn xong, người du kích dẫn tôi ra trước, kêu tôi đứng đợi, còn anh ta thì vào căn phòng phía bên trái, tôi có đủ thời gian để quan sát: hình như đây là một công sở địa phương. Tấm bảng trên nóc đã được sơn lại màu đỏ chót và vẽ dòng chữ Ban quân quản Thạnh Lộc, nét chữ yếu ớt vội vã. Các dãy nhà dân dọc hai bên đường cửa hé mở ngập ngừng. Người qua lại thưa thớt. Chỉ có sự ồn ồn ào từ những chiếc loa sắt treo đâu đó trên cao, nhưng giờ này cũng im bặt.
Đợi một lúc, anh ta trở ra, trên tay cầm mẫu giấy gấp làm tư, vẫy vẫy “đi”. Họ không trói tôi như mấy lần di chuyển trước, hai tay được tự do vung vẩy nên cũng dễ chịu đôi chút. Chúng tôi vòng vèo qua khu nhà dân, các hiệu buôn bán nhỏ đến con lạch có chiếc cầu khỉ. Khi đôi chân chạm lên thân dừa bắc ngang tôi mới biết mỗi một chân mang một loại dép quai nhựa khác nhau, như một nỗi sợ hãi, lúng túng đeo bám bên người.
Đi khoảng mươi phút, chúng tôi đến một bến đò, ở đó đã vài người đứng chờ sẵn: hai người phụ nữ, ba người đàn ông. Tới nơi, tôi nhận ra một trong ba người đàn ông kia là trưởng ty hành chánh ở tỉnh K. Tôi biết anh ta khi còn sinh hoạt trong nhóm du ca thời sinh viên. Anh ta dân miền Trung, hay cãi, cố gắng tận dụng mọi lý lẽ để cãi cho bằng được những vấn đề vô lý nhất. Giờ tôi chắc mẩm những người này đang cùng chung số phận với tôi. Tôi gật đầu chào anh ta. Anh ta chào lại tôi bằng cái nhếch môi nửa như cười nửa mếu, thật khôi hài.
Chúng tôi xuống khoang thuyền nhỏ có gắn đuôi tôm, chạy xuôi dòng, men theo một con sông rộng, hai bên là dừa nước và những cây bần de nhánh tận ra ngoài. Nếu bình thường thì đây có thể gọi là cuộc dã ngoại thú vị. Nắng hiu nhẹ. Gió từ mặt sông đưa hơi nước lên, mát. Tôi ngồi sát bên người phụ nữ, da ngăm đen nhưng rất có duyên nhìn từ đôi mắt, chiếc mũi thẳng và chiếc cằm chẻ, môi trái tim. Hai người du kích ôm súng, một đằng mũi, một sau lái và tiếng máy nổ xì xạch, không khó để tôi bắt chuyện:
-Tôi tên Sơn, giáo sư trung học, dạy ở T. Còn chị?
-Ty nội an. Hoa, Diệu Hoa.
-Chị biết anh bạn ngồi sau lưng bên Ty Hành chánh?
-Tôi học sau ảnh hai khoá.
-Chị mới ra trường năm trước?
-Vâng.
-Chúng tới nhà bắt chị?
-Tôi tới trình diện ở Ban Quân quản theo lệnh phát trên loa chiếc xe jeep chạy vòng vòng quanh phố. Họ giữ tôi hai ngày rồi giờ thì bị đưa đi cùng với các anh. Anh Hoà cũng bị bắt cùng một lúc.
Hoà từ phía sau lưng Diệu Hoa chồm tới:
-Cậu nhớ thằng Vinh không? Vinh ở Luật bị động viên khoá 2/69. Nó chết rồi.
-Sao, anh bảo sao?
-Nó rút súng bắn vào đầu khi ông Dương Văn Minh đọc đến câu cuối cùng lệnh đầu hàng. Câu nói nó để lại cho mọi người đứng gần đó là “quân đốn mạt, bán nước!”.
Cả người tôi lạnh toát như vừa ngâm trong nước đá. Thành chết, Vinh chết. Cả hai chọn lựa cái chết giống nhau, từ sự thúc bách không thể đội nỗi ô nhục trên đầu. Và cả hai, đều là bạn chúng tôi, mặc dù không thân nhau lắm.
Không khí nặng nề bỗng bao trùm khắp mặt sông. Âm thanh xành xạch phát ra từ chiếc máy đuôi tôm nghe như những tràng đạn dài đang lia vào đầu chúng tôi, những tên phản động, ngoan cố? Tôi tưởng tượng cảnh Vinh rút súng ra, bóp cò một cách thản nhiên. Anh ngã xuống bên vũng máu. Hình ảnh đó của Thành của Vinh trong thoáng chốc là danh dự, tổ quốc theo đúng nghĩa, nhưng có cần thiết phải như vậy trong hoàn cảnh này hay không? Chọn lựa cái chết như vậy sẽ giải quyết được gì? Một sự phản kháng tiêu cực khi những bất trắc vẫn đang lù lù ở trước mặt hay đó là hành động chứng minh cho tính chất anh hùng của mình? Mà anh hùng nỗi gì với cách chết như vậy? Những ý nghĩ lộn xộn nhảy múa trong đầu khiến tôi tưởng tượng ra cái chết của Vinh bi thảm và đau đớn không cùng hay là thanh thản nhanh chóng như Thành? Những cái chết cuối cùng hay sẽ còn tiếp diễn nữa, thật phi lý của hàng triệu con người trong cuộc tranh giành quyền lực man rợ này.
***
Tôi không ngờ mình lại được tiếp đãi khá tử tế kể từ sau ngày bị hai du kích đến bắt. Sau khi tra hỏi lý lịch lần cuối cùng ở Ban quân quản tỉnh L. họ đưa tôi đến Ty Giáo dục làm công việc ghi chép, đánh máy văn thư. Chúng tôi ở tạm thời trong thư viện Ty. Trong phòng còn có ba người khác là dân miền Bắc đi B. Trước họ cũng là giáo viên, bị động viên tập thể đưa vào Nam chuẩn bị cho ngày này. Tất cả đều còn trẻ, học xong lớp 10 thêm hai năm sư phạm thành thầy giáo? Nghe họ kể, tôi hơi ngạc nhiên đôi chút về cách đào tạo ở miền Bắc, trái với những gì tôi đọc trước đó trong quyển Mười năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc của linh mục Trương Bá Cần. Qua những kiến thức và cách nói năng rào trước đón sau, tôi phần nào có thể đoán ra cái xã hội mà ông Cần mô tả chỉ là vịt. Trước mắt tôi là những minh chứng trái ngược hẳn với những lời tụng ca, những câu tuyên truyền dối trá về một thiên đường, trong đó người dân sống hạnh phúc, no ấm khi, những lúc rỗi rảnh, họ nhờ tôi tìm mua cho cái đài na-ti-ôn-nan; buổi sáng dẫn họ ra phố uống cà phê lại kêu ly cà-phê-đá-chanh? Họ bảo ở miền Bắc đá sản xuất đầy, dùng không hết mang ra sân kho phơi để xuất khẩu sang các nước XHCN. Nhưng sau đó, họ lại tỏ ra ngạc nhiên với những tô hủ tíu Nam Vang, họ ngơ ngác trước những sạp vải bắt đầu hé cửa mở và những chiếc xe máy chạy trong đường phố...tất cả đều thật mới lạ đối với họ.
Điều làm tôi đau lòng nhất là buổi sáng nọ, khi còn đang nằm trong mùng, anh giáo viên có tên Khoa gọi dậy:
-Nào dậy đi đồng chí, dậy uống chè Bắc.
Tôi lồm cồm bò dậy cùng với tiếng rít xòng xọc vang trong nõ tre. Cả ba đang ngồi trên sàn, vây quanh ấm nước bốc khói và bình trà, khói thuốc lào mù mịt. Vệ sinh xong, tôi bước vào, điều kinh khủng nhất thiếu chút nữa tôi văng ra tiếng chửi thề, là bộ Encyclopédie chẳng những bị lôi ra làm đòn kê đít mà một quyển khác bị xé ra gần hết để thay củi nấu nước! Tôi choáng váng, tối sầm mặt mũi. Cả đời mơ ước chưa mua nổi bộ bách khoa toàn thư này. Vậy mà những người làm công tác giáo dục của chế độ ưu việt kia lại xé rời từng trang nhóm lửa! Tôi lảo đảo ngồi xuống, lòng thắt lại:
-Các anh không biết bộ Bách khoa toàn thư nó quý đến chừng nào sao? Tôi không nói đến giá trị là cả một đống tiền mà là cả một kho tàng tri thức, sao các anh lại nỡ đem đốt nó đi?
Tiếng nõ rít lên liên tục trong khi tôi nói, nên có vẻ như ba người không thể nghe rõ ràng, một trong số họ hỏi lại?
-Cái gì? Đồng chí vừa nói đốt cái gì?
Tôi lặp lại câu than thở khi nãy. Họ cười khẩy:
-Những thứ rác rưởi, đồi truỵ chỉ đáng ném vào sọt rác!
-Không thể như thế được. Ngay cả Tư bản luận của Karl Marx trong này chúng tôi vẫn đọc, đọc công khai, được mang ra dạy trong các giảng khoá ở Đại học Văn khoa kia mà. Chúng tôi cũng được phép vào thư viện Quốc gia đọc các tạp chí ngoài Bắc để làm luận văn tốt nghiệp kia mà. Kho tàng văn hoá, tri thức là của chung của nhân loại, chớ không riêng một cá nhân hay một quốc gia, chế độ nào.
-Những thứ sản xuất từ các nước đế quốc đều là rác rưởi, cặn bã trong thế giới tiến bộ. Nó là rào cản, cần phải đánh đổ, phải xoá sạch.
-Các anh không thể suy nghĩ và hành động một chiều như vậy. Văn minh và văn hoá của nhân loại là tài sản chung.
-Đầu óc đồng chí không tiến bộ được. Cuộc cách mạng hoàn toàn thắng lợi mang lại độc lập, tự do và chủ quyền cho cả đất nước và dân tộc này, đã đổ ra không biết bao nhiêu xương máu, thì tiếc gì những thứ văn hoá độc hại kia?
Tôi thầm nghĩ có tranh luận gì thêm chắc chắn không mở được những cái đầu đã bị nhồi nhét mớ lý thuyết càn bậy nên tôi ngồi im, lòng đau thắt.
Ngồi im và buồn và thất vọng. Ngọn lửa bên trong kia bập bùng, quằn quại hút lấy tôi. Những tiếng cười nói vô cảm như tiếng tru của bầy sói trong cánh rừng hoang cuốn lấy, làm tôi đến khựng lại, ngộp thở. Bầy sói đồng thanh cất lên gào rống, tru tréo một bài hát gì đó, nhảy nhót quanh đống lửa. Những con sói hình người như bầy quỷ nhỏ khạc ra như âm thanh rin rít ghê rợn. Chúng vừa hát vừa thay phiên nhau ném những quyển sách vào lưỡi lửa phều phào run rẩy. Những trang sách toè ra màu máu, chới với bay vào chốn tro bụi.

Nhưng nếu sự việc chỉ dừng lại ở đây không thôi thì nỗi buồn và thất vọng cũng sẽ phôi phai đi ít nhiều. Đằng này, ngày hôm sau, sau khi đánh máy xong mớ công văn, chỉ thị gửi đi các huyện thì có hai người từ bên Ban quân quản tới áp giải tôi sang căn phòng bên toà hành chánh cũ, nơi mà bàn làm việc, bếp đun nước, chiếc giường xếp lẫn mùng màn chăn gối bày ra bừa bộn. Họ chỉ tôi ngồi xuống chiếc ghế đẩu có vai tựa bằng gỗ cách người đàn ông mà họ gọi là thủ trưởng một mặt bàn và thêm sải tay.
Ông thủ trưởng đang phì phèo điếu thuốc trên đôi môi thâm đen, nổi đậm trên khuôn mặt nhợt nhạt. Ông mặc bộ bà ba màu bã trầu. Tấm khăn rằng xộc xệch từ cổ rớt thòng xuống thấp, phía dưới mặt bàn. Ông ngồi yên lặng hút thuốc, làm như không có ai trong căn phòng này, và dĩ nhiên không thèm ngẩng mặt lên nhìn tôi. Còn tôi hết quan sát ông lại đưa mắt đảo quanh căn phòng không rõ là nơi làm việc hay chỗ ngủ? Hình như phong cách từ bưng biền được tất cả cán bộ mang về đặt ngay trong những nơi trước đó rất trang nghiêm, sự trang nghiêm thường thấy nơi các công sở? Tôi cảm thấy rất khó chịu, gần như bị xúc phạm khi ông ta cứ bập phà mẫu thuốc mà không một lời với người đối diện, cho dẫu là kẻ thù. Cái cách ông ngồi chống một chân lên mặt ghế đẩu, chân kia bỏ thõng xuống sàn, cặp mắt ti hí núp dưới hàng lông mày rậm như con sâu trên khuôn mặt khô tốp và chiếc cằm nhọn, có vẻ như ngày xưa là một tay anh chị ở các bến sông.
Tôi hết quan sát lại nghĩ ngợi lung tung, đặt ra những tình huống xấu nhất và tìm câu trả lời. Hút hết điếu thuốc, ông quăng mẫu tàn xuống sàn, với tay rót bình nước trà đưa lên miệng hớp ngụm đầy, súc òng ọc như trẻ con giỡn nước trước khi nuốt vào bụng. Ông lại nhẩn nha mồi điếu khác gắn lên môi và bất ngờ quay sang tôi:
-Anh tường thuật lại tất cả những gì trong buổi sáng hôm qua.
Ông tiếp tục hút thuốc. Khói bay đầy phòng, trong khi tôi vắn tắt thuật lại việc tranh luận với ba cán bộ chi viện. Nghe xong, ông ngẩng lên, chiếc cằm nhọn chỉa về phía tôi như sẵn sàng lật tung những dề đất khô cứng trên mặt ruộng.
-Anh không thể nhận ra đó là thứ văn hoá nô dịch, đồi truỵ sao?
-Tôi không nghĩ như các ông. Một bộ Bách khoa toàn thư thì không thể gọi là đồi truỵ phản động. Nó không chứa những lý thuyết, những lời kêu gọi để chống đối ai cả. Bộ sách dày hàng ngàn trang kia không ẩn chứa điều mà các ông gọi là đồi truỵ. Rất tiếc là các ông chưa từng đọc nó.
Ông ta nhếch đôi môi mỏng dính lên một cách khó khăn:
-Đọc? Giờ thì anh lại giở giọng tâm lý chiến với chúng tôi? Vấn đề như vậy đã rõ. Rất rõ về tư tưởng và con người anh. Đúng là một tên tâm lý chiến phản động. Anh đợi tôi một chút.
Ông ta xô ghế đứng lên, tiến ra phía cửa nói gì đó với hai người áp giải tôi lúc nãy, rồi quay lại, phẩy tay:
-Anh có thể đi đi. Anh sẽ bị xử trị thích đáng
Tôi đứng lên, bước ra khỏi cửa phòng mà không chào ông, mang theo lời hăm doạ nặng nề.

Chúng tôi đi lòng vòng trong khuôn viên toà hành chánh cũ, nay được gọi là Ban Quân quản. Trên thảm cỏ xanh rờn đầy những rác rến. Ở phía sau toà nhà, người ta nối những sợi dây dừa thật dài, mắc lên các cành cây và treo la liệt đủ loại quần áo, khăn tắm cả coóc xê và xì líp phụ nữ. Một vài ba chỗ, họ còn chất những hòn gạch lên cao thành ông táo để nấu nướng, khói mịt mù một góc. Những cành cây khô vất vung vãi, vỏ bao thuốc, hộp giấy, các thứ chất thải la liệt nom như sân sau một khu chợ. Chỗ cửa ra vào toà nhà phía bắc, một phụ nữ đang ngồi chổng mông phù phù thổi bếp lửa chỉ có khói. Khuôn mặt đỏ lên, mồ hôi lấm tấm trên má, thái dương bết dính những sợi tóc như khóc.
Một trong hai người kêu tôi đứng đợi. Tôi lại tiếp tục quan sát cô gái, quan sát cách cô khó khăn làm cho ngọn lửa bùng lên. Biết có người nhìn về phía mình, cô gái ngẩng lên, quát:
-Nhìn cái gì thế?
Giọng Bắc, nhọn hoắc.
-Trong rừng mà cô làm thế này, địch phát hiện ra mất!
-Anh là ai mà lên giọng với chúng tôi.
-Loại củi còn tươi, cô thổi ba ngày không cháy, mà có khô cũng không dễ gì cháy.
Cô gái đứng bật lên, chống nạnh.
-Giỏi nhỉ! - Giọng nói kéo dài, khiêu khích dội lên, vừa đúng lúc người áp giải lúc nãy thò đầu qua khung cửa, ra hiệu cho tôi theo anh ta.
Qua hết dãy hành lang dài, chúng tôi bước lên cầu thang cuốn và đứng trước cánh cửa khép hờ. Người dẫn đường gõ mấy tiếng vào cửa, rồi đứng nghiêm:
-Báo cáo thủ trưởng, em đưa người tới.
Giọng nói từ sâu bên trong vọng ra:
-Vào.
Anh ta đứng tránh qua bên nhường đường cho tôi. Căn phòng khá rộng. Toàn bộ đồ đạc vẫn nguyên vẹn. Những chiếc tủ đánh véc ni bóng loáng, bên trong là những cuốn sách xếp ngay ngắn. Trên tường có treo hai bức tranh vẽ thiếu nữ và cá của hoạ sĩ Nguyễn Trung và bức Cánh đồng lúa mì của Van Gogh, đều là phiên bản, không bị tháo gỡ xuống. Không rõ căn phòng này trước là của thị trưởng hay phó thị trưởng hành chánh. Còn giờ thì người đang ngồi trước chiếc bàn rộng kia hẳn phải là người chỉ huy cao nhất của tỉnh này. Ông ta đang cúi đọc xấp tài liệu dày, tôi không nhìn rõ mặt. Tới khi nghe tiếng dép trên mặt nền, ông ta ngẩng đầu lên. Tôi sửng sốt và không thể tin vào mắt của mình. Sao lại có thể như thế được kia chứ?
Bốn năm trước Hào học Văn Khoa, ở trọ chung nhà, là một trong những thủ lĩnh đấu tranh của SVHS. Cuối năm 73 Hào đã biến mất trước khi cảnh sát đến lục tung căn gác và chỉ thu được những đồ đạc, sách vở của hắn. Tôi và Ngạc đã bị gọi lên xuống không dưới mười lần để thẩm vấn, khai về mối quan hệ cùng những hành tung của Hào. Thật ra, sống cùng nhau, thỉnh thoảng chúng tôi cũng tham gia những cuộc hội thảo, xuống đường với Hào, nhưng chỉ lán mán hắn là con người khuynh tả chứ không ngờ hắn là người của bên kia gài lại, hoạt động trong các tổ chức SVHS. Giờ thì hắn ngồi đó. Không biết thái độ của hắn khi đối mặt với bạn bè cũ thế nào, chứ trước là con người ít nói, đọc nhiều sách, coi ông Nguyễn Văn Trung với giảng khoá triết học Karl Marx là thần tượng.
Lúc ném cây bút chì xuống tập giấy, Hào ngửng lên:
-Trời, cậu! sao lại ra nông nỗi này?
Tôi ngồi xuống ghế, không đợi Hào mời:
-Cũng chẳng biết nữa – Tôi nói.
-Trong lúc sáng tối này, tốt nhất là không nên tranh biện. Không phải cán bộ nào từ khu về cũng có trình độ học vấn như cậu tưởng. Những điều cậu vấp phải với cán bộ cơ sở làm họ khó chịu vì sự thua kém biện luận, nhưng họ không chịu thua cậu về khoản chuyên chính. Tôi đã đọc đầy đủ bản báo cáo về cậu từ các nơi gửi về, nhất là chuyện tầm phào với các cán bộ bên Ty Giáo dục.
-Nhưng bộ Bách khoa toàn thư kia thì tội tình gì, phản động, đồi truỵ ở chỗ nào?
-Cậu luôn thẳng thắn một cách trẻ con như hồi còn đi học. Bao nhiêu năm ra ngoài đời cậu vẫn chưa thể sáng mắt ra được tí nào sao?
-Nghĩa là tôi phải nói dối, phải cong người, phải...
Hào phẩy tay:
-Nói sao cho cậu hiểu bây giờ. Bỏ chuyện đó qua một bên. Ở bên Ty họ giao cậu làm những gì?
-Quan tâm tới bạn bè quá nhỉ?
-Đừng tự ái.
-Đánh máy công văn, chỉ thị và những việc vặt khác, chưa đi đổ bô cho các thủ trưởng.
-Chớ có khiêu khích, chẳng ích lợi gì cả. Mọi chuyện buổi đầu đều bị rối tung lên. Những cuộc cách mạng ở bất kỳ quốc gia nào, buổi đầu vẫn thế, nhưng rồi đâu sẽ vào đó một thời gian ngắn nữa.
-Tức cậu ám chỉ tình trạng vô chính phủ hiện giờ?
-Mới tiếp quản từ tay kẻ địch, bất kỳ đất nước nào cùng rơi vào tình cảnh tương tự.
-Hay quá nhỉ? Vì vậy cho nên bao nhiêu sách quí đều bị xé đốt vì là phản...
-Cậu chớ cay cú những chuyện vừa chứng kiến. Cách mạng có lúc phải biết hy sinh. Giờ thì cậu hãy dẹp qua bên mọi chuyện và uống tách trà nóng cho tỉnh người rồi ta nói chuyện.
Hào nói và tự tay rót tách trà đẩy lên mặt bàn hướng về phía tôi. Tôi cầm lấy và không nghĩ Hào coi tôi như kẻ thù. Có thể không đồng quan điểm, nhưng ít nhất, cái còn lại là tình bạn hữu sống cạnh nhau hàng mấy năm trời. Tuy vậy tôi cũng không buồn hỏi hắn hiện tại đang giữ chức vụ gì, hay nhân cơ hội lấy lòng và xin hắn “giải phóng” cho tôi ra khỏi nơi quỉ ám này. Lòng tự trọng không cho phép tôi mở miệng làm những chuyện điên rồ kia.
Tôi uống từng ngụm nhỏ. Trà ngon. Phải nói là rất ngon. Xưa Hào không bao giờ uống trà hay cà phê. Nhưng sau thời gian biến mất, giờ trước mặt hắn là bình trà, ly tách tinh tươm, gian phòng rộng, sạch sẽ, xem ra hắn là nhân vật quan trọng ở xứ này.
-Bây giờ hãy kể lại tại sao cậu bị đưa tới đây?
Tôi vắn tắt về chuyện hai người du kích trong đó có một là học trò cũ đêm tới nhà kêu “các ông đã bị bắt” và họ đưa đi ít nhất vài ba nơi. Nơi nào cũng cùng một giọng điệu rằng, chúng tôi là những tên phản động, được giao nhiệm vụ kềm kẹp...
Hào chống tay lên cằm chăm chú nghe tôi kể, ra chiều suy nghĩ. Hắn ngồi yên một lúc trong tư thế tay chống cằm rồi mới hất mặt lên.
-Cậu cũng biết ở cơ sở có nhiều sự rối rắm. Họ thi hành lệnh như cái máy. Có nhiều chuyện đáng ra họ có thể tự giải quyết thì tống tất cả lên trên, rồi lại với sâu vào những vụ việc không phải dành cho họ giải quyết. Chúng tôi đã quán triệt cho các địa phương về vấn đề công chức chế độ cũ, đặc biệt là ngành giáo dục - hắn thở dài - vậy mà cuối cùng lại làm sai lệch đi.
-Có nghĩa là bản thân những người như tôi không có tội tình gì?
-Cơ bản là vậy. Nhưng cũng tùy theo từng trường hợp cụ thể.
-Tôi hiểu. Tôi nằm trong từng trường hợp cụ thể mà cậu nói?
- Sau khi tìm thấy hồ sơ lưu trử đầy đủ mới có thể nói chính xác.
Tôi phân vân về câu nói nửa úp nửa mở của hắn. Hồ sơ lưu trử ở đâu nhỉ? Mà ai lưu trử? Bên chính phủ Sài Gòn hay là của bọn họ thiết lập, căn cứ trên những chứng cứ cụ thể trong quá trình đào tạo và thi hành công vụ cho từng công chức? Rõ ràng rằng hắn cũng không mấy tin vào sự thành thật của người bạn đã từng trọ học nhiều năm liền với hắn. Có một ranh giới thật rõ ràng, không nhầm lẫn.
Tôi nói:
-Vâng, tôi hiểu. Sự nghiệp cách mạng của các cậu thật vĩ đại (lúc đầu tôi định nói là ma mãnh, nhưng kịp sửa để sau đó chính tai tôi nghe câu nói của chính mình lảng xẹt, đến độ không thể ngờ nó lại thốt ra từ miệng của anh thầy giáo là tôi).
-Dường như cậu mắc phải căn bệnh mãn tính “mỉa mai”. Những ngày ở Sài Gòn cậu cũng thốt ra với những lời lẽ như vậy về chế độ Mỹ-Thiệu. Nay cách mạng mới thành công, cơ sở mới chạm vào một chút tự ái, các cậu cũng lại giở những giọng điệu khi xưa. Đúng là thứ vô chính phủ - hắn giận dữ dằn mạnh mấy chữ cuối câu - đó là căn bệnh muôn đời của trí thức tiểu tư sản. Bệnh hoài nghi luôn bám đuôi các cậu.
-Hoài nghi? – tôi nhắc lại – Hoài nghi là một tiến trình vận động tích cực thúc đẩy xã hội tiến lên phía trước. Chủ nghĩa của các cậu ấp ủ không đề ra như thế là gì?
-Giờ ta không tranh luận với nhau về phương pháp luận. Tạm thời cậu cứ về bên Ty. Chúng tôi sẽ bàn cụ thể về trường hợp cậu.
-Cải tạo, khổ sai –Tôi cáu lên.
-Rất có thể, nếu cái đầu cậu cứ ngang bướng như thế kia. Với tôi thì không vấn đề gì. Nhưng với người khác cậu nên giữ mồm giữ miệng. Với tôi, cậu là bạn nhưng tôi sẽ không chịu nổi những hành động bậy bạ và những lời nói năng gây sốc cho kẻ khác. Nó đồng nghĩa với sự phỉ báng, với hành động chống phá. Lúc đó tôi và cậu vẫn là bạn, nhưng sự nể vì thì không.
Hắn đứng lên, chìa tay ra cho tôi. Một cái bắt tay sau chừng ấy năm có vẻ gì như gượng gạo, như chiếc ốc vít đã nới lỏng ra khỏi chiếc xe đạp đã sử dụng nhiều năm.

Nguyễn Lệ Uyên

Bóng Nắng - Nguyễn Lệ Uyên

Nguyen Le Uyen Gốc

Sau khi mãn tang chồng tôi ngỏ lời cầu hôn lần thứ hai với chị. Thay vì từ chối hay ư hừ, hay một cái tát như trời giáng mười sáu năm về trước, thì lần này chị quay mặt đi, hai vai rung lên như thể một thân cây bị lay lắt, vật vã đến nao lòng. Tôi bước ra khỏi cổng, bỏ mặc thân cây run rẩy, cong oặt chỉ mang theo cái nhìn sững sờ của chị. Cái nhìn đẹp và sáng như lưỡi dao nhọn.
Chị biết là tôi yêu chị đến cuồng dại và chị cũng yêu tôi. Nhưng để lấy tôi thì chị không thể. “Em nhỏ tuổi hơn chị”. “Em không cần”. “Mai mốt chị sẽ già trước em, em sẽ chán chị”. “Không đời nào”. Chị sẽ sàng với bộ mặt u buồn khiến chị càng đẹp rực rỡ trong mắt tôi, cuốn tôi chìm xuống tận đáy sông.
Và tôi lang thang. Lang thang cùng trời cuối đất những tưởng quên được chị. Nhưng cái tát trên má tôi rõ ràng là nụ hôn cháy bỏng chị dành riêng cho tôi. Tôi cất giữ như một bảo vật. Thỉnh thoảng tôi lại giở ra trong những giấc mơ khắc khoải, cảm thấy nồng nàn, bỏng rát và ấm áp đến lạ kỳ.
Tôi bị bắt lính, chị theo tôi. Tôi ra chiến trường, chị sát bên cạnh. Vào trại lao cải, chị thấp thoáng ngoài vòng rào… Chị luôn theo tôi trong từng giấc mơ.
Mãn tù lao cải, tôi bổ nhào đến nhà chị giữa lúc hạnh phúc chị bị gãy đôi. Đợi hết tuần chay tôi mang bó huệ trắng cắm lên bàn thờ anh Lê, lâm râm cầu khấn, rằng tôi sẽ thay anh bảo vệ mẹ con chị Bông đến tận cuối đời. Tấm ảnh dính chặt sau khung kính nhìn thẳng vào mặt tôi với nụ cười độ lượng. Một cảm giác ấm áp len vào tận cùng thân thể. Chị nhỏ nhẹ: “Cảm ơn em. Giờ em tính chuyện làm ăn gia đình là vừa”. Tôi ngó chị: “Nếu không lấy được chị, em sẽ không lấy ai cả”. Chị thong thả đứng lên, thong thả rút thẻ nhang thắp lên bàn thờ anh Lê, rồi quì xuống gõ lốc cốc vào chiếc mõ bằng trái gạo già, nâu thẫm. Ước chi là điều lành. Tiếng mõ lốc cốc kéo dài xô tôi ra tận bãi vàng. Gió rít quanh đồi ướt mưa. Cái lạnh quấn như tấm mền dày bao lấy cơ thể mệt nhoài cả ngày dưới hầm sâu. Tôi hùng hục cùng với hàng trăm con người trên bãi đá, giơ cuốc bổ xuống lớp đất cứng hơn sắt. Cứ mỗi nhát cuốc, chừng như nhìn thấy từ đáy sâu kia cơ man là vàng lấp lánh. Dưới đáy sâu là hình bóng chị lung linh. Tôi rướn người lên, bổ xuống. Xách từng xô đổ lên. Tôi phải kiếm thật nhiều để chị không già, để chị long lanh như hạt sương mai, bổ nghiêng về phía tôi. Những buổi chiều xuống thấp, mây quấn thành cột quanh ngọn đồi và trong căn lều bạt, tôi thấy bóng chị như bay như lượn trên tầng mây trắng lốp. Đêm hâm hấp nóng, từ xốp mây trắng nõn chị vẹt ra đến bên tôi, ấp bàn tay lên má tôi như một nụ hôn nồng nàn của người trinh nữ khiến tôi bật khóc trong đêm lạnh buốt xương. Tôi biết chị yêu tôi nhưng lại không thể lấy tôi. Nếu không yêu, sao những năm bên lò gạch, chị đã lặn lội lên tận núi với giỏ quà toàn thuốc chống sốt rét, kêu lên “em ốm quá”? Cái khoảng cách lừng chừng ấy khiến tôi đào căn hầm rộng hơn, sâu hơn để cuối cùng tới mùa mưa nước trắng rừng đành phải quay về với tám phân vàng. Tám phân vàng trong bốn tháng nơi cùng cốc thâm sơn tôi mang về đặt lên bàn thờ anh Lê . Đứa con trai chị giờ đã lớn. Nhìn thấy tôi lâm râm trước bàn thờ, nó hỏi: “Cái hộp gì vậy chú?”. “Quà cúng ba cháu”. “Chú không chờ mẹ cháu về?”. “Mẹ cháu không chờ chú đâu, ngoan nhé”. Vầng mây trắng bay nghiêng đâu đó. Tôi ngơ ngác ngó quanh khu vườn rộng, bước bộ trên con đường gập gềnh như cuộc đời gập gềnh của tôi. Những bước chân giống cơn giận lẩy trẻ con và mặt đường thì chẳng khác nào chiếc rổ rách. Gió lào xào như tiếng thở dài.
Thân cây cong oằn ấy, giờ bật đứng như chưa hề có trận bão ập qua. Chị vén mớ tóc ra sau. Những ngón thon búp trắng muốt giữa suối tóc đen nhánh. Bước qua tuổi năm mươi, chị vẫn còn giữ những đường cong gợn thời con gái. Tôi trân trối nhìn ngọn tóc và những ngón tay, nhìn vào bộ ngực côi cút của chị và ánh mắt rười rượi..
Bất ngờ chị Bông đề nghị:
-Chị em mình lên chùa đi.
-Để chi? – Tôi hỏi.
-Cúng Phật.
-Cúng Phật? – Tôi hỏi lại.
Con đường trước nhà chị không còn gập gềnh, không như cái rổ rách trước kia. Hàng cây sao, bằng lăng tím che kín bóng. Tôi đèo chị trên chiếc xe máy khụt khịt như người bị sổ mũi, chạy chậm. Tôi nghe mùi da thịt chị miết vào khứu giác. Mạch máu chạy dồn dập như bầy ngựa đua. Qua ngả tư, thay vì quẹo trái tôi cho xe chạy thẳng ra hướng biển. Chị bấu vai tôi:
-Em quên đường rồi sao?
-Không.
-Sao lại ra biển?
-Ra biển để em nghe mùi nước mắt.
Chị bấu chặt hơn và tôi tưởng tượng cái bấu tay bắt đầu một nụ hôn, những nụ hôn dài.
-Đừng có lãng mạn, em có biết…
-Biết, em biết rất rõ. Đó là những giọt nước mắt tích tụ hàng ngàn triệu năm.
Tôi nghe tiếng thở sượt ấm sau gáy. Chị buông tay ra và bất ngờ tôi quành xe lại. Chính tôi cũng bất ngờ về hành động này. Có lẽ, tôi nghĩ cái mùi nước mắt ấy cũng không thể mặn thêm hay nhạt hơn tí chút. Phỏng có ích gì khi lòng đã cay xè?
Chùa Hảo Sơn giữa khu đồng trống. Cổng tam quan vòi vọi phía trên. Chị Bông thong thả bước lên từng bậc cấp, thong thả đến mong manh. Gió nam cồ siết quanh chị, lất phất trên chỏm cây bồ đề bành gốc, tua tủa rễ như một ông già ngàn năm tuổi ngó lửng cuộc đời trước mặt, mặc cho râu xoãi dài, bỡn cợt với tháng ngày lướt qua, đâm sâu xuống lòng đất.
Lên đến bậc cuối cùng, chị ngoái lại, ngoắc tôi bước lên. Chị vòi vọi cao, vòi vọi lộng lẫy. Gió nam cồ hất bay món tóc chị ra sau như thể sắp đu dính vào cội bồ đề.
-Em vào đi.
-Không chị vào lễ Phật một mình.
-Sao vậy?
Tiếng nói như rớt từ thinh không, xao vào đầu óc tôi.
-Phật chỉ có nụ cười từ bi và những lời răng dạy. Em không thể bước qua cửa thiền khi lòng không thanh thản. Chị vào lễ Phật và tiếp tục… - tôi bỏ lửng câu nói.
Chị Bông quay đi, bước hẳn vào bên trong.
Gió lất phất mang theo hơi nóng trên rặng Trường Sơn dồn về. Cái nóng làm tê cuống lòng người, làm khô dòn tấm áo phong phanh tôi mặc trên người. Chị khuất sâu vào bên trong. Tôi lần từng bước lên cổng tam quan, ngồi lên bậc đá cuối cùng. Phía dưới là cánh đồng xanh dờn, xa hơn là phố xá bẹt dính sát mặt đất. Những con người nhỏ bé xuôi ngược. Bầy người nhỏ bé ấy đang hối hả tìm cuộc sống cho riêng mình. Còn tôi? Tôi như chiếc rổ bung vành đang nhấn xuống nước đồng sâu vớt chút rong rêu. Vậy mà không thể tìm thấy cọng rong nhỏ nào. Những chiếc nan gãy mục vểnh lên hay chúc nghiêng, trống hoang hoác là ba mươi năm cố gắng vá lấp để thấy trống trơn, để thấy vô cùng chẳng với chụp được.
Gió lặng yên được một lúc rồi bỗng chúc xuống, hất tung những cọng rác khô trên bậc đá. Không gian đã sững lại bổng ồn ào. Gió ràn rạt miết lên tường thành nối cổng tam quan, cuốn cong những cành bồ đề rồi ngưng bặt, như chưa hề có gió thổi ngang qua.
Bóng nắng đổ nghiêng qua tàng lá rậm, che phủ bậc thềm đá chỗ tôi ngồi, nên khi chị Bông bước ra, đứng về phía chiều nắng nghiêng tôi không thấy bóng chị phủ lấp lên người tôi, nhưng tôi nghe hơi thở chị thật gần.
Chị vén áo ngồi xuống bên cạnh.
-Chị lễ Phật và xin xăm.
-Xin xăm – Tôi hỏi lại, lòng hoang mang tột cùng.
Chị bổng bật khóc. Hai vai rung lên. Tôi sửng sốt, nhích ra nhìn chị. Chị không còn là người đàn bà mạnh mẽ mỗi khi từ chối lời cầu hôn của tôi. Chị trở nên người phụ nữ nhỏ bé, yếu đuối. Tôi giữ đôi vai mỏng manh như hồi nhỏ tôi giữ, tay kia rút cây gai nhọn dưới gan bàn chân chị, nhưng cái đau của hai lần cách xa có vẻ như không giống nhau. Lần này, nỗi đau sâu kín, gặm mòn tâm trí chị hơn mà tôi không hiểu vì nguyên do gì.
Một lúc sau, tôi dè dặt lên tiếng:
-Chị làm sao vậy?
Cả người chị rung lên dữ dội hơn.
Cả hai im lặng cho đến khi nắng vắt chéo qua đầu.
-Chị không phản bội anh Lê, nhưng chị phản bội em.
-Em không hiểu chị định nói gì?
-Đúng chị là người không ra gì. Chị đã phản bội em. Chị là con người đốn mạt, nhưng chị không thể làm khác được – nói và chị lại ngã lên vai tôi nức nở.
Nắng quét những quả trứng mỏng tang trên tầng lá cao, rụng lả tả trước mặt hai người. Đợi chị bình tĩnh lại, tôi gỡ tay chị và ấp lại trong đôi tay mình. Lúc này tôi trở thành con người lớn hơn chị, bắt đầu dỗ dành chị giống hệt hồi nhỏ chị dỗ dành tôi bị lũ trẻ con hàng xóm ức hiếp.
-Em nghe chị nói. Chị cứ nói hết ra.
-Ngàn lần chị xin lỗi em.
-Sao phải xin lỗi? Nếu cần xoa dịu sự tổn thương do em gây ra thì em xin lỗi chị mới phải.
-Không. Em bình tỉnh nghe chị nói.
-Em nghe đây.
Chị sững người giây lát, rồi sụt sịt:
-Ông Thâu cầu hôn chị. Ông goá vợ cách đây tám năm.
-Và chị…
-Nhận lời.
Tôi cười lớn, cười đến tim bóp thắt, nước mắt ràn rụa và gió lăn lông lốc trên những ruộng mạ xanh dưới kia. Gió rượt đuổi như giỡn như ca hát, bảng lảng một điệp khúc yêu thương đến héo hắt tận đáy lòng.
-Vậy mà em tưởng chuyện gì ghê gớm lắm!
-E…eemm…
-Chị ngỡ em phản đối, ngỡ em sẽ buồn? Không trái lại.
Chị Bổng oà khóc khi nghe tôi nói hết câu và xô tôi ra.
-Thà em đay nghiến chị, nguyền rủa chị… có lẽ còn dễ chịu hơn cái gật đầu vô cảm kia. Em biết là chị không thể kéo xuống mười lăm tuổi để bằng em, không thể nhìn những cặp mắt xói miết chung quanh. Vâng, chị yêu em. Yêu em còn hơn ngàn lần em yêu chị. Nhưng để là vợ chồng thì không thể. Sau lần chị ôm em vào lòng dỗ dành vì đám trẻ con trong xóm ví em, chị đã linh cảm điều này sẽ có ngày xảy ra. Nhưng chị bất lực. Chị chỉ là người đàn bà bình thường như bao nhiêu người khác.
-Em đưa mẹ con chị vào Lộc Ninh, Bù Đốp… vượt biên qua Lào, qua Thái… Chúng ta sẽ sống hạnh phúc.
-Không. Em điên rồi.
-Chị nhận lời lấy ông Thâu thì không điên chắc. Em biết chị nhận lời lấy ông ta chỉ vì chỗ dựa, cái học vị tiến sĩ ấy sẽ… mà chị thì không hề yêu.
-Em còn nhớ hồi lên trại thăm, em nói “đời người như khúc sông, chỗ đến thì không chịu dừng mà rẽ ngoặc sang hướng khác”. Hồi đó em nói vậy là ý gì? Còn giờ này sao em lại không chấp nhận khúc sông rẽ ngoặc?
-Sông của chị giờ là con sông gãy, sông lấp bỡi những tảng đá muôn thuở đè lên một cách khủng khiếp. Chị không dám né những tảng đá đó, lúc nào cũng nhìn thấy chúng lù lù trước mặt.
-Nhưng có nhất thiết khi yêu nhau thì phải sống chung với nhau không?
-Hoang tưởng.
-Đúng. Hoang tưởng, chỉ vì chị cũng yêu em đến điên cuồng.
Chị Bông nói và đứng lên, bước thật chậm xuống từng bậc đá. Chị đi như không hề chạm chân lên mặt thềm. Chị đang bay về nơi khác, nơi có vầng trăng bị xé rách giữa trận nam cồ, tơi tả, méo mó đến dị hợm. Chị thả trôi về khúc sông xa, chị đầm mình trong vùng mắt bão, gió cuốn tung chị tơi tả trong tôi.
Tôi ngồi yên nhìn chị. Ngồi mà ngắm nhìn dáng mỏng khói sương từ từ tan biến vào khoảng trống đến vô cùng tận. Hạnh phúc cuối cùng của chị là niềm hoang tưởng hay sự hoang tưởng là niềm hạnh phúc? Tôi nào có nhận ra khi chị bất ngờ quay lên. Vẫn từng bước thong thả, từng gót chân thong thả và nhẹ nhàng đặt lên phiến đá mòn lĩn như chiếc lá rơi xuống, nằm đấy từ muôn đời kiếp.
Chị Bông đứng cách một với tay, không bước tiếp, ngước nhìn với cặp mắt lạ lùng tôi chưa hề chạm phải: hừng hực như ngọn lửa cháy rừng rồi chuyển sang giá lạnh như tảng băng trôi. Hình như không phải chị nhìn tôi mà dành riêng cho kẻ vô hình nào đó vảng vất đâu đây, môi mấp máy như muốn nói điều gì đó mà không thành lời. Chỉ cách một vói tay nhưng có vẻ như chúng tôi đang ở hai thế giới khác nhau, ở hai đầu cánh cung bị đứt dây. Môi chị lại mấp máy như mời như gọi, xoè chớm như nụ hoa hàm tiếu. Tôi hiểu tất cả, lao xuống. Chị ôm tôi, nước mắt ướt vai trong tiếng thì thào ngây dại “chị yêu em, tha lỗi cho chị”. Chị hôn tôi bằng nước mắt mặn chát, vị mặn của niềm hạnh phúc đắng cay nhưng sao tôi thấy không như dư vị của nụ hôn bằng cái tát ngày nào?
Bóng nắng rớt nghiêng. Chúng tôi như hai pho tượng trước cổng tam quan. Chỉ có cội bồ đề và những chòm rễ đâm xuống đất là gần chỗ tôi và chị Bông đứng, sắp té nghiêng dưới bóng nắng.

Nguyễn Lệ Uyên

Tàu Khuya - Nguyễn Lệ Uyên

alt
 
-Huỷ vé và quay lại đi. Đằng nào thì ngày mốt cũng về tới Sài Gòn. Ở lại cùng nhau giải quyết vụ này xong cái đã!
 
Tôi không trả lời, lững thững đi bộ dọc theo thân tàu, không rõ xuôi hay ngược. Khách lên tàu. Những người đưa tiễn. Còi rúc. Những bước chân vội vã. Hàng cột đèn co ro trong cơn mưa lất phất lạnh. Mưa đan thành những sợi, giống như những sợi vải lòng thòng, xiên từng lọn qua lớp ánh sáng vàng vọt trên sân ga. Gió lạnh se bóp vành tai. Còi rúc tiếp. Tôi có thể bước lên tàu, chờ lăn bánh. Và chỉ trong ít phút nữa, tôi sẽ rời xa nơi ám bụi này. Nhưng không hiểu sao tôi không bước lên bậc cấp, thản nhiên quay trở lại cái tổ chim bốc mùi.
-Tàu chạy chưa, sao không trả lời?
-Chưa, tôi sẽ quay lại. Mà có chuyện gì thế? – Chỉ hỏi cho có lệ và tắt máy ngay. Tôi hiểu phần nào chuyện quay lại: Có thể bên K. lại đưa ra thêm điều kiện gây khó chúng tôi. Cũng có thể tiết trời se lạnh như thế này, H. cảm thấy cô độc. Tôi đá văng chiếc lon rỗng, lăn lốc cốc trên đường tàu. Chiếc lon chùi xuống chỗ nào đó, dưới thanh tà vẹt, và bỗng dưng tôi liên tưởng đến thân phận mình lúc này. Có cái gì đó, không hình dạng, nhưng xơ xác đến buốt lòng.
 
Tôi xách túi hành lý quay ngược ra khỏi ga. Những gánh hàng rong, xe ôm, taxi… những tấm ni lông di động bay lật phật, nhốn nháo trước cửa ga, cuốn theo dòng xe cộ ngược xuôi trên đường, làm tôi rơi vào trạng thái gần như chóng mặt. Cũng có thể do cảnh tượng trước mắt. Cũng có thể do cái “lệnh” trời ơi của người đàn bà đang ngồi đâu đó trong sảnh khách sạn, nhà hàng, quán cà phê đêm. Và cũng có thể bà ta khoả thân dưới tấm chăn bông dày chờ đợi từng bước chân của tôi?
 
Cùng bước theo những bước chệch choạc, rã rời là tiếng mời chào níu kéo. Những ấm chè xanh trên chiếc bàn mộc. Chiếc nõ điếu bằng tre nằm lệch nghiêng cạnh chân bàn chờ khách. Tiếng nõ sẽ rên sòng sọc. Bên kia, khói phủ mặt bàn. Những người đàn ông ngửa cổ thở khói. Khói và mưa cuộn quấn, phất phơ trong ánh đèn méo lệch. Khói và mưa ngập ngừng dưới những hàng hiên. Tôi nhìn những sợi mưa và lặng lẽ kéo túi hành lý lăn thành tiếng, rào rạo trên mặt đường nhựa. Đi một đoạn khá xa tôi mới gọi taxi. Lúc ngồi yên trong lòng ghế ấm áp, tôi có cảm giác như con tàu đang lăn trên thân thể mình, lăn hoài không dứt.
 
-Bác về đâu?
-Bờ hồ.
-Đất này lắm hồ, nhiều miếu… mà bác ra hồ nào?
-Hồ Tây, khách sạn K. bên Nhật Tân.
-Trễ tàu?
-Không.
-Quên gì sao?
-Không.
 
Lái xe liếc nhìn lên kính chiếu hậu, làm khuôn mặt anh ta nhảy múa, phình to, móp méo. Hình ảnh ấy khiến tôi thèm uống một ly rượu mạnh. Lái xe thôi nhìn vào kính, chăm chú vào đoạn đường phía trước mặt. Nhìn từ sau, chỉ thấy phần gáy được bao kín bởi chiếc khăn len mầu xám sậm. Lúc xe men ngang qua vườn Bách Thảo, trong lớp sáng tối nhập nhoạng, tôi lên tiếng đề nghị:
-Anh có thì giờ uống với tôi một ly rượu?
 
Lái xe ngước nhìn lên kính, lâu sau mới nói:
-Cảm ơn bác, tôi phải kiếm vài cuốc nữa mới đủ chi phí trong ngày. Bác thông cảm.
-Anh xem quán bar nào, trên Ngọc Khánh chẳng hạn, ghé vào uống một vài ly. Trời se lạnh thế này tôi nghĩ uống một ly rượu tối ngủ sẽ ngon giấc. Anh chớ bận tâm về khoảng thời gian chết.
Anh ta cười lục khục trong cổ họng, không thành tiếng:
-Biết thế. Thật lòng, tôi không thể. Tôi ở Nho Lâm ra, kiếm đồng tiền nuôi vợ con thật khó khăn. Nói thật tôi có quê mà như không – Nói và anh ta lại cười lục khục như có những hòn sạn chạm trong cổ.
-Là sao – Tôi hỏi.
-Nhà của chúng tôi nằm trong khu qui hoạch. Cái khu chung cư cao cấp gì đó đã nuốt chửng đất đai chúng tôi rồi, giờ thành những kẻ lang thang kiếm sống.
-Tốt nhất ta không nên làm thằng dân nghèo – Tôi nói với từ ghế sau.
 
Im lặng.
 
Bánh xe siết trên mặt đường Thanh Niên. Con đường giống như những chiếc phao nối liền, thả nổi bập bềnh giữa hồ Tây và hồ Trúc Bạch. Tôi ngoái cổ nhìn đê Yên Phụ. Đường mòn Cổ Ngư chỉ còn trong tâm tưởng những người già. Tôi mường tượng những bước chân khốn khó của Loan trên mặt đê khi phải chia tay với Dũng. Gió thổi sướt qua vai. Nhất Linh cũng khổ sở như nhân vật của ông với mối tình không trọn vẹn. Rồi còn Mai của Lộc nữa. Khái Hưng đã bao nhiêu lần đứng trên đoạn đê này, bóp trán để tìm ra sự thật của nghệ thuật trong đoạn kết giữa họ? Hai ông cùng các nhân vật đã mất hút đâu đó, chỉ nghe tiếng gió thầm thì bị gãy khúc giữa những toà nhà cao ngút, chắn mất cả mặt đê, bờ hồ. Hồi đó, cả làng Nhật Tân, Nghi Tàm đỏ thắm sắc đào. Mối tình của họ cũng đỏ rực như vậy. Còn bây giờ? Làng hoa một thời đã nhàu nát cả rồi. Hai ông nhà văn từng làm đẹp cho tiếng Việt, giờ cũng thui thủi ở đâu đó, một góc xa xẫm tối? Tôi ngẩn ngơ, ngó sững bóng đêm đậm đặc cuối tầm.
 
Qua khỏi hồ Tây, người tài xế cho xe chạy chậm, nói với tôi:
-Ở chỗ này có quán rượu nổi tiếng, tạm lịch sự. Bác có thể ngồi đến sáng – Nói và cho xe đậu sát lề.
-Anh không vào với tôi?
-Cảm ơn. Tôi đã nói.
 
Tôi nhìn đồng hồ, trả tiền và đẩy bàn tay anh thu dần vào người:
-Anh giữ hộ tôi chỗ thừa, mua cái gì đó cho cháu, coi như món quà nhỏ, không nhiều nhặn gì, đừng bận tâm – Nói và tôi kéo xách, bước thật nhanh vào quán.
 
Tôi như con chim đêm trong quầng sáng lờ mờ. Quán vắng. Chỉ thấy hai người khách không rõ giới tính đang ngồi trong góc sâu, chỗ khuất sau một giàn dây leo lưng lửng chúc xuống.
 
Đứng ở quầy bar là cô gái có khuôn mặt căng phồng và ửng đỏ, không rõ do ánh đèn hắt xuống hay những mạch máu li ti trên đôi má bắt quàng với những chai rượu xếp trên giá? Cô đang chăm chú dũa móng tay. Lúc thấy tôi bước vào, cô nhét vội chiếc dũa vào túi xách, nở nụ cười như bao nụ cười của những người đứng sau quầy. Tôi gật đầu chào và ngồi lên chiếc đẩu nệm chân cao, có cảm giác chông chênh, giống con sếu đang lắc lư, cong cổ xuống vũng nước.
 
Tôi đưa ngón tay lên:
-Camus đen, loại XO.
 
Cô gái có đôi má ửng hồng quay về phía giá rượu, cô bước đi với chiếc mông tròn ngún ngoảy, trườn theo ánh đèn màu hồng nhạt từ trần rớt xuống, đúng nơi tôi vừa liếc nhìn. Cô gái tìm rượu trên giá, lâu sau mới quay lại quầy với ly rượu trong tay trái, chai Camus được cô choàng chiếc khăn trắng bên tay phải. Cô rót rượu điệu nghệ và đẩy ly rượu bằng đầu mấy ngón tay về phía khách cũng điệu nghệ không kém. Ly rượu miết sàn sạt trên mặt quầy như lời mời mọc ngọt ngào. Tôi nghiêng đầu cảm ơn và nâng ly rượu chúc cô gái có một giấc mơ đẹp tối nay và hỏi cô có muốn uống cùng tôi. Cô gái lắc đầu, nói cảm ơn. Khi tôi đưa ly rượu lên lưng chừng thì cũng vừa lúc cô tì ngực vào thành quầy, đưa tay hất ngược mái tóc ra sau. Bộ ngực căng phồng như muốn gặm nát mép quầy.
 
Tôi uống thong thả. Đầu óc trống rỗng. Những mảnh ghép bằng gốm nung trang trí trên tường, mù mờ, không rõ hình dạng. Cả giá đỡ những chai rượu, cả cô gái cũng mù mờ trong lớp ánh sáng đặc quánh như có thoa kem.
 
Cái mông tròn lại lướt trước mắt, uốn lượn như con rắn trườn trên mặt đất. Chuông đổ leng keng.
-Nghe rồi, trên đường về.
-Sao lâu vậy?
-Có chút việc nhỏ – Tôi lấp lửng, không nói rõ đang ngồi bar rượu.
 
Cô gái quay lại quầy, hết nhìn tôi lại nhìn vào chiếc túi xách có tay kéo dựng đứng lên sau lưng. Cô buột miệng:
-Ông làm tôi liên tưởng với những phim cao bồi bên Mỹ. Họ vào bar với khẩu súng và bao da, thắt lưng quăng lên quầy. Còn ông thì với chiếc va li kéo chổng chơ.
-Cô thích cảnh ấy.
-Không, chỉ liên tưởng sau khi xem phim.
-Cảm ơn phim cao bồi.
-Ông nói sao?
-Phim cao bồi cũng tệ như phim tàu bây giờ. Một đằng là súng đạn, một đằng là gươm dao. Toàn nhảm nhí.
 
Cô gái bật cười. Khi cô cười đôi má càng ửng lên, và bộ ngực cũng rung rung sau mép quầy.
 
Có vẻ như sẽ mở được cái khoá trong người tôi, cô gái nói:
-Chưa thấy ai vào bar rượu mà mang theo va li!
-Cô đang thấy rồi còn gì?
-Lần đầu. Lạ
-Ví dụ như gây gỗ với vợ rồi bỏ đi lang thang.
-Có thể.
-Hoặc tình phụ?
-Ông biết rõ hơn ai mà.
-Vậy thì tò mò chuyện cái va li làm gì. Cô cứ coi nó như bạn tôi. Bạn trai hay gái cũng được. Nó đi với tôi. Nó không biết uống rượu. Nó canh chừng tôi…
-Hay thật, lần đầu tiên mới nghe có người nói đồ vật đi canh chừng con người.
-Đó là do xã hội đảo chiều theo phép duy vật biện chứng.
-Hình như có vẻ nguỵ biện, cho có nói.
-Nhưng mà, nó không nguỵ trá, nguỵ tín?
-Chịu, em không thể tranh cãi lại ông. Nhưng ông đi đâu với chiếc va li giờ này?
-Ra khách sạn K.
-Cũng gần. Cách đây ba trăm mét. Hèn gì.
-Cô sống trong Nam nhiều năm? Ngoài này không ai nói “hèn gì”.
 
Cô gái không trả lời.
 
Tôi uống nốt phần rượu còn lại trong ly, trả tiền rồi kéo chiếc xắch ra khỏi quầy bar. Mưa thôi rơi, nhưng gió thì vẫn lạnh. Gió hút theo tiếng nói từ xa của cô gái khi nãy “ông đi cẩn thận”.
 
Bánh nhựa lăn rào rạo sau gót chân. Tiếng nói cô gái mất hút. Khuôn mặt ửng hồng trôi tuột đi. Và bộ ngực găm vào mép quầy cứ bắt tôi phải tưởng tượng là nó đang gặm nát thớ gỗ, rơi ra từng mảnh, từng mảnh nhỏ li ti.
 
Dẫu sao cô gái đứng ở quầy bar cũng tử tế hơn H. Câu dặn với “ông đi cẩn thận” như câu nói của đứa em lúc nhìn thấy anh đi xa. Trong khi H. thì chỉ muốn cuộn chặt tôi trong tấm chăn dày…
 
Hai chiếc bóng hết ngã chúi ra sau lại chồm tới trước, trượt dài trên vỉa hè. Những cột đèn sáng loá trong đêm sâu. Tiếng còi rúc ùng ục và tiếng máy tàu dưới sông Hồng dội lên nghe rã rời, nỉ non. Ước gì lúc nãy tôi nhanh chân bước lên tàu về Nam để không nhìn thấy bóng mình đổ dài, để không nghe những âm thanh lềnh bềnh trong đêm lạnh. Muộn rồi. Tất cả đều trễ tràng. Chỉ còn mấy bước nữa thôi, tôi sẽ cuộn người trong tổ mối. H. sẽ quấn chặt lấy tôi.
 
Có lẽ nào tôi mãi là tội đồ của bà ta? Ý định rời bỏ công ty đã nhiều lần bị H. phát hiện. Và mỗi lần như vậy bà lại đưa ra một miếng mồi không thể cưỡng chống. Có lần tôi thẳng thừng:
“Không thể duy trì tình trạng này mãi được. Tôi thấy ông Th. yêu chị…”
“Cái lão ấy chỉ yêu tài sản của tôi thôi, làm gì có tình yêu thật?”
“Không thể sống mãi kiểu này, rồi sẽ ra sao?”
“Chẳng sao cả. Tôi không muốn bị trói buộc vào ba thứ vớ vẩn đó. Tôi thích tự do. Cũng như anh và tôi vậy. Chúng ta vì công việc, vì lợi nhuận chính đáng. Và mỗi khi đến với nhau đều tự nguyện. Cả hai ý thức về hành động của mình. Không ai ép buộc ai. Đó là sự tự do tuyệt đối. Tôi yêu lối sống tự do này. Tôi hiểu anh nghĩ gì và muốn gì? Chọn lựa đúng dắn là điều may mắn và hạnh phúc nhất trong một phần cuộc đời”.
“Tôi nghĩ, vì công việc…”
“Anh khỏi nói. Tôi hiểu cả… Bây giờ anh có đầy đủ những thứ cần thiết cho cuộc sống chồng vợ. Cô bạn anh, tên gì nhỉ? Đoan trang, đẹp, hiền…”.
“Tôi không có ý nhắc đến chuyện này”.
 
“Nó là một phần đời đấy, chớ coi thường. Trong công việc, tôi rất cần anh. Không có anh giúp, công ty này coi như chấm dứt từ lâu rồi. Anh giỏi về tài chánh kế toán hơn tôi. Anh ma mãnh về chuyện này. Anh đã giúp tôi chui lọt qua bao nhiêu lỗ kim. Tôi trả ơn anh, hay nói chính xác, tôi chia 1/10 lợi nhuận cho anh sau mỗi công trình trót lọt. Anh có những mưu mô rất đạo đức trong thương trường mà những người tiền nhiệm không hề có. Còn chuyện kia, anh cứ coi như một cuộc đi dạo tình cảm. Trinh tiết không phải là sự gìn giữ để chúng ta không thể hôn nhau, làm tình với nhau! Tôi biết mình lớn tuổi hơn nhiều. Nhưng lúc này tôi cần anh xoá đi nỗi cô đơn trong tôi. Nói thật, tôi thấy anh cũng yêu tôi, trước khi anh có cô bạn gái? Chẳng qua, trong người anh luôn có những thị phạm về ranh giới đạo đức và phi đạo đức về sự chông chênh. Tôi dám chắc rằng, nếu tôi chỉ hơn anh vài tuổi thì anh sẽ không từ chối những tình cảm tôi dành cho anh, phải không?”.
 
Đó là lần đầu tiên H. tuồn ra hết những gì ủ chứa trong lòng, sau khi công ty thắng thầu một thương vụ lớn, sau khi chúng tôi ngồi uống hết một chai Martell Noblige ở một nhà hàng hạng sang bên Thủ Thiêm. Lúc nói, H. nhìn thẳng vào mắt tôi. Đôi mắt cuốn hút như hớp hồn, như thôi miên cùng với vẻ đẹp rực rỡ đã đốt cháy tôi thành những hạt tro vụn. Ý thức phản kháng trong tôi mềm nhũn, co rúm lại và H. mặc sức điều khiển.
 
Giờ này, chuyến tàu lỡ của tôi chắc cũng đến Ninh Bình hoặc vào địa phận Thanh Hoá. Một quãng đường quá xa để tôi có thể thay đổi ý định. Tôi biết mình là kẻ tự lỡ tàu. Tôi biết mình đang lầm lũi bước lên từng bậc cấp trong khách sạn K. lộng lẫy.
 
Tiếng gõ cửa ngập ngừng, sau đó có một thằng người như con thú cưng cuộn tròn trong chăn bông. Tôi bật cười ha hả như muốn hất tung cầu thang rơi vụn ra. Tôi cười đến khi đứng trước cửa phòng. Tiếng cười dội vào cánh cửa khép hờ, dội ngược về phía tôi, lạnh buốt.
 
Người Đàn Bà Chết Trôi
 
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra
(Ca dao)
 
Trời đang nắng chang chang, bỗng dưng mưa đổ ầm ầm như thác, như lũ. Mưa làm xé mặt đất khô nứt nẻ, dội lên những tiếng sôi ùng ục như thể tiếng kêu từ một nới khác rất xa vọng về. Tiếng kêu ấy nấc nghẹn, tức tưởi lúc kéo dài, lúc ằng ặc đứt đoạn. Ngoài sân bong bóng nổi đầy. Những chiếc bong bóng to bằng chiếc dù che đầu cứ thế trôi ngược lên con dốc cao, phủ lấp đoạn đường đất đá gồ ghề. Rìu rác xoáy ngược vòng vòng giữa con nước đục đỏ màu bã trầu. Thỉnh thoảng một vài que củi mục xoay tròn như chiếc chong chóng rồi dựng đứng lắc lư và cuối cùng mất hút dưới làn nước sâu. Nước tiếp tục chảy ngược lên con dốc cao, nghiêng rót vào những lỗ kiến nằm sâu trong lòng đất. Hàng trăm ngàn con kiến nhoài lên, bám vào nhau và thả trôi theo dòng nước xô đẩy. Những chiếc râu nhỏ xíu ngo ngoe như mừng vui, vì rất lâu chúng mới được một bữa tắm nước no nê hay sao đó. Chúng không hề sợ hãi. Chúng không kêu la, không réo gọi như mặt đất khô nứt, rất thản nhiên coi như cái chết là niềm vui tột cùng của thứ loài vật sống thành bầy đoàn. Một vài con cá quẫy trong dòng nước chảy ngược. Chúng hả hê với con nước hơn là miếng mồi kiến quanh nó, sớm muộn gì cũng sẽ là mồi, không thể khác hơn trong lúc này.
 
Giữa cơn mưa ầm ĩ, dưới cái nắng chói chang trong ngày hạ chí, để qua được phía bên kia đường, người đàn bà bắt buộc phải vén quần lội xuống dòng nước. Hai trái chân thon nhỏ trắng ngần, nổi bật giữa làn nước đỏ. Chị dò dẫm từng bước nhẹ và ngắn như bước tập đi của lũ trẻ con, lòng nguội lạnh đến vô cùng, tan nát đến vô cùng. Chị không biết mình sẽ đi đến đâu, trôi về xứ nào. Và cứ thế chị bước trên con đường đất ngập đầy nước, bên tai nghe lao xao tiếng gió, tiếng mưa đổ, tiếng gọi í ới của ai đó và cả tiếng lòng tan hoang của chị nữa.
 
Như vậy là đúng 29 tháng chung sống với nhau, nàng mới hiểu thế nào là nắng là mưa, thế nào là bão là lũ; thế nào là sự phỉnh phờ lừa mị! 29 tháng được bao nhiêu ngày là niềm hạnh phúc gối chăn? Bao nhiêu ngày là thương yêu chồng vợ chất nặng nghĩa tình? Bao nhiêu ngày là cay đắng, tủi nhục và nước mắt? Cái hân hoan thơ thới của tuổi con gái mới lớn nàng ngỡ sẽ là thiên đường vĩnh cửu khi bước đi bên cạnh người chồng hoạt bát, thông minh, rắn rỏi. Anh ta là hiện thân của chàng hoàng tử sắm vai buổi đầu. Anh ta tán tỉnh, vuốt ve, chìu chuộng, lấy lòng bằng mọi cách để chiếm hữu được nàng, người thiếu nữ xinh đẹp nhất xứ này. Nàng mềm lòng ngã vào vòng tay gân guốc với niềm sung sướng chưa từng có. Nàng hãnh diện với bạn bè, với làng xóm; đem chia niềm hoan lạc ấy với những chiếc lồng đèn kết hoa sáng rực suốt đêm ngày, những lời chúc tụng suốt đêm ngày, ngao du với nhiều ngày trăng mật. Nếu nói cuộc đời đẹp nhất, hạnh phúc nhất thì không có thời khắc nào huy hoàng bằng buổi đầu.
 
Nhưng hỡi ơi, kể từ buổi sáng loà niềm vinh quang hoan lạc kia, khi dòng máu bớt chảy tràn, nhịp tim chậm lại, giữa đêm tối chỉ nghe có tiếng côn trùng gáy nỉ non như bài kệ các chú tiểu đọc hoài giữa niệm đường, mùi mồ hôi nồng nồng của chồng, sự mệt mỏi quá độ trên hai đôi mắt nhắm nghiền, ú ớ cơn mê dã dợi của thể xác, nàng mới chợt nhìn thấy bộ mặt của mình và của chồng. Nàng vùng dậy ngơ ngác trước bóng tối dày đặc và tanh tưởi mùi đàn ông bám quanh người, tự hỏi: tại sao ta lại ngồi đây, tại sao ta phải chung sống với người đàn ông hình như có điều gì đó không chân thực mà ta bắt đầu thấy le lói đâu đó nơi góc tủ, hộc bàn? Nước mắt nàng chảy dài, chảy suốt đêm thành con suối quặn đau.
 
Đó là ngày bắt đầu của sự đau khổ, hoài nghi, thất vọng. Đó là ngày bắt đầu của sự gầm gừ đe nẹt, ngày của chiếu trên hương hào lý trưởng vung roi trước sân đình. Nàng nhận ra ngay khi bữa ăn sáng dọn ra không đúng vào lúc 6 giờ 30 phút, là đôi giày chưa kịp đánh xi, ly cà phê pha hơi bị loãng, cho đường nhiều quá hoặc ít quá cùng trăm thứ hằm bà lằng khác trên đời mà nàng chưa thể bắt nhịp một cách nhanh chóng để làm hài lòng anh hương hào, lý trưởng. Nàng đã kịp nhận ra một cách rõ ràng bộ mặt thật của anh ta: dối trá, lừa phỉnh mọi người kể cả vợ con; chèn bóp mọi người kể cả vợ con; tước đoạt mọi sinh thú sở hữu của nàng, đẩy nàng làm kẻ tôi mọi vĩnh viễn cho sự chỉ huy gia trưởng của chồng. Nàng thành ra kẻ bị khuất phục, không còn những suy nghĩ độc lập, không còn có ngôn ngữ của riêng mình. Cái mặt nạ gớm ghiếc của chồng mỗi ngày bị tróc ra một chút sơn để nàng thấy nguyên hình của con thú đội lốt trên người hắn ta.
 
Có một điều rất sơ đẳng, thậm chí là tầm thường vô bổ nhưng không ai chịu nói, sợ rằng đó là điều phạm tội, điều cấm kỵ, phạm giới… đó là sự phản bội trong cách nhìn, cách nghĩ và hành động của hầu hết các loại đàn ông; đó là sự xúc phạm của chính họ với tất cả vẻ thoả mãn, hả hê đối với vợ một khi đã nắm quyền chiếm hữu, biết mọi chân tơ kẽ tóc trên thân thể người nữ. Chồng nàng cũng thuộc nhóm bỉ ổi này khi hắn chấm dứt đột ngột mọi lịch lãm trước khi gặp nàng, cưới nàng, cùng nhân cách đàn ông đích thực bị đánh rơi, coi thân xác nàng như thứ đồ giải trí, dằn vọc, hành hạ.
 
Nàng ưu uất nhưng không kêu gào thành tiếng, ngậm kín một cục gai góc nghèn nghẹn trong lồng ngực, chèn giữa cổ họng đắng ngắt.
 
Ba đêm trước cơn mưa đổ sầm sập này, buổi tối hắn trở về nhà với mùi rượu thịt, mùi đĩ thoã trộn lại thành một thứ mùi lộn mửa. Hắn đổ vật lên nệm cùng với những gì từ trong bụng hắn trào ra. Nàng chết đứng giữa căn phòng tanh tưởi. Nàng như một tội đồ đang chịu nạn, đang hứng lấy những tai hoạ tiền kiếp. Không làm cách nào để vực được thân xác phì nộn kia dậy, không cách nào dọn dẹp những gì hắn nôn ra thốc tháo. Tất cả đã thấm rút vào mặt nệm mousse. Nàng đứng chôn chân bên thành cửa sổ mà như sắp bước lên giá treo cổ. Bầu trời bên ngaòi tối đen như chiếc mõm của con quái vật ngoác hàm răng nhọn chuẩn bị nuốt sống nàng. Nửa đêm hắn kêu khát nước. Nàng mở tủ mang chai nước nâng đầu hắn lên. Nhưng thay vì uống nước theo cơn khát, hắn kéo nàng ngã bổ lên người, dây dính những thứ lầy nhầy tanh lượm. Lấy hết sức bình sinh, nàng xô hắn ra và chạy vào phòng tắm đóng sập cửa lại như đóng cánh cửa ta bà tởm lợm. Nàng trút bỏ quần áo, vò lọn ném vào thùng rác, co ro trong vòi nước lạnh ngắt. Kỳ cọ đến bao nhiêu cũng không bay sạch hết mùi xú uế. Nàng dùng cả bàn chải, móng tay và cả lưỡi dao, cạo lên làn da đến bật máu, bày ra những mảng thịt đỏ hoét như bị cọp vồ. Nước mắt không thể chảy để vơi đi tủi cực. Thân thể nàng khô rốc. Đầu óc nàng khô rốc.
 
Một lúc lâu sau đó hắn gào lên:
-Cô bỏ đi đâu? Tại sao cô lại bỏ tôi?
Nàng không dám thò đầu ra. Nàng kinh hãi giữa đêm khuya trống trơn, lạnh ngắt.
-Cô đi với những thằng nào? Tại sao chừng ấy năm, cô không sinh cho tôi một đứa con? Cô là tên phản bội.
Nàng nghe tiếng vật vã trên giường và liền sau đó là tiếng ngáy kéo cưa, rin rít đến ghê người.
 
Mưa tuôn lộn ngược đất trời. Nàng dò dẫm bước qua bên kia bờ mà bước đi không đến. Đôi chân cứ lóng ngóng giữa dòng xoáy. Trời ơi, nếu như nàng sinh một đứa con thì điều gì sẽ xảy ra? Nó sẽ mang hình hài dáng vóc nàng với bộ mặt và đầu óc gớm ghiếc của hắn sao. Không. Không bao giờ ta sinh một đứa con như thế. Thà ta mang thân này làm đĩ với chính hắn, nhục nhã với chính hắn thì tội lỗi của ta với đất, với trời vẫn nhẹ như sợi lông hồng. Không bao giờ có một con quỷ nhỏ để lan ra nhiều con quỷ nhỏ, gây tai hoạ trong cõi nhân gian. Hắn cứ treo cổ ta lên, băm vằm ta ra muôn ngàn mảnh vụn vẫn hạnh phúc hơn là nhìn thấy một tai hoạ và nhiều tai hoạ kế theo vây ám những sinh linh vô tội.
 
Dưới con mắt của hắn và trong tận cùng ý nghĩ của hắn, nàng là một tên phản bội bỡi không thể đẻ ra một quái thai theo ý hắn. Có phải vì vậy mà hắn đã hành hạ nàng? Khinh miệt nàng? Vò bóp nàng như vò bóp con sâu cái kiến? Không thể. Phải đoạn tuyệt, chia tay, trốn chạy, bôn đào; chết dấm dúi ở nơi bụi bờ xó xỉnh nào đó, trôi đi một nơi thối tha nào đó còn hơn là ở trong căn phòng tanh lợm giọng này.
 
Nước mắt nàng bay vào cơn mưa trái mùa sầm sập.
Thân xác nàng cũng tan biến vào cơn mưa tối nhòa.
Mặt đất bắt đầu tan loãng từ phía dưới, phía tận cùng của sự sống thoi thóp.
Có phải đang bắt đầu một ngày tận thế khi nước mắt, mưa, thân thể nàng trộn rối thành đống bùi nhùi, bươm bươm xơ xác?
 
“… C’est le mystère de l’orage, celui du pauvre.Dans les pauvres maisons, on aime le silence. Mais les enfants crient, les femmes pleurent, les hommes crient, la musique est horrible…” (1).
 
Sự im lặng kinh khủng bao trùm gò đất cao hoang vắng. Không bóng người qua lại. Không tiếng chim hót, chỉ có bóng nắng rớt qua kẽ lá như lưỡi gươm rơi nghiêng trên mặt đất của tay kiếm khách nào đó bắt đầu mỏi mệt trên chốn giang hồ. Tịnh không một âm thanh quen thuộc, chỉ có tiếng rào rào đâu đó từ lòng đất dội lên. Người đàn bà khẽ liếc nhìn xuống mặt đất chỗ mình đang đứng. Không gì cả.
 
Mưa Trên Sông Đakbla
 
Trên đoạn đường dài hơn ba trăm cây số, nẩy xóc, ngân ngất ổ gà ổ vịt khiến không mấy ai còn hứng thú để chuyện trò như lúc đầu hăm hở ngồi trên băng ghế nệm. Cách đây vài tiếng, khi vừa mới bước lên xe, đám hành khách ồn ào chuyện nói, chuyện kể. Mấy người đi buôn nói về giá cả lên xuống bất thường và chắc mẩm rằng mình sẽ bán được nhiều hàng với giá lời cao. Người phụ nữ đi xa nhà lâu ngày nói về sự nhớ nhung hai đứa con nhỏ, tự chị nói ra rằng chúng học rất giỏi, rất ngoan ngoãn. Sau những lời khen ấy, hẳn chị sẽ tưởng tượng rằng mình sẽ được chúng reo mừng đón ngay trước cổng. Vậy mà lúc này người đàn bà buôn đồ khô bỏ rớt những lời lẽ ba hoa về những con cá phơi trên bãi cát, những đêm trắng chờ chồng cỡi lưng sóng bão; ông cán bộ thương nghiệp mập ú, cổ ngấn mỡ bốc phét về công việc điều hành buôn bán trong cơ quan của ông ta, đang như chiếc bị vải lăn qua, lăn lại trên ghế theo nhịp xe nghiêng võng, thỉnh thoảng lại ngã hẳn lên vai người phụ nữ ngồi kế bên, khiến chị ta phải khó nhọc lắm mới đẩy được ông trở lại vị trí cũ. Ở hàng ghế bên kia, ngang với ông cán bộ là cậu thanh niên mang kiếng đen, giống như những tay thám tử. May mà cậu ta không dòm ngó, xoi mói ai, chỉ bông lơn khoe mẽ về bản thân với cô gái ngồi cạnh cười ngặt nghẽo mỗi khi anh ta pha trò. Còn lại là những người có tuổi và hai đứa bé. Họ yên lặng ngó trời nhìn đất, cây cối, nhà cửa… chạy vụt về phía sau, đang suy nghĩ những gì không ai biết. Những người ngồi trong xe, bên cạnh nhau có cớ để giải bày chút tâm sự trên đoạn đường dài, có khi sẵn sàng thổ lộ tâm can với nhau.
 
Lúc xe lên đèo qua những đoạn vòng vèo, lắc lư, gấp khúc nghe có tiếng giấy sột soạt, mùi dầu gió bay dạt, trôi lều bều trong lớp không khí oi nồng buổi xế chiều. Có giọng đàn bà la lên: “chạy từ từ, đừng có bẻ cua gắt quá, cơm cháo lộn lên tới cổ rồi nè”. Tiếng cười lục khục, lẻ loi chìm nghỉm đâu đó cùng mùi dầu gió lúc càng nồng nặc hơn. Lên tới đỉnh đèo, tài xế cho xe đậu dưới tán hàng keo lá tràm trồng dọc theo đường, chỗ gần vòi phun nước tự nhiên dẫn từ đỉnh xuống. Mọi người lục tục xuống xe. Ông cụ ngồi cùng băng ghế, sau khi làm công việc vệ sinh cá nhân, bước đến chỗ tôi đứng, hỏi:
-Mấy tiếng nữa xe mới tới Kontum?
-Giờ mới trên đèo An Khê, chạy kiểu này chắc xẩm tối mới tới nơi.
-Khổ dữ đa. Không biết có tới được Tân Cảnh không đây? – Ông cụ thở dài, xa xôi.
 
Tôi chưa kịp hỏi han điều gì, ông cụ tiếp lời:
-Tôi đi thăm mộ thằng con, chết hồi mùa hè đỏ lửa, năm 72. Tôi có mình nó. Bao nhiêu lần định bốc mộ đưa về Diên Khánh, nhưng vợ nó không chịu, nói “ảnh sống trên này với con, giờ chết đi ảnh cứ sống với con, ba đừng lo”. Con nhỏ đó gan ruột, mấy chục năm vẫn ở vậy nuôi con, mua được chục hecta cà phê, dựng vợ gả chồng cho hai đứa cháu. Mấy năm trước cà phê còn có giá đời tụi nó lên hương chút đỉnh, nay thì sống dở chết dở. Lần này tôi lên bàn với nó, bán nhà, vườn cà phê đưa lũ cháu về dưới này. Tôi đã lên cố rồi mà nào có ai bên cạnh. Đứa con gái và lũ cháu ngoại thỉnh thoảng tạt về thăm rồi biến mất. Chúng thoắt hiện thoắt biến như bầy chim ăn đêm. Còn đám cháu nội thì xa xuôi dặm trường, hiếm khi chúng về. Kiểu này mà kéo dài có khi máu mủ ruột thịt lại lẫn lộn với nhau. Tôi lên lần này là để bàn với chúng nó gom về một mối. Tôi chỉ còn sống nay chết mai thôi. Biết làm sao, chú? Già rồi, đâu ngủ nghê gì được. Đêm thức trắng, chỉ có bức ảnh của thằng con trên bàn thờ. Nó và tôi ngó nhau trong bóng tối, gần vậy mà không nói được lời nào!
Giọng ông cụ buồn buồn khiến tôi cũng buồn lây.
 
Mà thật ra, tâm trạng của tôi lúc này cũng không khác ông cụ mấy. Cũng một thứ cảnh ngộ khá bi hài. Tình yêu. Cuồng dại. Sự Chia ly. Nỗi nhớ thương khắc khoải đến dằn xé nỗi lòng, ngoi ngót những trông đợi kéo lướt thướt bên ngoài khung cửa, bay qua bầu trời chao động cõi lòng tan nát. Ông cụ nhớ con thương cháu, lo sợ sự gìn giữ huyết thống mai sau không trọn vẹn, còn tôi thì thương nhớ một cõi mênh mông rừng rú mộng mị. Cõi mộng mị ấy đã bị Siu B’Liêng mang tận lên rừng sâu núi cao, để giờ này tôi phải ngất ngư chạy theo một cái bóng vừa thật, vừa hư. Trong những cơn sốt màu vàng tả tơi trên giường, tôi nghe tiếng nàng hát trên giòng Sésan chỗ đoạn ngoặt tiếp giáp giữa sông Poko với sông Đakbla, tiếng hát mang mang theo giòng nước ngầu đỏ đất bazan, lúc ầm ầm cuốn tung nỗi hân hoan của tiếng thác đổ, lúc rì rào lăn tăn, ve vuốt qua từng phiến đá hai bờ. Nàng như con nai, con hoẵng trên đồng cỏ ngút ngàn, như cánh cò trắng muốt, lặng lẽ bên các tum nước. Nàng ẩn hiện như thứ ráng chiều chói rực chao trong cơn nắng quái rồi trườn mất vào bóng đêm, đằng sau chỉ còn lại một vệt lờ mờ bay lên từ đất, từ muôn loại cỏ cây quấn thành cột khói hư huyền, kết tụ rồi tan nhanh rồi quay lại vất vơ trên những cành lá, như có như không.
Mười sáu năm rồi tiếp nối niềm hân hoan mệt lả, nỗi buồn nhớ mệt lả.
Và mỗi lần chợt nhớ những giây phút sum vầy, hạnh phúc bên nhau, con tôi lại hỏi:
“Tại sao mẹ không yêu con, yêu ba mà bỏ về với núi rừng?”.
 
Câu hỏi ấy tôi không giải thích nổi với nó, cũng như Siu B’Liêng, nàng không sao giải nghĩa rành rọt cho con hiểu! Chúng tôi đành phải chấp nhận cứ mỗi sáu bảy tháng một lần làm cuộc hành hương về chốn tình yêu, hoặc với tiếng sóng lõa thể động ầm ầm trườn dọc theo bãi cát; hoặc trên cánh đồng cỏ xanh, mượt đến tận cùng mượt của những ngọn lông tơ. Chúng tôi vùi nỗi nhớ vào nhau như con thú hoang trong mùa trăng mật. Rừng núi thì níu kéo biển lên non và biển khơi mênh mông thì níu kéo rừng xuống thật gần, quấn cánh tay trần vào nhau không buông dứt. Nhưng sự cuồng say ấy rồi cũng tơi tả, tơi tả như cành lá bị cơn bão dữ quật nát búp non mởn, để mỗi người một bên cầu sông Đakbla nhìn nhau vẫy tay, rớt nước mắt.
 
Dòng sông Đakbla là một thứ định mệnh khắc nghiệt trói chặt cuộc đời chúng tôi lại với nhau, để sau đó, mỗi người một đầu mố cầu nhìn nhau lặng lẽ lúc chia tay.
 
Cái định mệnh tơi tả ấy là tôi đã vít cong cần rượu, cong đến tận cùng cơn say tuổi trẻ để sau đó theo chân đám con trai trong làng mang đàn gông đứng dưới chân cầu thang nhà nàng, nghêu ngao hát, như con thỏ con đang tập ăn cỏ non, con chìa vôi đang tập hót
 
thau ddơi dơi
ih bblac jiong tỏnia
em ơi anh quá biết
nước da em rạng ngời như gỗ cây knia
em mượt mà như cây cẩm hương
thân hình em đẹp quá
thấp thoáng bắp chân em
Như tia chớp tháng hai
Thấp thoáng cặp đùi em
như sét đánh tháng ba
để trần cặp vú em
cả làng ta bốc cháy
tỏlũk phun tỏsau
ja’bung sang…
 
Cái giọng hát ngật ngưỡng la đà câu say câu tỉnh của tôi khiến những tiếng cười không thể nén lại, chợt bật ra đâu đó trên sàn nhà cao, ba hay bốn gì đó không thể phân biệt được trong đêm tối nhập nhòa bên đống lửa sáng rực dưới hiên. Những tiếng cười trong veo của gió núi đại ngàn, của dòng suối sáng bạc dội đập vào cõi lòng hoang mang, ngơ ngẩn…
 
Tụi con trai tiếp tục đàn và nhảy múa. Còn tôi thì mồ hôi rớt thành hột dài bởi tiếng cười, kích động nỗi háo hức ham muốn chưa định hình, chưa có tên gọi.
 
Những mắt củi nổ lép bép, toé những hạt đỏ li ti trong trẻo, reo vui với đêm xuống sâu, với tiếng đàn thánh thót, ngân xa và cả tiếng cười rúc rích nửa xua đuổi, chế giễu, nửa mời gọi. Các cô gái vẫn núp đâu đó trên sàn. Đám con trai nhảy quanh ngọn lửa bập bùng, hát mãi không thôi, như cơn mưa đầu mùa làm bay động những con mối từ tổ bay ra và quấn quít trên không trung.
 
Bất chợt từ trên sàn nhà cao, tiếng hát lướt nhẹ như tơ như gió, phả vào mặt đám trai làng, phả vào tôi đến ngất ngây còn hơn men rượu cần đang loanh quanh trong cơ thể bắt đầu nóng dần lên:
 
ơi anh bạn xinh xinh
anh rình theo vết chúng em
vết chân con gái bên bờ suối
vết chân anh bị xóa đi trên cát
và anh cũng mất cả
dấu chân chúng em
chân chúng ta cùng gặp
theo một điệu
tay chúng ta cùng uốn
theo một nhịp
đôi má ta chạm vào nhau
và nhận ra nhau.
 
Tiếng hát bay lượn quanh đống lửa, trên đầu chúng tôi mang theo mùi hương của trăm ngàn loài hoa rừng trộn lẫn với mùi đất thơm lừng lựng. Tôi nhận ra nàng qua tiếng hát khói sương. Chính cô ta, người con gái của núi rừng đại ngàn sâu thẳm, chứ không thể là ai khác vừa cất tiếng hát như suối trong, thác reo đó. Thằng K’lưng Đrăck khều tay tôi:
-Mày bắt nó về làm vợ đi. Nó đẹp nhất trong số con gái đẹp trên cao nguyên này. Nó học chữ nhiều. Nó nói được tiếng tây, ăn cơm bằng muỗng, bằng nỉa chớ không bốc như bọn tao. Nó giống tụi bay.
Tôi gật đầu nghe K’lưng nói chứ không thấy mặt mũi “Nó” ra sao. K’lưng tiếp:
-Mày ưng, nó sẽ cưới mày ngàn con bò, trăm ché túc và nhiều thứ nữa.
-Tao không biết. Tao chỉ đi hát với tụi bay thôi. Mà sao “nó” không bắt đứa nào trong đám bọn bay làm chồng?
-Con mắt nó không chịu ngó tới ai. Bụng nó không ưng tụi tao. Mày chưa thấy nó đâu. Nó đẹp đến nỗi những con báo cái đẹp nhất xứ này cũng lồng lên mà ghen với nó. Nó nói chuyện được với mấy ông Tây về thăm làng. Nó rất thương người già và lũ con nít. Cái bụng nó rộng rãi mà…
Đống lửa tàn dần.
Đêm sâu hun hút những xao động vu vơ.
 
Tôi nhập vào đám trai làng quàng vai nhau, chân thấp chân cao trở về, kéo theo những cần rượu say, những câu hát say, lửa hồng và đêm rưng rưng trên mặt cỏ đẫm sương. Tôi kéo “nó” theo trên những cọng cỏ đẫm sương đêm, kéo theo những âm thanh như thật như hư, thênh thênh trong đêm khuya khoắt.
đôi má ta chạm vào nhau
và nhận ra nhau
 
Câu hát vời vợi mời gọi đó ám theo đầu óc tôi, rưng rưng bước chân tôi liêu xiêu như bay như lướt trên con đường đất đỏ say nhè, trên đồi cỏ sũng sương đêm bên kia bờ Đakbla.
 
Và trên con đường đất đỏ ấy, trên bãi cỏ hoang ngậm sương ấy, tôi đã nhận ra nàng trong cõi thênh thang tiếng hát ngọt ngào, ngây ngất như vừa được uống thêm chén rượu bồ đào.
 
Mãi về sau này, khi đã là vợ tôi, nàng mới hé lộ cái đêm đầu tiên và thần tiên “chạm vào nhau”.
“Nghe cái giọng anh hát buồn cười thật, y như mấy ông nước ngoài tập hát tiếng Việt. Em để bụng thương anh cũng chỉ vì bài hát bọn trai làng bày cho anh, cái giọng hát ngọng nghịu, đơ đớ nghe ngồ ngộ, như con chim non mới tập hót, con gà tập gáy vậy. Điều này giống như đám con nít hồi nhỏ tụi em cố chứng minh mình là người lớn”. Từ đó chỉ có nàng hát cho tôi nghe, rồi con gái tôi nghe bên tao võng. Nàng không bày tôi thêm bài nào nữa cả, nói “đủ rồi, để em giữ mãi giọng hát lần đầu anh tập hát”.
 
Biển động dữ dội, ầm ì suốt ngày đêm. Đài trực canh báo có bão gần. Mây đen vần vũ và mưa tối đường. Mưa và gió quần nhau như trẻ con chạy cút kiếm, lúc hất bên này, lúc tạt bên kia, xoáy tròn tròn trên mái. Hạ Cơ thỉnh thoảng lại giật mình khóc thét sau tiếng sấm động. Siu B’Liêng bước tới ôm con vào lòng ru ấp, mắt buồn vời vợi. Mưa bão và sấm chớp khiến nàng chạnh lòng nhớ những quả đồi thoai thoải, tiếng con mang tác, con công tố hộ, gà rừng te tát trên ngọn cây? Đầu óc tôi nghĩ vậy, nhưng thầm mong chuyện ấy không bao giờ là sự thật. Chúng tôi thật sự yêu nhau, người này không thể thiếu người kia. Hạnh phúc của chúng tôi tròn đầy. Nhưng thỉnh thoảng nàng lại xa xôi nhìn những đám mây trôi về hướng mặt trời lặn. Nhiều lần tôi gặng hỏi, nàng một mực không có gì. Bữa nay, điệu bộ ấy được lặp lại trong một thoáng xa xăm cuối đáy mắt, khiến tôi chạnh lòng.
-Hay em về trên đó vài tuần, với mẹ, với làng?
-Em mới đi ba tháng trước đây. Thôi, để mùa trăng cúng cơm mới em và anh và Hạ Cơ cùng về thăm làng luôn.
 
Buông câu nói, tôi nhìn sâu vào đôi mắt nàng, thấy long lanh một niềm vui vàng vọt như cánh hoa bồ xít vàng ngoài tường rào.
Biển đập ầm ầm. Sấm chớp xòe sáng mọi ngóc ngách trong nhà.
Nửa đêm Siu B’Liêng ngồi bật dậy, kéo cả tôi theo như một thứ phản xạ tự nhiên.
-Anh nói đúng, sấm chớp thế này khiến em nhớ rừng quá đỗi là nhớ.
-Anh cũng vậy. Anh nhớ chân cầu thang dưới hiên nhà em, nhớ những đốm lửa nổ tí tách, nhớ dòng sông đỏ quạch màu son, chảy ngược lên dãy Trường Sơn trước khi đổ ra biển Đông.
-Những năm em học ở Couvent des Oiseaux, thầy J. Dupont vẫn thường nói với tụi em, nói trong giờ ra chơi, rằng có sống chung, sinh hoạt chung với đồng bào cao nguyên mới hiểu thế nào là tình yêu đất, yêu rừng và rồi ông phát hiện vô số những định kiến mà người kinh dưới xuôi, người châu Âu đã và đang tiếp tục đối xử với đồng bào cao nguyên bằng sự so sánh không công bằng, thiên lệch.
-Ai nói với em những điều này?
-Thầy J. Dupont. Thầy chỉ phát hiện nói ra, chứ còn dân tộc tụi em thì đã nhìn thấy các vấn đề từ sự bày biện có sẵn trước mặt, từ đời này qua đời nọ mà các anh gọi là tập quán. Chẳng hạn, tự đáy lòng sâu thẳm, mà nền văn minh chữ nghĩa các anh gọi là Tâm Thức thì núi rừng đối với tụi em là ngôi nhà chung. Rừng là hơi thở, là mạch máu, là đường gân, thớ thịt không thể thiếu, không bao giờ chia cắt được. Sống thiếu rừng, thiếu sông suối chẳng khác nào cây lúa, cây bắp nhổ gốc phơi trần trên mặt đất khô khốc, như xua đuổi bầy thú ra khỏi cánh đồng cỏ, sông suối vậy.
-Điều này đã quá rõ ràng – tôi nói.
-Hẳn nhiên. Nhưng những điều không rõ ràng chính là cái nhìn lỗi phạm khi cho đồng bào thiểu số mê tín, văn hóa ăn và văn hóa ở bất cập. Họ sinh sống ở giữa lòng những cánh rừng đại ngàn thì họ phải cất nhà sàn, phải nấu ăn ngay trong nhà, lửa cháy suốt đêm ngày… để nòi giống còn tồn tại tới ngày nay. Những ông tây bà đầm và người miền xuôi dạng hai chân trên nền văn hóa của dân tộc này để ném một cái nhìn lệch chiều về một nền văn hóa của dân tộc khác là điều không thể chấp nhận. Văn minh và văn hóa là hai khái niệm, hai phạm trù khác biệt nhau. Văn hóa của người Mỹ là gì?
-Anh hiểu rồi. Anh hiểu đất, rừng và sông suối kể từ khi anh có em. Anh cũng đang bắt đầu thuộc về rừng như em. Thôi ngủ đi. Không biết bão có vào hay quay hướng đi xa?
 
Siu B’Liêng chảy nước mắt trên ngực tôi.
-Tại vì quá yêu anh nên em đã phản bội rừng, phản bội con sông, con suối.
-Em đã biết rồi mà, anh chưa bao giờ có định kiến với cao nguyên. Nếu vậy anh đã không lấy em từ lâu rồi. Cả em cũng vậy, phải không?
-Em không biết. Nhưng chắc chắn xứ sở em là rừng núi, sông suối thác gềnh, là bầy thú hoang, là những cánh đồng cỏ mênh mông, rờn xanh từ phía mặt trời mọc sang bên mặt trời lặn, từ đỉnh chân trời này giáp đỉnh cong trời đất kia.
-Thì em và anh không ở chỗ giáp đỉnh cong trời đất kia là gì?
-Không phải vậy. Ở đây chỉ có sự gào rú suốt ngày đêm. Biển gào rú. Phố xá gào rú. Tất cả đồng thanh cất lên một thứ âm thanh thật dễ sợ. Những lúc anh đi vắng, em cố lắng nghe tiếng thì thào như ru, như hát, những âm thanh mỏng như dòng nước vuốt ve hòn đá xanh rong rêu… nhưng chẳng bao giờ em nghe được. Anh còn nhớ không? Hãy nói lại cảm giác của mình khi lần đầu em đưa anh vào khu rừng P’lick Jar?
-Anh không chú ý gì cả giữa khu rừng trùng trùng cây to cây nhỏ, vì em đã choáng hết chỗ trong khu rừng đó. Trước mắt anh chỉ có em mà thôi. Duy nhất một mình em.
-Đó chỉ là tình yêu anh dành cho em. Còn P’Lick Jar là một thế giới mê hoặc níu giữ bước chân người, bởi nó là cánh rừng già đẹp nhất của em, đẹp từ tuổi ấu thơ cho mãi đến giờ. Chính nó chứ không ai khác đã che chở em và dân làng, nuôi dưỡng, phả hơi thở thơm ngọt mùi mật ong vào thớ thịt mọi người. Rồi những cây đại thụ hàng trăm năm tuổi xoay tròn tán lá trong gió và nắng trên một thảm cỏ mượt như nhung. Cả con người và chim thú đều gặp nhau trên mảnh đất ấy, rất bình yên; một nơi chốn mà có nằm mơ cả thế giới văn minh cũng không tìm được nơi thứ hai trên trái đất này.
-Ngay ngày mai, anh có thể đưa em về thăm núi rừng. Em biết là anh sẽ làm bất cứ điều gì để em vui, để anh không mất em, chúng ta vĩnh viễn bên nhau.
-Em cũng vậy. Em yêu anh như con nai yêu đồng cỏ của nó, như con chim yêu cành cây của chúng, như con cá lúi cá mương lượn lờ bên khe nước trong soi mặt. Em không thể thiếu anh, nhưng nếu phải xa cách rừng núi quá lâu ngày, thì nỗi nhớ nhung ấy sẽ dày vò đến làm em chết mất, chứ chưa nói chi đến sự trừng phạt của Yang.
-Khi yêu nhau, thánh thần không nỡ bắt tội.
-Nhưng rừng núi bắt tội em. Mà tại sao anh không dám bỏ biển lên rừng với em, như em đã từng làm cho anh? Nền văn minh cơ khí luôn có cái nhìn khắt khe với người khác, ngắm nghía văn hóa của dân tộc khác theo cái nhìn một chiều của mình?
-Chẳng lẽ huyền sử Âu Cơ và Lạc Long Quân lại rơi đúng vào trường hợp của chúng mình? Tổ tiên ta có những trăm người con để chia nhau đồng đều. Còn em và anh chỉ có mỗi một mình Hạ Cơ, chúng ta phải làm sao đây cho rừng núi không bỏ em, cho đồng bằng, biển khơi không quay lưng lại với chúng ta, hỡi Siu B’Liêng?
 
Nàng im lặng không nói gì, vùi đầu vào ngực tôi khóc như mưa bão đổ sầm sập ngoài kia. Tôi vuốt ve khuôn mặt nhòe nhoẹt nước mắt nàng. Thân thể nàng rung bần bật từng cơn dài như những cây bằng lăng cong oằn dưới gió bão. Một sự chịu đựng phi thường đến quá mức đối với nàng, một đứa con của rừng, dần dần lạc mất lối về, rơi tõm vào xứ sở mông muội hồ đồ hổ lốn những khói bụi phi nhân văn. Hạ Cơ, đứa con duy nhất của chúng tôi vẫn ngủ say trong chiếc nôi ấm, không hề hay biết cõi lòng tan hoang của cha và mẹ. Bao nhiêu lần, tôi muốn nhỏm dậy, bồng Hạ Cơ đặt giữa hai chúng tôi, để tấm thân nhỏ bé ấm áp ấy, tâm hồn trong trắng ấy sưởi chút hơi ấm tinh nguyên cho sự chia lìa sắp vỡ toang. B’Liêng càng lúc càng khóc dữ dội hơn bằng sự kềm nén âm thanh trong lồng ngực, âm thanh không bật thành tiếng mà chuyển động khắp cơ thể, rung lên từng hồi, chuyền hẳn qua ngực tôi những thỏi đá lạnh băng, lạnh não nề như thể mọi giác quan bị thỏi lạnh băng kia làm co quắp lại.
Tôi chỉ còn biết ôm chặt nàng, ve vuốt nàng thay những lời an ủi không thể thốt ra thành lời.
Lát sau, B’Liêng gỡ tay tôi, ngồi dựa lên thành giường.
-Anh tha lỗi cho em. Em không muốn làm vậy. Ngàn lần em không muốn vậy. Nhưng em không thể cưỡng chống lại tiếng thì thào của rừng núi, nơi chốn tụ hội hàng ngàn, hàng vạn thứ trên mặt đất này đã thấm đẫm trong thịt da em mà anh chỉ mới hiểu, mới len vào một cõi nhỏ trong em.
-Anh hiểu nỗi nhớ thương quay quắt của em. Giờ thì em hãy ngủ đi, hỡi con sóc bé nhỏ của anh.
 
Ong cụ muốn đi ngay Tân Cảnh, mà bến thì vắng hoe. Ông loay hoay với chiếc túi vải trên tay, vẻ mặt căng thẳng và đầy lo lắng. Ông nhìn sững vào mặt người tài xế như muốn cầu cứu một sự hóa phép nào đó để ông có thể có mặt ngay tại Tân Cảnh lúc này. Người tài xế còn trẻ có vẻ bối rối. Tôi thì càng lúng túng hơn. Mấy lần định mở miệng mời ông về nhà B’Liêng nghỉ qua đêm, mai đi sớm. Nhưng chiếc túi vải cứ sang vai liên tục, ý hẳn ông muốn đi ngay đêm nay.
 
Người tài xế rút thuốc mồi lửa, ngửa cổ rít một hơi thật dài, nói gì đó với ông già rồi cả hai lên xe, đóng sập cửa chạy hút về phía chợ. Tôi không nghĩ người tài xế có tấm lòng rộng mở đến thế để đưa ông già đi tiếp 70 cây số đường rừng, nhưng rất có thể anh ta tìm cách nào đó để gửi ông già đi nhanh nhất. Và vô tình, người tài xế lại nhiệt tình tham gia vào sự thương nhớ nao nao của ông cụ già cô độc. Tôi ngó sững chiếc xe khách mất hút ở cuối phố vắng hoe. Chiếc xe dường như cũng hăm hở rung lên, chờ đợi giây phút trùng phùng giữa cha con, ông cháu. Nhưng liệu sau đó, những người thân yêu nhất có thực hiện đúng theo sự khao khát mãnh liệt của ông? Hay rừng núi đã níu chân họ lại, để ông già lầm lũi quay về đoạn đường dài gần bốn trăm cây số, không biết lấy ai chia sớt nỗi buồn?
Ông già đã mất hút trong niềm hân hoan chen lẫn nỗi buồn.
Còn tôi? Và B’Liêng?
 
Đường phố Kontum heo hút những con đường nhỏ, dài, nhà cửa núp sâu dưới những tàn cây, vườn tược rộng thênh. Tôi giống như người lạ mặt, ngập ngừng trên phố, ngập ngừng bước về phía làng Đak Jar.
 
Tôi đã đến với em thật gần. Tôi như kẻ tội đồ bạc mệnh bước về phía giáo đường, nơi em đang đắm hồn trong chốn mênh mông của đất trời, cây cỏ, chim muông. Tôi đang đuổi theo bóng em chìm dần vào bóng hoàng hôn nhòa nhạt. Mặt trời của em giấu tia sáng đâu đó, nơi em gọi là đỉnh cong của trời đất kia.
 
Tôi đang bước về phía em, như con nai bước tới thảm cỏ, như đàn voi bước tới con suối. Tôi nhìn thấy đôi mắt lung liêng của em trên bậc cầu thang dõi theo tôi và Hạ Cơ. Tôi lao tới với tất cả nỗi nhớ nhung rực lửa, reo cùng tiếng đàn gông quấn quít bên hiên nhà và bay vút lên chóp cây. Còn tôi và em thì bay vút về phía mặt trời mọc.
Tôi đang đứng bên bờ Đakbla, dòng sông đã thít chặt đời tôi và em vào nhau, rồi bất ngờ xô ngã chúng ta dạt qua hai bờ.
 
Đakbla ơi! đến ngươi cũng bắt đầu bi lụy nhỏ những giọt nước mắt xuống đời ta, phủ một lớp bụi mỏng trùng trùng trước mặt? Ngươi hay Mưa bắt đầu đổ. Ban đầu chỉ là những hạt li ti như bụi phấn bay. Rồi càng lúc càng dày thành sợi. Làng Đak Jar nhòa trong nước mắt mưa và bóng hoàng hôn. Rừng đen thẫm ở phía xa và em như đội cơn mưa, hình như không phải bước về phía tôi, giang đôi tay thương nhớ ôm choàng lấy tôi mà bước qua bên kia, sâu vào cánh rừng, với một chút dịu dàng gió núi, một chút ngập ngừng của dòng nước chảy rẽ hai. Em bước về với rừng không ngoảnh lại.
Trong cơn mưa, đất thơm nồng, níu chặt bước chân tôi vội vã lao về phía em…
Và tôi chợt hiểu rằng, em là cô gái rừng, người con gái của rừng, đẹp nhất trần gian.
 
Đọc Lê Văn Thiện Trước 1975
 
Lê Văn Thiện sinh ngày 10 tháng 5 năm 1947 tại thị trấn Giã, Khánh Hòa trong một gia đình nông dân nghèo. Sau khi cha chết vì làm lụng cực nhọc, Thiện phải bỏ học lúc mới xong chương trình trung học đệ nhất cấp tại trường Trung học Võ Tánh, Nha Trang, vào lính vì không biết một nghề nào để làm lụng đỡ đần mẹ già và em gái. Anh có thời gian 2 năm phục vụ tại Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 47, SĐ 22 Bộ binh, đóng tại Phú yên. Sau khi tốt nghiệp trường SQ trừ bị Thủ Đức, Thiện được thuyên chuyển về Trung đoàn 14 Sư đoàn 9, tham gia các trận đánh lớn nhỏ ở chiến trường miền Tây Nam bộ và Campuchia.
Truyện ngắn đầu tay, Ngoại lệ, đăng trên Văn số 47 lúc mới 18 tuổi, ra ngày 1.12.1965 dưới tên Văn Lệ Thiên. Sau đó truyện của ông đăng đều đặn trên Văn, Bách Khoa, Trình Bày, Ý Thức...
Đến nay Lê Văn Thiện có 5 tác phẩm được phát hành, đều là truyện ngắn: Một cách buồn phiền, Sao không như ngày xưa, Chuyện đời, Mưa lạ, Quế.
Những năm đóng quân ở Phú Yên, qua giới thiệu của anh Trần Phong Giao, tôi đã tìm đến đơn vị Thiện hành quân giải tỏa thị xã Tuy Hòa sau tết Mậu Thân (đang đóng quân tại Liên Trì, Tx. Tuy Hòa). Chúng tôi nói chuyện gia đình, văn chương, chiến tranh bắt đầu “leo dốc”... Sau đó, thỉnh thoảng Thiện ghé nhà thăm tôi mỗi khi có dịp và rồi thân nhau lúc nào không hay, như anh em, kéo dài mãi tận ngày nay. Chỉ tiếc mối tình một bên của Thiện với cô em gái không thành, đã để lại mối bận tâm, khắc khoải không ít trong lòng, nên có lúc Thiện đã thầm trách tôi vô tâm, không đưa lời vun xới?!.
Ngoài đời, Thiện không nhiều lời, ba hoa. Trong chốn trường văn trận bút cũng thế, chữ nghĩa luôn chừng mực, chừng mực đến độ cô lại như nấu cao. Và như thế, cũng có thể gọi văn chương và cuộc đời Thiện là một?
Đời và văn của Thiện vẫn là những cảnh đời khốn khổ, bất trắc thường xuyên xảy ra trước mắt. Biết đấy, thấy đấy, nhưng không với tới được, không thoát ra khỏi. Nó cứ quấn lấy, ôm chặt từ lúc còn cắp sách tới trường cho đến những ngày hành quân liên miên, những cái chết, những trận đánh lón nhỏ và, sau này khi mãn tù trở về, là những nhác cuốc trên rẫy sắn bạc màu, chỉ thấy toàn cát trắng và đá cuội, đến mức Thiện đã chống cuốc ngậm ngùi nhìn đất, nhìn trời, nhìn những củ sắn như bộ râu ông Quan Công mà không biết “kêu ai”(*)! Cuối cùng đánh liều “ngậm ngải tìm trầm” trên vùng núi Phú Yên, Khánh Hòa, Gia Lai... 2 năm đi “điệu” cùng với muỗi mòng, rắn rết, sốt rét rừng... cũng chẳng hề làm thay đổi cuộc sống của gia đình lên chút nào. Vẫn cứ nghèo “rớt mồng tơi”, đổi lại Thiện giàu vô cùng giàu chữ nghĩa, tích lũy thêm vốn sống, vốn dĩ đầy dẫy những nhọc nhằn, không phải chỉ riêng anh, mà còn cả những người dân sống quanh anh, một đời lam lũ...
Truyện ngắn Lê Văn Thiện có thể tạm chia hai thời kỳ rõ rệt: những truyện viết trong thời chiến tranh và truyện viết thời im tiếng súng.
Hai tập: Một cách buồn phiền và Sao không như ngày xưa, một do Văn và một do nxb Côi Sơn ấn hành đều trước năm 1975. Và những truyện ngắn ấy có thể nói đã khắc họa tiêu biểu cho bộ mặt chiến tranh VN cùng với những Ngô Thế Vinh, Y Uyên, Trang Châu, Thế Uyên, Phan Nhật Nam, Nguyễn Bắc Sơn... Tuy mỗi người mỗi vẻ, cách chọn đề tài và viết với phong cach khác nhau, nhưng có nét chung: Họ đều là thế hệ trẻ lên đường cầm súng để bảo vệ nền tự do cho phần đất còn lại luôn bị dòm ngó, xâu xé từ những cường quốc lắm súng đạn và thừa tiền bạc, như một trò chơi. Và những người trai trẻ bắt buộc phải lên đường, nhập cuộc trong cuộc chiến tương tàn, bẩn thỉu, đầy dẫy hệ lụy...
Mỗi nhà văn trong thời kỳ này, khắc họa chiến tranh theo cái nhìn khách quan nhất, đơn giản bởi họ là những người trong cuộc, trực tiếp sống chết với nó để nhìn thấy quá nhiều cảnh bi thương, hiểu đến tận cùng về thân phận con người, về đất nước nghèo khốn bị dày xéo tàn khốc: Anh chỉ có quyền bước tới mà không có quyền được bày tỏ ý kiến. Chỉ hành động theo lệnh mà không có quyền chọn lựa... Kết quả: tan nhà nát cửa, chết chóc, chia ly, hận thù chồng chất!
Chiến tranh thời đó (và thời nào cũng vậy), không do người dân nghèo dựng lên mà do lũ người “rửng mỡ” sắp đặt. Và Thiện phải cầm súng như bao thanh niên khác. Suốt tuổi thanh xuân, Thiện sống trong đạn bom, cái chết đủ kiểu cho nên anh không thể viết theo phong cách Mai Thảo, Nguyễn Thị Hoàng và những nhà văn “máy lạnh” khác. Cõi văn chương của Thiện là lằn ranh giữa sống và chết, là tiếng súng bắn tỉa, những đợt hành quân, những trận tấn công, giải vây, tháo chạy, cảnh lộn xộn, nhếch nhác nơi miền quê nghèo... Cho nên mỗi khi đọc truyện Thiện điều đập vào mắt, trí não tôi, trước tiên không phải là nội dung mà là những dấu phảy, dấu chấm, chấm phảy, ba chấm, hai chấm... Cứ một chữ có dấu phảy, hai chữ buông dấu chấm. Chỉ một đoạn văn ngắn thôi đã kín đặc các dấu câu, khiến tôi phải tự đặt câu hỏi: Phải chăng nhà văn bị ám ảnh bởi những loạt đạn dài ngắn, bỡi cuộc đời “lên bờ xuống ruộng” của mình, của những người dân nghèo, bởi cảnh sống “chụp giựt” nơi phố phường và cảnh đời khốn khổ nơi miền quê Thiện sống, mà có lần vui miệng kêu : “...bằng lòng sống trong cái ao làng này” và thêm, rõ hơn trong một bài viết ngắn về Trần Hoài Thư: “Ở đây, tôi làm nông, gắn bó với ruộng đồng, ổn định. Tôi không than van, oán trách (Oán trách ai đây, trời chăng?). Than thở vô ích, nó chỉ làm suy nhược con người. Điều quan trọng (và kỳ quặc): tôi luôn nghĩ mình may mắn. Còn sống sau 7 năm đi đánh nhau, 33 năm vật lộn với áo cơm là may mắn... Tôi nằm trong cái ao làng. Tôi ngao du, ca hát, bơi lội thỏa thích ở đó. Đúng hên”.
Có lẽ “hên” do không chết thảm ngoài chiến trường, trong nhà tù và may mắn hơn là chưa chết khi phải vật lộn suốt từng ấy năm trời trên mảnh đất khô cằn, nghèo khó! Thiện không chết và chưa chết. Nhưng quanh anh, những người bạn, những chiến hữu của anh, bà con, đồng bào anh thì ngã vật ra chỉ sau một loạt đạn từ phía bên kia. Anh nhìn thấy tận mắt, chỉ cách mấy bước chân, nhưng bất lực nhìn bạn ngã gục một cách đau đớn, tủi nhục: “Thới thả cây súng xuống đất. Người đứng sau lưng kêu “trời”. Anh ta quăng một trái khói. Khói tỏa xanh đặc một khoảng, che khuất Khắc, cái thùng rác và phần dưới cái cây bên đường. Chúng nó lại bắn vào đám khói. Khắc được lôi vào, chỉ còn là cái xác. Nhưng cái xác đã bị thêm hai viên đạn nữa. Trên lưng Khắc đóng rõ ba lỗ máu. Người can đảm trừng trừng nhìn xác bạn, rồi tự vuốt mặt mình”  (Trong lớp khói mầu).
Những cái chết như vậy, trong chiến tranh, là bình thường. Nhưng với với Thiện, thì sự bình thường kia lại vượt quá sức chịu đựng của con người nhạy cảm, như anh. Nội dung của truyện trên là cảnh Tiểu đoàn liên hoan sau trận thắng lớn. Thới được gắn huân chương như một anh hùng và được mời lên sân khấu đọc thơ, ca hát. Nhưng người anh hùng kia không đọc được, không hát được, bởi nỗi ám ảnh kinh hoàng về cái chết trước đó của đồng đội khi đơn vị về giải tỏa thành phố trong trận Mậu Thân: “...Thới đấm trán, xốc lại quần. Mọi người lại cười rân. Thêm được hai câu nữa. Cảnh đường phố chập chờn, buổi chinh chiến... đạn xới sạt sạt, lúc nhanh, lúc như nước nhỏ giọt xuống mặt đường, bụi bay, một người ngã xuống mép đường, cây súng, cái mũ sắt... kìa nữa, khói xanh lan ra, chờn vờn. Không cố được nữa. Thới lắc đầu, nguy mất thật, hai chân thì vẫn đấy, nhưng cái đầu thì, coi kìa... sao lạ, mắt cứ thấy dâng lên, lan mãi ra một màn khói xanh” (Trong lớp khói mầu).
Đọc đến đây, tôi bỗng nhớ đến đoạn văn sau: “Qua máy truyền tin ông đại đội trưởng ra lệnh trung đội tôi bằng mọi giá phải chiếm ngôi lầu Ông Tề ở bên kia đường, sau trạm xăng (...). Rồi tôi hét: Chạy. Cả bọn cùng ào qua lộ. Ðạn đuổi theo, sủi bọt trên đường nhựa. Vô sự. Chúng tôi đã băng qua đường vô sự. Tôi chạy đến phía dưới trụ xăng, ngồi núp đàng sau trụ. Người lính truyền tin chạy theo tôi ngồi bên cạnh. Những người lính của tôi cũng tìm chỗ núp chung quanh. Chỉ còn khoảng 15 thước là đến ngôi lầu. Ðịch lại bắn rát. Ðạn địch sủi bọt trên đường, lỗ chỗ vào vỉa hè xi măng quanh mình. Ðạn xuyên qua cây xăng, lửa tóe lên. Chưa kịp ra lệnh gì thêm cho những người lính xung quanh thì bỗng nhiên đầu óc tôi xây xẩm.
Một viên đạn nào đó dịu dàng quá đỗi, hôn lên da thịt tôi, như một cơn gió thoảng, như một nụ hôn của định mệnh, của tuổi trẻ, của chiến tranh, của ngăn chia, của con ngựa chứng..”. (Trần Hoài Thư – Nhà văn trẻ ấy bị thương).
Khắc của Lê Văn Thiện thì “trên lưng đóng rõ ba lỗ máu”, còn tôi của Trần Hoài Thư là “một viên đạn nào đó dịu dàng quá đỗi, hôn lên da thịt tôi...”, cả hai đều làm nhiệm vụ tái chiếm thành phố trong tết Mậu Thân!?
Dẫn hai đoạn văn trên, không có ý so sánh, mà hơn hết để chúng ta có cái nhìn rõ ràng hơn với ngòi bút Lê Văn Thiện. Cả cuộc đời quân ngũ của mình, Thiện luôn có mặt ngoài chiến trường với những trận đánh lớn nhỏ, từ miền Trung vào Nam bộ qua tận xứ Chùa Tháp. Thiện lăn lộn và chứng kiến tận mắt những cảnh khủng khiếp của chiến tranh. Tuy nhiên viết như một số nhà văn quân đội thời bấy giờ, về những trận đánh có mình tham dự, Thiện lại viết rất ít, rất hiếm hoi mới đọc được vài đoạn, lồng vào những bối cảnh khác. Đây, có lẽ cũng là một đặc điểm của Lê Văn Thiện chăng? Chiến tranh trong truyện ngắn của Thiện chỉ lấp ló, đậm nhạt vài chỗ từ những ký ức xa gần, từ cảnh sống của bà con nông dân ở nông thôn. Trong truyện Chúng mình ơi, đau buồn, Thiện dẫn dắt người đọc từ một nhân vật đọc cho người khác nghe một đoạn về chàng tráng sĩ, đến cảnh rộn ràng, chộn rộn của bầy trẻ háo hức đi xem kịch: “Một chiếc xe đạp chạy ngang qua cổng, bóp chuông. Tiếng trẻ con nói chuyện bỗng từ đâu trờ tới, xôn xao, rồi nhỏ ngay, mất hút. Có lẽ chúng nó đi mau, hay chậm lúp xúp. Chúng ra đình xem truyền hình.” , Nếu chỉ dừng lại ở đây, chúng ta dễ có suy nghĩ tưởng tượng cảnh lagf quên yên bình dưới ngòi bút của Lê Văn Thiện. Nhưng không phải vậy, sag đoạn sau thì nhà văn lại lồng vào cảnh mấy anh nhân dân tự vệ đi gác đêm: “Toán người gác đêm kéo đến, họ vào sân, nói chuyện xì xào. Nhà bác Tương có hai cái sân tốt, rộng, nằm không cần trải chiếu, nên toán gác này thường đến ngủ. Cũng có người bảo nhà này có một điểm khác quyến rũ, hơn hẳn cái sân làng, là con dâu bác Tương. Họ đàn ông con trai, khó trách họ được. Với lại họ cũng đàng hoàng, dễ thương (...). Ngủ chưa bác hai? Cô hai ơi, cho bọn này mượn chiếc chiếu. Cô hai ơi, sao cái sân...”. Như vậy, trong cái làng quê yên ả kia, nguy cơ của chiến tranh đã lấp ló trong cảnh “chộn rộn, xôn xao” của lũ trẻ con đạp xe đi coi hát? Chiến tranh trong truyện của Thiện cứ nhẩn nha như vậy, đến với mọi người, với làng xóm một cách tự nhiên, thoải mái như thể tối phải ngủ, trưa chiều phải ăn uống, tóc dài phải cắt, rửa mặt, súc miệng... Nó (chiến tranh) có mặt như để tô điểm cho làng quê chút “sinh khí”, chút tiếng động ồn ào vốn dĩ đã ngủ yên bấy lâu, nay choàng thức dậy?: “Ông già ngồi gác bên chậu bông bỏ súng nằm xuống chân, nhịp tay hát hay ngâm gì đó, chắc hẳn để khỏi buồn ngủ. Chiến tranh thật sự đã có từ lâu, nhưng mãi đến khi thấy những ông già lãnh súng, những đứa nhỏ ngày đi học đêm đến moi súng xách ra đình làng tập họp, người ta mới trợn mắt, và lại còn ngạc nhiên. Chuyện giặc giã đã tiến đến cái mức xa thế này rồi sao?” (Chúng mình ơi, đau buồn).
Những cảnh huống như vậy, hẳn nhiên nhà văn đã từng sống với nó, chứng kiến tận mặt ở một cái xóm nhỏ heo hút nào đó không tìm thấy tên trên bản đồ cả nước, nhưng nó vẫn tiếp tục tồn tại với nhiều dạng thức khác nhau, và diễn ra ở từng mức độ cao thấp khác nhau mà thôi, bởi chiến tranh vẫn dồn dập, đạn bom vẫn thả xuống, vẫn tiếp tục nhắm vào nhau mà bắn... Cuối cùng là những hậu quả không thể tránh khỏi, cái hậu quả kia, lại chính những người dân vô tội phải gánh chịu: “... anh lại nhớ đám mả những người dân chết vì đạn lạc trong trận đánh tháng trước, chôn như dập trên các bờ ruộng. Mấy gò đất mới đắp mọc lên hai ba bàn chân... Một chân mọc thẳng, lòng bàn chân ngửa lên trời, da vàng tái, móp khô, trông nhỏ và rất dơ...” (Quán vắng).
Những truyện ngắn của Thiện viết về chiến tranh chỉ chừng đó không ồn ào, hối hả, không dồn dập, tưng bừng khói lửa, nhưng khi khép lại trang sách, nhắm mắt ta cảm thấy một chút đau nhoi nhói tim gan, bởi anh đã “thực chứng” những tình cảnh thảm thương, để khi lòng “tịnh” lại anh đưa nhân vật và câu chuyện một cách bình thản như chị nhà quê xách rổ ra chợ làng! Thản nhiên một cách bình dị mà đau!
 
* Trích Đọc Lê văn Thiện, tạp chí
Thư Quán Bản Thảo số 43 tháng 8-2010.
 
Nơi Không Chỉ Có Khói Núi      
 
Hai đứa trẻ đứng thập thò ngoài cổng, bộ dạng rụt rè. Đứa con trai chân đất mặc quần cộc, áo ngắn tay màu đất, tiệp với đôi chân mốc cời. Đứa con gái mang dép nhựa, quần đen hụt lên trên mắt cá chân, tóc hoe rối nùi, trên tay xách bịch ni lông màu đen, không rõ đựng thứ gì. Trực ngồi trên chiếc đẩu gỗ mộc sần sùi, nửa muốn chạy ra mở cánh cổng ghép bằng những cây chà rang, nửa muốn ngồi miết để quan sát điệu bộ lóng ngóng của chúng. Cả hai có vẻ chịu đựng, chờ đợi sự lên tiếng của các cô giáo trong căn nhà tập thể.
 
Qua khung cửa bằng những vạt cây cắm sâu vào vách đất, thân thể hai đứa bé bị vạch từng đoạn gãy khúc, mờ mờ trong màn sương núi đặc lềnh, lung linh, hư ảo trước vạt núi màu xanh phía xa bắt đầu co lại, nhòe nhoẹt lớp khói trắng quấn thít, từ từ như người ta kéo tấm vải mỏng phủ trên đồi cỏ hoang. Khúc sông trước mặt cũng đục lềnh lớp khói trắng sà thấp sát mặt nước. Khói núi tuôn xuống xuôi theo gió cuối ngày lúc mỗi dày thêm, lạnh ngắt.
 
Hai đứa nhỏ chắc thấm lạnh, Trực nghĩ và đứng dậy quơ đôi dép dưới gậm bàn bước ra sân.Thấy Trực, đứa con trai dịch nép sau lưng chị. Cánh cổng kéo qua bên, ngã nhoài về phía sân. Trực nói:
-Các em vào nhà, kẻo lạnh.
Đứa con gái bối rối chuyền chiếc túi từ tay này sang tay kia, lí nhí:
-Má em… má em biểu mang cho cô… – nói và đặt chiếc túi đen xuống thảm cỏ và chạy ngược ra hướng bờ sông. Đứa con trai lúp xúp chạy theo sau, thỉnh thoảng ngoái lại ngó về phía Trực. Bóng của chúng lượn trên đồi cỏ rồi nhòa dần trong lớp sương trắng ở đoạn những ruộng bắp bạt ngàn. Trực chưa hề biết chúng, có lẽ là học sinh của lớp Thẩm hay Diệp, Trực đoán vậy.
 
Trực quay vào nhà, quành xuống sau chái bếp xách theo bọc cá hai đứa học trò nhỏ mang biếu, đổ ra chiếc rổ nhựa. Một vài con quẫy mình hay cố nhoi chiếc đầu nhỏ lên trên những con khác. Đó là những con cá lúi, cá mương vảy bạc lấp lánh, dài như phần đầu sơ chiếc đũa bếp, có lẽ người nhà của chúng quây lưới trong các tum hay đánh dẹp bên những con suối.
 
Trực ngồi trên chiếc đòn kê đổ rổ cá vào thau thì Thẩm và Diệp từ phía rẫy trồng sắn sau trường trở về, khiêng theo bó củi khô dựng bên đầu hồi. Thẩm hỏi gì thế? Trực nói cá của học trò mang biếu, không rõ học trò của cô nào. Thẩm thọc gáo dừa vào lu múc nước rửa tay vừa liếc nhìn thau cá lầm bẩm: cá lúi nướng dầm mắm ngò thì không còn gì bằng. Tiếc rằng bọn mình không phải là đàn ông con trai để có thể nhấm nháp chút rượu trong buổi chiều trắng khói núi như thế này. Diệp đứng cạnh đang kéo ống quần để lộ bắp chân tròn trắng, xì một tiếng dài, bảo: nhìn những con cá nằm trong dĩa mắm ớt tỏi mấy bà không cảm thương thân phận đàn bà con gái tụi mình sao. Trắng phau thế mà phơi chình ình trên dĩa đợi người ta thọc đũa vào ngoáy. Bà nào cũng chuẩn bị tới cột số “băm” hết trơn trọi rồi còn thú nỗi gì? Thẩm hứ đánh cốc “nói xàm” rồi quày quã bước vào nhà. Diệp đứng xớ rớ một lúc, không nghe Trực nói gì, khum người chui qua hàng rào thưa khóa cửa các phòng học. Trực rửa sạch sẽ những con cá cuối cùng cũng vừa lúc ý nghĩ tòe ra, đụng cột số “băm” Diệu nói. Chưa biết có xàm thiệt hay không, nhưng bốn năm rồi cứ bám riết nơi núi cao suối sâu này, đôi lúc cũng tủi lòng. Nhan sắc không biết phô bày với ai. Những người dân miền núi chân chất thiệt thà, luôn nghĩ ba cô giáo là những con người chỉ cách thần núi thần sông một sải tay, đám thanh niên thì luôn nhìn họ ở một khoảng cách xa, nên son phấn cũng trở nên ngượng nghịu trên đôi gò má xàm xạm lỗ chân lông. Hiếm hoi lắm mới nhìn thấy vài người đàn ông thồ hàng từ xuôi lên đổi các loại nông thổ sản cho đồng bào rồi ào trở về như thể chốn này là nơi ma thiêng nước độc không nên qua đêm… Sự xuất hiện đột ngột và ra đi cũng đột ngột đôi lúc gợi nhớ những mẩu tình vụn vặt thời học trò: nói vài câu vu vơ góc sân trường, khẽ chạm tay nhau những đêm diễn văn nghệ hay ngồi bên ly nước góc phố… dường như không đủ sức để hạt mẩy chút mầm xanh yêu đương. Thỉnh thoảng Trực bật cười một mình, nụ cười giống hệt nồi cá kho bốc mùi sả, ớt và thứ mùi nặng trịch lưu cửu. Đó là những con cá tràu, cá nhét cong khum lại như cố chịu đựng sức nóng từ đáy xoong vồng lên, đến khi, như không còn sức chịu đựng, chúng cứ ùng ục giống tiếng rên khẽ.
 
Ba cô giáo thường xuyên dùng món ăn này và mỗi khi ngửi mùi cá kho, Diệp nhăn mặt kêu giống y chang cái mùi con gái ẩm mốc. Thẩm lừ mắt, thì bà cuốn xéo về thành phố đi. Việc gì giam giữ thân gái trinh nơi hóc núi này. Diệp buông đũa cười ha hả, khéo xúi dại, có nước đi bán bia ôm. Mà nghề bia ôm nay chỉ toàn các em mười chín hai mươi, làm gì có chỗ cho thứ gái già này… Diệp kéo dài mấy chữ cuối câu và khóc òa, chén cơm và đôi đũa trên tay thiếu chút nữa là rơi xoảng xuống nền đất ẩm. Trực dùng đùa gõ lên thành xoong, các bà ăn nói cẩn thận, chớ quá bi lụy… rồi buông đũa quẹt nước mắt trước tiên. Mâm cơm chiều trở nên lạnh ngắt. Con mèo mướp ngồi chồm hổm liếc nhìn các bà chủ không hiểu cớ sự, kêu mấy tiếng meo meo rồi bỏ đi nơi khác. Thời gian cứ lếch thếch bay qua đầu ba cô giáo bằng những chuyện không đâu như vậy, thỉnh thoảng nó như chiếc kềm nhéo nhẹ vào da thịt, không trầy xước nhưng cũng gợn nhói lên chút đau tê.
 
Trực bưng rổ cá vào bếp, kẹp chúng nằm sắp hàng trên chiếc kẹp tre và mang vào bếp cời than hơ lửa. Trực định bụng chỉ cần nướng sương rồi hong khói theo cách mà Trực học được dưới chợ thị trấn, ai muốn ăn gì tự chế biến. Mùi cá nướng bắt đầu bay tỏa ra thơm phức khiến Trực nghĩ ngay đến chuyện những cọng ngò màu xanh cuộn quấn lợn cợn màu ớt đỏ quanh những con cá nướng và Thẩm và Diệp. Trực lên gian trên mang theo mùi cá nướng đậm đặc trong buổi hoàng hôn tràn khí núi lạnh. Căn phòng vắng hoe, không rõ hai đứa đi đằng nào vẫn chưa về?
 
Gian nhà tối dần, khói núi len vào tận bếp, lạnh. Trực quay xuống cời than, vần nồi cơm rồi đứng lên dựa vào phên cửa nhóng sang phía bờ sông. Vẫn chưa thấy bóng Thẩm và Diệp ở đoạn bến nước. Nhớ những hôm trời lạnh dữ, nửa khuya Diệp cong người rúc mũi vào ngực Trực, tiện tay mở cúc áo vân vê đầu vú, kích động cho nó căng cứng lên. Lúc đầu Trực cảm thấy nhột nhạt, giận, nhưng rồi những cảm giác mới lạ, khó tả làm Trực tê rúm cả người và mệt nhoài trong giấc ngủ chập chờn với những giấc mơ về sự đụng chạm thịt da căng phồng niềm phấn kích bóng nhẫy. Sáng dậy Trực nghiêm mặt: tối nay bà Diệp nên ngủ riêng. Diệp nhăn nhó: trời lạnh thế này tôi đến chết cóng mất. Thẩm lê chiếc chổi trên nền đất: cô Trực không nên gây mất đoàn kết. Sướng khổ có nhau, chuyền chút hơi ấm cho nhau đâu mất mát gì mà la nguây ngẩy, cứ như con Diệp hãm hiếp bà không bằng.Trực như không nghe thấy, vục mặt xuống thau nước pha nóng, dùng chiếc khăn ấp nước lên mặt như thể che lấp sự xấu hổ, lơ mơ nghe tiếng nói xa gần nửa bỡn cợt hờn dỗi, nửa trách móc. Lúc vắt chiếc khăn mặt lên sợi mây phơi căng ngang trước đầu hồi, Thẩm đi xuống dựng chiếc chổi ở chái phên, tiện tay nhéo nhẹ vào hông Trực. Bà mà giả bộ. Tôi nằm nghe bà rên ư ử như con mèo cái trong mùa động dục. Trực đỏ mặt bỏ ra giếng tìm chiếc gàu, không trả lời, không phân giải; chỉ thấy nóng bừng trên hai vành tai, tê cay nơi sống mũi.
 
Lúc cây đèn dầu đốt lên, hắt bóng mình chao lượn trên vách đất, Trực bắt đầu sốt ruột. Trời cứ tối dần. Dãy núi phía xa chỉ còn là khối đen thẫm trong màn đêm. Sự lo lắng pha chút sợ hãi khiến bóng đêm trở nên dữ dội hơn. Trực nghĩ ngay đến sự cố tưởng tượng ban chiều, mở một nụ cười như mếu. Nụ cười ngay chính Trực không nhìn thấy. Nụ cười cô đơn chúc đậu trên đôi môi lạnh. Lạnh như từ chỗ ở này từ ngôi trường này vào tới làng xa hụt bước chân trong bóng tối nhập nhòa để có thể lang thang nhìn những quầng đèn sáng hắt ra từ những căn nhà sàn, từ mùi chua ngai ngái bã hèm, mùi phân gia súc vung vãi trên nền đất, đầy ắp sự êm đềm, ấm cúng hơn căn nhà và ngôi trường đứng biệt lập trên dãy đồi hướng ra phía bờ sông.
 
Đang loay hoay với mớ ý nghĩ lộn xộn thì từ bến nước có tiếng hú gọi đò. Trực đứng bật lên, nhóng cổ nhìn về phía bến tối u u. Lại nghĩ, thôi kệ. Chừng nào chúng về thì về, hơi đâu rồi quay vào nhà, ngồi tì tay vào chiếc bàn gỗ mộc nhưng mắt vẫn nhóng qua ô cửa sổ lệch. Con mèo mướp nhảy tọt lên lòng Trực, dúi chiếc đầu cọ cọ vào bụng kêu meo meo có vẻ như vỗ về, an ủi cô chủ: thôi chị đừng buồn, sớm muộn gì hai chị ấy cũng về… Trực vuốt lên lưng nó. Lớp lông mềm mượt như tơ gây chút cảm giác ấm áp tẻ muộn.
 
Con mướp đang nằm im bỗng dưng nhảy khỏi lòng Trực, phóng vút qua ô cửa cùng với những tiếng meo meo lướt nhẹ trong đêm và mất hút đâu đó. Lát sau nó lại cất tiếng nghe xa ở phía góc sân trường, trên lối mòn dẫn ra bờ sông, mỗi lúc rõ dần cùng với hai khối đen nhấp nhô di động. Trực vặn to ngọn đèn dầu, nhoài người ra khung cửa. Thẩm và Diệp đã về. Hú hồn, Trực kêu lên nho nhỏ và chạy ào ra như một đứa bé chờ mẹ đi chợ về quá lâu. Nếu như mắt lúc này nhòe ướt thì Trực là con bé con thực. Hai chiếc bóng đen rõ dần. Trực dịch cánh cổng và căng mắt thật to như thể thu hết hai người bạn đồng môn vào sâu trong đồng tử. Bóng hai người ngã chúi về phía con dốc ngược lên nhà. Trực nói vọng ra:
-Hai bà đi đâu dữ thế?
-Qua bên nhà Ama Bơk coi có tin tức, công văn gì từ Phòng gửi lên không?
Lúc cả ba bước hẳn vào nhà, Trực hỏi:
-Không có tin vui?
-Không – Thẩm đáp cụt lủn và với tay lên giá gỗ rót đầy cốc nước uống ực một hơi, trong khi Diệu nằm ngã lên giường, giang rộng chân tay như kẻ bị câu móc.
 
Trực hiểu tiếng “không” của Thẩm khi nhìn thấy cô nàng đang đung đưa kẽo kẹt chiếc võng gai mắc giữa hai cây cột. Tiếng “không” mỏi mệt rớt gọn xuống nền đất với dài theo sự chờ đợi, hy vọng mỏi mòn ngày về thành phố. Tờ giấy cam kết phục vụ miền núi ba năm càng lúc càng giống hình ảnh bà mẹ đi chợ dưới con mắt trẻ thơ, khiến mỗi khi chạm nhẹ vào nó cả ba cứ loay hoay vừa lo lắng sợ hãi vừa tìm cách tự an ủi, rồi ngó vào mặt nhìn nhau như mếu.
Tiếng đập bèm bẹp. Đập muỗi. Trực ngoái lại:
-Ăn chút gì chớ?
-Thôi tao mệt, mai ăn luôn thể.
 
Trực ái ngại leo lên giường buông mùng, khẽ khàng nằm xuống cạnh Diệu. Tiếng võng vẫn đu đưa kẽo kẹt, đều đều.
 
Cái lạnh từ những khối đá vô tri tận rừng núi sâu bắt đầu len tận vào vạt giường. Trực cong người lại ôm riết lấy Diệu, chờ hơi ấm từ người nó chuyền qua…
***
 
Cuối buổi học, Thẩm cho học sinh tập hợp trước cột cờ căn dặn: ngày mai có các thầy cô trên tỉnh về thăm chúng ta. Nhớ ăn mặc thiệt đẹp, nhất là nói các bạn còn đang nghỉ ngày mai phải đi đông đủ, sẽ có thưởng.
 
Thẩm nói dứt câu, có tiếng lao nhao “thưởng, thưởng” nổi lên dưới sân khiến cô giật mình với lối nói dối vốn dĩ cô rất ghét. Thẩm dáo dác nhìn chúng rồi tự trấn an “chẳng qua là bản năng tự nhiên của con người trong những hoàn cảnh thúc bách” và bật cười. Ờ có thưởng, nhưng chưa biết thưởng gì. Các em về nhắn lại với bạn, nhớ đi học thật đông đủ.
 
Thẩm cho giải tán. Đám học trò miền núi ùa chạy xuống chân đồi như đàn ong vỡ tổ. Những bàn chân đen đủi lướt trên đường đất, trên những vạt cỏ xanh rờn rồi tản dần qua các ngả đường, khuất lấp trong những cây rừng còn sót lại bên vệ đường, nhấp nhô bên các ruộng mía, đồi cỏ… Sân trường phút chốc vắng hoe, chỉ nghe thoang thoảng mùi khét nắng, mùi cây rừng bị đốt cháy, mùi lông bò bay vờn quanh chỗ các cô giáo đứng. Nét mặt Thẩm có chút tươi. Trực và Diệu cũng vậy khi mường tượng ngày mai ngôi trường ít còn ai nhớ đến này sẽ được Sở được Phòng về thăm. Chưa biết thăm gì, nói gì nhưng dường như có chút niềm vui len lén mơn man, vuốt ve đầu óc ba người đông đặc sương núi này.
 
Thẩm, Trực, Diệu lục đục cả đêm không ngủ với mớ tâm trạng mừng lo trộn lẫn. Cả ba ngóng chờ lãnh đạo về thăm trường ngày mai như thể chính phái đoàn này sẽ mang đến cho ba cô hơi hớm phố phường, văn minh đô thị, sự sôi nổi ồn ào của tuổi trẻ thành phố, sự rạo rực của con tim chưa định hình.
 
Sáng ra, ba cô giáo ngồi ba góc. Chính giữa bàn là đống son phấn ngổn ngang. Những món đồ trang điểm hình như cũng lây niềm vui với các cô chủ. Hiếm hoi lắm chúng mới được tập trung đầy đủ trên mặt bàn để nhìn mặt nhau, được những bàn tay thon mềm chạm khẽ vào vuốt ve, nâng niu, chuyền sang hơi ấm và niềm hạnh phúc nở xòe như những cánh hoa dại mọc tràn trên khoảng sân cỏ trước nhà.
 
Ngày thứ hai chúng lại được các chủ nhân kéo dựng dậy thật sớm, nhưng niềm vui tựa như vết cào xước trên bức cổ họa, có chút gì gần như sự chịu đựng quá sức trong vẻ mặt của ba người.
 
Ngày thứ ba, không còn là sự nâng niu, nhẹ nhàng, trân trọng. Chúng được lôi ra và vất lăn lóc trên bàn. Thê thảm hơn là không ai buồn động đến, chỉ nghe những tiếng thở sượt dài.
 
Thẩm là người đầu tiên ném chiếc lược đang cầm trên tay, văng đụng vào lọ nước hoa Chanel, đụng tiếp vào hộp kem Bioré, xoãi ngang gần sát với núm bông thoa phấn, gần thẳng góc với chiếc bút chì tô mắt.
-Tao không còn đủ sức để nói dối với học trò được nữa. Ngày nào cũng chầu chực. Ngày nào cũng ngóng dài cổ về phía bến nước như chờ ngọn lửa đêm giá rét…
Diệu ôn tồn:
-Bà đừng làm ồn lên. Có khi bị trục trặc gì đó biết đâu chừng!
-Trục trặc gì thì cũng phải báo.
-Ai báo cho bà?
-Bộ mày tưởng đây là khu chợ xổm sao? Một ngôi trường hẳn hoi, có tên trong danh sách, có giáo viên đứng lớp, có học sinh, phụ huynh…
 
Trực gom hết những món đồ trang điểm cho vào tủ, nói giọng cầu hòa.
-Đến giờ lên lớp. Thôi hẵng chờ một bữa nữa. Cứ theo triết lý dân gian “bất quá tam”… Trực nói và ôm tập giáo án bước qua trường trước tiên.
 
Câu nói của Thẩm và hình ảnh đám học trò cứ lởn vởn mãi trong đầu Trực suốt cả buổi, tựa hồ mũi kim nhọn hoang mang mỗi khi chúc đầu găm sợi chỉ vào tà áo sút. Mũi kim lúc một cồn cào, sôi réo hơn khi mà buổi chiều sắp tắt, những vị khách vẫn biệt dạng sau những dãy đồi, đám học sinh nhấp nhổm đưa mắt nhìn nhau, len lén nhìn về phía cô giáo lòng đang rối bời hết ngồi xuống ghế lại đứng lên bước ra cửa, quay lại… như thể đang tìm kiếm vật rơi quý báu.
 
Ngôi trường vắng lặng cùng với chút nắng chiều sót lại trên chỏm cây cao trước cổng. Cả ba mặt mũi héo xàu chẳng khác cọng hành vớt ra từ xoong nước sôi. Thẩm quăng xạch tập giáo án lên bàn:
-Thế này thì quá thể, không còn chịu nổi nữa.
Diệu chun mũi:
-Thôi bà ơi, từ tỉnh về tới đây ngót nghét bảy chục cây số. Bộ bà nghĩ những đôi chân mịn màng, những giày vớ bóng lộn có thể chịu đựng nổi như lũ mình sao?
-Còn tụi mình, những bốn năm ròng rã thì là cái gì, hả?
-Bà bớt giọng đay nghiến kiểu đó đi. Ai bắt lên? Cả ba đều làm đơn tình nguyện hẳn hoi mà? Thôi họ không về thì đỡ phải nhọc công đón tiếp, phân giải. Kẹt là không biết phải ăn nói sao với đám học trò và cha mẹ chúng để có thể hiểu ra vấn đề.
-Chẳng có vấn đề gì ráo trọi. Vấn đề là ngày mai tao sẽ xuống chỗ ông Hào hỏi cho ra lẽ.
-Ôi chào chuyện vặt – Trực kêu lên, vừa nghe tiếng mở cúc áo của Thẩm giật bừng bựt kiểu bắn bông vải của các bà mẹ thuở xa xưa. Câu nói của Trực như để khỏa lấp cơn bực bội vô hình đang ào ạt dâng lên như nước lũ vây quấn cả ba người, như cố lăn tảng đá lấp kín miệng núi lửa trong lòng Thẩm đang chực phun trào. Những hoang mang a tòng với cái lạnh buốt về đêm khiến Trực cứ lăn trở trên giường như người bị chứng đau khớp hành hạ.
 
Giấc ngủ chập chờn ngắc ngoải của Trực, sự mỏi mệt của Diệu khựng lại lúc về sáng, khi cả hai nhìn thấy mảnh giấy đặt dưới lọ hoa sành cắm đầy bông hoa dại hái quanh nhà tập thể. “Tao đi gặp ông Hào đây. Chiều về sớm”.
Diệu liếc nhìn tờ giấy, bĩu môi:
-Đồ khùng.
 
Nét chữ nguệch ngoạc, ngã chúi về phía trước dễ gây sự tưởng tượng về một Thẩm đang nhoài người trên những con dốc, bờ đá kéo lăn theo nỗi bực bội tìềm ẩn lâu nay trong người nó. Cũng may Thẩm chỉ mới chúi người chứ chưa vấp ngã. Không hiểu lần này nó có té lăn xuống chân dốc không…
 
Lớp học như mọi ngày, vẫn thưa thớt không bao giờ đông đủ sĩ số.
Trực và Diệu thay nhau chạy qua chạy lại lớp của Thẩm.
Những đứa học trò nhanh nhẹn tháo vát trên nương rẫy giờ ngồi trong lớp giống như những con chim bị nhốt trong lồng, ngơ ngác nhìn hai cô giáo.
***
Trưởng thôn Ama Bơk là người đến trước tiên. Ông ngồi dạng chân trên chiếc ghế đẩu khuyết một mảng chỗ tựa lưng, phì phèo điếu thuốc sâu kèn to bằng ngón tay cái, bốc mùi khét lẹt. Một lúc sau ba bốn người nữa cùng đến ngồi trên chiếc băng dài, hết ngó lên kèo nhà lại cúi xuống phun nước bọt phèn phẹt trên nền đất. Gian nhà đầy khói thuốc và mùi đàn ông. Họ còn mang theo mùi núi rừng, nương rẫy và nắng và khói lạnh tràn kín gian nhà với những đôi mắt mở to thảng thốt. Diệu đầm đìa nước mắt vừa rót nước mời khách vừa lấy ống tay áo quẹt ngang. Trực lóng ngóng sau chái bếp um khói. Thẩm nằm vật trên giường ngăn đôi gian nhà bằng tấm phông màn vải hoa, tay giữ chặt chiếc túi xách căng phồng như sợ ai đó giật đi mất. Chừng mươi đứa học trò đứng thấp thỏm ở hiên trường, mắt ngó chăm chăm về phía khu tập thể. Lúc Trực quay lên vừa thấy ông trưởng thôn dụi tắt điếu thuốc nhét phần còn lại vào túi áo. Ama Bớk hắng giọng:
-Khổ. Thiệt khổ – và khạc nhổ xuống nền đất.
Trực và Diệu ngồi ở đầu chiếc bàn dài đối diện với trưởng thôn và những người đàn ông khác.
-Mấy cô mang cái chữ lên cho tụi nó. Giờ mấy cô mang về thì cái đầu của lũ nó sạch trơn.
 
Diệu huých nhẹ cùi chỏ vào hông Trực, dùng ngón tay cào cào lên mặt bàn gỗ. Trực nói giọng thật nhỏ:
-Dạ… tụi cháu…
-Từ ngày có mấy cô về dạy cái chữ, dân làng mừng lắm. Tụi nhỏ biết được cái chữ, biết tính giạ lúa thùng bắp. Biết viết cái chữ cho dân làng vay tiền… Tụi tôi biết được chuyện này chuyện nọ… Bây giờ mấy cô bỏ đi… thì hết ai dám về! Mấy cô mang tuốt cái chữ của tụi nhỏ đi theo…
 
Có tiếng hít mũi nho nhỏ, không rõ của Thẩm nằm ở trong hay của Diệu. Trực lại lí nhí:
-Dạ…
 
Tiếng người đàn ông ngồi đầu băng ghế cất lên:
-Mấy đứa nhỏ có cái chữ bằng hột lúa, hột bắp. Tụi nó mang được cái chữ ra bờ ruộng, lên rẫy lớn bằng trái bầu trái bí… Rồi cái chữ đẻ ra bắp lai, đẻ ra con heo tốt con bò tốt đều có mấy cô… Giờ mấy cô bỏ hết chữ vào túi mang đi…
 
Nghe những thanh âm đều đều, đứt khúc, ngập ngừng cuộn theo yết hầu lên xuống của người đàn ông đen gầy ngồi trước mặt, như thể ông đang mắc nghẹn khúc sắn luộc trong cổ họng khiến lòng Trực thắt lại, Diệu thì quay mặt đi chỗ khác và Thẩm bắt đầu sụt sùi nghe thật rõ trước khi vẹt tấm màn ngăn, bước ra với bộ dạng thảm não. Thẩm nhìn ông trưởng thôn, nhìn những người đàn ông màu da đồng hun, nước mắt ràn rụa:
-Tụi cháu không định… – Thẩm bỏ dở câu nói nửa chừng và nhìn qua ô cửa như gửi theo sự trách móc ở đuôi cặp mắt ướt tới một nơi chốn không thật rõ ràng.
 
Ông trưởng thôn đổi tư thế ngồi sau khi nghe câu nói lơ lửng của Thẩm và cho tay vào túi áo định lấy nửa điếu thuốc còn lại ra đốt. Nhưng ngón tay ông không chạm vào mẫu thuốc thừa mà dừng lại ngập ngừng bên mép túi, nhìn theo hướng nhìn của Thẩm và thở xì ra:
-Mùa bắp đang trổ cờ… trái bắp sẽ no tròn, không bị răng cưa vì các cô còn ở bên này bến nước với dân làng… – Giọng Ama Bơk có vẻ hoảng hốt thật sự.
 
Ông trưởng thôn còn nói nhiều nữa về rừng cây, về những đứa nhỏ, về con chữ nhưng dường như cả ba cô giáo không còn nghe thấy gì nữa. Trước mắt họ là những dãy núi xanh đậm nhô lên phía sau những ruộng bắp, những cánh đồng mía ngút ngàn kéo theo con sông nhỏ lượn quanh. Nhánh sông nhìn thấy từ bến nước sẽ hòa vào dòng sông lớn, dòng Krông Pa trôi xuôi ra biển, mang theo mùi hương núi rừng, mang theo giấc mơ khắc khoải, sự chờ mong của tuổi thanh xuân tròn bóng và sự khát khao thỉnh thoảng uốn lượn dập dờn theo tiếng đàn đinh goong chưa thoát ra khỏi nhánh sông trước mặt ngôi trường. Tiếng đàn ấy chưa bao giờ dành riêng cho ba cô giáo trẻ. Nó là cõi lòng riêng mở về một hướng khác, hướng mà các cô đang mơ tới và chưa hề được chạm nhẹ một cách ấm áp.
 
Nhưng giờ đây, khi ngoảnh lại trong khoảng cách nhìn gần, thấy những đứa học trò chân đất, chân tay mốc cời, đứng túm tụm bên kia sân trường nhìn sang ngơ ngác khiến các cô chạnh lòng. Mấy cô mang hết cái chữ của tụi nhỏ đi theo… những âm giọng đều đều giống mũi chỉ khâu vết thương hoác miệng, đau rát.
 
Những người đàn ông nói thêm mấy câu an ủi, động viên rồi đứng dậy bước xuống bậc thềm đá, nhấp nhô xa dần cuối dốc. Những đứa học trò nấn ná một lúc sau cũng tản dần về các hướng mà không nghe tiếng cười la hét như mọi khi.
 
Thẩm đứng lặng người nơi mép bàn. Diệu thì xoay xoay bình trà nóng trong tay như thể đó là điểm tựa trống trải của mùa gió núi hiu nhẹ đang đến thật gần. Trực nhìn hai người bạn trong nỗi co ro lạnh ngắt, buột miệng:
-Chốn này là của những đứa trẻ ấy, tao không chịu nổi những ánh mắt thất thần như bầy gà con lạc mẹ.
 
Câu nói dường như ngân ngấn chút nước mắt, nhòe những bóng người đàn ông đen đúa, những đứa trẻ đen đúa có những bước đi ngã chúi dưới con dốc.
 
Bóng Nắng
 
Sau khi mãn tang chồng tôi ngỏ lời cầu hôn lần thứ hai với chị. Thay vì từ chối hay ư hừ, hay một cái tát như trời giáng mười sáu năm về trước, thì lần này chị quay mặt đi, hai vai rung lên như thể một thân cây bị lay lắt, vật vã đến nao lòng. Tôi bước ra khỏi cổng, bỏ mặc thân cây run rẩy, cong oặt chỉ mang theo cái nhìn sững sờ của chị. Cái nhìn đẹp và sáng như lưỡi dao nhọn.
Chị biết là tôi yêu chị đến cuồng dại và chị cũng yêu tôi. Nhưng để lấy tôi thì chị không thể. “Em nhỏ tuổi hơn chị”. “Em không cần”. “Mai mốt chị sẽ già trước em, em sẽ chán chị”. “Không đời nào”. Chị sẽ sàng với bộ mặt u buồn khiến chị càng đẹp rực rỡ trong mắt tôi, cuốn tôi chìm xuống tận đáy sông.
Và tôi lang thang. Lang thang cùng trời cuối đất những tưởng quên được chị. Nhưng cái tát trên má tôi rõ ràng là nụ hôn cháy bỏng chị dành riêng cho tôi. Tôi cất giữ như một bảo vật. Thỉnh thoảng tôi lại giở ra trong những giấc mơ khắc khoải, cảm thấy nồng nàn, bỏng rát và ấm áp đến lạ kỳ.
Tôi bị bắt lính, chị theo tôi. Tôi ra chiến trường, chị sát bên cạnh. Vào trại lao cải, chị thấp thoáng ngoài vòng rào… Chị luôn theo tôi trong từng giấc mơ.
Mãn tù lao cải, tôi bổ nhào đến nhà chị giữa lúc hạnh phúc chị bị gãy đôi. Đợi hết tuần chay tôi mang bó huệ trắng cắm lên bàn thờ anh Lê, lâm râm cầu khấn, rằng tôi sẽ thay anh bảo vệ mẹ con chị Bông đến tận cuối đời. Tấm ảnh dính chặt sau khung kính nhìn thẳng vào mặt tôi với nụ cười độ lượng. Một cảm giác ấm áp len vào tận cùng thân thể. Chị nhỏ nhẹ: “Cảm ơn em. Giờ em tính chuyện làm ăn gia đình là vừa”. Tôi ngó chị: “Nếu không lấy được chị, em sẽ không lấy ai cả”. Chị thong thả đứng lên, thong thả rút thẻ nhang thắp lên bàn thờ anh Lê, rồi quì xuống gõ lốc cốc vào chiếc mõ bằng trái gạo già, nâu thẫm. Ước chi là điều lành. Tiếng mõ lốc cốc kéo dài xô tôi ra tận bãi vàng. Gió rít quanh đồi ướt mưa. Cái lạnh quấn như tấm mền dày bao lấy cơ thể mệt nhoài cả ngày dưới hầm sâu. Tôi hùng hục cùng với hàng trăm con người trên bãi đá, giơ cuốc bổ xuống lớp đất cứng hơn sắt. Cứ mỗi nhát cuốc, chừng như nhìn thấy từ đáy sâu kia cơ man là vàng lấp lánh. Dưới đáy sâu là hình bóng chị lung linh. Tôi rướn người lên, bổ xuống. Xách từng xô đổ lên. Tôi phải kiếm thật nhiều để chị không già, để chị long lanh như hạt sương mai, bổ nghiêng về phía tôi. Những buổi chiều xuống thấp, mây quấn thành cột quanh ngọn đồi và trong căn lều bạt, tôi thấy bóng chị như bay như lượn trên tầng mây trắng lốp. Đêm hâm hấp nóng, từ xốp mây trắng nõn chị vẹt ra đến bên tôi, ấp bàn tay lên má tôi như một nụ hôn nồng nàn của người trinh nữ khiến tôi bật khóc trong đêm lạnh buốt xương. Tôi biết chị yêu tôi nhưng lại không thể lấy tôi. Nếu không yêu, sao những năm bên lò gạch, chị đã lặn lội lên tận núi với giỏ quà toàn thuốc chống sốt rét, kêu lên “em ốm quá”? Cái khoảng cách lừng chừng ấy khiến tôi đào căn hầm rộng hơn, sâu hơn để cuối cùng tới mùa mưa nước trắng rừng đành phải quay về với tám phân vàng. Tám phân vàng trong bốn tháng nơi cùng cốc thâm sơn tôi mang về đặt lên bàn thờ anh Lê . Đứa con trai chị giờ đã lớn. Nhìn thấy tôi lâm râm trước bàn thờ, nó hỏi: “Cái hộp gì vậy chú?”. “Quà cúng ba cháu”. “Chú không chờ mẹ cháu về?”. “Mẹ cháu không chờ chú đâu, ngoan nhé”. Vầng mây trắng bay nghiêng đâu đó. Tôi ngơ ngác ngó quanh khu vườn rộng, bước bộ trên con đường gập gềnh như cuộc đời gập gềnh của tôi. Những bước chân giống cơn giận lẩy trẻ con và mặt đường thì chẳng khác nào chiếc rổ rách. Gió lào xào như tiếng thở dài.
Thân cây cong oằn ấy, giờ bật đứng như chưa hề có trận bão ập qua. Chị vén mớ tóc ra sau. Những ngón thon búp trắng muốt giữa suối tóc đen nhánh. Bước qua tuổi năm mươi, chị vẫn còn giữ những đường cong gợn thời con gái. Tôi trân trối nhìn ngọn tóc và những ngón tay, nhìn vào bộ ngực côi cút của chị và ánh mắt rười rượi..
Bất ngờ chị Bông đề nghị:
-Chị em mình lên chùa đi.
-Để chi? – Tôi hỏi.
-Cúng Phật.
-Cúng Phật? – Tôi hỏi lại.
Con đường trước nhà chị không còn gập gềnh, không như cái rổ rách trước kia. Hàng cây sao, bằng lăng tím che kín bóng. Tôi đèo chị trên chiếc xe máy khụt khịt như người bị sổ mũi, chạy chậm. Tôi nghe mùi da thịt chị miết vào khứu giác. Mạch máu chạy dồn dập như bầy ngựa đua. Qua ngả tư, thay vì quẹo trái tôi cho xe chạy thẳng ra hướng biển. Chị bấu vai tôi:
-Em quên đường rồi sao?
-Không.
-Sao lại ra biển?
-Ra biển để em nghe mùi nước mắt.
Chị bấu chặt hơn và tôi tưởng tượng cái bấu tay bắt đầu một nụ hôn, những nụ hôn dài.
-Đừng có lãng mạn, em có biết…
-Biết, em biết rất rõ. Đó là những giọt nước mắt tích tụ hàng ngàn triệu năm.
Tôi nghe tiếng thở sượt ấm sau gáy. Chị buông tay ra và bất ngờ tôi quành xe lại. Chính tôi cũng bất ngờ về hành động này. Có lẽ, tôi nghĩ cái mùi nước mắt ấy cũng không thể mặn thêm hay nhạt hơn tí chút. Phỏng có ích gì khi lòng đã cay xè?
Chùa Hảo Sơn giữa khu đồng trống. Cổng tam quan vòi vọi phía trên. Chị Bông thong thả bước lên từng bậc cấp, thong thả đến mong manh. Gió nam cồ siết quanh chị, lất phất trên chỏm cây bồ đề bành gốc, tua tủa rễ như một ông già ngàn năm tuổi ngó lửng cuộc đời trước mặt, mặc cho râu xoãi dài, bỡn cợt với tháng ngày lướt qua, đâm sâu xuống lòng đất.
Lên đến bậc cuối cùng, chị ngoái lại, ngoắc tôi bước lên. Chị vòi vọi cao, vòi vọi lộng lẫy. Gió nam cồ hất bay món tóc chị ra sau như thể sắp đu dính vào cội bồ đề.
-Em vào đi.
-Không chị vào lễ Phật một mình.
-Sao vậy?
Tiếng nói như rớt từ thinh không, xao vào đầu óc tôi.
-Phật chỉ có nụ cười từ bi và những lời răng dạy. Em không thể bước qua cửa thiền khi lòng không thanh thản. Chị vào lễ Phật và tiếp tục… - tôi bỏ lửng câu nói.
Chị Bông quay đi, bước hẳn vào bên trong.
Gió lất phất mang theo hơi nóng trên rặng Trường Sơn dồn về. Cái nóng làm tê cuống lòng người, làm khô dòn tấm áo phong phanh tôi mặc trên người. Chị khuất sâu vào bên trong. Tôi lần từng bước lên cổng tam quan, ngồi lên bậc đá cuối cùng. Phía dưới là cánh đồng xanh dờn, xa hơn là phố xá bẹt dính sát mặt đất. Những con người nhỏ bé xuôi ngược. Bầy người nhỏ bé ấy đang hối hả tìm cuộc sống cho riêng mình. Còn tôi? Tôi như chiếc rổ bung vành đang nhấn xuống nước đồng sâu vớt chút rong rêu. Vậy mà không thể tìm thấy cọng rong nhỏ nào. Những chiếc nan gãy mục vểnh lên hay chúc nghiêng, trống hoang hoác là ba mươi năm cố gắng vá lấp để thấy trống trơn, để thấy vô cùng chẳng với chụp được.
Gió lặng yên được một lúc rồi bỗng chúc xuống, hất tung những cọng rác khô trên bậc đá. Không gian đã sững lại bổng ồn ào. Gió ràn rạt miết lên tường thành nối cổng tam quan, cuốn cong những cành bồ đề rồi ngưng bặt, như chưa hề có gió thổi ngang qua.
Bóng nắng đổ nghiêng qua tàng lá rậm, che phủ bậc thềm đá chỗ tôi ngồi, nên khi chị Bông bước ra, đứng về phía chiều nắng nghiêng tôi không thấy bóng chị phủ lấp lên người tôi, nhưng tôi nghe hơi thở chị thật gần.
Chị vén áo ngồi xuống bên cạnh.
-Chị lễ Phật và xin xăm.
-Xin xăm – Tôi hỏi lại, lòng hoang mang tột cùng.
Chị bổng bật khóc. Hai vai rung lên. Tôi sửng sốt, nhích ra nhìn chị. Chị không còn là người đàn bà mạnh mẽ mỗi khi từ chối lời cầu hôn của tôi. Chị trở nên người phụ nữ nhỏ bé, yếu đuối. Tôi giữ đôi vai mỏng manh như hồi nhỏ tôi giữ, tay kia rút cây gai nhọn dưới gan bàn chân chị, nhưng cái đau của hai lần cách xa có vẻ như không giống nhau. Lần này, nỗi đau sâu kín, gặm mòn tâm trí chị hơn mà tôi không hiểu vì nguyên do gì.
Một lúc sau, tôi dè dặt lên tiếng:
-Chị làm sao vậy?
Cả người chị rung lên dữ dội hơn.
Cả hai im lặng cho đến khi nắng vắt chéo qua đầu.
-Chị không phản bội anh Lê, nhưng chị phản bội em.
-Em không hiểu chị định nói gì?
-Đúng chị là người không ra gì. Chị đã phản bội em. Chị là con người đốn mạt, nhưng chị không thể làm khác được – nói và chị lại ngã lên vai tôi nức nở.
Nắng quét những quả trứng mỏng tang trên tầng lá cao, rụng lả tả trước mặt hai người. Đợi chị bình tĩnh lại, tôi gỡ tay chị và ấp lại trong đôi tay mình. Lúc này tôi trở thành con người lớn hơn chị, bắt đầu dỗ dành chị giống hệt hồi nhỏ chị dỗ dành tôi bị lũ trẻ con hàng xóm ức hiếp.
-Em nghe chị nói. Chị cứ nói hết ra.
-Ngàn lần chị xin lỗi em.
-Sao phải xin lỗi? Nếu cần xoa dịu sự tổn thương do em gây ra thì em xin lỗi chị mới phải.
-Không. Em bình tỉnh nghe chị nói.
-Em nghe đây.
Chị sững người giây lát, rồi sụt sịt:
-Ông Thâu cầu hôn chị. Ông goá vợ cách đây tám năm.
-Và chị…
-Nhận lời.
Tôi cười lớn, cười đến tim bóp thắt, nước mắt ràn rụa và gió lăn lông lốc trên những ruộng mạ xanh dưới kia. Gió rượt đuổi như giỡn như ca hát, bảng lảng một điệp khúc yêu thương đến héo hắt tận đáy lòng.
-Vậy mà em tưởng chuyện gì ghê gớm lắm!
-E…eemm…
-Chị ngỡ em phản đối, ngỡ em sẽ buồn? Không trái lại.
Chị Bổng oà khóc khi nghe tôi nói hết câu và xô tôi ra.
-Thà em đay nghiến chị, nguyền rủa chị… có lẽ còn dễ chịu hơn cái gật đầu vô cảm kia. Em biết là chị không thể kéo xuống mười lăm tuổi để bằng em, không thể nhìn những cặp mắt xói miết chung quanh. Vâng, chị yêu em. Yêu em còn hơn ngàn lần em yêu chị. Nhưng để là vợ chồng thì không thể. Sau lần chị ôm em vào lòng dỗ dành vì đám trẻ con trong xóm ví em, chị đã linh cảm điều này sẽ có ngày xảy ra. Nhưng chị bất lực. Chị chỉ là người đàn bà bình thường như bao nhiêu người khác.
-Em đưa mẹ con chị vào Lộc Ninh, Bù Đốp… vượt biên qua Lào, qua Thái… Chúng ta sẽ sống hạnh phúc.
-Không. Em điên rồi.
-Chị nhận lời lấy ông Thâu thì không điên chắc. Em biết chị nhận lời lấy ông ta chỉ vì chỗ dựa, cái học vị tiến sĩ ấy sẽ… mà chị thì không hề yêu.
-Em còn nhớ hồi lên trại thăm, em nói “đời người như khúc sông, chỗ đến thì không chịu dừng mà rẽ ngoặc sang hướng khác”. Hồi đó em nói vậy là ý gì? Còn giờ này sao em lại không chấp nhận khúc sông rẽ ngoặc?
-Sông của chị giờ là con sông gãy, sông lấp bỡi những tảng đá muôn thuở đè lên một cách khủng khiếp. Chị không dám né những tảng đá đó, lúc nào cũng nhìn thấy chúng lù lù trước mặt.
-Nhưng có nhất thiết khi yêu nhau thì phải sống chung với nhau không?
-Hoang tưởng.
-Đúng. Hoang tưởng, chỉ vì chị cũng yêu em đến điên cuồng.
Chị Bông nói và đứng lên, bước thật chậm xuống từng bậc đá. Chị đi như không hề chạm chân lên mặt thềm. Chị đang bay về nơi khác, nơi có vầng trăng bị xé rách giữa trận nam cồ, tơi tả, méo mó đến dị hợm. Chị thả trôi về khúc sông xa, chị đầm mình trong vùng mắt bão, gió cuốn tung chị tơi tả trong tôi.
Tôi ngồi yên nhìn chị. Ngồi mà ngắm nhìn dáng mỏng khói sương từ từ tan biến vào khoảng trống đến vô cùng tận. Hạnh phúc cuối cùng của chị là niềm hoang tưởng hay sự hoang tưởng là niềm hạnh phúc? Tôi nào có nhận ra khi chị bất ngờ quay lên. Vẫn từng bước thong thả, từng gót chân thong thả và nhẹ nhàng đặt lên phiến đá mòn lĩn như chiếc lá rơi xuống, nằm đấy từ muôn đời kiếp.
Chị Bông đứng cách một với tay, không bước tiếp, ngước nhìn với cặp mắt lạ lùng tôi chưa hề chạm phải: hừng hực như ngọn lửa cháy rừng rồi chuyển sang giá lạnh như tảng băng trôi. Hình như không phải chị nhìn tôi mà dành riêng cho kẻ vô hình nào đó vảng vất đâu đây, môi mấp máy như muốn nói điều gì đó mà không thành lời. Chỉ cách một vói tay nhưng có vẻ như chúng tôi đang ở hai thế giới khác nhau, ở hai đầu cánh cung bị đứt dây. Môi chị lại mấp máy như mời như gọi, xoè chớm như nụ hoa hàm tiếu. Tôi hiểu tất cả, lao xuống. Chị ôm tôi, nước mắt ướt vai trong tiếng thì thào ngây dại “chị yêu em, tha lỗi cho chị”. Chị hôn tôi bằng nước mắt mặn chát, vị mặn của niềm hạnh phúc đắng cay nhưng sao tôi thấy không như dư vị của nụ hôn bằng cái tát ngày nào?
Bóng nắng rớt nghiêng. Chúng tôi như hai pho tượng trước cổng tam quan. Chỉ có cội bồ đề và những chòm rễ đâm xuống đất là gần chỗ tôi và chị Bông đứng, sắp té nghiêng dưới bóng nắng.
 
Nguyễn Lệ Uyên
 
* Mời xem những bài viết khác của Nguyễn Lệ Uyên ở trang Văn Xuôi.

Miền Không Dấu Chân Người - Nguyễn Lệ Uyên

Chuyến xe cuối ngày xuống khách ở ngả ba đường dẫn vào thị trấn. Lẫn trong đám người nhớn nhác là người đàn ông gày gò, vai lệch, hai hốc mắt trũng sâu, ngơ ngác đưa mắt đảo một vòng rồi khoát chiếc túi xách lên vai, lầm lũi bước trên con đường đất đỏ dưới cơn mưa lất phất.

 
Đứng trên đầu dốc, người đàn ông nhìn sững màn khói lạnh đùn lên thành dãi trắng đục lềnh quấn quanh chóp núi cao, những ngọn đồi lô nhô dưới xa kia và sự di động chậm chạp của những bóng người li ti bên những đường ranh đất đỏ giữa các vườn cà phê. Trong thị trấn, các hàng quán bắt đầu kéo hẹp cửa, sáng ánh đèn từ bên trong và mái hiên dội xuống, lẫn trong bóng chiều ngập sương.
 
Phía bên kia đường, người phụ nữ đi ngược chiều, mang chiếc gùi có mấy cọng bạc hà xanh mướt nhô lên. Cả thân hình chị chúc xuống như sắp ngã chúi về phía trước, trên con dốc nhoè đỏ giữa màu sáng lửng nhập nhoạng cuối ngày.
 
Người đàn ông dõi mắt nhìn một lúc, rồi tiếp tục bước dưới bụi mưa bay bay. Bóng tối xuống mỗi lúc một đậm hơn.
 
Người đàn ông bước ngập ngừng qua mấy dãy phố nhỏ rồi ngóng về phía ngọn núi trước mặt bắt đầu nhoè sẫm. Ông không nhớ mình đã bám xe đò lên miền đất này bao nhiêu lần để nhìn nó, rờ chạm vào nó như đang trở về với người thân, như tìm kiếm vật báu đã rớt lại chốn này. Ông đã bao lần háo hức bước ngược lên dốc núi dựng đứng, rồi thả rơi về chốn cũ với vẻ mặt đầy thất vọng đau khổ.
 
Lần này, ông cũng bắt đầu bằng nỗi háo hức mới nguyên khi cắm đũa vào tô mì đang bốc khói nghi ngút, trong ngôi quán dựng bằng những tấm cót mò o. Những sợi mì vàng quấn quanh đôi đũa không ấm lên bóng núi nhoè vào bóng đêm. Một chút khí lạnh trườn tới quanh tô mì tưởng có thể thò tay nắm lên được.
 
Đang lúc ăn, khách không nhận biết người chủ quán bước ra, đứng sau lưng. Ông ta cao to. Râu quai nón và râu mép xồm xoàm làm cho khuôn mặt càng thêm u tối. Chủ quán quan sát khách một lúc rồi bước tới, ngồi xuống phía đối diện, bộ dạng dò xét, vừa lôi từ túi áo gói thuốc, bật quẹt rít một hơi thật dài, phun khói mù mịt. Đợi khách ăn hết tô mì, ông hỏi: “Ông đi đâu giờ này còn ngồi đây?”. “Lên  đỉnh núi 635, ngọn núi Tử Thần”. “635 là núi nào?”. “Ngọn núi cao nhất ở trước mặt kìa”. Người đàn ông bật cười ha hả, những cọng râu cũng bật rung theo: “Núi chư Đ’rắk. Đó là chư Đ’rắk. Mà ông lên đó làm gì?”. “Tìm một người”.  Chủ quán ngạc nhiên vừa liếc nhìn vào chiếc tô trống trơn trên mặt bàn gỗ. Ông ta lắc đầu, rít mạnh hơi thuốc rồi quăng tàn vào vách. Mẫu thuốc thừa bị chạm mạnh lên vách ván văng ra những đốm đỏ li ti và tắt ngấm mau chóng. “ Lên núi tìm người. Lạ thật, nhưng trời tối rồi, sao đi kịp? Ở xứ này không có quán trọ. Mà cũng thiệt lạ, ngọn núi kia cất giấu những thứ của quí gì nhỉ? Tôi nghe nói có một người đàn ông cứ thỉnh thoảng lại lên thị trấn nhỏ này rồi mò vào núi tìm kiếm cái gì đó. Chợt đến chợt đi như con chim nhớ tổ, như con sói mẹ đi tìm đứa con đã bị đánh cắp”. Khách dừng đũa ngó vào mặt chủ quán định nói gì đó nhưng rồi lại tiếp tục cúi xuống tô mì chỉ còn chút nước lợn cợn dưới đáy. “Anh không biết đấy thôi - chủ quán đổi cách xưng hô- Ngày xưa, trên ngọn núi này là nỗi kinh hoàng của quân hai bên. Tất cả đều bị san bằng, không một ai sống sót, thành một nấm mồ tập thể. Kinh khủng. Chiến tranh thật kinh khủng”. Nói và chủ quán thẫn thờ nhìn những vạt sáng tối nhảy nhót ngoài hiên, thò tay vào túi áo định rút điếu thuốc khác châm lửa, nhưng nghĩ sao rụt tay lại, nhìn vào mặt ông khách. “Anh có ai quen ở thị trấn này không?”. “Không”. Ngẫm nghĩ một hồi: “Nhà chỉ mỗi một chiếc giường. Hay tôi lấy tấm bạt anh nằm tạm trên nền vậy. Tôi vào rừng khuya mới về”.
 
Trong khi nói, bộ râu trên mép và chòm râu dưới cằm luôn khua động, có vẻ như lời nhắc chừng người khách lạ, cho đến khi đôi môi khép lại thì hình như sự bình yên như mái hiên nhà được kéo dài thêm ra một chút cho khách.
 
Cái lạnh và mệt mỏi đường xa khiến người đàn ông cong rút trong tấm bạt quấn kín lại như con sâu kèn. Mưa gõ lào xào trên mái tôn. Tiếng gió chạm, tiếng chim đêm kêu thảng thốt ngoài cánh rừng, nghe thật gần; có cả những tiếng lộc cộc đều đều như có người cầm búa gỗ gõ lên thân cây mục. Những âm thanh và gió ngái lạnh kéo sụp hai mắt người khách lạ bằng tiếng thở nặng, gãy khúc.
 
Giấc ngủ chập chờn đu đưa qua lại trên mẫu xương cá nhọn vây quanh ngọn đồi. Những tiếng lộc cộc vỡ toác ra, rít lên the thé, vỡ toang tiếng nổ bên giao thông hào. Đất đá khạc ra màu đỏ của lửa rực và máu, còn bên trên, tít trên cao kia là chiếc chổi của mụ phù thuỷ xịt từng cột khói đen ngùn ngụt, lúc cao lúc thấp cùng với những tiếng nổ đến trời long đất lở.
 
Cả đại đội của anh chẳng khác gì bầy gà con bị ném vào vũng cỏ rối. Bên dưới kia, trong các khe lũng, dòng suối, đối phương trùng trùng lớp lớp ào lên như thể những đợt sóng thần dựng đứng và bổ ầm xuống. Hết đêm lại ngày. Từ ngày này qua ngày khác. Cái chảo lửa khổng lồ ấy hừng hực thiêu đốt cả trăm sinh mạng, đẩy ngược từ phía lưng núi gãy lên tới đỉnh bằng kèm theo những tiếng nổ xé nát núi rừng. Cả đại đội chỉ còn mươi người không lành lặn, co cụm về phía các hốc đá như những mộ huyệt định mệnh, không còn đủ sức chống đỡ đối phương băng lên. Trên cao kia là những chiếc chổi lem luốc và những con mụ phù thuỷ lem luốc dữ dằn không ngớt khạc nhổ những bãi nước bọt trắng xanh, tanh lợm xuống đỉnh đồi.
 
Cứ điểm 635 trở thành vũng bùn nhão nhoét. Thân thể anh bị hất tung ra khỏi hốc đá. Khẩu súng trên tay hình như biến thành con cá núi lặn tít xuống vực suối sâu. Sau đó, thân thể mọc ra đôi cánh,  từ từ bay lên chóp trời mây trắng và tan loãng thành những hột nước mưa ngập ngừng rơi không đến mặt đất.
 
Anh nghe miệng mình khô khốc và đắng nghét. Toàn thân như thỏi sắt nung. Chung quanh yên tĩnh đến rợn người. Ngày hay đêm sau đôi mắt khép cứng? Hình như có ai đó bỡn cợt dùng cây lẹm khâu kín hai mí mắt bằng sợi thép gai? Và anh đang ở đâu?
 
Mắt không mở. Cả người cứ lạo rạo như những hạt sỏi nhỏ, dần súc trong chai. Đôi chân thành hai tảng đá. Hình như cả tay cũng hoá đá? Đầu cứ lụp bụp lói nhói những hột bắp bị ghè lăn trong đường rãnh cối xay đến nát ngứu.
 
Ngày và đêm không còn xù xì hình dạng. Mọi tiếng động trước đây đều im bặt. Im lặng đến có thể kéo nhổm cả cánh rừng bạt ngàn bay qua miền đất không có tên tuổi..
 
Lại lịm đi. Lại tỉnh dậy. Có tiếng rên yếu ớt đâu đây. Tiếng từ lồng ngực vỡ của mình thoát ra hay tiếng xương gãy khua chạm vào nhau? Mắt vẫn bị xâu kín. Tay chân không thể động cựa. Một sinh vật nhỏ bé áp vào thân thể anh âm ấm, thì thào “nưưư…ươ…”. Tiếng kêu mỏng manh như sương như khói, đứt quãng như một mảng mây mỏng bị trận cuồng phong kéo lên dập xuống đến tả tơi.
 
Thời gian trôi qua không biết bao lâu, nhưng giờ thì anh nhận ra, quanh quất đâu đây là mùi khói đạn, mùi nhựa cây, đá bị thiêu cháy trộn lẫn với mùi máu khô nồng nặc. Đầu óc anh nhận biết được rằng cả ngọn núi này đã thành tro bụi. Mọi sinh vật đều bị nghiền nát. Tiếng thì thào lại nổi lên. Anh cố sức quay về phía phát ra giọng nói yếu ớt, cố hết sức mở hai mí mắt một cách khó khăn và đau đớn. Theo bản năng, anh lần bàn tay vào thắt lưng và nhận ra chiếc bình đông nước còn đeo dính bên hông. Đất đá phủ kín người. Phải khó khăn lắm mới cong được tay gạt lớp đất đá, lần vào thắt lưng, chỗ có chiếc bình đông nhướng mắt về phía vừa phát ra những âm thanh méo mó khi nãy. Nhưng anh không còn cảm giác gì nữa, rồi lả đi, chìm trong cơn sốt chói loà màu đỏ lẫn với màu vàng cam nhảy nhót, quay cuồng. Bất thần một trái bom (hay một tảng đá) dội thẳng vào người anh, nát ngứu… Anh cảm thấy mình nhẹ tênh như một chiếc lông con thiên nga tự trời cao chao lượn mãi mãi trong khoảng không bềnh bồng mây trắng, mênh mông...
 
“Hình như anh đang lên cơn sốt. Anh đang kêu khản giọng câu gì đó không thành tiếng. Người nóng quá. Anh bị sốt rồi”, chủ quán nói với khách vừa lay lay một bên vai. Khách mở choàng mắt, chống tay ngồi dậy: “Lại những giấc mơ hãi hùng”. Cặp mắt không còn thần sắc ngó dáo dác ra bên ngoài, trong khi chủ quán chạy vội vào trong. Lát sau trở ra trên tay cầm chiếc khăn vải bọc những thỏi đá nhỏ. Chủ quán chà xát lên mặt lên cổ khách như thể một người thân lâu ngày, quá lâu ngày, trở về. Trời vẫn còn tối đen. Gió sột soạt luồn vào vách ván lạnh ngắt. Khách có vẻ dịu lại đôi chút. Chủ quán: “Để tôi pha cho anh ly cà phê”.
 
Bây giờ thì người khách lạ đã tỉnh táo chút đỉnh. Anh ta ngồi dậy, cuộn tấm bạt, chăn gối đặt ngay ngắn lên ghế. Hai ly cà phê bốc khói trên mặt bàn gỗ ghép bằng những mẫu ván bìa. Chủ quán lại rút thuốc châm lửa như một thói quen không thể dừng. “Hồi nãy anh kêu hãi hùng…?”. “Tôi luôn bị những giấc mơ kinh hoàng xuất hiện trong giấc ngủ từ hơn ba mươi năm nay. Nó lì lợm như một gã ăn xin truyền kiếp”. “Giấc mơ? Có những giấc mơ đẹp và những giấc mơ làm con người chết khiếp. Mà sao anh toàn mơ thấy những điều kinh hãi…?”. Khách rụt chân lại, đầu gối chạm lên mép bàn kêu thành tiếng. Suy nghĩ một lúc, khách lên tiếng: “Cái người đàn ông mà ông nghe nói đó là tôi. Chính là tôi”. “Anh đi tìm gì?”. “Ngọn núi chư chư Đ’rắk đó là nơi tôi bị ném xuống như người ta ném một viên sỏi cách đây hơn ba mươi năm. Sau khi tốt nghiệp trường Luật, tôi bị động viên, rồi trực thăng thả chúng tôi lên đỉnh núi tử thần này. Đó là một ngọn núi chiến lược. Bên nào chiếm giữ được nó coi như khống chế toàn bộ cả vùng rừng núi bao la trải dọc mạn tây-bắc thành phố, và hơn hết nó là cái nút chai bịt kín, ngăn không cho đối phương tràn xuống đồng bằng ven biển. Nó là cái yết hầu. Được là có tất cả. Mất là mất tất cả. Hai bên quần nhau từ ngày này sang tháng khác. Chúng tôi có phi pháo yểm trợ tối đa, còn đối phương thì có núi rừng điệp trùng, có những gộp đá che chắn cùng với sự gan dạ liều lĩnh…Bất phân thắng bại bỡi đồ tiếp tế (súng đạn, nước uống, lương thực…) từ trên cao thả xuống đỉnh núi chỉ đến được tay chúng tôi phân nửa. Phần còn lại là cánh quân lẫn trong màu lá rừng. Cả hai đều được tiếp tế đầy đủ nên tha hồ quần thảo nhau như thuở nhỏ chơi trò cút bắt. Tới một đêm mưa lắc cắc, cái lạnh của khí đá tràn về cũng là lúc họ dồn tất cả mọi hoả lực tấn công lên vành đai phòng thủ. Hình như họ từ dưới lòng đất chui lên, từ các cành cây hay trời cao bay xuống. Vành đai phòng thủ phía đông-nam bị vỡ, rồi tiếp tới mạn sườn phía bắc. Vậy là bao nhiêu bom đạn từ các chiến đấu cơ điên cuồng đổ xuống như vãi cát. Một ngày u ám, một ngày rung lên và bắt đầu  cuộc giết chóc man rợ nhất: xoá sổ cả đại đội để xoá sổ luôn quân địch. Các đại đội trưởng, đại đội phó đều tử thương, trung đội đều tử thương. Tôi là chuẩn uý mới ra trường nắm quyền chỉ huy 14 người lính sống sót, mình mẩy đầy thương tích. Chúng tôi không đủ hơi sức chống đỡ hoả lực từ bên dưới bắn lên, từ trời cao dội xuống. Ngày tàn của kiếp người đã hiện rõ, thật rõ theo những chùm bom lấp loá trong ánh sáng hoả châu. Và không hiểu sao, tất cả 14 con người sắp về với cát bụi kia cùng một lúc hướng mũi súng lên trời cao bắn như điên như cuồng vào cõi trống không, như thể thoả mãn chút hận thù cay rát đang nhú mầm. Bỡi kẻ thù của chúng tôi lúc ấy, chính là những chiếc chổi nhớp nhúa trên cao kia chứ không phải quân đối phương đang tiến lên, cũng không phải chủ nghĩa, ý thức phản tỉnh này nọ. Sự sống và cái chết như một cành cây giữa giông bão. Mà bản năng con người luôn giành lấy sự sống trong tình cảnh khắc nghiệt trước mặt. Và rồi điều tệ hại nhất đã đến: hàng loạt bom tấn cuối cùng cũng dội cả lên đầu chúng tôi, lên tất cả những ai còn thở trên đỉnh núi. Những người lính của tôi, người ngã vật ra máu phun thành vòi, người bị nhấc bổng lên cao rồi rơi xuống như thể người ta cầm con cóc ném lên cao. Phần tôi chỉ kịp nghe một tiếng nổ long trời lở đất và một cột lửa bốc cao để thấy mình đang bay vào cõi chết tức tưởi, ô nhục nhất của tuổi trẻ”.
 
Chủ quán nhìn người khách lòng trĩu nặng, ái ngại. Chiếc bật lửa và điếu thuốc cầm sẵn trên tay, nhưng lửa không đốt lên, khói không bay ra. “Ơn trời phật, anh đã thoát chết, như…ưưng…”. Chủ quán ngập ngừng, bỏ lửng câu cuối. Khách nhìn chủ quán, hàm ơn sự cảm thông, chia sẻ. “ Tôi không biết tại sao mình sống sót trong cái chảo lửa khổng lồ kia. Khi mở được mắt, cử động được chân tay việc đầu tiên là vẹt những lớp đất đá phủ kín người nằm bên cạnh. Không phải là người lính mà một cô gái. Túi cứu thương vắt ngang ngực cô ta có hình chữ thập đỏ ướt đẫm máu. Quần áo cô ta rách toạc, mặt mũi đen nhẻm như anh lính cứu hoả vừa từ đám cháy dữ dội phóng ra. Tôi rút chiếc bình đông nhỏ từng giọt nước nhỏ vào miệng, dùng vạt áo rách lau mặt mũi…rồi tìm vết thương trên người: bàn chân bị dập gãy, bên hông sượt một vết sâu. Những vết thương trên người cô gái không rõ có phải do mảnh bom đạn hay là những vết cắt, dần của những mảnh đá vỡ xán vào. Máu me đầm đìa. Tôi nắn đến đâu cô ta cong người lại đau đớn tột cùng. Tôi mở túi cứu thương thấy có cả dao kéo và thuốc nhưng chẳng biết phải làm gì với chúng. Tôi dùng băng cá nhân từ chính chiếc túi xách trên người cô băng bó các vết thương, nhưng máu cứ chảy ra như những mạch nước trong các khe đá. Tôi chỉ làm được có vậy. Chung quanh không còn ai, không có gì để có thể cứu cô gái tỉnh lại và bớt đau đớn. Tôi bất lực, đầu óc mụ mị đông cứng. Lâu sau cô ta ú ớ: Đôô… ồng chí bị thư…ng n…ăặng khô… ông. Tôi nâng đầu cô lên ghé vào tai nói bằng chút sinh khí yếu ớt: Cô can đảm lên. Sẽ có người đến cứu. Cô ta mở mắt nhìn tôi và kinh hãi đến tột độ qua ánh mắt tôi nhìn thấy, thì thào: Còn chờ gì nữa, ông giết tôi đi, quân ba…án . Tôi siết thật chặt bàn tay nhỏ nhắn của cô gái cứu thương giọng phấn khích: Chúng ta đều là những nạn nhân khốn khổ… Không rõ cô có nghe được câu tôi nói không. Tôi chắc là không bỡi cô lịm đi, hơi thở thoi thóp. Trời bắt đầu mưa lắc cắc, gió lạnh lùa về mang theo bóng đêm ghê rợn. Với chút hơi sức còn sót lại, tôi mở chiếc áo chống đạn đắp lên người cô, kéo những cành cây gãy phủ lên che mưa, chắn gió. Nửa đêm gió lạnh dữ. Cô gái kêu khát. Tôi mở nắp bình đông với niềm hy vọng sẽ có người đến, dù bên này hay bên kia để cứu cô. Vì trong giờ phút ấy, tôi nghĩ bên nào tìm thấy chúng tôi, vấn đề thù hận, chính trị sẽ không còn là chuyện hệ trọng. Hai sinh linh thoi thóp kia cần được sống bỡi họ còn tuổi trẻ, họ còn ngày mai.
 
Bả vai trái của tôi bắt đầu đau nhức ghê gớm. Tôi có cảm giác như chiếc áo trận nơi bả vai cứ phồng lên từng giây từng phút. Cô gái bắt đầu mê sảng, sốt hầm hập. Bằng hơi thở yếu, giọng đứt khúc cô nói: Đồng chí làm ơn lấy cái ví trong túi áo. Nhà tôi ở phố chợ Hôm. Tấm ảnh gia đình…. Phải khó khăn lắm tôi mới nghe hết. Tôi kề sát vào tai nói không sao cả, cô sẽ được cứu, cô sẽ được trở về với gia đình, chúng ta sẽ được cứu sống. Đồng đội của cô sẽ đến ngay. Một lúc sau giọng cô bất thần vụt sáng chói như chiếc bấc đèn giữa đêm gió lạnh cắt da: Bên trường Y, em còn…. Tôi kề tai sát môi cô gái nhưng không nghe được gì nữa. Cô cong người lên, tay bấu chặt vào người tôi. Tôi vội vàng ôm người cô nhưng thân hình mỏng manh đầy máu me kia nguội dần, lạnh dần sau tiếng nấc nghẹn.
 
Đêm tối đen. Gió vi vút thổi qua ngọn đồi tan nát. Đất đá rơi xuống. Tôi không biết cả hai đang nằm ở đâu, trên đỉnh, lưng chừng núi hay đáy vực. Tôi ôm xác cô sinh viên trường Y và khóc. Tôi khóc vì sự bất lực của mình. Tôi khóc vì sự tàn nhẫn của chiến tranh, phi lý của một kiếp người, lòng hờn oán…Tôi khóc đến kiệt sức trong cơn đau đớn vật vã và rồi cũng chết lịm đi với cô sinh viên trường Y còn quá trẻ. Tuổi trẻ của chúng tôi.
“Chiến tranh thì ở đâu và lúc nào cũng vậy…, chủ quán thở dài với giọng buồn bã, trước tôi cũng ở binh đoàn Hương Giang, cũng từng chứng kiến cảnh vật vã của thương binh miền Nam, của đồng đội chúng tôi sau những trận đánh. Tôi cũng nhìn tận mắt cái chết của họ trên tay, tôi đã nhìn thấy nụ cười của họ khi nhìn tôi trong giây phút cuối cùng. Nhưng khốn thay những nụ cười ấy không làm cho chiến tranh ngưng lại cho tới khi…”. Khách ngạc nhiên nhìn chủ quán với cái nhìn đồng cảm. “Tôi định bụng khi tỉnh dậy sẽ dùng chút sức thừa còn sót, đào cho cô ta một mộ huyệt, sẽ xếp những viên đá bị bom dội nát kia thành một nấm mồ tuyệt đẹp nếu có thể, nhưng điều đó đã không đến, không bao giờ đến được; cũng như từ khi tôi phát hiện đến khi cô tắt thở tôi luôn cầu khấn cho cô qua được cơn đau đớn khủng khiếp, cô sẽ sống và trở về với gia đình, với những người thân yêu. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Lòng thành của tôi không thấu trời cao…”. “Rồi phép màu nào anh được cứu sống?”, chủ quán hỏi.
 
Khách xoay ly cà phê nguội ngắt trong lòng tay. “Đó là một bi kịch của đời tôi. Thay vì chết tôi đã sống. Thay vì sống để tự tay chôn cất cô gái xấu số kia thì tôi lại mất tất cả: Tỉnh dậy tôi thấy mình được nằm trên chiếc giường trắng tinh, người được băng bó như đang khoác tấm áo choàng lông trắng, sợi dây dài lòng thòng chuyền sự sống vào người tôi… Nước mắt tôi ứa ra. Lúc này tôi tỉnh táo hoàn toàn dù khắp người vẫn đau đớn. Những gì hiện ra đầu tiên trong đầu óc tôi lúc đó không phải là cha mẹ, anh chị… mà là cô sinh viên Y Khoa kia. Cô không đáng phải nhận lãnh cái chết như thế. Và điều tệ hại nhất khi tôi xuất viện (trên một chiếc tàu của hải quân Mỹ ngoài khơi) tất cả quần áo, vật dụng cá nhân đã biến mất. Chiếc ví cô gửi gắm cũng biến mất. Trong đầu tôi chỉ còn mấy từ chợ Hôm, trường Y... Tôi gào lên như một đứa trẻ bị mất đồ chơi. Tôi kêu chúng phải tìm trả cho tôi bằng được những thứ ấy, nhưng cái thằng y tá (hay bác sĩ?) há những chiếc răng trắng ởn: Are you nuts? I don’t know (*). Tôi nhảy bổ ba bước chụp hụt hắn, té lăn xuống sàn.
 
Chiến tranh thì có tội với tuổi trẻ. Còn tôi thì có tội với cô gái không nhìn rõ mặt, cũng không biết được tên tuổi, bỡi tôi đã không thực hiện được lời gửi gắm cuối cùng. Sau những tháng năm cải tạo, tôi đã tìm đến chợ Hôm, đi quanh các con phố, nhà nào cũng gõ cửa nhưng ai cũng lắc đầu. Thậm chí có người nghe tôi dài dòng về nhân thân và mục đích cuộc tìm kiếm, họ tỏ vẻ thương xót, cũng có lúc có người quay mặt đi cố giấu đi những cảm giác khó chịu. Hơn tháng trời không sót ngõ ngách nào. Cuộc tìm kiếm như cách để tôi trả nợ lần cuối cho cô, cũng rơi vào cõi trống không, vô vọng. Tôi ân hận vô cùng và luôn sống trong những mặc cảm bất lực, luôn bị dày vò.
 
Chủ quán tới lúc này mới đốt điếu thuốc nhưng cứ giữ mãi giữa hai ngón tay. Vòng khói trắng la đà cất lên rồi tan nhanh trước mặt hai người. Vòng khói như có như không kia khiến người khách chạnh lòng nhìn sững.
 
Khách đột ngột đứng lên, chìa bàn tay khẳng khiu về phía chủ quán: “Cảm ơn ông đã cho tôi ngủ nhờ một đêm. Giờ thì tôi phải lên ngọn núi kia”.
 
Chủ quán bóp chặt tay khách, không nói câu nào, yên lặng nhìn người khách lạ khoát túi xách lên vai, bước ra khỏi quán với đôi vai lệch làm cho những chân nhang màu đỏ nhô trên miệng túi đeo lủng lẳng trên vai cứ nhảy nhót theo từng bước chân khập khễnh của ông ta./.
 
Nguyễn Lệ Uyên

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013