Thi Ảnh

Trần Văn Nam

Về Với Thiên Nhiên Cùng Lê Văn Trung - Trần Văn Nam

 
Mặc dù thơ Lê Văn Trung đã hiện diện khá lâu trên các báo văn chương như Bách Khoa và Văn trước 1975, nhưng thơ anh chỉ xuất hiện rải rác nên ít người biết đến. Chừng năm ngoái đây, nhà thơ Thành Tôn có đem theo vài cuốn thi phẩm mới của anh nhờ biếu tặng cho một số thân hữu hải ngoại. Tập thơ màu xanh lá cây, nhan đề “Thơ Lê Văn Trung”, khổ sách gọn nhẹ của loại thi phẩm, thấy rất trang trọng. Tiếc rằng người viết bài này không có tập thơ ấy để biết nhiều hơn về thơ Lê Văn Trung, nên bài nơi đây chỉ căn cứ vào các bộ sách sưu tập di sản văn chương Miền Nam của nhà xuất bản Thư Ấn Quán ở New Jersey Hoa Kỳ, và vài bài thơ của anh trên Tạp chí Khởi Hành ở Wesminster California. Trong đó, hai bài thơ tự do cùng một chủ đề “Trở Về Thiên Nhiên” (trong bộ sách “Thơ Tự Do Miền Nam” của nhà xuất bản kể trên) làm người yêu thơ mến cảm. Chủ đề trở về thiên nhiên không phải mới lạ, nhiều thi sĩ Đông Tây Kim Cổ đã từng lấy làm chủ đề, nhưng thơ Lê Văn Trung thoát ra từ bối cảnh sông núi trời biển miền Nam-Trung-Bộ của nước Việt Nam. Chủ đề như vẳng gọi những người sinh trưởng ở đây nay đã sống nơi hải ngoại, hoặc vẳng gọi cho chính người hiện cư ngụ trong vùng mà quanh năm chỉ ở dưới đồng bằng hay trong các thành phố chen chúc. Hiếm hoi, nó cũng vẳng gọi cho người viết bài này thời thơ ấu khoảng bảy tám tuồỉ đã từng chạy tản cư ở dưới rìa dãy Trường Sơn Nam Trung Bộ thuộc tỉnh Khánh Hòa, phiêu linh từ đồng bằng sông Cửu Long (lúc Pháp mới trở lại Đông Dương, sau vài năm Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, chắc vào khoảng năm 1947).
Nhưng trước hết, ta thử thẩm định một số câu thơ đạt của Lê Văn Trung trong các bài thơ ngoài chủ đề trở về với thiên nhiên. Hai câu lục bát thuộc bài thơ “Hội Ngộ Sau Cùng” (Tạp chí Khởi Hành số 142, tháng 8.2008) nhắc nhở cho tất cả chúng ta nỗi buồn nhân thế, ai rồi cũng đi đến điểm hẹn sau cùng. Nhà thơ Viên Linh có bài viết “Cuộc Phó Hội U Minh” cũng tiên cảm số phận chung của nhân loại, đặc biệt đối với các nhà văn gần cuối đời đều thành thi sĩ. Tại sao như vậy? Nếu không lầm thì ý nhà thơ Viên Linh muốn phân biệt : để thành nhà văn thì phải gánh trách nhiệm với đời, phải dấn thân, phải nhớ mọi điều phiền toái; còn để thành thi sĩ thì phải quên hết mà đi vào tịch lặng. Điều này rất tương ứng với ý tưởng chìm vào hố thẳm nội tâm trong thơ Lê Văn Trung, nhưng vài chỗ khác thì thơ Lê Văn Trung như vẫn còn u uất về nỗi cô đơn, nghĩa là vẫn còn vướng víu những hệ lụy thế gian, chưa siêu thoát vào an nhiên tự tại:
 …Tôi lăn xuống dốc im lìm
Như hòn đá nhỏ tôi chìm trong tôi
… Lạnh buồn một tiếng chim kêu
Tôi lăn xuống nỗi đìu hiu đời mình.
 
Ta có thể khẳng định Lê Văn Trung chưa dứt khoát rủ bỏ tất cả tình cảm vướng bận cuộc đời, và cũng như phần lớn chúng ta trong tâm thức vẫn cứ mơ ước kín đáo những chuyện dài lâu trăm năm, chưa thể nào quên hết như một Đại Thiền Sư thoát tục. Cùng tiên cảm giờ phó hội u minh, nhưng thơ của Mai Thảo làm ta cảm thức được vẻ buồn bã qua hình ảnh một hành khách cô độc bước lên chuyến tàu cuối của đời mình để đi vào màn đêm vô tận. Lời thơ ấy thoát thai từ cuộc đời cô đơn có thật lúc về già của nhà văn. Thơ Lê Văn Trung cũng với ý tưởng một mình cô đơn đến giờ hẹn cuối đời, nhưng không lên từ một nhà ga mà ngồi đợi con thuyền tại bến trăm năm, áo lấm tấm hạt mưa. Thơ Mai Thảo có vẻ buồn tăm tối, thơ Lê văn Trung có vẻ buồn thơ mộng. Bến trăm năm, chúng ta đều kỳ vọng đến thời gian ấy (hoặc hơn nữa!) thì mới ra ngồi đợi chuyến ra đi cuối cùng. Sự thật ta không rõ hoàn cảnh và tuổi đời của Lê Văn Trung, nhưng căn cứ vào nhã ý của Tạp chí Thư Quán Bản Thảo muốn làm một số đặc biệt về Lê Văn Trung, hẳn là Tạp chí biết rõ nhà thơ như thế nào. Chỉ căn cứ vào thơ trong bài “Người đi tìm cái bóng của mình” (trong Thư Quán Bản Thảo só 32, tháng 10.2008) thì hình ảnh người ngồi trên bến sông mưa thật đẹp, không đến nỗi nào:
 Anh ngồi đếm giọt mưa buồn trên áo
Áo của người ngồi đợi bến trăm năm.
 
Tuy nhiên, thơ Lê Văn Trung đôi khi có nét bình thản, không quá hệ lụy đến chỗ trầm luân. Siêu thoát dứt bỏ tất cả vướng bận thì Lê Văn Trung có lẽ chưa đạt tới. Mà đắm chìm vào cơ cầu, vào tình trường, vào tai ương, thì Lê Văn Trung như đã thoát ra khỏi, lòng nhẹ nhỏm như mây trắng bay. Nghe bài hát bất hủ “Đêm Đông” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, ta có lần thương cảm lời ca: “Đêm đông, ta mơ giấc mơ gia đình yêu đương”; hoặc nghe bài hát tuyệt vời “Tiếng Thời Gian” của nhạc sĩ Lâm Tuyền, ta xót xa nhưng nhận ra lời hát thật bi lụy những ngang trái vì giàu nghèo: “Dừng chân dưới mưa dầm. Nhìn lầu nguy nga ước mơ thầm. Bao nhiêu xuân qua, lòng không tình yêu”. Trong khi đó, Lê Văn Trung qua bài “Ngày Xa” đã đạt tới trình độ làm cho lòng mình rỗng không, chẳng cần gì nữa:
 
… Tình không, không cửa không nhà
Lòng như mây trắng bay qua biển chiều.
… Em nào hiểu giữa tai ương
Ta như mây gió trên đường chim bay.
 
Bây giờ xin nói đến chủ đề được thấy rõ qua hai bài thơ tự do của Lê Văn Trung. Đây là chủ đề phổ quát của chung phần lớn nhân loại. Như vậy, chắc nhà thơ không mấy hài lòng khi có người bàn chủ đề này mà lại đóng khung vào cảnh quang miền Nam-Trung-Bộ của Việt Nam. Miền Nam Trung Bộ có thể kể từ tỉnh Quảng Ngãi cho đến Bình Thuận với đặc điểm gần giống nhau như sau: dãy Trường Sơn trùng điệp xanh rì chạy dọc dài ở phía Tây, phía Đông trải dài mênh mang Thái Bình Dương, chính giữa là đồng bằng hẹp, ngoại trừ Bình Định và Phú Yên với diện tích nông nghiệp khá lớn. Xuyên suốt qua những đồng bằng là đường xe lửa Xuyên Việt như chạy trên một đường đê cao so với đồng ruộng. Đường xe lửa này có từ hơn một trăm năm qua do người Pháp xây dựng, và đang có dự án mở rộng đường sắt cho cùng một khổ với đường sắt quốc tế. Thắng cảnh và di tích cổ ở đây cũng không ít, so với Thừa Thiên và Quảng Nam thì không dồi dào bằng, nhưng là những di tích hiếm quý chưa được nói đến nhiều; ngoại trừ thành Đồ Bàn ở Bình Định, Tháp Bà Nha Trang, Tháp Chàm trên Đồi Trầu gần Phan Rang. Quảng Ngãi có cầu xe lửa sông Trà Khúc đồ sộ màu xanh lá cây đẹp hoang vu sát gần cửa sông ra biển, Phú Yên có cầu xe lửa Đà Rằng dài nhất Miền Trung và núi Đá Bia với bút tích vua Lê Thánh Tông, Bình Thuận với Lầu Ông Hoàng vang vọng thơ tình Hàn Mặc Tử và Sông Mao buồn thời chinh chiến trong thơ Nguyễn Bắc Sơn… Đặc biệt Khánh Hòa: ngoài thành phố du lịch bờ bãi tuyệt đẹp Nha Trang, hoặc cảng nước hải quân vừa rộng vừa sâu vừa kín gió tốt nhất thế giới Cam Ranh; còn có Vịnh Vân Phong cũng thật sâu và kín gió nằm ở phía Bắc Nha Trang độ ba mươi cây số. “Hòn Lớn mang tơi, Hòn Hèo đội nón”, đó là dấu hiệu thời tiết được người địa phương hình-tượng-hóa thật thơ mộng nói về mây vần vũ trên hai hòn đảo nhỏ trong vịnh Vân Phong, báo trước cho thuyền ghe biết sắp có bão. Từ Hòn Hèo, đi dần vào đất liền về hướng Tây, lần lượt là thôn Phong Thạnh nằm ngay trên địa phận có đường xe lửa Xuyên Việt, đi thêm về hướng Tây sát gần dãy Trường Sơn là làng sơn cước Vạn Khê. Sơn thôn này có thật nhiều dòng suối trong vắt, làm cho loại tre thấp ven bờ quanh năm xanh tốt, và những trưa chiều vang vọng từ các đỉnh núi tiếng chim “bắt cô trói cột”… Bối cảnh Miền Nam Trung Bộ ấy thấp thoáng lộ ra trong thơ Lê Văn Trung, cũng chuyến tàu xe lửa chạy lướt qua dưới thấp trong khi nhà thơ đang về với thiên nhiên trên núi cao, cũng sương khói miền sơn cước, cũng những cánh chim và “những vì sao nở trắng” dọc dài đỉnh Trường Sơn vĩnh cửu:
 
… Rồi có một ngày trên đỉnh núi cao
Chút đời ta cũng vô cùng sương khói
Tình em nào có nghĩa gì với cỏ cây
Bởi hồn ta ta đã phủ đầy mây trắng.
... Làm sao đưa ta đến những vì sao
Nở trắng một trời vĩnh cửu.
… Ngày ta về với hư vô
Bay theo những cánh chim hồng
Trong suốt đời tịch mạc.
(Trích từ bài: Ngày về với thiên nhiên)
… ngày  mai anh về hát trên rừng xanh
có các em nắm tay nhau khiêu vũ
… đôi tay giang ra trong giờ thuyết giáo
anh sẽ hát với các em
những bài ngợi ca thiên nhiên
ngợi ca các em
những thiên thần bé nhỏ
… ngày mai anh về hát trên rừng xanh
có các em thổi tù-và qua lũng thấp
khi chuyến tàu đầu ngày băng qua đồng cỏ
xin gởi đi những hệ lụy đời anh
và gởi đi những phiền muộn đời em
chúng ta sắp đến giờ thánh tẩy.
(Trích từ bài: Giờ thánh tẩy)
 
Có những yếu tố, những từ ngữ trong thơ của Lê Văn Trung mang dáng dấp văn hóa Tây phương: thay vì những con két xanh thường có trên dãy Trường Sơn thì lại là những cánh chim hồng; thay vì tiếng mõ trâu bò về chuồng thì lại là tiếng tù-và dưới thung lũng; thay vì cô độc trên chòi lá thì lại cùng khiêu vũ với các thiên thần bé nhỏ; thay vì chuyến tàu xe lửa băng qua đồng ruộng lúa nước thì lại băng qua đồng cỏ xanh. Những hình ảnh và từ ngữ ấy làm ta củng cố thêm sự suy diễn: tác giả Lê Văn Trung không muốn chủ đề “Về Với Thiên Nhiên” hoàn toàn đóng khung vào cảnh quang Miền Nam Trung Bộ, dù ta thấy cảm hứng của tác giả đã thoát thai từ đó. Tác giả muốn có được tính chất phổ quát về không gian như tính chất phổ quát của chủ đề thường được đề cập đến này. Hành trình cảm thức cuộc trở về với thiên nhiên, qua thơ Lê Văn Trung, gần giống như đi từ rung động bài hát “Nương Chiều” (của nhạc sĩ Phạm Duy) trầm buồn miền sơn cước Việt Bắc, rồi lạc dần sang mỹ cảm bài hát “Tiếng Vọng Chiều Vàng” (của nhạc sĩ Văn Phụng)* với nhịp điệu âm vang trên miền bình nguyên hoang vu Nam Mỹ.
 
Trần Văn Nam     
 
(Trích trong Tạp chí Thư Quán Bản Thảo, số 34. Bản gửi từ tác giả)
* Lời hát bài “O’ Cangaceiro” bằng tiếng Bồ Đào Nha tuy có nghĩa là “Kẻ Cướp Ở Brazil”, nhưng lại là một bài dân ca vui đùa, với bối cảnh hoang dã miền sơn cước của xứ Ba-Tây. Trong khi đó bài hát “Tiếng Vọng Chiều Vàng” của nhạc sĩ Văn Phụng mang chất tâm cảnh của một lữ khách dừng bước giang hồ trong buổi chiều khi đồng quê chưa tối hẳn, dường như đang lửng thửng tìm một nơi nghỉ qua đêm. Ở Miền Nam Việt Nam, bài hát này một thời rất phổ biến, các ca sĩ thường hát (vào những năm cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960). Có lẽ vì âm điệu gần giống bài “O’ Cangaceiro” nên không được nhạc sĩ Văn Phụng công nhận trong danh sách những sáng tác của ông. Và vì vậy bài hát gần như bị lãng quên. Sau đây là nguyên văn bài hát chiều vàng dàn trải nét đẹp đồng quê Việt Nam tuy âm điệu nhạc Nam Mỹ, với câu cuối có những nhịp đứt khúc được hát lặp lại hai lần:
 “Hò ơi chiều ơi
Hò ơi ơi, chiều ơi chiều
Chiều nơi đây, trên đồng xanh bát ngát
Hoàng hôn rơi, khi đàn chim sáo sác
Tiếng hát ai, êm đềm cuối thôn
Bóng dáng ai, như bóng mục-đồng
Tiếng mõ trâu xen cùng tiếng ca
Đến với ta như nhạc đường xa
Chiều ơi!
Reo buồn khắp nơi
Ai ơi!
Cung sầu khó vơi
Khi ta ra đi, biết sầu chia ly, nỗi buồn chia ly, lúc xa quê nhà.
(VĂN PHỤNG)
 
Trần Văn Nam
Friday, 01 August 2014 15:10
Last Updated on Friday, 01 August 2014 15:15
Written by Trần Văn Nam
Thơ Hai Bên...
 
Thơ Hai Bên
Nói Về Cuộc Tranh Thủ Tây Nguyên
 
I. Thơ Cao Hoành Nhân phía Việt Nam Cộng Hòa viết về trận Ashau
Thời Việt Nam Cộng Hòa, thơ cảm hứng về mặt trận Tây Nguyên không hiếm hoi, nhưng đa số đều mang chất biên tái: nhớ nhà, nhớ vợ con, hoặc một chút buồn cô đơn khi trấn thủ chốn biên thùy, hoặc đôi khi một chút ngao ngán chiến tranh. Thi nhân không phải như những nhà chiến lược để biết Tây Nguyên là bàn đạp tiến xuống đồng bằng, là xương sống vòng cung tỏa về duyên hải. Mãi về sau, khi có lệnh bỏ Buôn Mê Thuột làm sụp đổ giây chuyền cả miền Nam năm 1975, mãi về sau nữa khoảng năm 2009 khi có lời cảnh báo coi chừng trọng điểm chiến lược của vùng khai thác quặng Bauxite ở tỉnh Ðắc Nông, và mãi về sau khoảng năm 2010 khi các nước hạ lưu Mekong họp bàn về dòng sông bị nghẽn mạch (nhà văn Ngô Thế Vinh và nhiều nhà trí thức Việt Nam cũng đã báo động từ lâu)... lúc này đây các nhà thơ hẳn đã biết Tây Nguyên “lợi hại” như thế nào. Người thì có ý kiến Việt Nam sẽ phối hợp với Kampuchia xây dựng một hồ chứa nước khổng lồ ở Kontum để đưa nước vào Mekong, cả hai cùng có lợi trong tích lũy nguồn nước không bao giờ cạn cho nông nghiệp và do đó hai nước sống chung hòa bình vĩnh viễn (vì con sông dài Xê-Xan của Kampuchia đổ nước vào Mekong vốn đã hợp lưu với sông Poko của Việt Nam tại Kontum, vùng rừng núi này rất nhiều mưa). Hiện đã tồn tại ở đó đập thủy điện Yali, nhưng chưa có sự hợp tác của Kampuchia và sự giúp sức của các cơ quan tài trợ Liên Hiệp Quốc để biến hồ chưá nước thành vô cùng vĩ đại; và nhờ vậy đập thủy điện Yali có tầm cỡ hiện nay lại càng thêm lớn lao. Tây Nguyên với bao nhiêu lời báo động do vụ khai thác mỏ Bauxite: nên coi chừng hiểm họa đất đai toàn vùng Nam Trung Bộ và Miền Ðông Nam Phần bị nhiễm độc bởi bùn đỏ thải ra từ khai thác Bauxite; nên coi chừng sự tiềm tàng một quả bom bùn đỏ không đê điều nào ngăn cản nổi và sẽ làm tràn ngập sông Ðồng Nai và sông Sài Gòn (độ dốc từ trên cao đổ xuống thập phần nguy hiểm hơn tai nạn bùn đỏ Bauxite mới xảy ra ở đồng bằng nước Hungary); nên coi chừng vùng dành riêng khai thác thành khu quân sự bất khả xâm phạm của nước ngoài; và nên coi chừng biết đâu vùng đó đang có quặng mỏ quý hiếm chưa được tiết lộ bí mật.
Trở lại vấn đề văn nghệ thời chiến Miền Nam, ta không có ý phê bình gì các nhà thơ viết ra những câu thơ với nỗi buồn biên tái khi đồn trú ở Tây Nguyên, vì văn nghệ Miền Nam thời chiến không ràng buộc chặt chẽ với chính trị. Một chút buồn cô đơn như Vũ Hữu Ðịnh với phố núi chỉ đi quanh quất dăm phút là hết, hết phố nhưng không hết tình thân: “em Pleiku má đỏ môi hồng/ ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông/ mai xa lắc trên đồn biên giới/Còn một chút gì để nhớ để thương”. Nhà thơ Kim Tuấn nhớ mẹ có lẽ hơn tất cả, mãi ngóng về Huế mong tới ngày nghỉ phép: “Bản-Hét thương đời anh lính trẻ/Quanh năm chờ phép về thăm nhà/Quanh năm trấn thủ đời gian khổ/ Hầm đất nhìn quanh ta với ta”. Nhà thơ Lâm Hảo Dũng tự coi mình như một lữ khách từ miền Lục Tỉnh đi đồn trú trên những dốc tử thần: “bởi bao nhiêu trận kinh hồn trước/ đều thấy mơ hồ ở Dakto/khi đi là tự xây mồ sẵn/nay suối buồn, kia mai đỉnh xa”. Còn thi sĩ Phan Ni Tấn cảm thương mình đang về với cheo leo trên quốc lộ 21 (nay là quốc lộ 26) từ vùng duyên hải Ninh Hòa lên núi rừng Buôn Mê Thuột: “lên đèo Dục Mỹ ban trưa/ta về ở dưới gió mưa não nùng/ lên Tây Nguyên trấn giữ thành/thương con vượn hú trên cành chon von”.
Trên đây là các câu thơ sưu tầm từ bộ sách “Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến” của nhà xuất bản Thư Ấn Quán ấn hành năm 2006 và 2007. Trong bộ sách dầy hơn 1550 trang đó, duy nhất có bài thơ của Cao Hoành Nhân mang tính chiến đấu tranh thủ Tây Nguyên, gần giống như thơ của phe Xã Hội Chủ Nghĩa vốn gắn liền với chính trị. Chỉ biết vài chi tiết về Cao Hoành Nhân lúc còn rất trẻ khi người viết bài này cùng ông học lớp Ðệ Nhị Ban Văn Chương niên khóa 1957-1958 hoặc 1958-1959 (không nhớ chính xác), và biết ít về ông cũng vì chỉ học có một năm cùng trường, trường Trung Học Võ Tánh Nha Trang; lớp học năm ấy có hai người nổi tiếng là Nguyễn Ðức Sơn và Nguyễn Thị Hoàng. Tên thật của ông, Bùi Cao Hoành, quê quán chắc ở Khánh Hòa-Nha Trang. Có lẽ ông là một sĩ quan trấn đóng ở Tây Nguyên, cái nhìn của ông chắc không từ nhãn quan chiến lược của cấp bậc tướng lãnh, nhưng cũng đã cho ta thấy tầm quan trọng phải tranh thủ Tây Nguyên. Mất Tây Nguyên, quân Việt Nam Cộng Hòa sẽ bị chọc thủng phòng tuyến xuống duyên hải Miền Trung và đồng bằng miền Nam. Vì vậy mà các sư đoàn Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ từng bố trí hùng hậu tại đây, cố tranh thủ nó, như Cao Hoành Nhân đã viết trong bài thơ “Về Ashau”:
 
Ashau! Ashau!
Vách dựng tầng xanh cây cao khói đỏ
Dã thú quen rừng bóng cả đêm thiêng
Tự nghìn thu sừng sững giải sơn biên
... Tự thung lũng Ashau sâu
Vượt Trị Thiên bát ngát
Dày xéo biên duyên
Tự đỉnh Trường Sơn cao
Ðổ về Cửu Long nước ngọt
Lửa bốc ruộng vườn
Ashau! Ashau!
Một giải biên sơn
Bỗng biến thành một khu cường địch
... Quân ta vượt Trường Sơn
Án ngữ đường địch lui mặt Bắc
Ðồng Minh đổ chụp vùng Nam
Phi pháo biên duyên chờ lửa bốc máy gầm
Và ẩn hiện xuyên sơn toán biên phòng Lôi Hổ.
                                                                                 Cao Hoành Nhân
 
II. Nguyễn Xuân Thâm phía Xã Hội Chủ Nghĩa, thơ về đồng khởi Tây Nguyên
Với văn nghệ Xã Hội Chủ Nghĩa, chính trị phải gắn liền với văn chương: một trong những đường lối chính trị là luôn luôn mang “tính chiến đấu” trong nghệ thuật thời chiến tranh Việt Nam. Cho nên không bao giờ có trong thơ văn Xã Hội Chủ Nghĩa nỗi buồn quan tái hoặc nhung nhớ khi ở chốn biên thùy rừng núi. Thơ sáng tác của các thi nhân trong đoàn quân xâm nhập thì không hiếm; như Phạm Tiến Duật viết về điều phải tạm gác tình riêng (yêu nhau trên đường trường chinh) của người lính lái xe trong cơn mưa tầm tã: “Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ/ Trường Sơn Ðông nhớ Trường Sơn Tây” ; như Thanh Thảo tin tưởng lớp lớp đoàn quân để lại những dấu chân qua trảng cỏ trên đường đi chiến trường xa xăm: “Chiếc bòng con đựng những gì/Mà đi cuối đất mà đi cùng trời/ Ai đi gần, ai đi xa/ Những gì gởi lại chỉ là dấu chân”; như Hữu Thỉnh viết về đêm giáp ranh trên đò qua sông hành quân xâm nhập, mang tính lạc quan của con trăng lưỡi liềm đã ở bên kia bờ: “Ếch nhái nghiến răng sao mà sốt ruột/ Chớp nhì nhằng lô-cốt méo bên sông... Bìm bịp chùm đôi kêu dính vào nhau/Tiếng nước vỗ tan rồi chụp lại... Chúng tôi đi còn tần ngần ngó lại/ Chỉ thấy vầng trăng cuối tháng mới quăng lên”. Những trích dẫn trên đều là thơ mang tính quân sự của bí mật xâm nhập từ ngoài Bắc vào, chưa lồng vào tính chính trị nói về chiến tranh nhân dân nổi dậy tại Tây Nguyên, giống như tính chất “đồng khởi” ở Miền Nam mà tác giả bài thơ sau đây có ý so sánh.
Tác giả là nhà thơ Nguyễn Xuân Thâm. Ông đã từng dạy ở Ðại học Bách Khoa Hà Nội và dạy ngoại ngữ ở nước Angola Phi Châu (qua tài liệu biên khảo của ông Vũ Duy Thông, nhà xuất bản Giáo Dục, ấn hành trong nước năm 2000). Theo một bài báo trên mạng “vanchuongviet.org”, bài của tác giả Vân Long, đăng ngày 12 tháng 7 năm 2010, Nguyễn Xuân Thâm chính là nhà thơ Dao-Ca có thơ đăng trên tuần báo Ðời Mới ở Sài Gòn (tờ báo có mặt khoảng 1951 đến 1955) (1). Vân Long cũng là nhà thơ cùng thời và cùng có thơ đăng trên báo Ðời Mới như Dao-Ca. Qua trích dẫn thơ Dao-Ca trong bài báo đó thì ta lại biết Dao-Ca cũng chính là Ðỗ Hữu với các bài thơ rừng núi lãng mạn một thời trong báo Ðời Mới, như bài thơ “Sầu Ai Lao”; hoặc bài “Ðoàn Quân Qua Làng”; hoặc bài “Nắng Ngút Ðường Dài” với các câu: “Nắng ngút đường dài hoa gạo bay/ Rừng sâu mấy bữa lạc sau ngày/ Ðường xa nắng lửa chiều hun hút/ Quán đứng lưng đèo, núi tiếp mây”. Vậy Nguyễn Xuân Thâm, Dao-Ca, Ðỗ Hữu, chỉ là một người. Riêng bài thơ “Trống và Lửa” của Nguyễn Xuân Thâm thì dĩ nhiên không còn tính lãng mạn từng hiện diện trong thơ Ðỗ Hữu (2), bây giờ mang đậm chất chính trị qua viễn tượng cuộc nổi dậy của các dân tộc Tây Nguyên chống lại chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Tác giả liên tưởng đến cuộc đồng khởi ở Bến Tre thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Thơ mang tính tranh thủ Tây Nguyên, từ đó làm bàn đạp tiến xuống Sài Gòn như trình tự năm 1975 đã diễn ra. Tranh thủ xong Buôn Mê Thuột, các đạo quân tập trung tại Chiến Khu Ð ở Bình Long-Tây Ninh, từ đó tiến về Sài Gòn theo quốc lộ 13 tới Ngã Tư Hàng Xanh, rồi bằng hai ngã chạy thẳng vào trung tâm Sài Gòn là đường Phan Thanh Giản (nay là đường Ðiện Biên Phủ) và đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai). Tính chính trị ở chỗ tô đậm nét vai trò chủ chốt là cuộc nổi dậy của nhân dân (bao gồm các dân tộc Tây Nguyên) chống trả Việt Nam Cộng Hòa. Mà thật ra, như ta đã chứng kiến, lực lượng xung kích là các sư đoàn chính quy có xe tăng đại bác tối tân từ Miền Bắc vào. Bài thơ “Trống và Lửa” mang tính chính trị của tác giả Nguyễn Xuân Thâm đề cao vai trò của “nhân dân nổi dậy” ở Tây Nguyên”, tuy giáo mác cung tên nhưng có vai trò “làm bàn đạp” khởi đầu cho trận chiến “nội công ngoại kích”:
 
...Trời Tây Nguyên, chiều đại ngàn rực rỡ
Cuồn cuộn sông Ba hiện lên trong ánh lửa
Bóng lũ làng dáo mác dựng bên nhau
Ðàn voi đi bành tía bành nâu.
... Chim phí bay về đậu đỉnh nhà rông
Chén rượu cần mặt trời vào uống đỏ như mật ong.
... Ðây rừng chông đứng lẫn dáng chiều
Ðây bẫy đá nằm khuất trên vách đá
Trống giục lửa, lửa vào buôn, người Ê- Ðê cầm ná
Lửa vào làng, người Gia Rai vót chông
... Trống dội từ trong trường ca Xinh Nhã, Ðam San
Trống lửa ầm ầm về trong phong trào đồng khởi miền Nam
                                                                                   Nguyễn Xuân Thâm
 
Trần Văn Nam
 
* Mời xem những bài viết khác của Trần Văn Nam ở trang Văn Xuôi

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013