Thi Ảnh

Nguyên Nhung

Hai Bà Mẹ - Nguyên Nhung

NguyenNhung

Không biết tình cờ hay do cơ duyên đưa đẩy, tôi có dịp được làm quen với bạn, ở cái tuổi tri thiên mệnh người ta hay nhắc về chuyện cũ, chúng ta cũng không ngoài thông lệ đó. Hình như tôi có trực giác khá bén nhạy, cái trực giác này chắc là phần thưởng của ông Trời ban tặng cho một người yếu đuối, cảm nhận được đối tượng gặp gỡ để kết thành bạn bè, nên khi gặp bạn tôi cảm nhận được cái tình bạn tốt đẹp đó.

Bạn trạc tuổi tôi, con trâu làm bạn với con bò, vận mệnh hẩm hiu nhiều phen gian nan, đói rách, chúng mình sinh cùng một thời lận đận, cuộc chiến này chưa tàn thì đất nước lại tiếp nối cuộc chiến khác. Hoàn cảnh gia đình có khác nhau, nhưng lại khiến tôi cảm động thật nhiều, khi không ngờ khung trời tuổi thơ của tôi, những kỷ niệm thời trẻ dại lại xuất xứ từ nơi chôn nhau cắt rốn của bạn.

Dĩ nhiên khi tình cờ biết được điều lý thú đó, chúng ta cùng quay ngược lại thời gian để nhớ về quê nhà của bạn, mà cũng chính nơi đây là chốn dung thân của gia đình tôi sau năm 1954. Năm ấy mẹ tôi mới ba mươi tám tuổi mà đã góa chồng, đầu đội vành khăn trắng, lếch thếch dẫn mấy đứa con dại theo họ hàng làng nước, di cư vào miền Nam, chọn ngay cái miền đất quê nhà của bạn làm chốn dung thân. Không gì bằng tha hương ngộ cố tri, cái mà ta gặp gỡ trong vài câu chuyện kể, đã làm sống lại trong ta bao kỷ niệm thuở còn thơ đã phôi pha ít nhiều.

Tôi gửi cho bạn xem tấm hình ngày thơ ấu tôi còn giữ được, lúc ấy tôi mới 6, 7 tuổi. Những mái nhà nghèo nàn được lợp bằng cỏ tranh, nơi ấy tôi cũng đã nhìn thấy những trảng cỏ tranh cao hơn đầu người, và khung nhà làm bằng rơm trộn với đất sét, thay cho xi măng rồi sau đó người ta quét lên một lớp vôi trắng. Nhìn xa trông cũng khang trang khi căn nhà được bao phủ bởi những bụi chuối, bụi mía, giàn mướp hương và trong tấm ảnh, một làn khói lam chiều vươn lên mảnh trời rải rác những cụm mây trắng...

Tấm ảnh tuổi ấu thơ của tôi khiến bạn ngậm ngùi, đâu đó bạn bắt gặp lại quê nhà của mình, dẫu có nghèo nàn nhếch nhác như hoàn cảnh của bạn và tôi lúc đó, nhưng lại ắp đầy kỷ niệm. Bạn nhắc tôi nhớ những con đường đất cát, bỏng rẫy những đôi chân trần trẻ thơ ngày hai buổi đến trường. Con đường ấy vào hè trời nắng chang chang, nóng đến nỗi những con giun đất cũng phải trồi lên khỏi mặt đất để lại những ụ đất xinh xinh trong khu vườn rộng sau nhà. Bao chung quanh vườn là những bụi tre bụi trúc, lũ trẻ con hay quanh quẩn chơi nhảy dây dưới bóng mát của bụi tre suốt ngày lao xao thì thào tiếng gió, nơi đó có những ụ mối đùn lên như những nấm đất to. Tôi lại nhớ đến những cây mít, cây ổi, cây xoài mẹ tôi trồng lớn nhanh như thổi sau vài năm định cư, những cái giếng nước sâu hun hút dưới lòng đá ong mà nước trong văn vắt, ngọt ngào hơn nước mưa ở quê bạn.

Tuổi thơ của tôi và bạn chắc chỉ có vậy, nhưng đềm êm với những kỷ niệm và những rẫy vườn xanh biếc của cỏ cây. Dọc theo quốc lộ là những khu vườn trống đầy cỏ dại xen lẫn với rừng cao su bạt ngàn, trồng thẳng tắp đổ xuống những bóng cây theo ánh nắng mặt trời. Ở đó có những bông hoa dại màu tím, có bóng dáng người con gái bạn yêu thuở đầu đời, những năm đầu thời Trung Học nơi ngôi trường quận lỵ thiếu thốn trăm bề. Tôi đi khỏi nơi ấy khi chưa học hết bậc Tiểu học, còn bạn thì gắn bó với quê nhà cho đến ngày nơi đây thành bãi chiến trường, khung cảnh hoang tàn và khu nghĩa trang nằm tít ngoài cánh đồng phía sau quốc lộ đã đan kín những tấm mộ bia.

Tuy thế, tôi cũng hình dung ra chuỗi ngày ấu thơ của tôi và bạn nơi miền quê êm ả đó, chắc chỉ được vài năm ngắn ngủi không nghe ai nói đến chiến tranh. Tôi hay lang thang theo lũ bạn nhỏ xục xạo những bụi cây dại trên cánh đồng để hái quả chín, lâu ngày không nhớ tên những loại trái chín mọc hoang vu nuôi lũ chim riu rít làm tổ trên cây. Đó là những ngày tuyệt vời của lũ trẻ con vào mùa hè được nghỉ học, từng đám len lỏi vào những thửa ruộng sắp ngả màu lúa chín, bứt trộm những đọt nếp còn ngậm sữa, đem về rang rồi giã ra là có được một món cốm xanh thơm mùi hương đồng cỏ nội.

Từ quốc lộ đi sâu vào phía trong trên con đường quê gập ghềnh lỗ chân trâu, người dân quê miền Nam chở đầy những xe cỏ hay rơm khô đi qua con đường ấy, bánh xe bò nghiến kẽo kẹt vào nhau lăn trên nền cỏ mềm, khi trời mưa để lại dấu bánh xe trên nền đất nhẵn thín. Sau những khu vườn rào giậu kỹ lưỡng của người Bắc di cư, tiếp nối những cánh đồng lúa và rừng cao su, đối với tôi ở đó dấu kín những bí ẩn giữa ngày và đêm, sự sống và nỗi chết trộn lẫn đâu đó vì những năm sau, khi màn đêm buông xuống, từng tràng đạn vu vơ vọng đến khu xóm nghèo những lo sợ vẩn vơ. Ít năm sau, vài căn nhà đã bỏ trống để đi nơi khác, nỗi ám ảnh của chiến tranh đeo đẳng lên số phận con người, thôn xóm càng thêm vẻ đìu hiu vắng lặng đến rợn người.

Đó là không gian tuổi thơ của tôi và bạn, tuy đẹp nhưng chỉ có thế nếu như tôi không nghe bạn kể chuyện, và như một tình cờ thì ít nhiều trong đó mênh mang hình ảnh hai người mẹ, mẹ của tôi và má của bạn. Hai người đàn bà có những trùng hợp đau khổ của định mệnh sao giống nhau nhiều lắm, dù hai người sinh trưởng ở hai nơi khác nhau, miền Bắc và miền Nam, nhưng cái đau đớn của hoàn cảnh thì lại hội tụ ngay trên quê hương của bạn. Cả hai bà mẹ này đối với chúng ta đều tiêu biểu cho những bà mẹ quê hiền lành, chịu đựng, cam go chiến đấu với nghịch cảnh để nuôi con thành người, thiếu vắng người đàn ông trong mái ấm gia đình đã tan nát vì chiến tranh. Mẹ tôi qua đời hơn hai mươi năm rồi, còn má bạn vẫn hắt hiu chiếc bóng ở miền quê xa xôi đó như đã từng cam chịu, bằng lòng với số phận nghiệt ngã của mình.

Theo như bạn kể thì bạn mồ côi cha ngay khi mới sinh còn đỏ hỏn, tiếng khóc đầu đời của đứa trẻ con vài ngày tuổi như tức tưởi vì cái tang của người cha, từ xa lần mò về thăm nhà khi đứa con chào đời. Ba người đàn ông ùa vào nhà khi trời vừa nhá nhem tối, trói chặt cha bạn lôi đi rồi chặt đầu ngay mé rừng cao su trước lối vào nhà bạn, khiến người vợ điên loạn trước cái chết hãi hùng đến quá bất ngờ của người chồng, mà quên luôn cả ngày sinh tháng đẻ của thằng con trai. Niềm vui chưa trọn sao nỗi buồn đã kéo ập đến vội vã như câu nói "họa vô đơn chí, phúc bất trùng lai" hình như thường hiện diện quanh quất trong đời sống loài người. Từ hồi ấu thơ, bạn đã sống lây lất nhờ dòng sữa của những người phụ nữ tốt bụng quanh xóm, bầu vú mẹ đã cạn khô theo nỗi đớn đau chít khăn tang đi vào gia đình bạn.

Nay bú nhờ, mai uống nước cháo vậy mà bạn cũng lớn lên được, trong nỗi buồn héo hắt của mẹ kéo dài một thời gian rồi cũng nguôi nguôi. Bạn chạy nhảy chơi đùa trong căn nhà dột nát che đậy sơ sài bằng những tấm mo cau rơi rụng trên mảnh sân trước, khi mùa mưa đến, căn nhà càng thêm âm u đầy khói hun muỗi từ những cây củi ướt. Những căn nhà tranh vách đất ở miền quê đều giống nhau, chiều chưa về mà bóng tối đã đầy sân, ẩn sau vườn tược âm u, đêm khuya nghe tiếng chim tu hú buông từng âm rời rạc, như tiếng gọi của thần chết. Tuy vất vả mẹ góa con côi, nhưng người mẹ tảo tần một nắng hai sương ấy cũng cho được các con đến trường, bạn gần như quên hẳn cái quá khứ đau buồn của mẹ. Đến một ngày lớn khôn, nhìn lên bàn thờ hình ảnh của người cha khuất sau làn khói hương nhòa nhạt, bạn thắc mắc về người cha và muốn biết về ngày sinh của mình để gọi đó là ngày sinh nhật.

Tôi may mắn hơn bạn một chút vì khi tôi sinh ra và lớn lên, đứa con út ít của một gia đình ở thành phố có ngôi nhà gạch khang trang do chính cha tôi tạo dựng. Phía trước nhà là rặng bàng trở màu khi mùa thu đến, phía sau nhà là mảnh vườn rau với cái ao vuông. Cửa hàng của cha mẹ tôi tấp nập khách làng quê ra tỉnh vào những ngày có phiên chợ. Hai căn nhà gạch với một cái sân lát gạch đỏ, những đêm mùa hè cả nhà quây quần truyện vãn dưới ánh trăng bàng bạc treo trên mảnh sân ấy, tiếng cười của lũ con chen nhau chờ bát chè đậu đen mát mẻ vào một đêm trăng rằm tháng Tám. Những mùa thu ở đất Bắc trong một thị trấn êm đềm không xa Hà Nội bao nhiêu cây số, cũng như miền quê nơi bạn sinh ra cũng sát nách với Sài Gòn hoa lệ, thế nhưng định mệnh lại là mẫu số chung cho hai người mẹ rất tội nghiệp.

Ôi buồn thay khi bạn kể tôi nghe ngày sinh của bạn, lại chính là ngày giỗ của người cha thân yêu với bản án hãi hùng vào một đêm hạnh phúc của loài người. Tôi hình dung ra khung cảnh gia đình bạn, chiếc đèn dầu còn tỏa ánh sáng lắt lay trong căn nhà miền quê, bà mẹ sung sướng khi hân hoan trao đứa con thơ còn bé bỏng qua tay người chồng, đôi mắt long lanh nhìn nhau, môi họ mỉm cười và người cha đang ngắm nghía đứa con trai để tìm đôi nét quen thuộc của mình, trên khuôn mặt bé thơ còn đỏ hỏn nhăn nhúm chưa quen với đời sống mới. Giây phút hạnh phúc ấy kéo dài được bao lâu, lời nói ân cần hỏi han nhau được bao nhiêu khoảnh khắc phù du của cuộc đời, để rồi chợt mất hết khi những cái bóng đen của sự ác ùa vào căn nhà nhỏ, cái chết đến tức tưởi quá nhanh không hề đoán trước được.

Còn ngày sinh nhật của tôi chắc cũng chỉ là một ngày tưởng tượng trong một năm có ba trăm sáu mươi lăm ngày như bạn vậy. Ngày cha tôi mất, một ngày tháng mười năm đó, ba hôm sau mẹ tôi dặn dò người bõ già vài việc, thu vén dẫn con âm thầm ra khỏi căn nhà thân yêu của mình không hẹn ngày trở lại. Đôi vai người đàn bà chưa đầy bốn mươi tuổi yếu đuối mà đầy nghị lực, dẫn thêm ba đứa con còn non nớt, dại khờ, quẩy trên lưng cái khổ nạn của gia đình tan nát, chia lìa, phân tán, chỉ còn đôi tay và những giọt nước mắt làm hành trang cuộc đời, trôi giạt vào cái mảnh đất quê hương miền Nam của bạn. Vậy mà chúng mình không biết nhau ngày đó, để đến khi bạc đầu mới biết thế nào là "tha hương ...ngộ cố tri".

Vì vội vàng ra đi, chị em tôi không có một mảnh giấy khai sinh lận lưng, nên sau này khi làm lại giấy thế vì khai sinh để đi học, tôi bị đánh rơi chữ "Kim" mà ngày xưa khi nằm trong lòng cha tôi trên chiếc võng đu đưa ở mảnh sân ngợp mùi hoa ngâu cạnh cái bể nước mưa, cha tôi đã âu yếm gọi tôi là "con trâu vàng" để kỷ niệm cái năm tôi chào đời. Lúc ấy chắc cha tôi cũng không bao giờ nghĩ có ngày cha con lại chỉ gần nhau vỏn vẹn vài năm là tôi mất hẳn người cha thân yêu. Tôi cũng không nhớ mặt người cha thân yêu của mình, mấy tấm ảnh còn lộng khung treo trên tường không ai gỡ xuống để mang theo. Khi làm lại khai sinh cho tôi, mẹ tôi cũng bối rối quên luôn cả ngày sinh tháng đẻ của các con, huống gì những chữ lót mỹ miều trong mỗi cái tên, họ. Tôi cũng không có ngày sinh nhật, chỉ nghe mẹ bảo khi cơn gió heo may thổi về, mùa thu tháng Tám với một vầng trăng treo sau vườn là tôi mở mắt chào đời. Tôi sinh vào mùa thu chứ không phải mùa hạ như trong giấy khai sinh làm lại ở miền Nam, khiến tôi nghĩ mình là hiện thân của một chiếc lá vàng bay từ Bắc về Nam theo làn gió cuốn.

Chính vì câu chuyện này mà trong bạn và tôi trộn lẫn chút buồn phiền và ngậm ngùi khi biết cái hạnh phúc làm người của mình, lại kéo theo sự bất hạnh của người cha, nỗi đau đớn của người mẹ, bấy nhiêu thứ pha trộn vào nhau để thành một nỗi buồn bàng bạc khi ngắm nhìn hạnh phúc của người khác. Riêng bạn còn thêm nỗi căm hận khi nghĩ đến những kẻ đã gây nên cái chết của người cha yêu thương của mình. Nỗi buồn ấy phải chăng là một định mệnh, để ngay từ khi mới vào đời, bạn đã phải mau chóng rời bỏ quê hương, bỏ lại ngôi nhà trong vườn cây có những vạt rừng cao su âm u ẩn dấu niềm đau trong đó, và cũng bỏ luôn mối tình đầu đời với người thiếu nữ chân phương, thích những bông hoa màu tím rung rinh trên vạt cỏ.

Người mẹ miền Đông Nam Bộ ấy cam chịu nghịch cảnh đau thương do chiến tranh và hận thù, vẫn ở lại quê nhà, cu ky chiếc bóng trong ngôi nhà đơn lạnh để chắt chiu từng bịch gạo, dành dụm từng con khô, con mắm, bán từng buồng chuối, buồng cau để gửi đi nuôi con ăn học. Bạn may mắn thoát ra được miền quê khốn khổ của mình cũng từ nỗi vất vả của mẹ. Để rồi sau những năm ăn học, bạn quyết định gia nhập quân đội, và xem đó là con đường nối tiếp lý tưởng của người cha đã nằm xuống năm xưa. Là một người lính biển, bạn lênh đênh với con tàu trên sông dài biển rộng, mà vẫn nhớ về một dòng sông chốn quê nhà. Nghe tiếng sóng biển rì rào vỗ vào mạn tàu tít ngoài biển xa để bảo vệ tổ quốc, trăng nhấp nhô theo làn sóng bạc, nơi chốn bình yên ấy chắc bạn vẫn chạnh lòng nhớ mái tranh nghèo có bà mẹ già luôn ngóng chờ tin con, với trái tim mỏi mòn héo hắt, nơi đêm và ngày lẫn lộn, bình minh và bóng tối phủ chụp lên nhau thành một cơn binh lửa ngút trời ập xuống đầu người dân vô tội...

Tôi thích nhắc bạn nhớ quê hương của bạn và những kỷ niệm thời thơ ấu của tôi, dù rất đơn sơ nhưng nồng ấm tình người hai miền Nam Bắc. Tôi ăn quà như mỏ khoét, miệng líu lo như chim vành khuyên, đó là mẹ tôi bảo vậy, biết đâu bà ngoại của bạn không là bà già miền Nam móm mém ngồi bán bánh mì bì chan nước mắm với mỡ hành trong cái chợ quê nghèo đó. Sáng nào trước khi đi học, tôi cũng chạy ù ra chợ thật sớm để mua khúc bánh mì bì béo ngậy mùi mỡ hành, bao giờ bà già bán món quà rẻ tiền này cũng gắp thêm cho cô bé mở hàng vài sợi da heo thơm mùi thính rang vàng trộn thịt. Tuổi hồn nhiên khiến tôi thấy nụ cười hiền lành chất phác của bà mẹ chợ quê miền Nam, như đậu lại đâu đó trong tâm tư cô bé con Bắc Kỳ hình ảnh một bà tiên hiền dịu. Ở cái chợ nghèo nơi quê bạn, tôi thòm thèm làm quen những món ăn miền Nam rất lạ như chè thưng nước dừa, bánh bò bánh ít, nước đá bào xịt nước đường xanh đỏ mát lạnh môi một buổi xế trưa nắng gắt.

Mẹ tôi cũng làm lụng vất vả để nuôi bầy con ăn học, không thở than điều gì ngoài nỗi nhớ quê cha đất tổ chất ngất trong lòng. Mỗi buổi chiều quê ngôi nhà thờ vẫn đổ những hồi chuông buồn xa vắng, lan lan xa đến những làng mạc quanh vùng, ngọn đèn dầu không đủ xua đi bóng tối buồn rầu trong những căn nhà nhỏ. Mẹ tôi khi còn trẻ cho đến lúc về già chỉ thích đọc kinh, niềm tin hay là tự nhắc nhở mình phó thác cuộc đời và sự đau khổ vào những đấng thiêng liêng. Tuy chưa già lắm nhưng mẹ tôi hình như già trước tuổi bởi những lo toan tính toán vì miếng cơm manh áo, đơn thân độc mã giữa cuộc đời làm con gà mẹ xòe đôi cánh yếu đuối để bảo bọc những đứa con.

Có một lần tôi trở về thăm vài người họ hàng còn bám víu lấy mảnh đất tan hoang vì bom đạn nơi miền quê ấy, đi tìm lại cái mảnh vườn thời thơ ấu của mình, nhưng chỉ còn nhận ra vài cây xoài, cây mít mẹ tôi trồng là còn tồn tại, dấu vết căn nhà thì không còn gì nữa. Tôi vẫn nhớ bụi tre già bao bọc khu vườn trồng cây ăn trái, cái giếng nước xây bằng đá ong, ngày xưa ở đó có cái tổ chim. Mẹ tôi cho người chị họ mảnh vườn đó để ra đi, sau này chiến tranh từ trong rừng cao su bò ra đến khu nhà dân thì nơi này trở thành bãi chiến trường, chắc đấy là thời kỳ bạn bỏ quê hương mà đi.

Chuyện của bạn dài lắm, thêm vài mối tình dở dang trong đời quân ngũ, nhưng tôi nghĩ có lẽ hình bóng của người mẹ và cô con gái bạn yêu thời đi học, vẫn nằm lại trong trái tim bạn nhiều hơn cả. Cái mảnh đất quê nghèo từ ngày theo chuyến tàu ra biển Đông, biền biệt hơn ba mươi năm bạn chưa trở về một lần, nhưng nó còn nguyên đó vì có ai quên được nơi mình mở mắt chào đời, có ai quên được hình bóng người mẹ đã ở lại chết sống với nghịch cảnh để nuôi con thành người đâu hở bạn? Như buổi sáng giựt mình thức dậy sớm vì cơn mưa với những tiếng sấm ì ầm vọng lại, bạn bảo nhớ những giọt mưa từ mái tranh nghèo thuở còn thơ dại. Như hôm nào chợt thấy những bông hoa màu tím chen nhau nở trong bụi cỏ mọc ven đường, tôi chắc bạn đang nhớ về những bông hoa màu tím trong cánh rừng cao su thuở ấy. Có phải thế không bạn, khi tôi và bạn có hai bà mẹ có gần gần một nỗi đau, khi sống trong một quê hương đầy phân ly vì chiến tranh và nỗi chết?

Thực ra thì con người đều có những bù trừ để đời sống được thăng hoa, và những thiếu sót trong cuộc đời chúng ta luôn được bù đắp để nguôi ngoai. Chả thế mà trời cho tôi gặp bạn, chúng ta cùng có một tuổi ấu thơ rất ngậm ngùi, trong cái làng quê có con đường làng hẻo hút băng qua những cánh đồng cỏ lúa. Và một điều trùng hợp nữa là tôi và bạn sinh cùng một năm, có hai bà mẹ khổ trên một quê hương đọa đầy, với những đứa con không hề có ngày sinh nhật. Bù lại cho sự mất mát đó, tôi và bạn có hai bà mẹ quê thật tuyệt vời, không phải là điều đáng hãnh diện sao hở bạn?

Nguyên Nhung

Cõi Mù Sương - Nguyên Nhung

 
Theo ước tính, người ta cho rằng cứ 7 giây lại có một đứa bé chào đời, và khoảng 15 giây lại có một cư dân mới đi về miền vĩnh cửu, kẻ đến người đi rộn ràng trăm ngả, nếu có một bí ẩn trong bài toán của các linh hồn, chắc hẳn thượng đế sẽ vô cùng bận rộn. Lang thang mãi nơi nghĩa trang này đôi khi nàng cũng ước mình được đi đến nơi ngập tràn ánh sáng, ở đó biết đâu có Thượng Đế, hay là mỗi người chính là một phần của Thượng đế, cần phải hội đủ năng lượng để hòa nhập vào cái khối trong suốt kia, không còn phải lang thang đi tìm thiên đàng, hay lại tự đẩy mình vào cái hỏa ngục mà chính mỗi người tạo nên trong tâm hồn họ.
 
Khó hiểu quá, nếu câu chuyện được kể ra sau đây thì chính nàng cũng đang băn khoăn về cái lẽ con người sinh ra tại sao lại giàu, nghèo, đẹp, xấu, sướng, khổ khác nhau, dù rằng cùng sinh ra trong một gia đình, cùng một mẹ cha tạo thành hình hài, nhưng số phận của mỗi người trong gia đình hầu như hoàn toàn chẳng giống nhau.
 
Đấy là một câu chuyện dài dòng khi một buổi chiều vừa tắt nắng, ánh mặt trời thoi thóp nhuộm lên nền trời những giải mây đủ màu thật đẹp, màu xanh lơ dìu dịu nhạt dần để chuyển sang màu xám. Một đàn chim bay qua rồi mất hút, để lại những chấm đen buồn rầu ở phía xa và lẫn vào rừng cây xanh thẫm. Suy tư là bản tính của nàng, cái gì cũng làm nàng suy nghĩ được cả, đám ma nào vào đây cũng mang theo vô số những vòng hoa tang, những tiếng khóc, những tiếng cầu kinh, để rồi sau đó người đi đưa tản mát ra về, linh hồn cư dân miền vĩnh cửu nào cũng ngơ ngác và thấm thía tận cùng nỗi đơn độc.
 
Những vòng hoa tang. Hôm đầu tiên thường bao giờ trên nấm mộ mới cũng đầy những vòng hoa xinh đẹp, những lúc ấy nàng tha hồ ngắm nghía vẻ xinh tươi mơn mởn của những bông hoa đủ loại, nhưng chỉ độ hôm sau khi sương tan, mặt trời tàn nhẫn chiếu những tia nắng gay gắt xuống mặt đất thì hoa đi đằng hoa, người đi đằng người. Nàng cảm thấy buồn cười quá khi điều nàng nghĩ đâu có sai chút nào đâu, cái thân xác nằm dưới lòng huyệt kia cũng đang đi vào sự hủy hoại của nó, tàn phai như những đóa hoa. Cũng buổi chiều hôm ấy nàng lại gặp một linh hồn mới, và đây là một người phụ nữ hiền lành, chân thật, ít nói hơn chứ không lăng xăng lắm mồm như linh hồn người bạn tri kỷ của nàng, và nàng có nhận xét linh hồn đàn ông thường không khóc kể như đàn bà khi qua cõi bên này, nhưng vẻ suy tư của họ thì còn buồn hơn nhiều dòng nước mắt.
 
Từ hôm ấy đến nay chỉ có mỗi một linh hồn người đàn ông hám danh là điên khùng chửi bới lung tung, may là cuộc đời không có nhiều hạng người như thế, chứ nếu không thì thế giới loài người chẳng còn gì để ca tụng. Lúc ấy nàng đang ngồi suy tư với cảnh buồn bã của buổi hoàng hôn thì bà bạn của nàng đến, hình như không có cô gái đi theo, mà là một hồn lạ rất yên lặng. Thế giới của linh hồn nhập nhòa trong cái tối và sáng giao hòa với nhau nên nàng chưa nhìn rõ lắm, nhưng nghe họ nói chuyện thì nàng biết hôm nay... có khách. Đàn quạ khoang rền rĩ gọi chiều trên hàng phong già, mà cũng báo hiệu cho biết lại có một linh hồn vừa gia nhập về nơi vĩnh cửu, nhưng người này may mắn được bạn nàng tiếp dẫn và đưa về đây.
 
À, thì ra cái bà bạn đáo để của nàng dạo này cũng chịu đi lang thang tìm bạn mới, khách hôm nay là một linh hồn phụ nữ có một vẻ bình lặng, không buồn cũng không vui, không bộc lộ bao nhiêu sự đau khổ mà nàng thường gặp ở các hồn khác nơi nghĩa trang này, mặc dù bà bạn lắm mồm có vẻ rất tích cực khi dẫn chị này đến đây:
 
"Nào, tươi tỉnh lên để tôi giới thiệu cho một người bạn của chúng tôi. Ấy chết! Ở đây không có tên thì biết nói năng làm sao bây giờ, những thứ tên tuổi, danh xưng, địa vị, tiền bạc nó cũng chết cả rồi, đồng loạt biến đi như những tên bạn tình nghĩa rất ân cần khi mình còn sống, gắn bó như không thể lìa xa được, thế mà chỉ cần mình CHẾT là nó cũng biến đi ngay. Ơ! Sao chị này " buồn như  trấu cắn" thế nhỉ, mà cũng chẳng biết cười biết khóc, cái bà già 80 chết tiếc của còn khóc, thế chị không có gì để tiếc nuối sao?"
 
Nàng đưa mắt nhìn người bạn mới, rồi nguýt yêu cái bà bạn lắm điều của mình, vội nói:
"Chào chị, lại một cư dân mới của miền vĩnh cửu, bà bạn của tôi hay nói nhưng vui tính đáo để, ruột để ngoài da chị à, không có chi mà ngại, mình cứ tâm sự tự nhiên thôi."
 
Hồn phụ nữ bây giờ mới lên tiếng, giọng đều đều một vẻ chịu đựng, hình như từ cõi bên kia chị ta đã quen như thế, ít nói, im lặng, buồn rầu mà không đau đớn. Đây là một dạng người hiền lành quen chịu đựng với số phận nghiệt ngã, không muốn hở môi than thở. Nhưng thế nào thì nàng cũng phải tìm cách để bà ta thổ lộ tâm tình:
"Chị thấy thế nào, đến với chúng tôi buồn hay vui, chị có thích làm bạn với chúng tôi không? Ở đây không ai làm hại ai được chị à, cho dù có những linh hồn gào thét gầm gừ, tiếc nuối cuộc đời danh vọng như cái ông ở góc đằng kia, ông ta cũng chẳng làm gì được ai, ngoài cái đau khổ trong linh hồn không dứt ra được, chứ hoàn toàn không còn một khả năng nào để áp đảo người khác. Đấy là điều khác biệt giữa cõi sống và cõi chết, năng lực, quyền hành và sức mạnh của con người ở bên kia không mang qua được bên này. Nếu như chị có từng nghe những tiếng rền rĩ, gào thét, chửi bới của ông ta, nó như những âm thanh của một người hú lên giữa lòng núi sâu, lại nghe vọng lại chính tiếng của họ dội vào lòng họ mà thôi, nó y như sự đau khổ mình gieo cho người khác, bằng cách nào đó lại chạy ngược vào lòng mình, nên vì thế mà người ta bảo hỏa ngục tại tâm là vậy ..."
 
Bây giờ nghe nàng nói, người phụ nữ này mới từ tốn trả lời, giọng nói của chị ta cũng êm đềm như bản chất linh hồn một người hiền hậu:
"Thưa các chị, thật tình tôi cũng hơi bỡ ngỡ khi đến đây, nên vì thế mà chẳng dám nói năng gì sợ làm phiền lòng người khác. Hồi còn ở bên kia, tôi cũng chẳng mấy khi đi đâu, chẳng quen biết ai nhiều, chỉ loanh quanh làm việc và phụng dưỡng cha mẹ. Số tôi vô phước nên duyên phận cũng hẩm hiu, cha mẹ gặp cảnh không may nên đời sống không khá giả, sống rất thanh bạch. Sau đó anh chị em trong nhà cứ lần lượt lớn lên, đi lấy chồng lấy vợ rồi tách ra những gia đình khác, họ bươn chải làm ăn nên cũng có người khá giả. Tôi chỉ biết ở nhà thui thủi với cha mẹ, nhưng đến khi ông bà cụ tôi qua đời thì từ đấy tôi như cái bóng trong đời sống của mọi người, hết ở với em này lại ở với cháu kia, mà chỗ nào mình cũng như người thừa thãi, chỗ nào cũng chỉ để người ta sai khiến. Sống đã như thế thì chết cũng chẳng có chi mà buồn, nhưng tôi không hiểu tại sao cũng một cha mẹ sinh ra mà mình lại khổ như vậy, chẳng hay ông trời ghét gì tôi mà lại cho tôi làm người bạc phận như thế"
 
Nghe người phụ nữ bình thản kể lể cuộc đời của bà ta, nàng liền nghĩ ngay đến hai chữ ĐỊNH MỆNHmà người đời thường hay nói về cuộc đời của một con người, nó đã được an bài như thế, khi luôn luôn người ta cho rằng dẫu một cọng tóc trên đầu rơi xuống đất, thì cũng là do sự an bài của Thượng Đế. Vì nghĩ vậy nên nàng dịu dàng nói với người bạn mới:
"Tôi hiểu, cảm thông với nỗi lòng của chị, nhưng đã là sự an bài thì chúng ta phải chấp nhận thôi, chẳng có cách chi mà tránh được. Đó là cái định mệnh nghiệt ngã của mỗi con người, chỉ mong sao vượt qua những lúc buồn bã, sóng gió của đời, mình vẫn là người tử tế để không gánh thêm những nỗi khổ cho tâm hồn là đủ"
 
Lối khuyên giải của nàng khiến bà bạn trực tính lắm điều kia kêu lên, giọng bất mãn:
"Này cô bạn dịu hiền của tôi, cái món nước chanh đường của cô không lý giải được điều vô lý ấy đâu, vì hễ nói đến Định Mệnh thì mình phải tìm xem nó là gì? Ai tạo nên và bởi đâu mà có? Không thể tự ru ngủ mình bằng cách âm thầm chịu đựng, không cắt nghĩa được cho thấu đáo hai chữ Định Mệnh của một đời người thì tôi không chịu đâu. Như vậy Định Mệnh phải chăng từ Nghiệp mà thành Quả, mà nếu không bởi từ  Ta tạo nên Nghiệp thì ai cho ta cái định mệnh đó, tôi cũng đang nghĩ như chị ta thôi"
 
Người phụ nữ nghe người đàn bà có vẻ cao giọng giận dữ thì sợ lắm, y như bản tính của chị ta mang đi từ cõi bên kia:
"Thôi tôi xin các chị, tôi chỉ muốn hỏi ông Trời thôi, cớ sao sinh ra tôi, tôi có làm gì ai đâu mà cả đời tôi phải khổ. Vì trí tuệ lém cỏi, tôi học hành không bằng ai, chẳng mang được vinh dự cho cha mẹ anh em, nên cả nhà xem tôi như người hèn kém, ngu ngơ, bảo sao thì biết vậy, cho ăn thì ăn, cho mặc thì mặc, tôi có dám đòi hỏi gì đâu..."
 
Lần này thì tự nhiên chị ta nức lên khóc, khóc tức tưởi như muốn trút hết cái buồn gậm nhấm âm ỉ suốt kiếp làm người của mình vậy, đến nỗi nàng phải vội vàng kêu lên:
"Thôi, đừng khóc nữa chị ơi! Chúng tôi không cãi nhau đâu, chị đừng sợ, mình chỉ bàn cãi để tìm hiểu một vấn đề khúc mắc trong cuộc đời của chị thôi mà!"
 
Rồi đưa mắt nhìn bà bạn to mồm của mình, vờ trách:
"To mồm quá khỉ ạ, thế là thay vì an ủi người ta thì lại làm cho người ta khóc, tội ở bà đấy nhé!"
 
Bà ta cũng cười bẽn lẽn, vả vào mặt mình:
"Mô Phật! Cũng tại cái "khẩu nghiệp" này nó hại tôi thôi, chứ tôi chẳng có lòng dạ nào để ăn hiếp nhà chị đâu. Nhưng mà sao đằng ấy "mít ướt" thế nhỉ, hơi tý là khóc, chẳng bù cho tôi hễ đứa nào vô cớ mà gây sự là tôi chửi cho tắt bếp nhà chúng nó. Này, tôi cũng chỉ muốn hỏi ông Trời như đằng ấy, là làm sao lại vô cớ mà sinh ra người xấu, kẻ đẹp, người giàu kẻ nghèo, người sướng kẻ khổ. Thế cả đời chị chắc chưa biết tình yêu là gì nhỉ?"
 
Nói tới đây bà ta cười lên khùng khục, khiến nàng cũng bật cười không nín được. Đang nói chuyện về kiếp người, lại chạy sang chuyện tình yêu, khiến người phụ nữ mới đến kêu lên thảng thốt:
"Chị nói làm gì cho tôi thêm xấu hổ. Người ta có nhan sắc, có học thức, có tài giỏi thì mới được người khác yêu, chứ tôi suốt đời như con ma xó trong nhà, có bao giờ giao tiếp với ai mà biết đến hai chữ tình yêu"
 
Điều này khiến bà bạn lắm điều kia sặc lên cười:
"Thế chị tưởng tình yêu nó ngon lành lắm đấy hở? Cứ như đời tôi thì không chừng sự ra đi của mình lại là một điều dễ chịu nhất khi có một thằng chồng và một lũ con chẳng ra gì, như vậy thì không phải chỉ mình chị là người bất hạnh đâu. Yêu hả? Yêu là gì nhỉ? Là cái gông đeo cổ, là cái nợ vào thân, là cái còng vào chân, và, và..."
 
Đến đây thì nàng bật cười vì bà ta đang tìm chữ vần điệu để đặt điều cho hai chữ tình yêu. Nàng lên tiếng ngắt ngang để gỡ rối:
"Bấy nhiêu đủ rồi đấy bà bạn quý. Chúng ta đang muốn biết vì sao ông Trời lại sinh ra con người, rồi sau đó lại cho mỗi người một hoàn cảnh sống để được đặt tên là hai chữ Định Mệnh, như vậy không phải là sự bất công của ông Trời sao nếu như ai cũng bảo rằng định mệnh đã được Trời đặt để. Thành ra mỗi tôn giáo lại lý giải một cách khác nhau, nhưng nếu nói là do Trời định sẵn thì một là ông Trời không công bình với tất cả mọi người, hai là chúng ta đã vu oan cho ông Trời như mỗi khi có chuyện gì xảy ra trong trời đất, thiên tai, bịnh tật, người ta đều đổ thừa cho ông Trời ráo trọi. Ôi! Tôi thật không hiểu được điều này, chẳng phải gì mình bà bạn mới của chúng ta đâu"
 
Ba người cùng im lặng suy nghĩ. Cuối cùng thì người bạn lắm điều lên tiếng trước:
"Chúng ta ở đây không đồng tôn giáo nên cách suy nghĩ của mỗi người có khác nhau. Tất cả những thứ tôn giáo đối với tôi giờ này chỉ là những con đường ngày xưa dẫn chúng ta đi, quanh co hay bằng phẳng, nhà thờ hay chùa chiền thuộc về phần vật chất, vì hễ cái gì con người xây dựng được là nó nằm về phần vật chất, cho nên mình có thể phát biểu tư tưởng của mình tùy theo sự cảm nhận, không công kích mà cũng không bị ai áp đặt hết. Tinh thần dân chủ muôn năm…"
 
Mấy lời bà ta nói sau cùng lại làm nàng phì cười vì cái tính trào phúng có duyên đáo để. Nàng bảo:
"Vui ơi là vui, bây giờ thì bà bạn quý của tôi lại nhảy sang chính trị nữa rồi. Bà nhớ nhé! Tinh thần dân chủ muôn năm thì không được nói to để người ta sợ mà khóc đấy. Người ta gọi là gì bà biết không? "Cả vú lấp miệng em", làm chính trị là phải nói hay, biện luận khéo, luồn lách giỏi, chúng ta không cần biết đến những thứ ấy..."
 
Người phụ nữ nhỏ nhẹ nói:
"Mấy chị nói thế thì em biết thế, không dám cãi lại nửa lời. Hồi ở nhà cũng thế, mỗi khi trong nhà có việc bàn luận, hễ em đưa ý kiến là mọi người lại nhao  nhao lên " Biết gì mà nói!", bởi vậy em chẳng bao giờ có ý kiến gì cả. Sau mẹ em thương hại đứa con hèn kém của mình, cụ bảo: " Vai mang túi bạc kè kè, nói quấy nói quá chúng nghe rầm rầm", hóa ra tiếng nói của người nghèo là chỉ nói cho vui, mà người giàu tranh đấu cho người nghèo thì cũng chỉ là cái nước đi của một ván cờ, chưa có nghĩa là vì thương mà làm việc đó."
 
Bà bạn đang trầm ngâm suy tư, nghe vậy la oái lên:
"Á à! Chị vừa nói câu gì đó thuộc loại danh ngôn đấy chứ không phải là chả biết gì đâu. Người ta hay nhân danh cái này, nhân danh cái kia để mưu cầu quyền lợi cho bản thân, chứ chưa chắc là một điều nghĩa. Thế tôi hỏi các chị, điều gì làm cho con người sợ nhất, ai nói đúng thì tôi tôn làm sư phụ?
 
Người phụ nữ mới đến lại thỏ thẻ nói:
"Thưa chị, em thì chẳng hiểu gì về cái câu hỏi hóc búa ấy, nhưng khi cụ em còn sinh tiền, đến ngày cụ nằm một chỗ và biết là sắp ra đi, các con quây quần bên giường bệnh,  có bảo với các con rằng: " Các con hãy nhớ lấy điều này: Điều làm ta sợ nhất là những điều PHI NGHĨA", cụ nói xong rồi nằm thiêm thiếp và thở hơi cuối cùng."
 
Người đàn bà kêu to lên:
"Chao ơi! Một câu nói tuyệt vời mà chị được thừa hưởng từ một người cha tốt, thế nên tôi dám quả quyết với chị rằng, dù hồi còn sống chị chẳng được ăn học tới nơi tới chốn, cũng chỉ vì cái nghiệp chị phải chịu vì đầu óc không được lanh lợi, bản chất hiền lành khiến ra con người lù đù chậm chạp mà thua kém chị em trong nhà, nhưng những điều hiểu biết mà chị học hỏi được từ song thân, để sống một đời tử tế thì chị dư sức đi thẳng về cõi sáng rồi, không cần chúng tôi nói dông dài gì đâu. Thế nhưng, mình vẫn cần học hỏi, cần tìm hiểu để không ấm ức vì sao lại như thế này, như thế nọ đấy thôi, vậy thì con người sinh ra là đã có số mệnh, nói theo bên Phật thì gọi là Nghiệp, hễ có THÂN là có NGHIỆP, hễ hết Nghiệp là Thân không còn, đơn giản chỉ có thế!"
 
Ái chà, không biết bà bạn tìm tòi ở đâu, hay bao nhiêu những gì thuộc phần tâm linh bà mò được từ kiếp trước, bỗng giờ này trở lại khiến bà lý giải điều thắc mắc một cách dễ ợt. Nàng cảm phục quá, không dám coi thường cái miệng bô lô ba la của bà ta nữa, nên thắc mắc hỏi:
"Thế không phải tất cả chỉ là sự ngẫu nhiên ư?"
Bà bạn lắc đầu:
"Không có gì là ngẫu nhiên hết, tôi đọc cho mấy bạn nghe vài câu thơ này là thấy ngay được điều đó:
 
"Ta gặp nhau, chẳng phải chuyện tình cờ
Ắt phải có chút duyên từ kiếp trước
Bao nhánh sông cùng trườn ra cửa biển
Bao con thuyền phải vượt sóng lao đao
Đời trôi đi như một giấc mộng dài
Sông cứ chảy về biển xa khắc khoải
(Thơ NN)
 
Như vậy giản dị thì đời mỗi người như một con thuyền, trôi trên dòng sông để rồi gặp gỡ những con thuyền khác trên những bến bãi ven dòng sông. Chẳng thể tự nhiên mà nhà chị này hiền lành phúc đức thế lại sinh vào một gia đình cha mẹ là những người hiền lương, nhưng số nghèo nên con cái phải lận đận, có trí tuệ mà không được học hành, còn những người con khác nhờ lanh lợi nên bôn ba mà giàu có, rồi xem thường người chị vô phước hẩm hiu của mình, thì chẳng phải là định mệnh đã sắp xếp như vậy do từ cái kiếp trước mà thành."
 
Bây giờ mới thấy nụ cười gượng gạo nở trên đôi môi người phụ nữ:
"Theo như sự giải thích của bà chị đây, em mới cảm thấy thân tâm bớt khắc khoải đôi phần. Nhiều khi trong cuộc đời, em cứ ngồi trách móc số phận một mình, cay đắng trong lòng một mình nhất là khi cha mẹ qua đời, anh chị em hắt hủi bạc đãi. Tuy nhiên không phải tất cả mọi người đều đối đãi với mình như vậy, cũng có người tử tế với mình mà đùm bọc miếng cơm manh áo, nhưng số mình bạc phận, nên vẫn ám ảnh nỗi mình là cái nợ của người ta, chỉ muốn chết đi cho xong."
 
Nói xong chị ta lại thổn thức, khiến nàng phải lên tiếng an ủi:
"Đừng buồn nữa chị ơi! Cho dù sinh ra cùng một mái nhà ấy, cùng một cha một mẹ nhưng vì số phận hẩm hiu mà chị được gần gũi cha mẹ, tròn bổn phận làm con là đã trả được chữ HIẾU lớn nhất trong đời mình rồi, trong khi ấy những người con khác vì hạnh phúc, may mắn hơn, nhưng họ vẫn không làm tròn được điều tốt đẹp nhất trong đời họ là phụng dưỡng cha mẹ. Như vậy, khi đến cõi này, chính chị mới là người mang được cái Tốt đi nhiều hơn người khác vậy. Giá trị của tinh thần ở đây lại được đánh giá bằng những điều đó, không buồn không vui trước cái chết chính là chị đã tìm được an lạc rồi, chẳng phải mấy ai ra đi mà lòng được hoàn toàn bình an như chị. Đây, như bà bạn tôi cả một đời khổ vì chồng con, khi ra đi bà ấy vẫn cảm thấy đeo trong lòng một khối buồn nặng như đá, cả như tôi đây dù ra đi trong cảnh gia đình êm ấm, chồng con thương yêu, nhưng nhắm mắt rồi tôi vẫn chưa thể nào nguôi ngoai nuối tiếc cõi đời nhiều hệ lụy"
 
Bà bạn cũng gật gù rồi bảo với hai người bạn:
"Chẳng qua là duyên nợ, bất kể bằng hữu, anh em, vợ chồng, cha mẹ, con cái, theo tôi nghĩ nếu lý giải theo duyên nghiệp thì dễ hiểu hơn những triết thuyết khác. Trường hợp của cá nhân tôi thì mắc nợ chồng, mắc nợ con, mắc nợ tất cả mọi người nên sống hết lòng với họ mà chẳng ai thương yêu mình, đối lại chỉ nhận được sự bạc đãi, vô ơn nên vì thế khi sống, con người bị đẩy vào ngõ cụt mà phải trở nên hung dữ, nhưng lòng tôi không hề độc ác. Còn phần chị này thì khác tôi, chị cam chịu thụ động để sống cho qua một kiếp người, có khi cũng mắc nợ cha mẹ hơn anh em nên phải suốt đời lỡ thì lỡ vận ,không chồng con để ở nhà phụng dưỡng cha mẹ và phục dịch anh chị em. Đấy là nợ, trả xong là đi, không con cái nên không để lại nợ đời để mà thương mà tiếc, mà băn khoăn như cô bạn đây. Vậy thì đừng buồn nữa, trả xong món nợ đời nặng nề ấy là thoát khổ rồi, cứ thanh thản đón chờ con đường trước mặt, chẳng lẽ hồi còn sống mình không đắp ổ gà trên đường đời của mình, lẽ đâu bây giờ linh hồn phải vấp té vì tiền oan nghiệp chướng"
 
Câu chuyện đến đây hầu như đã có một đáp số tương đối hợp lý nhất, khi cả ba cùng thấu hiểu được rằng, con người dẫu trời sinh ra rất tầm thường, nhưng không làm điều  bất nghĩa thì cây vẫn sinh quả ngon quả ngọt, đấy mới là giá trị mà linh hồn mang theo. Đến đây, như chợt nhớ ra cô bé thất tình tự tử hôm nay sao không có mặt, nàng vội hỏi bạn:
"Đêm nay bỏ bạn cũ đâu rồi, "có lê quên lựu, có trăng quên đèn" rồi sao?"
Bà bạn rũ ra cười:
“Ôi dào! Hôm nay ở đằng ấy có một nhà văn chuyên môn viết truyện ma vừa gia nhập miền vĩnh cửu, cho nên có một đám đang nghe ông ấy bốc phét kể chuyện thế giới của linh hồn. Ma lại kể chuyện ma, hóa ra những thứ ma của ông ta trong tác phẩm chỉ là ma cỏ, hiện hình dọa kẻ yếu bóng vía, khi thì xõa tóc như yêu nữ đa tình, khi thì hiện thành cái đầu lâu treo lủng lẳng trên cây đa. Những thứ ma ấy là do loài người tưởng tượng khùng điên về chúng ta, thử xem người với ma nói chuyện, xem ai cao cấp hơn ai thì khắc biết. Rồi tôi sẽ tìm hiểu cho biết tại sao có những bí ẩn trong các thứ chuyện ma cỏ ở cõi dương gian, nhưng hẹn lại ngày mai nhé!"
 
Cả ba cùng cười, sương đêm đã phủ trắng trên cánh đồng hoa khiến toàn cảnh như chìm trong cái tĩnh mịch của cõi mù sương, họ im lặng suy nghĩ chứ không đối đáp với nhau câu nào nữa, vì hình như tự mỗi người đã tìm được cho họ một câu trả lời, về quãng đời họ đã đi qua ở cõi nhân gian, chẳng qua chỉ là cái vòng quay không ngừng nghỉ trên từng thân phận của chúng sinh. Họ không chia tay nhau, vì ở đây chỗ nào cũng thế thôi, nhưng họ đồng nghĩ rằng được gặp nhau như tri âm tri kỷ, chẳng phải từ mối duyên lành hay sao!
 
Thôi dẫu gặp nhau ở cõi nào, cũng đem tấm lòng tử tế mà đối đãi với nhau thì lo gì không tìm được  tri âm tri kỷ. Trong cái yên tĩnh của đêm trường, nàng khe khẽ ngâm mấy câu thơ mà nàng thích và đọc được từ cõi bên kia:
 
"Thôi vậy! Đi, Về nơi cõi khác
Vòng quay sinh tử vẫn vô tư
Mốt mai có gặp nhau lần nữa
Thì vẫn ân tình như thuở xưa…"
(N.Nhung)
 
Bát Tương Quả Cà
 
Năm tôi lên sáu tuổi thì thầy tôi mất, cái tuổi lên sáu quá bé bỏng chưa biết thế nào là buồn là vui. Chỉ biết là năm ấy, theo chuyến tàu cuối năm năm một chín năm tư, mẹ tôi đầu đội khăn trắng, lếch thếch dẫn ba đứa con dại, đứa lớn mới hơn mười tuổi, dắt díu nhau theo đoàn người di cư lên chiếc tàu há mồm của Mỹ, tiến vào miền Nam xa xôi.
 
Năm ấy mẹ tôi mới ba mươi tám tuổi, vừa mất chồng lại mất luôn cả một cơ nghiệp khá vững vàng mà thầy mẹ tôi đã gầy dựng gần hai mươi năm, thế mà có một ngày đã mất hết, xem ra mọi thứ trên đời này chẳng có gì bền vững cả. Bây giờ thì chỉ có mình mẹ tôi gánh vác, mà giữa nơi đất lạ quê người, lúc lớn lên, tôi mới thấy rằng mẹ tôi quả là một người đàn bà có nhiều nghị lực.
Tôi cũng không nhớ được khuôn mặt của thầy tôi, hình ảnh của ông chỉ là những phần rời rạc, chắp vá theo những câu chuyện do mẹ tôi kể lại, từ các anh chị lớn trong nhà, tùy theo ký ức của từng người, tôi có một cái nhìn rất mơ hồ về người cha của mình, vậy mà không hiểu sao lòng vẫn ngậm ngùi mỗi khi nhắc lại.
Lúc ấy tuy còn nhỏ, nhưng tôi vẫn nhớ mường tượng ngôi nhà gạch hai gian ở phố Cửa Tiền, có một cửa hàng bán thuốc lào và tạp hóa khá đông khách của thầy mẹ tôi. Về mùa đông khi cây bàng trước cửa nhà đã trơ trụi lá, tôi vẫn được mẹ ủ ấm trong mấy lớp chăn bông. Buổi sáng khi cả nhà cùng thức dậy, tôi vẫn nghe tiếng ho của thầy tôi và mùi cháo đậu xanh từ dưới bếp phả lên nhà trên, bữa cháo điểm tâm thường chỉ ăn với đường hoặc cà bát ngâm tương. Bên cạnh nhà là một quán phở, theo cái lạnh của gió đông, mùi phở cùng với hương hành ngò tỏa lên thơm phức làm cồn cào những cái bụng đói. Vì là con út nên thầy tôi cưng tôi lắm, hôm nào phần ăn sáng cũng là một bát phở nhỏ và ly sữa nóng.
Thích nhất là những sáng chủ nhật được theo mẹ đi nhà thờ, từ phố Cửa Tiền phải đi vòng qua phố Cửa Hậu, trước nhà bên kia đường là bờ thành kiên cố được xây từ thời vua Minh Mạng,rậm rịt những cây xanh . Thuở nhỏ, mắt tôi bé lắm nên nhìn cái gì cũng to cả, bởi vậy mà ngôi nhà thờ lúc ấy đối với tôi quả là vĩ đại, một chiếc cột đến mấy vòng tay ôm. Mấy chục năm sau trở lại quê nhà, tôi thấy nó nhỏ bé và cũ kỹ, chỉ còn dăm cụ già rỗi rãi ngồi rì rầm đọc kinh, với những con chim sẻ nhảy nhót trên chiếc sân xi măng loang lổ. Mỗi buổi sáng chủ nhật của những ngày ấu thơ, tôi được mẹ dẫn xuống khoảng sân rộng trước cửa nhà thờ, ở đấy có một hàng bánh chưng rán. Mùa Đông, giữa một trời đầy giá rét, co ro trong chiếc áo ấm, được một tấm bánh chưng nóng hổi, mùi nhân đậu xanh lẫn trong chút thịt mỡ, chắc chẳng có gì hơn.
Vào mùa hè, khi rặng bàng trước cửa đã xòe ra những chiếc lá to hơn bàn tay người lớn xanh ngăn ngắt, chị em tôi hay chạy chơi trên hè đường để tránh cái ngột ngạt trong căn nhà hầm hập nóng. Dưới bóng cây bàng trước cửa nhà, chúng tôi đã sung sướng thưởng thức bát chè thạch thơm mát lan dần đến tận cuống họng, sau này khi lớn lên ở miền Nam, tôi có cảm tưởng chưa bao giờ được ăn bát chè nào ngon bằng bát chè của quê hương.
Mẹ tôi kể lại rằng, quê thầy tôi ở làng Linh, nơi có những ruộng rau muống nổi tiếng, ít lá, cọng to và mềm, luộc xong nước rau có một màu hồng phơn phớt, dân làng là những người làm ăn, tính toán giỏi. Mẹ tôi ở một làng khác gần tỉnh hơn, con một ông đồ nho, đất văn học, sau này vì thầy tôi chết sớm, đám con cái ảnh hưởng bên ngoại, thích văn chương, cho nên không thấy ai giàu cả, nhưng đời sống vẫn rất dồi dào nhờ sự phong phú của tâm hồn.
Mùa hè cho chí mùa đông, trên mâm cơm nhà tôi dù có cá có thịt, nhưng vẫn không thể thiếu bát tương quả cà. Đĩa đậu phụ chiên vàng nóng hổi chấm đẫm tương, con cá rô rán tới thơm phức mà không có tí tương sẽ trở nên vô vị, ngay cả đĩa rau muống luộc xanh ngắt, nếu không có bát tương và mấy khoanh ớt đỏ xem chừng đã nhạt nhẽo lắm. Chưa kể món tương chưng với thịt mỡ, cà chua, thìa là, ăn kèm với rau diếp thái sợi, một tô nước rau muống luộc, giầm thêm mấy quả sấu chua, cùng tí tỏi và muối, ăn với cà bát ngâm tương của mẹ tôi vào những ngày hè, kỳ diệu thay, nó như làm dịu đi cái nóng bức của mùa hè miền Bắc.
Ngay sau những ngày chia cắt đất nước năm ấy, thầy tôi ốm nặng rồi qua đời. Anh tôi bỏ nhà theo người bác vào Nam từ chuyến tàu trước, mãi cho đến cuối cùng khi mẹ tôi quyết định ra đi thì tình thế có vẻ khó khăn lắm rồi. Qua bao nhiêu trạm kiểm soát, mẹ con dắt díu nhau ra đi, lúc ấy hẳn mẹ tôi đã phải có một phấn đấu nội tâm dữ dội lắm, chồng chết, con dại, cơ ngơi, nhà cửa, để rồi chỉ còn hai bàn tay trắng, đi đâu, với một viễn ảnh đen tối. Có lẽ chuyến tàu cuối năm năm tư là chuyến tàu buồn thảm nhất trong đời mẹ tôi, những giọt nước mắt ngắn dài khi bỏ lại quê hương, bỏ lại ngôi mộ người chồng chưa xanh cỏ, bên nách ba đứa con nhỏ với những đôi tay non nớt chưa bám nổi cuộc đời. Chúng tôi chẳng biết gì, với đôi mắt trẻ thơ thì đây là chuyến đi xa đầy thú vị, đứa nào cũng thích thú với những viên kẹo được phân phát từ tay những người thủy thủ Hoa Kỳ. Buổi chiều, khi con tàu lênh đênh trên đại dương bao la, biển đã ngả sang màu tím, từng đợt sóng to bằng những cái nhà đuổi nhau trên mặt biển, đám người trên tàu bỗng như sợ hãi vì thân phận bé nhỏ của con người trước cảnh hùng vĩ của biển khơi.
Vào đến miền Nam, đoàn người di cư được đưa về một khu ngoại ô cách Sài Gòn khoảng hai chục cây số. Chỉ có ngần ấy đường mà dường như đã có một sự khác biệt, Sài gòn với những ánh đèn giăng giăng, xe cộ tấp nập, người đi lại dập dìu như mắc cửi thì ở đây, chỉ là những mái nhà tranh vách đất, những con đường gập ghềnh lỗ chân trâu, những ngọn đèn lù mù, lay lắt trong cảnh nghèo của đám người di cư. Vui nhất có lẽ là những buổi chợ sớm, người ta phải dùng cả đèn dầu khi trời chưa sáng tỏ, nơi ấy là nơi người dân hai miền Nam Bắc gặp nhau, tuy cùng một ngôn ngữ mà cách phát âm lại khác biệt, nên vẫn có cảnh người mua, kẻ bán cười ngặt nghẽo với nhau, khi người này không hiểu người kia muốn gì. Chợ quê tuy nghèo nhưng cũng đủ thứ thịt thà, cá mắm, cùng những rau cỏ rau trái miền Nam, sau một đôi năm, không hiểu sao không khí hòa bình ấy bỗng mất đi, thỉnh thoảng người ta hốt hoảng bỏ chạy tán loạn vì một loạt súng vang lên giữa buổi chợ đông, một thây người ngã gục, chiến tranh như đã bò dần vào đời sống êm đềm của đồng bào miền Nam.
Mẹ tôi, người đàn bà nhỏ bé và can đảm ấy, đâu có chịu đầu hàng số mệnh, dù giờ đây gần như trắng tay. Anh tôi đi làm xa, chẳng mấy khi về nhà, có lẽ anh ấy không muốn chôn chặt cuộc đời trai trẻ trong cái tăm tối của làng quê. Khi cuộc sống ở đô thị cho ta nhiều cơ hội để tiến lên thì ở chốn quê mùa này, người ta như sống giật lùi hằng thế kỷ, mảnh vườn, ao cá, lũy tre xanh muôn đời vẫn như một hàng rào để người ta dựa dẫm nhau mà sống, nhưng đồng thời nó cũng lôi kéo con người vào những thứ phiền toái, lẩm cẩm, khe khắt khi con người không cùng một trình độ, sống với nhau quả rất là khó chịu.
Cuộc sống nhàn hạ của những ngày thành phố đã qua, mẹ tôi bắt tay vào cuộc sống mới với rất nhiều cực nhọc. Những luống sắn, luống khoai đã vồng xanh, luống cải non đã đủ để nấu những bát canh suông, mẹ tôi bắt tay qua làm cà, làm tương để bán cho những người quanh vùng. Mẹ tôi làm tương rất ngon, không mặn không nhạt, tôi vẫn nhớ mãi mùi âm ẩm của mốc tương và đậu nành rang xay nhuyễn, hòa với nước muối để ủ tương chờ đến ngày ăn được. Những vại tương, vại cà vàng nâu thẫm lại, nhai ròn tan với bát cháo đậu mùa hè, nghe cái mát mẻ đã luồn sâu vào tì vị. Chúng tôi lớn lên sởn sơ như cây cỏ, nhờ bát tương quả cà của mẹ tôi, miếng đậu phụ và con cá chiên ròn, bát muối vừng cùng những rau cỏ mọc quanh nhà. Thỉnh thoảng vào những chiều nắng xiên khoai, tôi lẽo đẽo theo mẹ gánh đôi thùng tương đi bỏ mối cho mấy cửa hàng quanh chợ. Trên con đường đất gồ ghề, lồi lõm dấu chân trâu, mẹ tôi đi trước, đôi vai bé nhỏ như oằn xuống dưới sức nặng của đôi thùng tương, kĩu kịt, kĩu kịt đi trên con đường vắng. Tôi đi chân đất chạy theo mẹ, hồn nhiên như một con bướm trắng, hai má hồng xinh với đôi mắt ngây thơ. Mỗi khi giao hàng xong, thế nào mẹ tôi cũng mua cho tôi vài chiếc kẹo, ly nước đá nhận của người đàn bà miền Nam bán bên hông chợ.
Sau những lúc bận rộn và làm việc mệt nhọc như thế, mẹ con tôi vẫn có những buổi tối ngồi trông trăng ở mảnh sân vuông trước nhà. Dưới ánh trăng suông, gió vẫn xào xạc trên rặng chuối sau hè, tiếng côn trùng rỉ rả âm âm trong bụi cỏ, mấy mẹ con và vài bà hàng xóm quây quần trên chiếc chiếu trải giữa sân nghe mẹ tôi kể chuyện. Không biết tại sao mẹ tôi thuộc truyện Kiều lắm thế, những bà hàng xóm nhà quê cứ ngẩn người ra nghe mẹ tôi đọc thơ, rồi truyện làng, truyện nước, truyện ma đường rừng Việt Bắc, truyện nào cũng ly kỳ, rùng rợn và ý vị đến nỗi tôi lơ mơ ngủ đi lúc nào không biết.
Tôi vẫn nhớ mơ hồ về những ngày còn thơ ấu, khi chỉ có mấy mẹ con sống quạnh quẽ với nhau trong những ngày mới di cư vào Nam, chứng kiến cái thay đổi của lòng người sau cơn hoạn nạn, tôi mới thấy mình là người bất hạnh khi thầy tôi chết đi quá sớm. Giá thầy tôi còn sống. Đã bao nhiêu lần tôi nghĩ như thế khi thèm thuồng nhìn những đứa nhỏ như mình, chúng nó có đủ cha đủ mẹ, để mẹ tôi không phải tần tảo một mình nuôi lũ con thơ, có khi đi vắng nhà vài hôm, phải gửi con cho người hàng xóm.
Những buổi tối mẹ vắng nhà, trời nhập nhoạng lên đèn là tôi bắt đầu khóc. Chị tôi hơn tôi hai tuổi, đã tỏ ra là đứa trẻ biết lo lắng, tính chị hiền như mẹ, hay tủi thân. Mới đầu tôi chỉ khóc dấm dứt, sau không chịu nổi nữa tôi gào to hơn, chị tôi nước mắt đoanh tròng, thay mẹ dỗ em bằng những lời hứa hẹn rất trẻ con, nhưng cũng chẳng ăn thua gì, dỗ mãi em cũng không nín còn gào to hơn, chị cũng tủi thân òa lên khóc. Sau này, lúc không còn gần nhau nữa, chị em mỗi lần nhắc lại chuyện cũ trên đường dây điện thoại, hai đứa cứ vừa cười vừa khóc vì những chuyện ngày thơ.
Nhớ làm sao ngày đầu tiên mẹ tôi dẫn tôi đi học. Trường học là căn nhà lá hai gian có giàn hoa thiên lý, thỉnh thoảng lại có tiếng điếu cày rít lên sòng sọc, ông thầy già say thuốc ngồi mơ màng gõ nhịp chiếc roi mây trên mặt bàn gỗ, như đệm theo tiếng ê a của đám học trò nhỏ. Tôi vừa ngồi học vừa nhớ mẹ, con đường quê ngoằn nghoèo, bụi tre gai rào rào tiếng gió, một con bướm trắng vờn vờn trên giậu mùng tơi, tôi lớn lên với những câu truyện cổ tích và những áng văn chương từ bà mẹ quê vất vả, cũng như những vần thơ tả về quê hương trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư của ông thầy trường quê mái tranh vách đất. Sau buổi học, tôi hay chạy sang nhà bác tôi để được bác cho vài quả táo tầu hay nhúm cam thảo, vì ông là một thầy thuốc Bắc. Giữa trưa hè oi ả, bác tôi ngồi gật gù với mấy hũ thuỷ tinh đựng thuốc, con dao cầu nằm hờ hững ở một góc quầy vì chẳng mấy khi được đụng đến. Chẳng mấy khi có người đến chữa bệnh, nhưng bác tôi cứ ngồi đấy ngủ gà, ngủ gật trong cái yên lặng của ban trưa. Ngoài kia, giữa nắng trưa tiếng gà eo óc gáy, màu nắng như đã chói chang trên những giây phơi quần áo, tiếng chó sủa vu vơ, gió vẫn rì rào qua khóm trúc, tất cả như chìm vào một nỗi buồn mông lung, khó tả.
Tôi lớn lên ở miền Nam, ăn bát cơm miền Nam, uống nước từ những cái giếng trong vắt sâu hun hút dưới lòng đá ong, những hình ảnh ấy đã gắn bó với tôi tự những ngày thơ ấu.
Mãi hơn hai mươi năm sau tôi mới có dịp trở lại quê nhà. Tôi đã đi qua miền Đông đất đỏ với những vườn cao su thẳng tắp, qua miền Trung với những bờ biển xanh, bãi cát trắng, rặng thùy dương trải ngút ngàn phô bày một giải giang sơn cẩm tú. Những núi đồi trùng trùng ẩn hiện trong màn sương, những căn nhà vắt vẻo lưng chừng núi, hình ảnh người dân quê lam lũ, chất phác, cam chịu một đời nghèo khổ dọc theo những dải đường của đất nước. Đêm trên đỉnh Hải Vân, gió lồng lộng như giao hòa giữa trời và đất, biển Thuận An với những chiếc thuyền câu giăng giăng ánh đèn như một hội hoa đăng.
Tôi đã vô vàn xúc động khi nhìn thấy những xóm làng của miền Bắc. Lũy tre xanh, chiếc cổng làng cũ kỹ, con đường lát gạch dẫn vào những nếp nhà ngói đỏ, con trâu nằm nhai thong thả bên đụn rơm khô, bếp nhà ai toả lên trời bàng bạc khói sương. Quê hương tôi đó, tuy nghèo khổ nhưng với tôi vẫn là những hình ảnh đậm đà trong tâm tưởng. Một ngày chớm thu, tôi đã trở về thăm ngôi mộ của thầy tôi nằm trong nghĩa trang cạnh ven đê, trên đường về quê ngoại. Tôi nhớ đến thầy tôi mà ngậm ngùi cho một kiếp người, tro bụi lại trở về tro bụi, để thương cho mẹ tôi cả một đời vất vả, chật vật với những đứa con thơ. Nắm hương trên mộ đã tàn, chắc thầy tôi biết tôi trở về, một con bướm trắng cứ chập chờn bay trên vai tôi, rồi lại vờn vờn trên những bông cỏ may trong một chiều thu úa. Không ai có thể biết rằng, từ thế giới bên kia, thầy tôi lại không một lần trở về với tôi trong giấc chiêm bao, dù rất mù mờ và không rõ nét, nhưng qua đấy tôi vẫn hình dung ra khuôn mặt của đấng sinh thành.
Mẹ tôi chết ở miền Nam, thầy tôi chết ở miền Bắc, không biết hai người có trùng phùng ở một miền nào đó nơi thế giới bên kia? Nơi mà tôi tin rằng, không có hận thù, đau khổ, thầy mẹ tôi sẽ có một bữa cơm hội ngộ, bát tương, quả cà, bát thịt kho đông trong những ngày giá lạnh.
Năm ấy, tôi đã có một thời gian được sống trong căn nhà thân yêu của thầy mẹ tôi. Vào mùa thu, những cơn mưa ngâu dầm dề như để chuyển tiếp một mùa hè nóng bỏng sang một mùa thu dịu dàng hơn. Tuy vậy, khi nhìn những cơn mưa đổ xuống ngày đêm, ai cũng lo có lụt lớn. Mà lụt thật, nước mênh mông khắp các ngả đường như sông rạch miền Nam, tràn vào nhà đến hơn nửa thước, mọi người phải đi lại trên bàn hay những tấm ván.
Chưa bao giờ tôi chán đến thế, suốt ngày quanh quẩn trên căn gác nhỏ, nghe những giọt mưa rào rào trên mái ngói cũ kỹ, khoảng sân xi măng lộ thiên trên gác ướt sũng. Bầu trời lúc nào cũng ảm đạm, tiếng mưa rơi, tiếng gió rít, tiếng rì rào của rặng sấu Tây sau vườn tạo nên một âm thanh áo não lòng người. Trên đường phố, người ta bơi thuyền như đi trên sông, người ta í ới gọi nhau chạy lụt, tạo nên một quang cảnh hoảng loạn và bi đát. Buổi chiều nhuốm một nỗi thê lương, nằm trong căn gác nhỏ tù túng, chưa bao giờ tôi nhớ miền Nam đến thế. Trong bóng tối nhập nhoạng của buổi hoàng hôn, đứa cháu tôi vừa hát bài “Giọt mưa thu”, vừa gõ nhịp lên chiếc thùng sắt tây, trong nhà đã lên đèn, điện cúp, gió đã giựt đứt đường giây điện. Trong ánh sáng mờ mờ của buổi hoàng hôn, thì lạ thay, một con bướm, tôi cứ ngỡ đấy là linh hồn của thầy tôi đang nương theo cánh bướm về thăm nhà. Tôi nhìn con bướm đậu gần chiếc ảnh gia đình treo trên vách, lòng bình yên một cách lạ lùng. Suốt đêm hôm ấy mọi người hầu như đều thắc thỏm chờ cơn bão tới, nhưng chỉ nghe tiếng mưa rơi rích rắc trên mái ngói và tiếng cành lá rì rào từ khoảng sân sau.
Đêm qua đi thật nặng nề trong sự chờ đợi của mọi người, sáng hôm sau nắng lên, trời quang mây tạnh, nước không lên mà có vẻ muốn rút, mọi người đều mừng rỡ. Mấy ngày sau nước rút, tôi lóp ngóp lội nước ra bến xe mua vé về Hà Nội, sau đó mua vé tàu về Nam. Đêm giã từ Hà Nội, cả nhà người anh tiễn ra ga Hàng Cỏ, chúng tôi lên tàu xuôi Nam, lòng ngậm ngùi vì biết khó có lần trở về thăm quê, khó có lần được nhìn thấy nấm mộ của thầy tôi. Khi hai chị em đã lên tàu, con tàu sắp sửa chuyển mình ra ngoài vùng ngoại ô, chị tôi chỉ lên bức vách của toa tầu, giọng thảng thốt: “Kìa, trời ơi, con bướm!”
***
Không biết thầy mẹ tôi có nợ nần oan khiên gì với đất nước của tôi, dân vốn đã nghèo lại hay chia rẽ. Cha tôi qua đời vào thời kỳ đất nước chia hai, gia đình tan tác. Đến khi mẹ tôi chết, lại cũng là những năm “gạo châu củi quế”, con cái đều nghèo, không đến nỗi bữa đói bữa no, nhưng đời sống thật là đạm bạc, lúc mẹ nằm xuống, không có gì để lại cho các con trước khi về bên kia thế giới.
Trước khi mẹ tôi qua đời độ một tháng, chị em tôi có về thăm mẹ. Mẹ tôi gầy lắm, không đi được nữa, căn bệnh già và mấy thứ thuốc bổ dưỡng Dân Tộc không làm bà khoẻ hơn, cứ từ từ xụm xuống rồi lưng cong lại, không đứng dậy được. Bây giờ tôi mới biết đó là chứng loãng xương của tuổi già, do lao lực nhiều năm tháng chồng chất lên trong đời mẹ tôi. Thời buổi ấy chỉ nghĩ đến cơm ngày hai bữa, đâu có ai chú ý đến sự săn sóc , bồi dưỡng cơ thể để sống lâu, sống khỏe như bây giờ.
Mẹ tôi tỉnh cho tới lúc chết, nằm trên giường nhưng vẫn nhắc cho heo ăn, gà ăn, thấy ngả bóng chiều lại nhắc cho gà lên chuồng, đem quần áo ngoài sân vào nhà vì sợ sương đêm, trời mưa nhắc hứng nước đầy lu hũ để dành uống. Không biết mẹ tôi lo chuyện đời làm chi cho cực thân, chẳng qua cái lòng của người mẹ lúc nào cũng băn khoăn lo cho con cháu từng ly, từng tý cho tới chết.
Những ngày cuối cùng nằm trên giường bệnh, mẹ tôi bảo chị em tôi khuân chiếc rương gỗ cũ kỹ, trong ấy có một số quần áo của mẹ tôi ít khi xỏ tay tới, và những đồ vật cùng hình ảnh mẹ tôi đã nhặt nhạnh được trong nhà rồi đem cất vào đấy. Trong số nhữnng thứ lặt vặt ấy, có chiếc khăn voan màu đen tôi mua cho mẹ đã lâu, mẹ tôi dùng nó để gói những món nho nhỏ khác, có cây thánh giá mạ vàng . Nhắc tới cây thập giá này tôi lại nhớ tới chị tôi, đó là món quà Giáng Sinh chị đi học xa, không về nhà được, nhưng vẫn gửi quà cho cô em bé bỏng, út ít của mình. Những món quà thời thơ ấu chỉ có một cái quạt nhựa xoè ra bằng bàn tay, một con búp bê rẻ tiền cũng chỉ độ gang tay, và cây thánh giá mạ vàng khoảng một tấc. Tôi dạo ấy còn bé, nên chỉ thích con búp bê bà chiếc quạt nhựa, không thiết gì đến cây thập giá mạ vàng kia, nhờ vậy mà nó mới còn đó, trong cái rương cũ kỹ của mẹ tôi.
Khi nhìn thấy cây thánh giá mạ vàng, trong tôi như sống lại những kỷ niệm thời thơ ấu, tình chị em khắn khít với nhau qua cây thánh giá mạ vàng vẫn còn kia. Mẹ tôi bảo tôi đưa cho bà cây thánh giá , kỷ niệm từ hồi tôi lên mười. Chúng tôi lớn dần lên, ra khỏi nhà, vứt lại cho mẹ tôi những món kỷ niệm nho nhỏ, mấy tấm ảnh cũ, mẹ tôi cứ như “ông từ giữ đền”, ngồi gom góp nhặt nhạnh những kỷ niệm của các con, thậm chí có khi là những lá thư của bạn bè gửi cho nhau thời đi học. Chúng tôi cứ phủi tay mà đi, hờ hững với tất cả kỷ niệm của dĩ vãng.
Thế rồi mẹ tôi nhắm mắt lìa đời vào đầu một mùa hè tháng Năm hoa phượng trổ. Khi chôn cất mẹ xong, chị em tôi ở lại vài ngày, vẫn hay hụt hẫng khi nhìn vào chiếc giường nhỏ của mẹ, chỗ mẹ nằm và tưởng như mẹ vẫn còn đó. Thế là hết một kiếp người. Đêm đầu tiên ngồi cầu kinh cho mẹ, có con bướm đêm bay vào nhà đậu trên bàn thờ, quấn quýt dưới ngọn đèn dầu leo lét. Tôi nói với chị tôi cầu nguyện cho mẹ đi bình yên, đừng quấn quýt cõi đời khổ đau tạm bợ này. Biết mẹ tôi thích nghe tôi hát, lúc ấy trong căn nhà miền quê giữa khu vườn đầy bóng cây âm u, thỉnh thoảng nghe tiếng chim kêu dưới mảnh trăng khuya vừa nhô lên trên nền trời đen thẫm, tôi đã nghẹn ngào hát bài “Lòng Mẹ” mà nước mắt tuôn ướt đầm mặt gối.
Tình cờ chị em tôi lục lọi trên chiếc kệ gỗ, mới mò ra hai chiếc áo cũ của mẹ tôi còn sót lại. Một chiếc áo cánh nâu bằng vải ngắn tay và chiếc áo dài soa Thái Lan màu cánh dán đã cũ, có khi chưa kịp giặt rồi mẹ tôi ốm nặng, xếp vào đấy rồi quên bẵng đi. Nhìn thấy hai chiếc áo cũ của mẹ còn bỏ lại, hai đứa con gái như bắt được vàng, khi mẹ tôi chết rồi tôi mới biết trân quý những gì của mẹ để lại dù nó rất tầm thường. Chị tôi lấy chiếc áo cánh nâu đã bạc cả hai vai, nhường cho tôi chiếc áo dài soa Thái Lan, lưng áo đầy chấm thâm kim vì có lẽ đã ướt mồ hôi của mẹ tôi, khi đi nhà thờ về bà cởi ra rồi treo lên đó.
Chiếc áo cánh màu nâu đã bạc hai bên vai, tấm thân gầy gò của mẹ như còn in lên lằn vải những nếp nhăn ở hai bên nách, túi áo còn đầy dấu kim băng mẹ tôi hay cẩn thận gài vì sợ rơi mấy đồng bạc lẻ, và xâu tràng hạt bằng đá. Chiếc áo dài cũng đã cũ, những đường chỉ luồn trên vạt áo cũng bạc màu thời gian. Theo năm tháng cuộc đời cái gì cũng tàn phai cả, chẳng giữ lại được gì. Hai chị em vùi mặt vào hai tấm áo cũ của mẹ, thút thít khóc.
Mẹ tôi về với cha tôi ở thế giới bên kia lâu rồi, lâu lắm rồi, chỉ còn để lại trần gian hai tấm áo cũ cho hai đứa con gái, mà mỗi đứa lại ở một phương trời cách biệt xa nhau nửa vòng trái đất. Tôi quên hỏi chị tôi về tấm áo cánh nâu của mẹ có còn không? Riêng tôi đi đâu cũng đem theo chiếc áo dài màu cánh dán đã thâm kim vì những giọt mồ hôi của mẹ trên lưng áo. Tôi có cắt cho người chị lớn một mảnh nhỏ, chị em chia nhau gia tài của mẹ, lòng vẫn bồi hồi thương nhớ…
***
Vâng, chỉ thế thôi, bát tương, quả cà của mẹ tôi đã nuôi nổi lũ con thành người, người đàn bà quê mùa nhưng rất nhiều nghị lực đã cam chịu một đời vất vả để cho các con được vươn lên, thoát cảnh bần cùng và tối tăm của đời sống. Anh em tôi trôi nổi mỗi người một phương, dĩ vãng chỉ còn là những hình ảnh mịt mờ, nhưng dễ ai đã quên. Chỉ biết là mỗi lần nhớ đến cha mẹ, thì bát tương, quả cà vẫn là nỗi nhớ không nguôi trong lòng những đứa con lưu lạc.
 
Chiều Québec . . .
 
Trời mây vương mối sầu vạn cổ
In dấu thềm xưa những bước chân
Québec một chiều ta ghé đến
Chút buồn, chút nhớ, chút bâng khuâng . . .
Những hạt mưa rơi hè phố vắng
Cung đàn trầm lắng buồn lâng lâng
Trên nóc giáo đường chim vỗ cánh
Nghe vọng từ xa tiếng nguyện cầu
Ta đến rồi đi chiều vọng tưởng
Tiếng lòng lạc lõng giữa đâu đâu . . .
. . . . . .
Đừng bước vội để chiều thôi lờ lững
Nhanh làm chi đâu đuổi kịp hoàng hôn
Dăm khách lạ dừng chân hè phố vắng
Hoa thầm thì kể chuyện bốn trăm năm
Có ai biết những nẻo đường xuôi ngược
Rồi một ngày phố nhớ dấu chân xưa
Góc phố buồn hiu rớt những giọt mưa
Mưa thánh thót rung bản đàn năm cũ
Ngó quanh quất tìm người quen phố lạ
Mà sau lưng là tượng đá vô tri
Trước mặt dập dìu bao bóng người đi
Lâu đài cổ có còn ai trong đó?
. . . . .
Thôi hãy vui với những gì trước mặt
Đừng ngoảnh nhìn hoang phế ở sau lưng
Thành phố buồn tuổi đã bốn trăm năm
Đã thấu hiểu những nỗi buồn trôi giạt
Đôi mắt ướt rưng rưng chiều nắng nhạt
Nhìn hàng cây dăm chiếc lá rơi rơi
. . . . .
Có chút nắng ửng hồng nơi góc phố
Sau cơn mưa trời lại đẹp như mơ
Những lâu đài nghiêng bóng xuống dòng sông
Có ai biết đời cũng nghiêng như bóng?
Giữ được không bức chân dung ngày cũ
Bụi thời gian hoen ố bóng hình xưa
Những rộn ràng cuả sớm nắng chiều mưa
Cũng lặng lẽ mỉm cười nơi góc phố . . .
Bánh xe lăn đưa chiều qua dốc nhỏ
Cuối con đường thấp thoáng bóng hoàng hôn . . .
 
Nguyên Nhung

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013