Thi Ảnh

Trần Văn Sơn

Hồi Sinh - Trần Văn Sơn

Tran Van Son 001

Gặp gỡ vài lần kẻ lạ người quen
Bên cốc cà phê bên ly rượu đế
Mái dột cột xiêu hẩm hiu bàn ghế
Bạn tả tơi ta rách nát ngậm ngùi
Gánh hỗn mang hề thân thế chôn vùi
Lủi thủi ven đời giả vờ câm điếc
Kẻ lạ người quen khóc ta vắt kiệt
Khô máu tim thành phế liệu trần gian

Gặp gỡ vài lần kẻ lạ người quen
Hiểu sao thấu cội nguồn sông và núi
Núi và sông gieo mầm cây tội lỗi
Hạt nhân sinh mê muội giấc mơ người
Khánh kiệt niềm tin thất lạc nụ cười
Sông bỏ núi non xa dần nguồn cội
Kẻ lạ người quen khóc ta phản bội
Quên rừng sâu làm đom đóm thiêu thân

Gặp gỡ vài lần hẹn gặp trăm năm
Hiểu sao thấu chuyện ba ngàn thế giới
Thế giới quẩn quanh người lui kẻ tới
Lớp vong thân lớp mạt vận khốn cùng
Thế giới quẩn quanh mạch suối nguồn sông
Hiểu chưa thấu bóng trăng vờn bóng nước
Hiểu chưa thấu ra sao ngày tận tuyệt
Phút hồi sinh tìm chốn cũ quay về

Trần Văn Sơn

Phạm Nhã Dự: Thơ Và Hoài Niệm Một Thời Tuổi Trẻ - Trần Văn Sơn

Tran Van Son 001

Thời gian bắt đầu bằng một vòng quay . Vậy mà hơn bốn mươi năm nay, trải qua hàng tỷ vòng quay và hàng hàng lớp lớp sát-na tiếp nối , cùng với những biến động bất ngờ của lịch sử ; kể từ thập niên sáu mươi , dù ở Việt Nam hay ở xứ người , chúng tôi cũng vẫn gắn bó và thân quý nhau như buổi ban đầu . Trước ngày 30/4/75 , thỉnh thoảng chúng tôi tập trung tại Quang Hạnh thư trang của nhà thơ Ngô Nguyên Nghiễm dưới chân cầu chữ Y đường Hưng Phú , hay ở Ngã ba Ông Tạ của nhà văn Hà Thúc Sinh , và nhà Nguyễn Lê La Sơn -Thụy Miên ở Nguyễn Tiểu La… ; bày tiệc rượu , mạn đàm chuyện văn chương, thi phú , lúc ngà say thường đọc thơ cho nhau nghe . Những bài thơ mới sáng tác mang gió bụi đường xa đầy hào khí của Lâm Chương , Trần Phù Thế , Thụy Miên , Phạm Nhã Dự…do chính tác giả đề trên vách lầu một nhà ca sĩ Quốc Phong không biết có còn hay không ? Ta còn nhớ một vài đoạn thơ của bạn, màu mực và nét chữ bay bướm trên tường vẫn còn in đậm trong đầu, trong trí óc ta , có còn nhớ không Phạm Nhã Dự ?
Viên đạn lăn nhanh trong tay
Đó là trò chơi thứ nhất
Đưa em về ngôi nhà cũ
Buổi sáng mù sương đắp cao
Khẩu súng quay nhanh trên tay
Đó là trò chơi thứ hai
Hôn em bằng tình ái cũ
Tinh khôi rực sáng đôi mày

(Từ 4091 - PND )

Buổi sáng ta thức dậy thật sớm , nhâm nhi ly cà phê hiên sau vườn nhà , ngắm hoa cảnh , mồi điếu thuốc , suy nghĩ mông lung . Nghĩ về gia đình, về bạn bè . Nghĩ về người , về đời . Mới ngày nào thanh xuân tràn trề sức sống, nay bạc tóc sức kiệt thân tàn . Nhìn lại những chặng đường đã qua , vui ít buồn nhiều . Đôi khi chúng ta như kẻ lãng tử dong ruỗi ngược xuôi , sống bạt mạng , bất cần đời hầu quên đi một phần nào nỗi đau về thời thế thế thời phải thế , cũng có lúc rượu mềm môi với những thâm tình chất ngất ; và Thơ hiển hiện như một sự cứu rỗi nhiệm mầu vượt lên trên tất cả , kết nối tâm giao thành tinh anh đất trời .

Bạn có còn nhớ đêm Quán Gió ở bãi biển Tân Long – Bình Tuy , bạn – ta và nhà thơ Phan Lynh Sa đã thức suốt đêm dưới hàng dừa cao rì rào lá gió, ngồi trên bãi cát ngắm ánh sáng huyền ảo của vầng trăng mười tám lung linh trên mặt biển , nghe sóng vỗ rì rầm tạo thành tấu khúc dương cầm làm mê đắm lòng người .

Có còn nhớ không Phạm Nhã Dự ?

Ngôi nhà bạn ở mười tám thôn vườn trầu gần chợ Bà Điểm , ta đặt tên Quán Văn vì nơi đây anh em văn nghệ chúng tôi thường lui tới : Cung Tích Biền , Rừng , Ngô Nguyên Nghiễm , Trần Phù Thế , Trần Yên Thảo , Tô Đình Sự...Bạn cất thêm một " thảo bạc " nhỏ đơn sơ trống gió trong khu vườn cây cảnh sầm uất . Ngồi nơi đây nhắp từng ngụm đế Bà Điểm , nhìn những lá trầu non xanh mơn mởn leo trên hàng tre cao chót vót , những gốc bưỡi nặng trĩu trái vàng um trồng hai bên hông nhà , một vài chậu bonsai tượng hình loan phụng , cộng thêm hương thơm dìu dịu của hoa cau, hoa bưởi quyện trong không gian tỉnh lặng thì không có thú chơi nào thanh cao cho bằng . Thỉnh thoảng nhà văn Dương Trữ La hái vài trái bưởi , bóc ra từng múi chia anh em làm mồi nhắm hoặc để giải rượu .

Có lần , vợ chồng tôi từ Bình Tuy vào Sài Gòn cùng vợ chồng nhà văn Minh Nguyễn , ghé chợ Hốc Môn mua vài món tươi sống lên nhà Phạm Nhã Dự

định sẽ bày tiệc vui chơi . PND đi vắng , con anh chỉ đưởng chúng tôi đi tìm khắp nơi không gặp nên đành về lại Sài Gòn .

Có còn nhớ không Phạm Nhã Dự ? Đêm tưởng niệm nhà thơ Tô Đình Sự tại quán Phấn Thông Vàng đường Nguyễn Thông do Phạm Nhã Dự và Khánh Giang tổ chức , bạn đọc bài Buổi chiều ở nghĩa trang Cà Đú , khóc Tô Đình Sự trong xúc động , nghẹn ngào . Tất cả mọi người im lặng . Hình như hồn Tô Đình Sự nhập vào từng chữ , từng câu thơ bi tráng   hòa quyện vào tâm ảnh một tình bạn thâm sâu ; đau đớn và tiếc thương một tài hoa rực sáng đã sớm bỏ cuộc chơi thong dong đi về miền miên viễn :

Chiều nay sao gió nhiều mày nhỉ
Gió nổi trong tao đến lạnh mình
Đù má, nhang mày sao chẳng cháy
Đốt mãi que diêm đến cạn cùng
Bên kia dãy núi trơ thân chó
Còn dưới chân tao lại sụt sùi
Mẹ kiếp vợ mày đang khóc mướt
Con mày, trời hỡi nó cười vui
Còn tao, tao chẳng cười hay khóc
Chẳng ngậm ngùi chi lũ kiếp người
Đù má, tao chửi thề đây Sự
Chửi hết trăm năm chửi hết đời
Bây giờ mày đã nằm yên phận
Còn vợ, bào thai , hai đứa con
Đù má, một đời làm thi sĩ
Chẳng đủ cho con lấy một đồng
(trích Buổi chiều ở nghĩa trang Cà Đú – PND)

Nhà thơ Tô Đình Sự mất vào năm 1970 trong một tai nạn xe cộ . Sinh thời , anh chủ trương tạp chí Thế Đứng cùng Phạm Nhã Dự . Thơ văn TĐS và PND đăng trên các tạp chí văn nghệ thời danh tại Sài Gòn . Năm 1968 , anh nhập ngũ khóa 27 TBB / Thủ Đức cùng khóa với nhà thơ Phạm Nhã Dự và cùng ở trong ban biên tập tờ nguyệt san Trường BBTĐ . Hai bạn là cặp bài trùng từ dạo đó . Nếu tôi nhớ không lầm, TĐS viết mục Nhật ký quân trường cho báo này , câu mở đầu anh gọi tên một người con gái : Nga yêu dấu . Cô Nga hiền dịu và dễ thương của TĐS , sau 1975 cô có còn ở Sài Gòn hay đã phiêu bạt phương trời nào ?

Có còn nhớ không Phạm nhã Dự ?

Quán sách cô Nga nằm ở góc đường Lê Lợi và Nguyễn Trung Trực , điểm hẹn anh em văn nghệ chúng tôi . Thời gian này tôi đóng quân ở mật khu Lý văn Mạnh , thỉnh thoảng có phép leo trực thăng bay về Sài Gòn , tạt qua quán sách cô Nga mượn vài quyển sách rồi ngồi ở nhà hàng Kim Sơn bên hông đường Nguyễn trung Trực chờ bạn bè . Trần Phù Thế, Nguyễn Lê La Sơn , Quốc Phong , Thụy Miên , Tô Đình Sự…và dĩ nhiên không bao giờ thiếu bạn tôi, Phạm nhã Dự ; leo lên xe Jeep của Lâm Chương , ghé qua Thời Nay bốc Khánh Giang ; Dương Trữ La ở Tin Sáng, rồi kiếm một quán nhậu nào đó , uống vài chai bia quên đời bên nhau . Bây giờ Thụy Miên , Dương Trữ La , Khánh Giang , Quốc Phong…không còn nữa , có lẽ đã cùng Tô Đình Sự phiêu du ở một vùng trời nào đó tiếp tục cuộc vui ...

Tụi mình dăm đứa đời lang bạt
Sống chẳng ra chi, chẳng bận lòng
Việc nước, việc đời đem dẹp hết
Uống rượu quanh năm đếch ngại ngùng
Mày nhớ đêm tàn trên xa lộ
Thằng Chương đem xế lái quanh trời
Đù má, cũng còn cười khi sắp chết
Ngỡ rằng mình hái được hoa mơ

(trích Buổi chiều ở nghĩa trang Cà Đú – PND)

Phạm Nhã Dự thì lãng đãng trong sương mù của mười tám thôn vuờn trầu , mọi khí hậu tinh sương đều được nhà thơ cung hiến hết cho bằng hữu tâm giao, mới cũ tứ hải giai huynh đệ “ Chỉ một vài câu nhà thơ Ngô Nguyên Nghiễm đã nói lên một phần nào cá tính của Dự: Hào sãng . Phóng khoáng . Chí thành chí tình . Và nhất là hết lòng với bạn bè .

Tô Đình Sự mất để lại người vợ đang mang thai đứa con thứ tư và ba con thơ

dại .Sau 1975 , vợ Sự đưa hết gia đình về sống ở vùng quê Phan Rang , chân lấm tay bùn , làm ruộng rẫy bữa đói bữa no , và kể từ đó PND mất liên lạc với gia đình TĐS . Trải qua một cuộc bể dâu và qua một thời gian dài dò hỏi tin tức , bạn tôi mới tìm được chổ ở của vợ con TĐS , nhưng vợ Sự không còn .Thương cảm hoàn cảnh không lối thoát cho tương lai của các cháu , PND đã vội ra Phan Rang đốt nén hương trước mộ phần vợ chồng TĐS . Cùng lúc , cất cho trưởng nam của TĐS một ngôi nhà nhỏ qua sự đở đầu của nhà thơ Võ Tấn Khanh , những đứa còn lại bạn tôi đưa vào làm việc trong hảng xưởng của một người quen tại Sài Gòn.

Có còn nhớ không Phạm Nhã Dự ?

Quán Thằng Bờm ở Đề Thám - Quán Mai ở Phan Thanh Giãng , nơi thỉnh thoảng chúng ta tổ chức đọc thơ , phần ca nhạc do ca sĩ Quốc Phong đãm trách với phần phụ diễn của các ca sĩ Phương Hồng Ngọc , Giáng Thu…Những bài thơ hào khí ngất trời , nói lên thân phận một nước nhược tiểu , những ưu tư , khắc khoải và thao thức của tuổi trẻ về chiến tranh và giấc mơ hòa bình . Tô đình Sự ra mắt tạp chí Thế Đứng tại đây, chủ đề cũng xoay quanh những vấn đề nêu trên . Những đêm đọc thơ như thế đều tập trung đông đảo học sinh , sinh viên tham dự . Trong bầu không khí văn nghệ ấm áp , đầy ấp tình người , ngồi uống ly cà phê và đồng cảm với lời thơ tiếng nhạc , một phần nào dù rất nhỏ , cũng góp một bàn tay tạo nên luồng sinh khí mới cho nền văn học nghệ thuật miền Nam .

Nhà văn Thụy Miên mất , Trương Thành Vân tạc tượng . Đêm điểm nhản đôi mắt pho tượng bán thân của Thụy Miên có mặt hầu như đầy đủ anh em văn nghệ chúng tôi , trừ một vài người ở xa hoặc bận hành quân . Hoàng Lộc - Ngô Nguyên Nghiễm - Phạm Nhã Dự , Nguyễn Lê La Sơn ( anh ruột của Thụy Miên )… và cả gia đình của Thụy Miên . Tất cả đều hồi hợp theo dõi từng cử động đôi bàn tay tài hoa của điêu khắc gia Trương Thành Vân . Giai đoạn điểm nhản tối ư quang trọng quyết định sự thành bại của pho tượng . Đôi mắt mở to không chớp , mồ hôi chảy dài trên trán trên mặt , trời lạnh mà áo anh ướt đẫm . Đến gần nửa đêm , Trương Thành Vân buông tay , ngã người ra sau la to : thành công rồi . Quả thật , hồn của Thụy Miên đã nhập vào đôi mắt , lóe lên và sáng rực như hai vì sao . Pho tượng này được dựng trước mộ Thụy Miên ở nghĩa trang tỉnh Vĩnh Long , nghe nói rất linh hiển và người dân thường đến nơi đây cầu phước …nên mộ anh bao giờ cũng đầy hoa quả , nhang đèn .

Ném hòn đất xuống mộ huyệt
Những nhát cuốc nẩy lửa
Ôi , những người bạn của ta
Sao lại chia lìa thảm thiết
Sao đành bỏ ta đi
Chỉ vì đời vắn số
Hay bởi lòng ti tiện của thế nhân
Của những tầm thường bày biện

(Trích Đám tang cho ba thằng bạn –PND )

Môt vài kỷ niệm nhỏ và thơ trích cũng đủ nói lên tấm lòng của ta với bạn , dù có thể Thơ và bài viết không hòa quyện vào nhau . Trong buổi xế chiều của cuộc đời ,mỗi ngày chúng ta đều nhìn thấy sự mênh mông của đất trời , đêm tỉnh lặng trong sự mầu nhiệm của những vì sao , Thơ sẽ nẩy mầm hồi sinh những giá trị nhân bản con người.

Có phải không Phạm Nhã Dự ? Thơ là sự đồng cảm , đồng thanh kết tinh trong sự trầm lắng thanh thoát , đôi khi thấp thoáng hơi thở của đất trời , bàng bạc thiền tính và triết lý như nhà thơ Phan Bá Thụy Dương nhận định :

“Người ta bảo thi nhân là kẻ có tâm linh siêu thoát, thanh nhã. Người xưa thường thắp nến đọc thơ và cho đó là một thái độ trang nghiêm, hầu có thể dể dàng hòa nhập vào thế giới nội tâm của tác giả để thưởng ngoạn, để tìm nguồn đồng cảm, đồng thanh. Ngôn tượng trong thơ Phạm Nhã Dự là một tổng hợp, kết tinh của sôi nổi và trầm lắng. Xin hãy thử đọc những lời nhẹ nhàng, dịu êm, mong manh như sương khói của Dự:

“Mai này vào cõi mịt mù – Chim kêu. Vượn hú. Tịch vù bóng sương – Mai sau ở cõi vô thường – Có ai chong ngọn đèn buồn. Đọc kinh!” và vài nét ẩn tàng nỗi hoang vắng, ngậm ngùi, tịch lương: “Ngãnh lại. Trông ra. Hồ tan tác...- Chập chờn. Nghe gió lộng xa xăm – Thoảng như tiếng oán hồn dân tộc – Rớt xuống thuyền sông lạnh mái dầm”.

Thơ Phạm Nhã Dự còn tiềm tàng phong thái ngạo nghễ của một kẻ lãng tử, phiêu bạt, nhưng lòng tựa chừng lạnh lẻo, thảng thốt bơ vơ. Mỗi dòng chữ, mỗi câu thơ đều thể hiện đậm nét phóng khoáng: “ Ta mang em ra phố – Ném vào giữa chợ tình – Trăm người hỗn mang lạ – Rao bán cuộc bình sinh – Ta ngẫn nhìn ngơ ngác “... “Ta đưa em vào đời – Nhảy múa cùng tử sinh – Trá oan khiên rớt hột – Đâm chồi giữa điêu linh – Ta rùng mình phiêu hốt.”

Tiếng thơ hay tiếng lòng của người thơ 18 thôn vườn trầu này luôn như nhiên, tự tuôn trào như mạch sống. Lúc thanh thoát như: “Đò nhẹ. Lòng trôi theo sóng vỗ – Canh sâu. Dế đệm. Nhạc sành rung. Khi vẩn đục như: Tao trở lại đây đường dịu vợi – Đốt nén hương tàn hát biệt ly. Lúc mang bản sắc lang bạt, giang hồ, nhưng thân thiết như: “Thăm mày, đù má lòng buốt xót – Ngó trời chỉ biết chửi thề thôi.”

Những ý nghĩ, hoài cảm đó hiễn lộ, phảng phất mùi của rượu, chan chứa màu sắc của tình yêu, sự thân thiết của tình bằng hữu, đôi khi còn bàng bạc công án thiền, triết tính với nhân bản tính và những thi ảnh, thi ngữ ấy đã được kết nối, dàn trải một cách linh động, tài tình “

* PBTD

Chúng ta mất hết nhưng vẫn còn có nhau . Giờ đây ta và bạn cùng định cư trên nước Mỹ , bạn sống tại Boston MA , ta ở miền Nam CA , cách xa vạn dặm ; tình bạn vẫn nồng ấm , thấm thiết như xưa .Ta còn nhớ rất rỏ , lúc Trần kiêu Bạt còn sống và Hà thúc Sinh chưa dời nhà đi Sacramento , mỗi tuần TKB đều bày tiệc rượu nhỏ , mục đích chính là để gặp mặt nhau hàn huyên tâm sự và cùng nhau gọi ĐT tán gẫu với bạn bè ở các tiểu bang xa như Trần Phù Thế , Vũ Uyên Giang...

Có còn nhớ không Phạm Nhã Dự ? Ta gọi ĐT cho bạn lúc 12 giờ đêm CA ( tức 3 giờ sáng Boston -MA) lúc cả ba đều ngất ngưỡng hơi men . Ngẫu hứng ta đọc cho bạn nghe bài thơ của bạn , ĐÊM TRÊN DÒNG KINH CÙNG , ngậm ngùi về một quê hương chỉ còn trong trí nhớ và hy vọng một ngày nào đó , chúng ta sẽ được ngồi trên con đò trong đêm trăng hò câu vọng cổ , khua mái chèo trên dòng Kinh Cùng :

Đò chậm. Bèo trôi. Trời ẩm đục
Bạn ta. Nào. Nốc ly này cạn
Đèn treo. Trăng hạ. Cáng vạc mềm
Mai đò chưa muộn chuyến sương đêm
Mênh mông. Cá mống. Dòng kênh lạnh
Chèo. Xạc xào khua. Tiếng nhái khan
Thoảng thoảng. Đèn xa. Hò vọng cổ
Tí tách Lục bình nở tím ngang
Nước lạnh. Dòng đời trôi cũng lạnh
Đời dăm ba phút ấm cùng thôi
Bạn ta. Đâu đã gì quá muộn
Đâu gì. Ha hả. Đâu gì đâu ?
Trò đời. Nghĩ cũng phường khinh bạc
Rượu mềm. Chưa thấm. Hãy tràn ly
Đêm nay ta cạn ly vô tận
Mặc dòng nước chảy cuốn về, đâu
Đò nhẹ. Lòng trôi theo sóng vỗ
Canh sâu. Dế đệm. Nhạc sành rung
Bạn ta. Đâu đã gì lướt khướt
Nghe chăng ? Tiếng diễu nhại côn trùng
Ngoãnh lại. Trông ra. Hồ tan tác…
Chập chờn. Nghe gió lộng xa xăm
Thoảng nghe tiếng oán hồn dân tộc
Rớt xuống thuyền sông lạnh mái dầm
Ta gửi bạn bốn câu thơ viết từ thời trai trẻ , cách đây gần năm mươi năm , diễn tả sự thao thức , khát vọng và hoài bảo của tuổi trẻ Việt Nam trước hiện tình đất nước, bây giờ mỗi lần nhớ lại vẫn còn thấy hợp với tâm trạng chúng ta:
Những ước mơ như người què tháp đôi chân gỗ
Chống gậy đi tìm người lạ mặt ở bên kia sông
Có phải chúng ta đang đứng ở bên này
Ở bên kia sông lảo chèo đò ơi ới gọi

Trần Văn Sơn  

Đổ Quyên - Trần Văn Sơn

 
Chỏng chơ sàn gỗ trên cây
Mái che tàn lá sương vây chỗ nằm
Đong đưa nhịp võng ru thầm
Đỗ quyên khóc bạn trăm năm sống còn
Tréo chân tính nhẩm thiệt hơn
Non cao chờ gió suối nguồn chờ mưa
Lang thang lạc dấu rừng xưa
Vực sâu ngậm ngãi hương đưa tìm trầm
Khách xa nghìn dặm khó thăm
Đành thôi lỗi hẹn tri âm kiếp này
Chỏng chơ lều rẫy trên cây
Đong đưa nhịp võng bóng mây cuối trời
 
Hồi Sinh           
 
Gặp gỡ vài lần kẻ lạ người quen
Bên cốc cà phê bên ly rượu đế
Mái dột cột xiêu hẩm hiu bàn ghế
Bạn tả tơi ta rách nát ngậm ngùi
Gánh hỗn mang hề thân thế chôn vùi
Lủi thủi ven đời giả vờ câm điếc
Kẻ lạ người quen khóc ta vắt kiệt
Khô máu tim thành phế liệu trần gian
 
Gặp gỡ vài lần kẻ lạ người quen
Hiểu sao thấu cội nguồn sông và núi
Núi và sông gieo mầm cây tội lỗi
Hạt nhân sinh mê muội giấc mơ người
Khánh kiệt niềm tin thất lạc nụ cười
Sông bỏ núi non xa dần nguồn cội
Kẻ lạ người quen khóc ta phản bội
Quên rừng sâu làm đom đóm thiêu thân
 
Gặp gỡ vài lần hẹn gặp trăm năm
Hiểu sao thấu chuyện ba ngàn thế giới
Thế giới quẩn quanh người lui kẻ tới
Lớp vong thân lớp mạt vận khốn cùng
Thế giới quẩn quanh mạch suối nguồn sông
Hiểu chưa thấu bóng trăng vờn bóng nước
Hiểu chưa thấu ra sao ngày tận tuyệt
Phút hồi sinh tìm chốn cũ quay về.
 
Tứ Tuyệt
 
1. Uống Rượu Một Mình
 
Nhà vắng. Bàn không. Chiếc lá phơi
Uống khan ly rượu nghẹn bờ môi
Gục đầu nhìn xuống bàn tay bẩn
Cát bụi vườn ai lấm chỗ ngồi
 
2. Chờ Xe Búyt Tại Trạm El Monte
 
Đường trăm vạn nẻo. Xe như nước
Một ngả đứng chờ xe búyt chơi
Đường đi. Đường đến. Đường xuôi ngược
Chỉ một đường thôi đủ rát người
 
3. Về Thăm Mộ
Thuyền Nhân Tại Đảo Galang
(Gửi hương hồn em tôi Nguyễn Thị Thắng)
 
Biển. Đảo. Rừng sâu. Vạn nấm mồ
em tôi còn một mảnh xương khô
Thương thay hồn trẻ thời quỉ loạn
Thuyền có chở về bến tự do
 
4. Khất Sĩ
 
Tâm động khó về nơi ẩn dật
Tìm vào hang núi bế thiền môn
Thử làm khất sĩ ôm bình bát
Lẩn thẩn đồng hoang nhịp trống dồn
 
Tháng Tư
Và Trần Hòa Bình
 
Tháng tư con chào đời
Di tản thuyền thay nôi
Con nằm ôm vú mẹ
Biển động mưa đầy trời
 
Con mười lăm ngày tuổi
Sốt cao sẩy đầy người
Con nằm thoi thóp thở
Thuốc chữa bầu sữa tươi
 
Ấp yêu vòng tay mẹ
Lớn khôn ngàn trùng vây
Gầm cầu thương xó chợ
Chiếu rách thương vòm cây
 
Mẹ mơ ngày đoàn tụ
Dưới mái nhà thân yêu
Bên chồng con cha mẹ
Bên bếp hồng cơm rau
 
Ba mơ ngày yên giặc
Đặt tên con HÒA BÌNH
Hòa bình đâu chẳng thấy
Thấy khổ sai nhục hình
 
Khoảnh khắc 37 năm
Con thành công dân MỸ
Khốn khó bỏ sau lưng
Miền viễn tây hùng vỹ
 
Các con ngày mỗi lớn
Sống cuộc đời thảnh thơi
Nhớ tháng tư tang tóc
Di tản thuyền thay nôi
 
Ba mẹ ngày mỗi già
Theo nội ngoại không xa
Con còn một TỔ QUỐC
Bên kia dải ngân hà
 
Nhớ lời ba mẹ dặn
Sống phải biết cội nguồn
Con da vàng máu đỏ
Sữa mẹ nuôi lớn khôn
 
Nhớ lời ba mẹ dặn
Nhân loại một mái nhà
Gia tài con sẽ nhận
Sống TÂM ĐẠOmẹ cha
 
Xuân Vọng
 
Bay bay cánh diều
Gió chiều thu muộn
Hoa nở cánh yêu
Dập dìu bướm lượn
 
Em buông tay thả
Diều lảo đảo bay
Bướm hoa rời rã
Tàn tạ bờ mây
Rơi mưa tầm tã
Cánh diều đứt dây
 
Ôm diều khóc hận
Hận cách ngăn sông
Bên kia tả ngạn
Hữu ngạn chung dòng
 
Có người khách lạ
Nối nhịp cầu xưa
Nhịp cầu nghiệt ngã
Phơi xác nắng mưa
Tả ngạn đổi mùa,
Máu xương mục rã
 
Nối sợi dây diều
Nối niềm hy vọng
Em thả cánh yêu
Bướm hoa rung động
Bay bay xuân vọng
Bay bay xuân đời
 
Cuối Năm
 
Cho anh quá giang chuyến tàu cuối năm
Tàu rời sân ga sớm hơn mọi lần
Em chưa kịp mời anh ly trà ấm
Chỉ kịp nhìn nhau ánh mắt lạc thần
 
Tàu rời sân ga bỏ em một mình
Phố vắng quạnh hiu con phố lặng thinh
Em đếm bước đếm từng cây cột điện
Đường về nhà em con đường gập ghềnh
 
Anh còn gì đâu ngoài tấm thẻ bài
Tặng em dư âm một thời khổ nạn
Chuyến tàu năm xưa vào vùng lửa đạn
Chuyến tàu năm nay không hẹn ngày về
 
Tàu rời sân ga anh xuống trạm gần
Nếu em thật lòng nghẹn ngào tiễn biệt
Mỗi lần ra đi chập chùng oan nghiệt
Di sản điêu tàn thân phận tả tơi
 
Đường về nhà em con đường xa xôi
Con tàu về đâu nhân gian nổi trôi
Một chỗ tịnh yên cho người khuất mặt
Điểm hẹn riêng ta góc bể chân trời
 
Cho anh quá giang chuyến tàu trăm năm
Đi về thong dong giữa ngàn tinh tú
Để anh cùng em đất trời vũ trụ
Gom cả mênh mông hơi thở chung đời
 
Lá Kinh
 
Loay hoay góc nhà nghỉ mệt
Vườn sương lũ bướm chập chờn
Ngân nga hồi chuông vĩnh biệt
Chuông chùa cố xứ Thiên Sơn
 
Chờ xe bên đường niệm Phật
Lao xao phố khói bụi mờ
Gương kinh soi ngang tầm mắt
Soi xa tận cõi nguyên sơ
 
Thăm rừng nghe chim nói Pháp
Ngẩn ngơ gió núi mây ngàn
Tờ kinh che vòm lá thấp
Nhẩn nha bầy sóc họp đàn
 
Tỉa cây nghe hoa đọc kệ
Trầm tư hương chữ ngọc trầm
Lá kinh mở trang nhất thể
Hạt gieo đất mới nẩy mầm
 
Mưa Xuân
 
Này em yêu anh chỉ chừng ấy tuổi
Chừng ấy năm chưa vội phải xa đời
Thêm tí nữa chờ xem cơn gió thổi
Gió xoay chiều xô dạt đám mây trôi
 
Này em yêu gió nói lời thú tội
Mây của trời và mưa của biển khơi
Anh đã nói trăm ngàn lời thú tội
Rất dịu dàng như thuở mới yêu nhau
 
Tuổi chúng ta cận kề bờ sinh tử
Thêm một ngày thêm chút bụi trần gian
Hoa nở muộn hắt hiu miền đất cũ
Bên hiên đời còn đọng giọt mưa xuân
 
Này em yêu gió bảo ta đừng vội
Biết bao giờ, chờ mãi, ngọn Đông phong
Mây che kín khung trời xưa mòn mỏi
Phút cuối đời thèm một miếng quê hương
 
 
Tiễn Bạn
* Tặng Vũ Uyên Giang
 
Đập vỡ ly tiễn bạn đêm nay
Rượu hòa máu hận thấm khăn tay
Bạn lên miền ngược nuôi mộng lớn
Ta cất lều tranh dưới tán cây
 
Bạn cười gằn thế sự đảo điên
Anh hùng mạt vận cố ngoi lên
Đập ly – ly vỡ đau lòng nước
Bỏ mặc trần gian một chiếc bàn
 
Bạn gửi ta bao cát biệt giam
Áo tù may ấm lạnh mười năm
Vợ con biết có còn lưu lạc
Cát bụi chung thân chọn chỗ nằm
 
Tặng bạn ba lô thời tử thủ
Băng rừng lội suối vượt trường sơn
Dường về ngắn nhất con đường cũ
Sông núi vùng lên lẽ sống còn
 
Ta bạn lính – tù chung số phận
Thịnh suy thành bại vẫn còn nhau
Nay xa mai gặp đâu là bến
Buồn nhớ sân ga trễ chuyến tàu
 
Mình ta ôm góc núi bơ vơ
Loay hoay vạch lá lối sương mờ
Đường về trăm nẻo mà ngăn cách
Có cách ngăn nào không ngẩn ngơ
 
Phát rẫy trồng rau nhổ sạch cỏ
Tóc râu tua tủa tựa người rừng
Chân tay mọc rễ vùng đất khổ
Khỉ vượn ôm con hú gọi đàn
 
Ta khắc lời thề trên thớ gỗ
Tháng tư ngày ấy bảy mươi lăm
Tháng tư hủy diệt đời trai trẻ
Huyệt mộ phơi sương trắng lăn trầm
 
Ngồi soi bóng suối đợi trăng lên
Sợ lâu ngày quên mất họ tên
Vọc nước mơ Vũ Môn cá vượt
Lều tranh đom đóm kết hoa đèn
 
Ta đốn rừng cây xây thành lũy
Dựng biên cương núi thẳm vực sâu
Mai kia thiên - địa - nhân tri kỷ
Ta bạn về đây ở tuyến đầu
 
Phương Sen
 
(Tặng Phan Bá Thụy Dương)
 
Góc núi thiền sư thơ thẩn
Lang thang tìm cội mai già
Bàn đá cờ bày một ván
Chờ người xa tít cõi xa
 
Vớt rêu phơi trên đầu gậy
Khều mây kiếm chút nắng vàng
Vách đá trơ vơ cành gẫy
Với tay hứng giọt sương tan
 
Rong chơi cuối đời chưa hết
Hỏi trăng mượn gốc đa già
Dựa lưng ven rừng nghỉ mệt
Suối còn xa tít cõi xa
 
Vọc nước soi gương rõ mặt
Phương sen khói sóng mịt mù
Ngó tới , nồng nàn hương đất
Qua sông bỏ lại con đò
 
Lửng thửng tìm về đáy vực
Ghé thăm cỏ nội mây ngàn
Biết đây bên bờ địa ngục
Ru hời khúc hát nhân gian.
 
Đêm Nằm
Phòng Cấp Cứu
Bệnh viện Garden Grove
 
Tôi bay trên tôi nhìn tôi nằm
Nhìn tôi tôi gọi tôi lặng câm
Tay chân mắt mũi dây chằng chịt
Còn mỗi vành tai mắt nhắm nghiền
 
Vợ con bè bạn khóc quanh tôi
Tôi hỏi tại sao không trả lời
Mất nước không lo lo khóc lóc
Sá gì chiếc lá cuối mùa rơi
 
Tôi bảo nhà thương trả tôi về
Nước non ngàn dặm bước chân quê
Mấy ông bác sĩ bày trò khỉ
Soi-Rọi đau lòng cái tử thi
 
Hãy trả tôi về với cái tôi
Xác kia mượn tạm sống qua đời
Dại khôn nhắm mắt là ra lẽ
Sao trói thân tôi một chỗ ngồi
 
Kẻ sĩ chở đời trong sách vở
Tôi nhập đời trong cái tỉnh điên
Bùi Giáng thả thơ ra giữa chợ
Vểnh râu khều nhẹ lão tặc thiên
 
Quanh quẩn bên tôi hồn uổng tử
Mộ bia hiu hắt thế nhân sầu
Nghĩa trang vắng bóng người sương phụ
Hương khói thôi đành lỡ vó câu
 
Tôi bay vượt khỏi xác thân tôi
Thanh khí siêu nhiên mất dấu người
Lý Bạch say thơ trêu chọc nguyệt
Rong thuyền uống cạn chén trăng chơi
 
Tỉnh dậy ngẩn ngơ hình bóng cũ
Tôi đây-Lạ hoắc tiếng kinh cầu
Hôm qua Bến Hải mưa vần vũ
Hôm nay nằm bệnh quê nhà đâu
 
Bè bạn thở phào tôi còn sống
Sống thêm một tuổi càng thêm buồn
Lời thề sông Dịch không tròn mộng
Nát óc tìm về cõi Xả-Buông
 
Vợ con mừng khóc tôi còn sống
Sống thêm một tuổi khổ đời nhau
Thà làm bọt nước tan trong sóng
Giỡn với trùng dương vạn kiếp sau
 
Uống Rượu Tại Nhà Lê Hùng
Với Trạch Gầm , Thiết Trượng, Lê Phi Ô,
Phan Bá Thụy Dương, Vương Trùng Dương...
 
Rượu rót tràn ly nâng ly cạn
Lực kiệt thân tàn vạn nỗi đau
Càng uống nhìn nhau càng khóc hận
Giày Saut chưa dẫm nát rừng sâu
 
Rót thêm ly nữa mời bạn hiền
Chưa say sao mắt bạn rưng rưng
Thám sát tử sinh trong lòng địch
Sá gì ly rượu  buổi tàn đông
 
Chiến trận bày ra trên bàn rượu
Bình Long- Quãng trị- Chiến khu Đ
Pleiku- Bình giã- Đồi Bão Đại
Tráng sĩ đi không hẹn ngày về
 
Quanh quẩn bên ta hồn chiến hữu
Về đây gặp bạn chiến trường xưa
Sống gửi thác về , nâng ly rượu
Ta bạn chung lưng gió chuyễn mùa
 
Sĩ khí có ai hơn Khương Thượng
Đành buông câu sông vị chờ thời
Đồng đội đứa còn thằng mất tích
Hài cốt phơi xương trắng núi đồi
 
Về đây mờ mịt khói sương vây
Quỉ ám đường quê mắt lệ đầy
Sông núi hỗn mang người và thú
Đất xông âm khí dậy trời mây
 
Tàn tiệc chỏng chơ bàn ghế lạnh
Găp nhau thoáng chốc vội chia tay
Bạn về ta ở đời hiu quạnh
Râu tóc bạc phơ tiếp nối ngày
 
Tiệc tàn chẳng lẽ tàn theo tiệc
Còn triệu con tim vạn tấm lòng
Còn triệu con tim chung nhịp đập
Vùng lên đồng lực dựng non sông
 
Trần Văn Sơn

Trần Phù Thế... * Trần Văn Sơn

Trần Phù Thế:
Câu Thơ Gọi Tình Ngọt Ngào
Hương Vị Phù Sa
Miền Đồng Bằng Sông Cữu Long.
 
Nhà thơ Trần Phù Thế được nhiều người biết đến ở hải ngoại sau khi anh xuất bản hai tập thơ : Giỡn bóng chiêm bao [ 2003 ] , Gọi khan giọng tình [ 2009 ] , những bài thơ đăng
trên các báo Khởi Hành , Văn Hóa Việt Nam , Thư Quán Bản Thảo …  và trên các trang báo điện tử như : Sáng tạo , Da màu , Phố Văn… Anh còn phụ trách trang thơ trên tuần báo Tuổi Trẻ ở Dallas – Texas  Thật ra , anh làm thơ đã lâu , lúc còn ở Việt Nam , từ thuở cắp sách đến trường , gần nửa thế kỷ nay . Năm 1962 , anh cùng với Lâm hảo Dũng - Lưu Vân - Triệu Ngọc thành lập thi văn đoàn Cung Thương Miền Nam tại tỉnh Sóc Trăng ,  về sau có thêm nguyễn lệ Tuân - Trần biên Thùy , mục đích phổ biến thơ văn của nhóm trên các tạp chí văn nghệ Sài Gòn . Bài thơ đầu tiên của anh mang tựa NHẠC TRĂNG đăng trên báo VĂN cuối năm 1962 với bút hiệu MẶC HUYỀN THƯƠNG  . Cần phải nói thêm , tạp chí Văn là tờ báo văn học nghệ thuật  nổi tiếng  tại Việt Nam  . Chủ nhiệm  Nguyễn đình Vượng , thư ký tòa soạn  Trần phong Giao , và sau  là nhà văn Nguyễn  xuân Hoàng . Bài vở chọn lọc  cẩn thận ,   thơ văn  đăng trên báo này rất có giá trị.    Những nhà văn  đã thành danh như Y Uyên , Lê văn Thiện…đều xuất thân từ tờ Văn . Anh còn có bài trên các tạp chí Thời Nay của Khánh Giang , Khởi Hành của Viên Linh …Năm 1967 , anh định in tập thơ đầu tay “ Thầm yêu trộm nhớ ’’ nhưng không thực hiện được vì có lệnh nhập ngũ  vào  trường SQTB Thủ Đức .
 
Bút hiệu Mặc huyền Thương không phải tự nhiên mà có , nó bắt đầu bằng hai chữ tình yêu . Cô bé mang tên Thương Huyền đã hớp hồn cậu học trò vừa mới lớn đang tuổi mộng
mơ . Cậu lộn ngược tên Thương Huyền thành Huyền Thương rồi thêm chữ Mặc đặt trướcchữ Huyền cho có vẽ thơ . Thật ra , theo tâm sự của nhà thơ , chữ Mặc có nghĩa im lặng , yêu  không dám nói . Tình yêu tuổi học trò bao giờ cũng e ấp , chỉ biết thẩn thờ nhìn người yêu trong tà áo dài nữ sinh thướt tha cắp sách đến trường , hoặc đôi khi gặp mặt thì
ngần ngại mở lời , chỉ nói bâng quơ chuyện trên trời dưới đất . Và phải chăng bài thơ Nhạc Trăng là kỷ niệm một thời tuổi trẻ của nhà thơ về mối tình đầu đơn phương này :
 
Trăng nhập vào trăng lạnh tiếng đàn
Nghe sao giòn vỡ thủy tinh tan
Chơ vơ tiếng hát cao trừng vọng
Ta gửi hồn qua giấc hỗn mang
 
Rỉ máu lên từng giọt ngón tay
Ta thương hồn chết đã bao ngày
Trăng mơ chảy mượt từng chân tóc
Ta uống trăng vàng giọt giọt say
 
Trăng hát miên man buồn chậm chậm
Mây đời che khuất bóng trăng tan
Hồn ta treo cổ vầng trăng khuyết
Và chết vào đêm bóng nguyệt tàn
                         (  Nhạc trăng . TPT )
 
Cô bé Thương Huyền diễm phúc thật ,  được  hóa thân thành vầng trăng , và thi sĩ đã ngụp lặn trong tiếng đàn trăng nghe như những mảnh vỡ thủy tinh hòa tan vào tiếng hát trăng buồn muôn thuở .  Bài Nhạc Trăng là tiếng lòng thổn thức bi thương đầy huyết lệ, thống thiết như  bài thơ   PHAN THIẾT - PHAN THIẾT của Hàn Mặc Tử : /Trăng vàng ngọc , trăng ân tình chưa phỉ / Ta nhìn trăng khôn xiết ngậm ngùi trăng / Ta vã tung thơ lên tận sông Hằng / Thơ phép tắc bỗng kên rên thống thiết / Hỡi Phan Thiết , Phan Thiết / Mi là nơi ta chôn hận nghìn thu , Mi là nơi ta sầu hận ngất ngư / . Nhạc Trăng  ý và từ mượt mà , điêu luyện , vậy mà Trần phù Thế sáng tác vào cuối năm 1962 , lúc đang học lớp đệ nhất trường trung học Hoàng Diệu - Sóc Trăng . Đây có phải là điềm báo hiệu cho những mối tình đầy sóng gió của thi sĩ sau này , hay là những nụ hoa bắt đầu chớm nở  trong khu vườn văn học nghệ thuật Việt Nam .
Người đẹp Thương Huyền sau hơn bốn mươi năm vắng bóng bỗng nhiên xuất hiện bất ngờ qua lời kể của Trần Phù Thế : “Năm 2004. Võ Đức Trung của nhóm Văn Hóa Pháp Việt tại Paris, có mời tôi góp mặt trong tuyển tập thơ Một Phần Tư Thế Kỷ Thi ca Việt Nam Hải Ngoại 3. Sách phát hành một tháng sau. Tôi nhận được một phong thư gởi từ nước Germany trời Âu. Tôi ngỡ ngàng khi hai chữ Thương Huyền nằm trên góc trái bìa thư đập nào mắt tôi. Dễ chừng hơn bốn mươi năm không gặp nàng. Bây giờ bỗng nhiên xuất hiện. Tôi vội vàng xé phong bì với niềm xúc động. Tội đọc ngấu nghiến, những con chữ như nhảy múa dưới mắt tôi …Gia đình nàng vượt biên năm 1980 và hiện định cư tại Đức. Nàng cho biết ngày xưa có biết tôi làm thơ và đã từng thích thơ MHT nhưng không biết là bút hiệu của tôi…. Nàng cho biết đã đọc bài thơ “Tuổi Thơ Đại Ngãi” trong tuyển tập của Nhóm Văn Hóa Pháp Việt và bần thần suốt ngày. Những kỷ niệm thời thơ ấu như sống lại, hiển hiện trước mắt. Nàng bèn liên lạc với Võ Đức Trung xin địa chỉ tôi và đã viết thư cho tôi với lời cám ơn.  Đọc thư xong, niềm cảm khái dâng trào, tôi ngồi vào bàn viết và viết trong bốn mươi lăm phút là hoàn tất bài thơ “Bậu về”:
 
bậu về liếc mắt đong đưa
gió Xuân đầy mặt
như vừa chín cây
bậu về má đỏ hây hây
ta mười lăm đã lòng say bậu rồi
 
bậu còn
chơi ác nói cười
những câu dí dỏm
chết đời ta chưa
bậu về nhớ nắng thương mưa
hình như cây cỏ cũng ưa bậu về
 
như là có chút nắng hè
như là có cả
chùm me chua lừng
như là xoài tượng thơm giòn
thêm vào nước mắm chút đường khó quên.
 
bậu về
Đại Ngãi mình ên
bỏ quên kẹp tóc
bắt đền tội ta
bậu quên là tại bậu mà
tại sao bậu bắt đền ta một đời
 
tội này không chịu bậu ơi !
                (B ậu V ề - TPT)
 
Chữ BẬU rất nhiều nghĩa ,  thường được  dùng  trong ca dao Việt Nam hoặc trong lời hát ru con của những bà mẹ  miền quê   được Trần Phù Thế đem vào  thơ  thật tài tình , vừa dí dỏm lại vừa nủng nịu  của lứa tuổi mộng mơ “ chùm me chua lừng – xoài tượng thơm giòn “ . Một bài thơ tình tuyệt vời , từng câu từng chữ mộc mạc , bình dị như lời nói thường ngày rất gần gũi thủ thỉ bên tai : / bậu về / Đại Ngãi mình ên / bỏ quên kẹp tóc / bắt đền tội ta / bậu quên là tại bậu mà / tại sao bậu bắt đền ta một đời / tội này không chịu bậu ơi / .Hình ảnh chiếc kẹp tóc trong thơ sao mà dễ thương quá , khiến ta nhớ đến những mái tóc thề vừa chấm ngang vai ,  những tà áo dài trắng của những nữ sinh thời trung học… và chắc chắn ta không thể nào quên những dỗi hờn trách yêu : / bậu còn / chơi ác nói cười / những câu dí dỏm / chết đời ta chưa / .
 
Tôi và Trần Phù Thế có duyên văn nghệ với nhau vào cuối thập niên 1960 . Trần Phù Thế làm trưởng ban 2  Liên đội ...BCH đóng tại Bà Hom - Gia Định .  Đại đội tôi trực thuộc Liên đội , và tôi là trung đội trưởng đóng quân tại mật khu Lý văn Mạnh . Biết tên nhau qua thơ văn đăng trên Văn , Khởi Hành , Thời Nay … nay lại là  lính cùng chung đơn vị nên  lần đầu gặp mặt   không hề có những rào đón , khách sáo xã giao  mà rất cởi mở , chân tình . Giờ đây đã hơn bốn mươi năm , tuổi đời đã trên dưới bảy mươi , trải qua một cuộc bể dâu : Trầm luân và khổ nạn , tình bạn chúng tôi cũng vẫn nồng ấm như ngày xưa  cùng với những tình thân trong nước và ở hải ngoại như : Ngô Nguyên Nghiễm , Lưu Vân , Nguyễn Thành Xuân , Phạm Nhã Dự , Hà Thúc Sinh , Vũ Uyên Giang , Nguyễn lê La Sơn…
Nhắc đến những người bạn cùng thời mà không nhắc đến Khánh Giang và Dương Trữ La  thì quả là điều thiếu sót không thể nào tha thứ được có phải không Trần Phù Thế ? Hai anh là nhà báo , nhà văn chuyên nghiệp . Khánh Giang làm tổng thư ký bán nguyệt sanThời Nay , chủ nhiệm tuần báo Đời Nay . Dương Trữ La viết feuilleton trên các nhật Báo ,  đồng thời cộng tác với tuần báo Khởi Hành , Đời Nay và một v ài t ờ b áo kh ác.. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau tại nhà Phạm nhã Dự ở Mười tám thôn vườn trầu Bà Điểm - Hốc Môn ,  thảo trang của Ma Xuân Đạo ở Thạnh Lộc Thôn sát bờ sông Sài Gòn , hoặc  nhà  Khánh Giang ở Chợ Lớn , nhà Dương Trữ La tại con hẻm nhỏ đường Trần Quốc Toản …Chúng tôi đầy ắp những kỷ niệm với nhau , văn nghệ là lẽ đương nhiên còn đời thường rất nhiều lần  bên tách  trà  chung rượu .
Nhớ đêm khai trương quán cà phê văn nghệ Phương tại đường Nguyễn Trãi , ca nhạc do ca sĩ Quốc Phong đãm trách với sự có mặt chung vui của Lâm Chưong  , Tô Đình Sự , Trần Phù Thế , Phạm Nhã Dự , Nguyễn Lê La Sơn …Tất cả đều mặc quân phục chỉ riêng có Khánh Giang và Dương Trữ La mặc đồ dân sự  , không nhớ Lâm Chương hay Trần Phù Thế nói khích thế nào , hai anh về thay hai bộ đồ lính mới tinh cổ áo mang cấp bập chỉnh tề . Thì ra hai anh là quân nhân biệt phái .
 Nhà thơ Phạm Nhã Dự viết : “ Từ đó chúng ta tìm gặp nhau ở Khởi Hành hoặc Tin Sáng với Dương Trữ La lân la “ Cây Lý” thân tình ; ở Thời Nay với Khánh Giang , ngồi vỉa hè Phạm Ngũ lão bên “ dĩa cơm sườn và chai Vĩnh tòn ten “ , cùng những bài chưa đăng đã trả tiền trước , ở Kim Sơn hay La Pagode ’’.  “Cùng những bài thơ chưa đăng đã trả tiền trước ’’ , ý Phạm Nhã Dự đề cập đến con người Khánh Giang , rất hào sãng và rất phóng khoáng .Tôi nhớ rất rõ tòa soạn báo Thời Nay nằm trên đường Phạm ngũ Lảo , tầng một là nơi làm việc của Khánh Giang , tầng trệt dành riêng cho cô thư ký . Mỗi lần đến đưa bài anh đều bảo cô thư ký ứng tiền trước hoặc chờ anh lo xong bài vỡ rồi chúng tôi sẽ kiếm một cái quán nào đó hàn huyên tâm sự thâu đêm . Hai anh tửu lượng rất cao , uống không bao giờ  say . Có lần tại thảo trang của nhà văn Ma Xuân Đạo sát bờ sông Sài Gòn , Dương Trữ La sau một chầu nhậu nhảy xuống sông tắm bị lục bình quấn chân suýt chết đuối  , tôi dân biển lội giỏi kè vai  dìu anh vào bờ . Giờ đây Dương Trữ La - Khánh GiangTô Đình Sự - Trần Kiêu Bạt - Quốc Phong … không còn nữa , nhưng mỗi lần nhắc đến  chúng tôi đều xót xa ,  ngậm ngùi, tiếc thương cho  những người bạn tài hoa bạc mệnh không tiếp tục theo đuổi con đường mà các anh đã chọn lựa .
 
Nầy Sự , rượu tới phiên mày
uống say một trận cho đầy cơn mê
tuổi thanh niên cũng chẳng hề
Thằng ra chiến trận , thằng về áo quan
[ Tô Đình Sự -  uống rượu ở vườn trầu Bà Điểm – TPT ]
 
Khói sương là chốn vô thường
nắng mưa là chuyện âm dương của trời
tử sinh là lẽ con người
Bạt ơi , số mạng một đời như không
 
đục dòng thơ rượu khơi trong
ta nghe tiếng đứt , mệnh mông mênh chìm
hỏi mày nằm đó lặng im
bao quanh hương khói ai tìm hồn xưa
 
một đời quanh quẩn gió mưa
khăn sô đắp mặt sao thừa rượu cay
một đời hào phóng vung tay
lòng quên thiên hạ tình say bạn bè
[ Trần Kiêu Bạt – TPT ]
 
Lục bác là thể thơ thuần túy Việt Nam , dễ làm khó hay không khéo sẽ thành vè . Người xưa đã lưu danh muôn thuở với những áng thơ lục bác bất hủ như Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du , Chinh Phụ Ngâm của Đoàn thị Điểm …Thời tiền chiến có Huy Cận , Nguyễn Bính …  Thập niên năm mươi sáu mươi có những nhà thơ làm lục bác rất hay như Cung Trẩm Tưởng , Viên Linh , Hoàng Trúc Ly , Bùi Giáng , Trần Tuấn Kiệt , Phạm Thiên Thư , Trần Yên Thảo , Nguyễn Đức Sơn ( Sao Trên Rừng ) … Trần Phù Thế thật sự nặng nợ với thơ lục bác từ ngày anh định cư tại Mỹ vào thập niên chín mươi . Anh rấtmê thơ lục bác bằng chứng  anh làm rất nhiều thơ lục bác , hơn năm trăm bài thơ của anh  tôi đọc được , hai phần ba là thơ lục bác .
 
 Anh còn thử nghiệm làm mới thơ lục bác bằng cách thay đổi hình thức thơ . Bài thơ hai câu :
 
 con chim nó gọi bạn tình
 còn ta gọi bậu một mình tàn hơi
 
 Phân   thành sáu câu :
 
 con chim
 nó gọi  bạn tình
 còn ta gọi bậu
 một mình
 tàn 
 hơi
 [Tàn hơi - TPT ]
 
  Bài ba câu :
 
 biết tận cùng nghĩa đau thương
 hiểu tận cùng lẽ vô thường tử sinh
 em ơi thấy bóng chẳng hình
 
 Phân thành  năm câu :
 
 biết tận cùng 
nghĩa đau  thương
 hiểu tận cùng lẽ vô thường tử sinh
 em ơi
 thấy bóng chẳng hình
[ Biết - TPT ]
 
Và còn rất nhiều bài lục bác anh mở bài câu tám và chấm dứt câu tám :
 
lênh đênh chin cửa trăm năm cõi người
một lần lỡ bước rong chơi
ta thân phù thế một đời như không
[Bạt – TPT]
 
Bài mở câu sáu kết câu sáu :
 
một hôm lịch sử rụng đầu
cha Long Quân hởi
mẹ Âu Cơ hời
con rồng phiêu bạt khắp nơi
 [lịch sử - TPT]
 
 Bài thơ lục bác  ngắn hai ba câu  ngắt thành nhiều câu  rất cô đọng , giàu nhạc tính . Mỗi câu : một , hai hoặc ba …chữ  tạo nên một nhịp thơ mới thật lạ  , âm điệu vừa phong phú lại vừa lơ lửng  chênh vênh , ẩn chứa  bên trong những  câu , chữ là ý thơ mênh mông vô tận . Nhà thơ Thiếu Khanh đã nhận định :
 
“Dường như những thể nghiệm đó cho thấy hình thức sáu chữ, tám chữ không hề là cái khuôn cứng ngắc gò bó trói buộc câu thơ, trái lại, trong giới hạn câu chữ đó tài năng của nhà thơ vẫn có thể làm cho thể thơ càng thêm uyển chuyển và giàu tính biến hóa khiến mỗi bài thơ có vẽ phá vỡ và thóat ra khỏi hình thức câu chữ của nó, hóa giải ranh giới ràng buộc của số câu số chữ, làm
tăng thêm sự phong phú của âm điệu, nhạc điệu. Có lẽ thời gian sẽ giúp khẳng định giá trị của sự
tìm tòi sáng tạo của anh, ít nhất là về cách xếp đặt mới cho thể thơ truyền thống quen thuộc nầy mà nhiều nhà thơ từng ngậm ngùi nhận xét: thơ lục bát dễ làm mà khó hay!”
                                     [ Thiếu Khanh : Thơ lục bác mới của Trần Phù Thế ]
 
 
Trần Phù Thế sinh ra , lớn lên tại Sóc Trăng , học  trường Hoàng Diệu – Ba Xuyên trường Phan Thanh Giản – Cần Thơ và sau khi ra tù anh đã hơn mười năm phiêu bạt giang hồ khắp các tỉnh miền Tây trước khi định cư tại Mỹ ,  nên những bài thơ tình của  anh  ngọt ngào hương vị  phù sa miền đồng bằng sông Cữu Long . Đặc biệt chữ dùng trong thơ anh không pha trộn hai miền Trung - Bắc mà thuần túy chất giọng  miền Nam , đôi khi anh còn dùng những đặc ngữ miền Tây mộc mạc , chân chất thấm đượm tình quê  như : xa ngái , sao vậy cà , chua lừng , con nước nhửng , chết điếng , tuốt luốt… rất gần gủi thân thương .
 
Ta ghét mười năm ở xứ này
Mười năm đủng đỉnh lục bìng quay
Như con nước nhửng dòng sông Hậu
Thương cả lần đi ứa máu đầy
[ ta ghét – TPT ]
 
Hai con trống mái giận nhau
Hai con chim mái làm sao vậy cà
 
Mấy lần
bước xuống
con đò
mà quên tuốt luốt
thăm dò cạn sâu
[ lục bát không đề - TPT ]
 
Những nơi anh dừng chân : Đại Ngãi - Hậu Thạnh - Cần Thơ – Sóc Trăng - Kiên lương – Mương Điều - Đường Đức - Trường Khánh – Hòn Me – Hòn Đất … anh đều để lại những bài thơ bát ngát , mênh mông cỏ nội hoa ngàn . Và thấp thoáng đó đây một vài mối tình chơi vơi như những cánh lục bình bập bềnh sóng nước Cữu Long .
 
Một lần ở lại lỳnh quỳnh
đêm nghe cá quẩy bờ kinh  tám ngàn
xác xơ đầu ngỏ cuối làng
hòn me , hòn đất héo vàng tuổi xanh
 
em đi cỏ úa hồn anh
ngày về như thể mỏng tanh cánh chuồn
một lần ở lại Kiên Lương
khói xi măng thở bụi đường hà tiên
[ lỳnh quỷnh - TPT ]:
 
phải chăng Hậu thạnh mù xa
khúc sông xóm ngọn , cây đa , cái đình
ta về mắt ướt điêu linh
phải chăng người cũ hiện hình đâu đây
 
lòng đau biết mấy đêm dài
ta đau biết mấy ngàn ngày quê hương
đi lên , đi xuống con đường
bước lê cái bóng tà dương một mình
 
ta về gió thổi hiển linh
[ Hậu Thạnh – TPT ]
 
Nhà thơ Phan Xuân Sinh nhận định về  ngôn ngữ miền nam trong thơ Trần Phù Thế như sau :
Thơ anh vừa sâu sắc vừa lắng đọng . Vừa chua chát nhưng cũng vừa vị tha , độ lượng . Trong thơ anh hiện rõ cái nét chơn chất của người miền nam lục tỉnh hiền hòa , chất phác  Cái ngôn ngữ mộc mạc được anh đưa vào thơ một cách tự nhiên và làm câu thơ trở thành duyên dáng mượt mà .
[ Một góc nhìn : giọng miền nam lục tỉnh trong thơ Trần Phù Th ế -
Phan Xuân Sinh ]
 
Nếu ai hỏi tôi nhớ bài thơ nào của Trần Phù Thế nhất , tôi sẽ không ngần ngại trả lời đó là bài ĐỜI TA . Không những tôi mà cả vợ tôi đều thuộc  lòng , thỉnh thoảng tôi đọc cho cả nhà nghe mọi người không cầm được nước mắt . Đây không phải là một tuyệt tác , nhưng bài thơ đã nói lên được phần nào  đời tôi , đời  bạn…những ngưởi lính VNCH , sau khi cọng sản Bắc việt xé bỏ hiệp định Paris và cưỡng chiếm miền nam ngày 30/ 4/75 , đều chung số phận nghiệt ngã như nhau . Sống chết trong khói lửa chiến tranh . Khổ nhục trong các trại tù cọng sản . Và sau khi  ra tù một số không ít anh em ngậm đắng nuốt cay khi phải đối diện với sự thật đau lòng ,   gia đình ly tán , cha mẹ vợ con không biết lưulạc phương trời nào , còn sống hay đã chết ; cộng thêm sự kềm kẹp khắc nghiệt của bọn công an phường xã , nhưng vẫn âm thầm chịu đựng ,  ngẩng cao đầu không chịu khuất phục trướcc bạo quyền cọng sản .
Bài thơ ĐỜI TA dài 66 câu , 16 đoạn mỗi đoạn 4 câu , ghi lại một phần đời của tác giả ,  thời gian bắt đầu từ ngày vào tù năm 1975 và  ra tù từ trại  GIA TRUNG năm 1982 . Nói đến trại tù Gia Trung là nói đến sự vô nhân , độc ác cùng cực của bọn cầm thú lên làm người . Chúng đánh tù bằng thanh sắt gõ kẻng báo hiệu giờ lao động , ra lệnh cho bọn trật tự là tù hình sự cùng chúng luân phiên đấm đá những người mà chúng ghét , bất luận thành phần nào , kể cả tu sĩ và những người đáng tuổi cha ông chúng . 
 
chiều xuống sương mù bay lãng đãng
bảy năm không án tù Gia Trung
Bảy năm vắt kiệt đời trai trẻ
Mây trắng Trường Sơn mỏi núi rừng
 
Thà chết như là con kiến nhỏ
Còn hơn hèn mọn kiếp lao tù
chiều nay mây oán trên đầu núi
Hãy chở lòng ta đến hư vô
  …………………………………….
 
Trong lúc bạn ta còn nằm lại
Trên đồi hiu quạnh đất Gia Trung
Gió mưa rát mặt không nhang khói
Hồn lạnh bơ vơ giữa núi rừng
                   (ĐỜI TA – TPT)
 
Tôi từ trại Nam Hà chuyễn vào trại Gia Trung cuối năm 1981, bị bệnh nặng nên được đưa lên bệnh xá nằm ở phòng lao chờ chết . Nguyễn Hải Chí [ họa sĩ Choé ] làm ở phòng
Văn hóa thỉnh thoảng  thăm tôi  . Anh đã từng bị biệt giam nhiều tháng chỉ vì táy máy tay chân , trong giờ nghĩ lao động anh vẽ trên cát thằng tù ốm trơ xương , cái đầu là củ khoai lang sùng nham nhở . Anh và tôi tâm sự rất nhiều . Người mà anh nhắc đến nhiều nhất là nhà thơ Viên Linh  và tạp chí Khởi Hành . Nhà thơ Viên Linh đặt bút hiệu Choé cho anh . Khởi Hành đăng tranh biếm họa của anh . Bắt đầu từ đó anh đã trở thành một họa sĩ nổi tiếng không những ở trong nước mà cả thế giới . Chúng tôi dự định khi ra tù sẽ vượt biên Mộng của anh sẽ viết một phim truyện bằng tranh đại ý cho Max – Lênin -  Stalin – Mao Trạch Đông –Hồ Chí Minh tranh dành ngôi vị Diêm vương dưới âm phủ , kết cuộc âm mưu bại lộ , Max bị quỷ sứ cắt lưỡi , còn những tên khác bị vất vào chảo dầu sôi… Tiếc thay anh mất sớm nên không thực hiện được hoài bảo của mình .
 Cũng chính  nơi trạm xá này , tôi đã chứng kiến tận mắt cảnh cai tù trút những đòn thù dã man trên thân thể ốm trơ xương như thây ma của anh em tù nhân . Tôi không bao giờ quên được hình ảnh một vị mục sư khả kính ,  áo quần bê bết máu , mặt mũi sưng vù nằm sóng soãi trên nền cát mặc cho bọn trật tự và bọn cán bộ đánh đập dã man  cho đến khi ngất   xỉu . Trung tá Nguyễn văn Thanh  bị đánh chết tại đây . Một số văn nghệ sĩ bị giam tại trại này như : Nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh ,  nhà thơ Hà Thượng Nhân , Nguyễn sỹ Tế , Trần Tuấn Kiệt , Trần Dạ Từ , ký giả dzoãn Bình … …
Nhà thơ Trần Phù Thế ở tù tại Gia Trung nên người viết  tạm ghi lại một phần rất nhỏ về những sự tra tấn khốc liệt của bọn cai tù cọng sản . Muốn biết thêm cảnh lao tù của cọng sản khắc nghiệt như thế nào xin đọc trường thiên bút ký Đại học máu của nhà văn Hà Thúc Sinh , Đáy địa ngục của nhà văn Tạ Tỵ , Thép đen của Nguyễn Chí Thiệp …và kể cả bút ký của các nhà văn Miển Bắc sống trong chế độ cọng sản như Đêm giữa ban ngày của Vũ Thư Hiên , Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn …
 
Trong tù ,  không biết ngày nào được tha , tương lai mờ mịt nên chúng tôi đã chuẫn bị tinh thần rất vững vàng cho những tình huống xấu nhất có thể xẩy ra , kể cả cái chết . Và với người đầu ấp tay gối , có thể vì hoàn cảnh xã hội đưa đẩy đến bước đường cùng ,   cũng có thể thanh xuân tràn trề sức sống  không chờ đợi được , bước thêm một bước nữa cũng là chuyện  bình thường . Chúng tôi không hề oán trách dù trong lòng hết sức xót xa , đau đớn . Tuy nhiên , phần đông những người mẹ , người vợ có chồng tù tội dưới chế độcọng sản đều làm tròn thiêng chức của một người đàn bà Việt Nam , thủ tiết chờ chồng ,và dù chồng có chết trong tù cũng vẫn một lòng một dạ thủy chung thờ chồng nuôi con .
 
Vợ ta hãy nhớ lời ta dặn
Mai mốt bặt tin đừng đi tìm
cải tạo , đi tù coi như chết
coi như vĩnh biệt phút ban đầu
 
một mai em thấy lòng son trẻ
vẫn còn nóng hổi chuyện thanh xuân
thì em cứ bước thêm bước nữa
ta chúc cho em phúc vạn lần
 
khuyên em là giả , em đi thật
hai đứa con khờ đói bơ vơ
hai đứa con khờ ba bốn tuổi
cha tù mẹ bỏ sống bơ vơ
              (Đời Ta – TPT)
 
 Nhà thơ Lê Phi Ô nghiến  răng cắn nát môi lấy máu viết thành thơ : / vợ bỏ con thơ theo cán bộ / Đổng tiền đánh đổi cả nhục vinh / Hỡi ơi canh bạc đời đen đỏ / Mỹ nhân hề chén rượu tàn canh /Tiếng gọi Việt Nam .LPO / Cảnh nhà  Trần Phù Thế bi thảm hơn nhiều . Chổng tù tội . Vợ ôm cầm sang thuyển khác bỏ hai con nhỏ mới lên ba bốn tuổi  bơ vơ không nơi nương tựa ,  lang thang , đói rách .Ông bà nội tuổi già sức yếu lặn lội tìm cháu nhiều tháng trời mới gặp được hai cháu đang ăn mày giữa chợ .  Điều bi thãm nhất ở đây là hai cháu  ăn xin ở hai nơi khác nhau  , khi gặp lại ông cháu chị em chỉ còn biết ôm nhau khóc .Viết những dòng này mà tay tôi run run bồi hồi xúc động ,  dù tôi biết hiện nay hai cháu  định cư tại Mỹ cùng  cha theo diện HO , cuộc sống ổn định , hạnh phúc bên chồng con .
      
em đi một tiếng không giao lại
hai đứa con thơ cho mẹ chồng
bà đi tìm cháu bao ngày tháng
gặp cháu ăn mày giữa chợ đông
con chị ôm em mừng khóc ngất
nội ôm hai cháu lệ lưng tròng
 
ta về đứa chị theo bà nội
bán chuối ven sông với chiếc xuồng
bảy năm vắng mẹ , cha tù tội
con trải thân đời với gió sương
 
còn con gái nhỏ cùng ông nội
chăn vịt trên đồng mới gặt xong
tuổi thơ đội nắng , hai màu tóc
nắng cháy đời con , cháy cả lòng
                 
ta về hai trẻ nhìn ngơ ngác
xa lạ bừng trong mắt trẻ thơ
nước mắt còn đâu . Còn nước mắt
ôm con mà khóc tự bao giờ
 
thưa ba , thưa mẹ , con tạ tội
ba khổ mẹ rầu những bảy năm
lich sử chơi con đòn đau điếng
bảy năm tù tội nặng nghìn cân
                (Đời ta – TPT)
 
Vâng , lịch sử không những chơi  ta một đòn đau điếng mà còn chơi cả dân tộc chúng ta một đòn đau điếng có phải không Trần Phù Thế ? Giờ đây , sống ở xứ người , nhìn về quê hương Việt Nam mà lòng đau như cắt . Xã hội băng hoại . Đạo đức suy đồi . Biển , đảo , đất , rừng dần dần mất về tay Trung Cộng . Vậy mà bọn sâu bọ Ba Đình vẫn sống phè phỡn , nhỡn nhơ trên mồ hôi , nước mắt , và xương máu của đồng bào . Chúng còn đánh đập dã man , bắt nhốt vào tù những người yêu nước đã can đãm đứng lên đáp lời sông núi , cất cao tiếng nói bão vệ giang sơn , tổ quốc .
 
Đọc một câu thơ hay sướng cả tuần . Đọc một đoạn thơ hay sướng cả năm . Đọc một bài thơ hay sướng cả đời . Không nhớ câu nói này của ai , nhưng rất đúng với những người yêu thơ và nặng nợ với thơ .  Thời khang chiến có Màu tím hoa sim của Hữu Loan , Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác , Tây Tiến của Quang Dũng , Tống biệt hành của Thâm Tâm …,  vào thập niên 50 , 60 còn có rất  nhiều bài thơ của Cung Trầm Tưởng , Nguyên Sa , Thanh Tâm Tuyền , Hoàng Trúc Ly , Viên Linh , Tuệ Sĩ , Tô Thùy Yên… mà trong bài viết ngắn này người viết không thể trích ra hết được ; đã vượt thời gian lưu danh muôn thuở . Thơ Trần Phù Thế có rất nhiều câu hay , đoạn hay , và bài Bậu Về rất hay theo thiển ý của người viết , không biết sau này sẽ ra sao ? Thời gian sẽ trả lời . Nhà thơ Trần Phù Thế có lẽ khi làm thơ không nghĩ đến điều này , được – thua – còn - mất chỉ là một thoáng phù du có phải không Trần Phù Thế ? Anh vẫn tiếp tục đi theo con đường anh đã chọn lựa , dệt những vần thơ tình ngọt ngào hương vị phù sa miền đồng bằng sông Cữu Long .
 
Trần Văn Sơn

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013