Mục Đích Của Website Hội Quán Trầm Hương Là Chuyên Chở Đến Bạn Đọc Xa Gần Những Sáng Tác Có Giá Trị Của Các Tác Giả Trong Và Ngoài Diễn Đàn Văn Học Trầm Hương.

***

Home

Hạ Mơ - Lê Thị Ngọc Nữ

image gallery

Bừng một đốm Phượng hồng bật nụ
Thắp hồn thơ quyến rũ Hạ mơ
Lạc đâu đây ve gọi ngẩn ngơ
Gom ký ức nhuộm tờ lưu bút

Gió trở mình khẽ theo tình khúc
Gọi nắng về hong chút xa xưa
Hạ đầu mùa lất phất bụi mưa
Tà áo trắng ươm vừa nỗi nhớ

Cánh phượng xưa ép khô trong vở
Có còn ai nhớ thuở học trò
Chạnh lòng thương ngây thơ ngày đó
Phút chia tay nắng gió bâng khuâng

Ba mươi năm Hạ đến bao lần
Tuổi đôi chín tần ngần ánh mắt
Bài thơ xưa nét còn bền chặt
Dẫu trang nhoè nước mắt hôm qua...

Lê Thị Ngọc Nữ

Ngộ Nhận - Nguyễn Đức Nhơn

 24 BENH VIEN SAN NHI LONG A 21

Sau 2 lần bị vợ bỏ, ông Vượng ghét cay ghét đắng đàn bà. Ông thường nói với bạn bè, tao thà ở vậy suốt đời chứ không bao giờ đụng tới cái thứ “hồng nhan họa thủy” ấy nữa đâu. Ông Vượng “tuyên bố” có vẻ cương quyết lắm… nhưng chưa đầy một năm ông lại bê một bà sồn sồn ở Tân Bình về làm vợ. Từ đó ông không còn ghét đàn bà nữa. Ông nói “không có đàn bà như nhà không có nóc”. Bạn bè chế giễu, ông chỉ cười trừ…
* * *
Sau một ngày tán dóc với người bạn già trong Chợ Lớn, ông Vượng đón xe buyết trở về nhà. Khi chiếc xe dừng lại ở một trạm đưa đón khách. Bà khách đầu tiên xuống xe, vô ý bước ra đường bị một chiếc xe gắn máy húc bà ngã ra bất tỉnh; cũng may, những chiếc xe chạy sau kịp thời thắng lại. Ông tài xế nhảy xuống xe bê bà khách vô lề đường. Bà nằm bất tỉnh. Những người khách bu lại xem, có người đề nghị chở bà ta vào bệnh viện cấp cứu ngay, nếu không cứu chữa kịp thời thì nguy lắm. Ông Vượng với nét mặt khẩn trương, bước tới bê bà khách chạy đến chiếc taxi bảo tài xế chạy đến bệnh viện. Khi đến nơi, cô y tá ghi vội một vài chi tiết về tai nạn, hồ sơ cá nhân và địa chỉ ông Vượng rồi bỏ chạy theo mấy cô y tá đang đưa bà Hương vào phòng cấp cứu. Ông Vượng thấy không còn ai đếm xỉa gì tới mình nữa nên cũng bỏ ra đường đón taxi trở về nhà.
* * *
Sau khi tỉnh lại, bà Hương muốn gọi cho người nhà biết mình bị tai nạn nhưng điện thoại của bà bị rớt đâu mất, kể cả cuốn sổ ghi số điện thoại gia đình cũng mất luôn. Bà không cách nào liên lạc được với gia đình. Bà nghĩ chắc phải xin bác sĩ cho xuất viện trở về nhà để mọi người khỏi lo lắng.
Bà Hương chờ bác sĩ khám xong liền nói xin bác sĩ cho tôi xuất viện. Tôi có việc cần về nhà. Ông bác sĩ trả lời, cần phải ở lại bệnh viện thêm vài ngày nữa để xem có biến chứng gì không. Thế là bà Hương phải ở lại bệnh viện đến ngày thứ ba mới làm thủ tục xuất viện. Cũng trong ngày này, ông Vượng nhận được giấy mời của bệnh viện. Khi đến văn phòng, cô y tá bảo ông theo tôi. Ông Vượng không biết cô ta đưa mình đi đâu nhưng cũng lủi thủi bước theo. Đến một căn phòng ở tầng lầu 2. Cô y tá đẩy cửa bước vào. Ông Vượng cũng vào theo... Đứng xớ rớ trong phòng một hồi mà chẳng thấy ai hỏi han gì đến mình, nên ông Vượng bỏ ra ngoài đứng nhìn mấy cô y tá đang đùa giỡn với nhau.
Bà Hương thấy cách ăn mặc của ông Vượng không giống người làm trong bệnh viện. Bà hỏi cô y tá, “ông ở ngoài đó là ai vậy?” Cô y tá giương cặp mắt tròn xoe hỏi ngược lại, “Ông ấy không phải chồng bà sao?” “Không, tôi có chồng con gì đâu!” Cô y tá bước nhanh ra ngoài hỏi ông Vượng, “Bà ở trong phòng có phải là vợ ông không?” “Không! Tôi là khách của cùng chuyến xe buýt, thấy bà ta bị xe đụng bất tỉnh nên tôi đưa bà vào đây, có vấn đề gì không vậy?” Cô y tá há hốc mồm, than nhỏ “chết rồi, hỏng bét rồi, tất cả hồ sơ bệnh án của bà Hương đều ghi ông Vượng là chồng của bà. Bây giờ làm thủ tục xuất viện thì phải làm thế nào đây?!!!” Cô y tá trở vào phòng, bà Hương hỏi nhanh, “có phải ông ấy đưa tôi đến đây không?” Cô y tá trả lời, “phải, vậy nhờ cô mời ông ấy vào đây, tôi muốn nói chuyện với ông ta một chút.” Cô y tá trở ra nói, “mời ông vào phòng, bà Hương muốn nói chuyện với ông.” Khi ông Vượng bước vào, bà Hương nở một nụ cười thật tươi nói, “chào anh, cám ơn anh đã đưa tôi đi cấp cứu. Bây giờ bệnh viện gặp phải một việc rắc rối, không biết anh có vui lòng giúp họ không?” Ông Vượng nói, “được chứ, miễn đừng làm điều gì trái với pháp luật là được thôi. Nhưng không biết tôi giúp được gì cho bệnh viện đây?” Bà Hương nói, “xin anh đóng vai chồng tôi để ký vào hồ sơ bệnh án của tôi được không?” Ông Vượng suy nghĩ một chút rồi trả lời, “làm vậy là phạm pháp đó!” “Xin phép anh, hiện giờ anh đang ở với vợ con phải không?” “Tôi có vợ con gì đâu. Lâu lắm rồi, tôi cũng có hai bà vợ nhưng cả hai đều bỏ tôi ra đi, chắc tôi không có duyên với đàn bà!” “Ồ! Vậy là tốt lắm rồi. Tôi cũng là một góa phụ, chồng tôi đã chết từ lâu. Bây giờ chúng ta là hai người độc thân, làm vợ chồng giả để anh ký vào hồ sơ bệnh án, nếu xui xẻo bị đổ bể thì chúng ta làm cái kế ‘lộng giả thành chơn’, biết chừng đâu đây là một chuyện tốt phải không anh?” Thấy ông Vượng đứng trơ người như kẻ mất hồn. Bà Hương nói tiếp, “anh yên tâm, nhà nước không rảnh để lo ba cái chuyện lặt vặt này đâu!” “Thôi được tôi ký!” “Cảm ơn anh nhiều.” Bà Hương quay qua cô y tá bảo cô đưa giấy tờ cho ông ấy ký. Ông Vượng ký vào hồ sơ bệnh án xong, hai người từ giã nhau mà quên mất việc trao đổi số điện thoại để liên lạc với nhau sau này…
* * *
Một sáng mùa thu trời se se lạnh. Sài Gòn với nhịp sống thường ngày của nó, vẫn nhộn nhịp ồn ào xe cộ ngược xuôi. Ông Vượng đang thả bộ trên đường Lê Lợi, bất chợt nghe tiếng gọi mình phía sau. Ông quay lại, sững sờ khi nhận ra bà Hương với một nụ cười thật tươi nói chào anh. Ông Vượng với nét mặt buồn buồn nói sau vụ ngộ nhận ở bệnh viện tôi muốn gặp lại chị nhưng thành phố Sài Gòn rộng lớn, người đông như kiến dễ gì gặp lại nhau. Nhưng không ngờ hôm nay lại gặp chị, tôi cứ tưởng mình đang nằm mơ…
* * *
Ông Vượng và bà Hương tuy là một cặp vợ chồng chắp nối, tuổi tác cũng đã cao nhưng là một cặp vợ chồng chung sống với nhau vô cùng hạnh phúc. Ông Vượng thương bà Hương rất mực. Không cho bà làm bất cứ việc gì. Ông nói, “em không cần làm gì cả, mọi việc đã có anh.” Một hôm, bà Hương nói với ông Vượng, “em muốn lên Đà Lạt thăm một người bạn.” Ông Vượng ngạc nhiên hỏi, “người bạn nào của em sao lâu nay không nghe em nhắc tới vậy?” “Chỉ là người bạn thường thôi có gì quan trọng đâu mà phải nói với anh.” “Vậy em tính chừng nào đi?” “Thứ hai tuần sau lúc 9 giờ, em mua vé máy bay rồi.” Ông Vượng với nét mặt buồn buồn nói, “vậy cũng tốt, đi chơi cho thong thả, ở nhà hoài dễ sinh bệnh…”
Tuy không phản đối nhưng ông Vượng nghi ngờ rất nhiều về chuyến đi này của bà Hương. Trước đây một tuần, ông Vượng tình cờ thấy một bức điện thư ở dưới gối nằm của bà Hương. Đây là bức điện thư của một người nào đó viết cho bà từ Đà Lạt… “Em thu xếp lên Đà Lạt chơi, mùa này Đà Lạt đẹp lắm.” Ông Vượng đọc đi đọc lại nhiều lần bức điện thư nhưng không thấy có điều gì mờ ám; tuy nhiên, có một điều hơi lạ, tại sao người viết bức điện thư này lại ca tụng “Đà Lạt mùa này đẹp lắm” trong khi thành phố này đang chìm vào một mùa đông giá buốt. Nếu nghĩ xa hơn một chút thì bức điện thư này là một mật lệnh?!!!…
* * *
Ông Vượng bỏ giờ làm ở hãng đến phi trường không phải để đưa bà Hương lên máy bay mà để xem ai là người hò hẹn với bà trong chuyến đi này. Ông Vượng nhìn chăm chăm vào hàng người đang chờ nhân viên phi trường kiểm tra giấy tờ trước khi vào phòng đợi lên phi cơ. Bỗng ông Vượng thấy bà Hương đang chuyện trò vui vẻ, thân mật với một người đàn ông lạ mặt. Ông liền nổi trận lôi đình chạy đến đấm lia lịa vào mặt người đàn ông. Cảnh Sát đến kịp thời còng tay ông Vượng và giữ luôn người đàn ông và bà Hương để điều tra sự việc.
Ở phòng làm việc sở cảnh sát, cô điều tra viên hỏi vì sao ông đánh người ta? Ông Vượng trả lời, “tôi không nhịn được hành vi bỉ ổi của hắn, đang o bế dụ dỗ vợ tôi.” Cô điều tra viên hỏi tiếp, “ông có biết hành vi đánh người là phạm pháp không?” “Tôi biết, nhưng lúc đó tôi không kiềm chế được khi thấy có người ve vãn vợ mình!!!” “Thôi được. Chúng tôi tạm giữ ông để chờ ngày ra tòa. Cũng may ông không gây thương tích gì cho đối phương.”
Một tuần sau ông Vượng được trả tự do vì có người bảo lãnh và đóng tiền phạt cho ông. Trên đường về nhà, ông Vượng tự trách mình không hỏi rõ trắng đen gì cả, cứ xông vào đấm túi bụi vào mặt người ta, chắc chắn lần này lại thêm một bà vợ nữa bỏ đi!!!
* * *
Đẩy cửa bước vào nhà, ông Vượng thấy ở phòng khách ngoài vợ mình còn có một người đàn bà xinh đẹp và người đàn ông bị ông đánh ở phi trường, họ đang trò chuyện vui vẻ với nhau. Ông Vượng nổi “cơn điên” hùng hổ xông tới định đánh người đàn ông… nhưng bị người đàn bà và vợ ông cản lại. Người đàn bà xinh đẹp nói, “chú Vượng bình tĩnh nghe tôi nói. Đây là anh Thạnh chồng tôi và cũng là người anh họ của em Hương. Chúng tôi đang định cư ở Mỹ mới về Việt Nam hơn một tháng. Hôm đó chồng tôi đi Đà Lạt bàn chuyện làm ăn, tình cờ gặp em Hương. Vì lâu ngày không gặp, lại đi cùng chuyến bay nên hai người họ rất mừng, trò chuyện vui vẻ với nhau sau nhiều năm xa cách, không ngờ lại xảy ra sự ngộ nhận đáng tiếc này. Thấy chú còn bị giam ở sở cảnh sát nên chúng tôi quyết định hủy bỏ chuyến đi để lo cho chú được về sớm.” Ông Vượng vừa nghe vừa đưa mắt hết nhìn người này lại nhìn người khác, rồi với gương mặt vừa xấu hổ vừa hối hận do hành động thiếu suy nghĩ của mình. Ông nói, “xin mọi người tha lỗi cho việc làm thô bạo và thiếu suy nghĩ của tôi.” Ông Thạnh nói, “thôi bỏ đi! Việc làm sai trái của chú cũng vì thương vợ mà thôi!?…”

Viết Từ Houston, 28/4/2018
Nguyễn Đức Nhơn

Không Chỗ Gối Đầu - Tuý Hà

KCGD

Download Name Play Size Duration
download KhongChoGoiDau
5.8 MB 25:22 min
 
Việt Radio - TG&TP - Không Chỗ Gối Đầu - Tuý Hà
Thực hiện: Nhược Lan & Huy Tâm & Phạm Tương Như
 

 

Buổi Sáng Trong Làng - Nguyễn Lệ Uyên **

nuoigaaicapok petq

Gà vừa cất tiếng gáy sang canh, Dự vội vã bật dậy nhóm bếp nấu ấm nước pha trà, loại trà nát như cám được phân phối theo tem phiếu trên cửa hàng mậu dịch của hợp tác xã. Uống loại nước chan chát không mùi vị khiến anh có cảm giác như lúc ở trại Thập hái lá cây rừng sao vàng thay trà. Dẫu sao trà cám vẫn hơn nước đun sôi và nước đun sôi vẫn hơn loại lá rừng đắng chát. Với lại, thời buổi này không thể tìm đâu ra thứ trà ướp ngâu, ướp sen… mà có thì cũng không có tiền mua. Cái gì cũng có thể trở thành thói quen, anh thầm nghĩ và uống cạn bình trà trước khi đứng dậy ra tháo cổng chuồng.

Lúc lùa đôi bò ra ngõ, vợ Dự vừa kịp lóp ngóp ngồi dậy, hỏi nhóng theo:
- Sáng nay anh ăn ghé khoai lang hay mì?
Dự nhổ phẹt bãi nước bọt xuống nền đất, xoay cây cày sang vai phải, từ bìa sân gạch nói với:
- Gì cũng xong. Đầy bụng là quý rồi.

Đôi bò theo thói quen, ra khỏi ngõ rẽ qua truông trái, chậm rãi bước thẳng ra đồng. Cây cày trên vai bị trở vai liên tục, vì hồi nào tới giờ anh có biết cày cuốc là gì. Học chưa hết năm đệ Tam tới tuổi phải vào lính, đánh nhau suốt từ năm này sang tháng khác cho đến lúc bị gán cho tội cầm súng đế quốc chống lại nhân dân. Cái tội tày đình đó phải học tập cải tạo như bao nhiêu người khác cùng cảnh ngộ đến gần hai năm. Hai năm theo đúng nghĩa của người tù khổ sai để cuối cùng cầm mảnh giấy rơm vàng ố quay về trình diện địa phương. Như vậy kể cũng may mắn: Đạn bom chưa giết chết Dự. Bệnh tật, đói khát, sơn lam chướng khí… trên rừng núi không vật ngã được anh. Dự vẫn sống nhăn răng để trở về và chịu đựng tiếp những khổ nạn của thân phận thằng ngụy quân cầm súng bắn phá cách mạng, chống lại nhân dân…

Cây cày đè nghiến trên vai. Màn đêm lờ mờ. Cây cày bị xoay trở liên tục. Lúc ngang qua xóm Gòn, lũ chó chạy ra thọc mõm qua bờ rào sủa như muốn xé rách màn đêm. Cả một đàn chó trong xóm cùng gào lên như thể Dự là quân trộm cắp, là bóng ma đang lởn vởn trong làng. Ra tới chòi canh đầu xóm, người du kích quấn chiếc mền thu lu quanh cổ, đang bập bập điếu thuốc chỉ thấy đốm lửa đỏ như que nhang, quẹt đèn pin thành vệt dài một lượt, hỏi:
- Cày sớm anh Hai?
- Cày sớm về nghỉ cho khỏe.
- Ngồi hút điếu thuốc đã.
- Thôi, để tranh thủ. Tôi chịu nắng dở lắm - nói và Dự thúc đôi bò bước nhanh.

Bóng đêm vẫn còn đậm đặc, tiệp với màu cây cối hai bên đường. Tiếng chó sủa thôi rát nhưng tiếng gà gáy thì bắt đầu rộ lên. Cũng tiếng gà ấy, nhưng ngày trước nghe giục giã, còn giờ thì nghe mỏi mòn, eo óc, giống tiếng kẻng lệnh treo giữa xóm, trên cây duối, điều khiển mọi hoạt động của đám người trong làng.

Đôi bò lầm lũi bước. Dự lầm lũi bám theo chúng, trở thành vị cứu tinh của cả nhà. Dự áng chừng cũng gần bốn giờ sáng. Bốn giờ bắt đầu mắc bò vào quải, bắt đầu đánh rõng, cày đến khi mặt trời gát qua khỏi đọt tre cũng gần mười giờ. Mười giờ mở bò, mở trước lúc tiếng kẻng lệnh vang lên chói tai. Thời gian lúc này đối với Dự (và cả dân làng) không còn có thể nhìn vào chiếc kim nhỏ chạy vòng tròn trên mặt số nữa rồi. Tiếng gà gáy và mặt trời đã thay thế vị trí của nó, bởi những chiếc đồng hồ đã được đem bán đi để mua thêm vài mươi cân lúa dự phòng. Có đồng hồ trong nhà mà cái bụng tóp teo phỏng ích gì, ai cũng nghĩ vậy.

Mắc được đôi bò vào quải, Dự đã nghe rõ mồm một tiếng lội bì bõm trong đám ruộng bên. Té ra cha con hương Bổn còn ra đồng sớm hơn. Dự tằng hắng:
- Bữa nay nữa xong chưa đó?
Tiếng hương Bổn từ xa:
- Chưa. Còn gần hai sào nữa.
- Tôi ráng bữa nay là gác cày.
- Mửng này đói vẫn hoàn đói, chưa chết là may - tiếng hương Bổn lầu bầu không ăn nhập gì tới sự quan tâm cày nhanh chậm.

Dự nghe mà không trả lời, cầm chui cày, nhịp roi lên mông đôi bò. Cả ba dựa vào nhau bước tới. Bước tới để hít mùi bùn đất dậy lên gây gây trong buổi sáng tinh mơ. Tiếng chân bò thả bì bõm trong nước. Đôi chân anh cũng thả bì bõm trong màn nước ngậm bóng đêm lạnh ngắt. Thỉnh thoảng những bước chân bước hụt xuống lỗ đất hẹp thấp làm nước ruộng bắt vọt lên mặt, lạnh ngắt. Nhưng cái lạnh ấy khiến anh cảm thấy có chút yên ổn rằng mình đang còn cử động, hơi thở vẫn còn phụt ra hai lỗ mũi, tim vẫn còn đập, dẫu biết rằng đó là giả tạm. Lưỡi cày găm vào đất, xới lên thành vồng tỏa ra thứ mùi thơm nồng đặc biệt. Đó là mùi bùn đất lưu cửu tổ tiên để lại cho con cháu bằng cả mồ hôi, nước mắt và máu và xương. Cái mùi ấy đã thấm sâu vào da thịt dân làng này. Họ biết vậy. Biết và hàm ơn nên ông bà lớp trước mới xây một ngôi đình khang trang để thờ người mở đất…

Đó là ngôi đình thờ thành hoàng. Ngôi đình rộng mênh mông từ bao đời, bỗng nhiên, chỉ trong một buổi sáng, nó biến thành nơi hội họp của hợp tác xã theo lệnh của ai đó ở trên. Họ nói thờ cúng là mê tín dị đoan. Với lại đất đai là của nhà nước, của nhân dân chớ không của riêng một kẻ nào, không có ông thành hoàng nào mở đất cả.

Lệnh rớt xuống như lưỡi dao bén chém ngang thân chuối. Cái lệnh ấy khiến đám thanh niên lóc chóc hò la xông vào, gỡ những tấm nghi khậu, liễng đôi ném xuống đất như thể chúng đang đánh nhau với kẻ thù. Đám khác chia nhau ôm cờ phướn, đèn thờ, trống, phèn la… vất vào gian lẫm phía sau chái. Vật tế tự, từ khí nằm vương vãi, lăn lóc như xác địch quân sau trận chiến ác liệt. Máu không chảy thành vũng, nhưng những mạng nhện lòng thòng có vẻ như những mảnh tim gan phèo phổi của tổ tiên rớt ra từ những vật tế lễ kia. Phút chốc ngôi đình trống hoác. Bức hoành phi với mấy chữ đại tự sơn son thếp vàng, mới đây còn uy nghiêm trên thanh xà gian giữa, giờ nằm chổng chơ trên nền đất lạnh.

Dự đi ngang qua, tình cờ cong người nhìn vào và chợt thấy, rùng mình như hồi nhỏ từng chứng kiến cảnh tiêu thổ kháng chiến. Ông gạt những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán và những giọt nước mắt chực chảy ra, quay lui ra phía kiệt tre và đụng mặt ngay cô Lại đang bước tới, người bạn chận bò thuở thiếu thời. Lại cười khẩy, rít lên:
- Anh tiếc mấy thứ giẻ rách kia hả, cứ vào lấy mang về nhà. Tôi cho đấy!
@ Nguyễn Trung
Dự liếc mắt nhìn cô, nghĩ thầm: Không ngờ con Lại của mười mấy năm về trước nay thay đổi thiệt nhanh chóng. Cô lạnh lùng, tàn nhẫn… vụt bay ra từ cái nhìn nhọn sắc và hàm răng khít rin, thù hận. Dự suy nghĩ mãi, không hiểu tại sao cô lại làm như vậy? Một đứa con gái như bao cô gái khác trong làng, cần mẫn với ruộng vườn, bếp núc; cũng cười đùa hể hả với đám bạn mỗi khi có dịp đùm túm với nhau. Vậy nhưng sau cái đêm cô biến mất khỏi làng, “sau một thời gian dài không tung tích, nó đột ngột quay về trong đêm, tập hợp dân làng hô hào nổi lên diệt ác ôn đánh Mỹ cứu nước - Cha Dự chậm rãi cất giọng lào khòa kể lại - Nó răn đe mọi người sẽ bị xử trị đích đáng nếu tiếp tay cho địch. Nói xong nó bắn một phát súng thị uy rồi biến mất trong đêm tối một cách đột ngột như lúc đến”. Giờ thì Lại quay về, lãnh đạo cả xã, cả làng phá sạch những thứ mà Lại gọi là tàn dư, là rác rưởi của đế quốc và tay sai để lại. Mấy ngôi miễu thờ cô hồn là nạn nhân đầu tiên; ngôi chùa nhỏ cuối làng cũng không thoát khỏi số phận hẩm hiu… Rồi nay tiếp đến ngôi đình này. Không biết cô còn nghĩ ra những gì khác nữa để tiếp tục đập phá cho hả lòng căm thù?

Những khi cô ra lệnh như vậy, Dự tự hỏi, có giây phút bất chợt nào đó, Lại nhớ về cái đêm trăng non sang tiết lập thu? Đêm mà cô háo hức xô ngã Dự lọt qua bờ rào chiêm chiêm, phóng theo đè lên người Dự. Mảng da thịt âm ấm của cô gái mười bảy phủ chụp lên khắp người thằng nhóc con là Dự đang bước vào tuổi dậy thì, khiến nó run rẩy với những khoái cảm sững sờ. Lại sờ soạng, bấu riết, hôn lên mặt mũi, lột truồng nó ra, giống như lúc bị xô ngã qua hàng rào chiêm chiêm rồi biến nó thành đàn ông khi mới mười ba! Đêm trăng non trong tiết lập thu vĩnh viễn để lại trên người Dự vết sẹo của nỗi hoang mang, sợ hãi cuộn tròn lại như những đợt sóng lớn nhỏ đập mãi vào bờ đá. Những ngày đi lính, gặp phụ nữ Dự sợ còn hơn đang lúc đánh trận. Đêm đầu tiên gần vợ, Dự cong người lại y như lúc ngã qua bờ rào. Nỗi sợ hãi chập chờn trôi nổi bềnh bồng như túm rác trôi trên con kênh đen quánh…

Lại, dưới con mắt Dự là hiện thân của những tội lỗi rực rỡ chồng chất thành những vệt lân tinh trong khu rừng ẩm ướt mỗi lúc hành quân, trên chiếc giường tre có cô vợ bé nhỏ nằm bên cạnh và ngay cả khi thả chân xuống mặt ruộng trắng nước. Tiếng bước chân của chính Dự vang lên bì bọp, òn ọt khiến Dự luôn có những cái rùng mình bất ngờ…

Dự vãi mồ hôi giữa buổi tinh mơ lạnh ngắt.
Đôi bò thong thả kéo chiếc lưỡi sắt nhọn lật tung những dề đất phía dưới, còn Dự thì miên man suy nghĩ xa gần trên chuôi cày. Ba sinh linh bé nhỏ giữa đất trời cao rộng này bơi vòng vòng quanh đám ruộng hợp tác xã, giống con vịt bơi trong ao tù.

Cày đâu hơn hai rõng đất thì trời sáng rõ. Lát sau cu Lớn lơn tơn xách giỏ cơm đặt trên bờ ruộng gọi lớn: “Cha ăn cơm con về đi học!”. Dự ngoái lại nhìn thằng con ốm nhách, cao như cây sậy, trong lòng gợn lên nỗi cồn cào không hình dạng. Hồi nhỏ, anh có đâu như vầy. “Ừa, để đó”. Dự la lớn và hình như tiếng la đó rớt cái tõm xuống ruộng nước. Cu Lớn đã lên tới bờ mòn, cắm cúi bước thật nhanh về phía làng.

Dự cày giáp vòng, đến gần phía bờ đặt rổ cơm, anh dừng lại, rút náp cho lưỡi cày găm sâu xuống đất (giống như người ta thắng xe) hô “dọ, dọ…” để đôi bò dừng lại rồi gát roi lên bắp cày, thủng thỉnh bước lên bờ.
- Anh Năm ơi - Dự kêu lớn - nghỉ vào ăn cơm cái đã.
- Ăn đi. Tôi ăn cơm nguội ở nhà rồi.
- Thì nghỉ uống nước cái đã. Xong sớm tôi qua cày giúp anh mấy đường - Dự nói cho có nói chứ trong bụng biết tỏng hương Bổn chưa có hột cơm nào trong bụng. Mấy tháng nay vợ bệnh, con đau số lúa dự trử cứ vơi dần, lấy đâu cơm sáng cho ông đi cày? Đến viên thuốc cũng không có, thay vào là những viên xuyên tâm liên từ hiệu thuốc nhân dân đắng ngắt trị bá bệnh thì bệnh nào qua khỏi!

Hương Bổn dừng bò, kẹp chiếc roi cày vào nách bước về chỗ Dự đang ngồi.
- Cái đời tôi - hương Bổn khọt khọt trong cổ họng để đẩy cục đờm vướng víu đâu đó, khạc ra, nhổ phẹt xuống mặt nước ruộng - lúc nào cũng đen đủi, bắt thăm trúng đôi bò cày của con mẹ Chánh ốm nhách, gioongs như đồ như lao, thúc mấy cũng không mập lên. Người ta cày cả sào thì nó lê lết chưa được phân nửa. Mẹ đời, tôi muốn trả lại cho hợp tác quá trời, ngặt nỗi trả lại thì lấy gì mà sống đây. Đã bị phân vào tổ cày bừa rồi. Còn phần ruộng chú thấy đó, nó là cái ao thì đúng hơn, phải bơi để cấy…

Dự nghe giọng nói hùn hụt gần như đứt hơi, cảm thấy chạnh lòng:
- Anh Năm, kệ mẹ đời, anh ăn chút cơm rồi hẵng cày. Chòm xóm với nhau anh khách khí làm gì.
- Tôi đã nói, ăn rồi. Chú biết tánh tôi mà?

Nói dứt câu, hương Bổn thở phì phì như chính ông kéo cây cày nặng trình trịch thay đôi bò và tiếp tục bơi trong đám ruộng ao của mình.
- Thôi anh, để hôm nào họp tổ, anh em xúm nhau đưa đơn xin đổi đôi khác cho anh.
- Đổi ai? Đâu có đôi nào “rề dẹt” mà đổi. Thiệt ngán. Tôi muốn giao lại, nhưng nhìn đàn con lít nhít thấy không nỡ. Mẹ đời. Cách với chả mạng. Trước tôi đâu đến nỗi khổ vầy. Bao nhiêu ruộng vườn ép vào hết hợp tác, thành của người khác, của nhân dân, mình trắng tay. Mẹ cứt, nhân dân là cặc chó gì không biết nữa
- Thôi đi anh Năm ơi. Đại nạn là chung cho cả bầy người lúc nhúc, đâu riêng gì anh em mình? Hè, làm chén cơm cho nóng rồi xuống cày tiếp.

Hương Bổn xua tay:
- Ăn rồi. Cơm nguội từ hôm qua cứng như sạn cũng cố mà nuốt. Chú mày ăn đi, tao uống miếng nước, không thấy đói. Nói và ông giở ấm chén rót ra uống đánh ực một hơi rồi lần vô túi áo rút gói thuốc rê ra vấn. Điếu thuốc to bằng ngón tay cái quấn bằng giấy vở học trò tách đôi ra như người ta lóc phần da và thịt con cá lóc. Hương Bổn kẹp điếu thuốc lấm lem mực viết. Điếu thuốc cứ rung rung giữa hai ngón tay như chính nó đang lên cơn sốt.

Dự chần chừ một lúc mới giở tấm lá chuối đậy trên rổ cơm vừa ái ngại nhìn người hàng xóm, cảm thấy như mình là kẻ có tội với cha con hương Bổn. Dự biết là ông chưa có hột nào trong bụng, nhưng nài ép chút nữa có nghĩa là làm nhục ông ta, bèn dùng tay nhón lấy chút cơm lẫn trong những miếng sắn mì, vón thành cục nhỏ chấm muối é cho vào miệng, nhai nhỏn nhẻm. Dự cũng không hơn gì hương Bổn, có điều đỡ gánh nặng gia đình, chỉ phải nuôi đứa con duy nhất. Vợ Dự còn khỏe, vào tổ đan đát, mỗi ngày kiếm cũng vài trăm gam lúa. Cả hai chắt mót, tùng tiệm cũng đủ xoay xở. Chỉ tội hương Bổn. Con đông quá, cả hai vợ chồng vật lộn với ruộng đồng cũng không đủ miếng ăn.

Dự đậy tấm lá chuối lại, hỏi xin điếu thuốc. Hương Bổn ngó sững Dự:
- Sao không ăn. Chú tội nghiệp tôi hả?
- Dạ không, anh Năm. Tự dưng hết muốn nuốt. Làm ăn kiểu này đến lụn bại mất. Anh nhớ mùa rồi, tụi thằng Cạnh thằng Sang giấu lúa hột kéo về nhà? Chúng nó là đội trưởng, đội phó đấy. Lại nghe nói tay chủ nhiệm và tay thủ kho tuồn mấy tấn ra chợ đen. Bị bể ổ, nhưng chúng tự biết dán miệng nhau thành ra êm xuôi, chẳng có thằng xã viên nào dám hó hé.
- Đấy, mình xỏ miệng vô thì trước sau cũng bị gán phản động.
- Tôi vẫn ức vụ ngôi đình.
- Ức thì chú làm được gì?
- Đúng là không làm được gì. Nhưng cái mặt con Lại đấy, từ đất nẻ chui lên chắc?
- Tôi biết nó thù chú mà? Mấy lần chú giải thích nhưng nó đâu có nghe, phải không?
- Giải thích gì anh ơi. Tôi chỉ nói là nếu cần hung thì dọn dẹp đồ thờ tự sang một góc để làm tạm hội trường, chớ có đập phá, tội. Kẻ hậu sinh cũng phải nhớ công lao người đi trước. Tôi nói chỉ có vậy mà cổ kêu tôi là kẻ phá hoại. Anh coi có oan tôi không?
Hương Bổn kéo một hơi thuốc thật dài, phà khói bay thành mảng trên mặt nước:
- Chuyện dâu biển, nay dời mai đổi, biết đâu mà lường, chú ơi.

Hai người chuyện vãn một lát rồi đứng lên, trở lại cầm chuôi cày.
Những dề đất lật qua một bên láng tưng như thoa một lớp mỡ. Những con sáo nâu, cò xám sà tới tranh nhau những con trùn nước, cắn mổ la chí chóe. Chúng đậu thật gần, chỉ cần hươ củ roi là đụng ngay, nhưng Dự không làm vậy. Nó cũng đang tìm miếng ăn như bọn anh mà. Anh không để ý đến lũ cò sáo, cắm cúi cầm chắc chuôi cày, cốt cho thật nhanh để ngày mai theo bọn thằng Xanh lên núi hái ít gánh củi về dự trử cho mùa mưa bão sắp tới. Cày bừa xong giao đất cho tổ gieo sạ coi như yên một bề, tìm thêm chuyện mà làm, đâu có thể nằm chờ mấy công điểm mọn?

Nắng lên cao, thu ngắn bóng người cày và đôi bò về một phía. Còn một rõng nhỏ nữa là xong, có thể qua bên hương Bổn cày giúp ông ta vài đường, nhưng tiếng ví thá bên kia ruộng sao nghe cứ nhỏ dần, bước chân và đường cày như một dòng nước yếu bị cản lại không thành tiếng lõm bõm như lúc trước. Dự ngó qua. Đôi bò chệnh choạng dựa vào bắp cày bước thật chậm. Hình như cả hương Bổn cũng bước chậm. Dự La lên:
- Anh Năm mệt lên bờ ngồi nghỉ. Tôi cũng sắp xong. Để đó tôi qua cày giúp cho.

Tiếng Dự bay đâu đó trên không, không thấu tai hương Bổn. Hình như ông ta đuối hung rồi. Dự “dọ” bò dừng lại, bước vài bước về phía ruộng hương Bổn đang cày, nhưng chưa tới bờ đã thấy hương Bổn khụy xuống, tay vẫn nắm chặt chuôi cày làm cho nó nghiêng hẳn về một bên.

Dự hớt hải la lên:
- Anh Năm, anh Năm… làm sao vậy? Có bị sao không?
Lúc Dự tới nơi thì hương Bổn ngồi khụy xuống ruộng nước, mặt tái xanh. Dự luồn hai tay qua nách đỡ ông đứng lên:
- Anh có sao không?

Hương Bổn không mở được miệng chỉ lắc lắc đầu, nhưng cái lắc rất yếu. Dự hiểu tất cả. Ông bị lũi đói. Từng ấy miếng cơm độn ít ỏi từ chiều qua thì còn sức đâu để cày với bừa? Dự khom người thấp xuống quàng tay hương Bổn lên vai rồi du dần vào bờ, đặt nằm trên lớp cỏ lởm chởm. Dự lấy chiếc nón ngựa kê đầu, rót nước ra chén và vạch miệng đổ từng hớp nhỏ:
- Ít thôi nghe anh Năm, từ từ. Mà anh cũng thiệt lạ. Chòm xóm với nhau, ăn chút cơm ghé có gì là ghê gớm Tôi biết bụng anh trống nhưng không dám nài ép sợ anh giận. Thôi, cứ nằm nghỉ cho khỏe rồi mở bò. Tôi cũng mở. Mai tôi ra quanh mấy đường xong ngay. Chớ lo, anh Năm.

Nhưng Dự nói cho chính tai mình nghe vì đôi mắt hương Bổn đã nhắm nghiền, bên khóe ứa ra chút nước sền sệt. Ông không còn nghe và thấy gì nữa. Dự hoảng hốt thọc tay vào ngực người bạn cày hàng xóm, lạnh ngắt. Dự bàng hoàng, khóc ồ lên như nỗi uất ức lúc bị đẩy qua bờ rào chiêm chiêm, đè nén lại thành cục u nhỏ đầy gai nhọn, bấy lâu nay có dịp vỡ bung ra.
Hai đôi bò vẫn đứng yên tại chỗ. Bóng nắng thu tròn, nhỏ lại quanh hai người./.

Nguyễn Lệ Uyên

Cuối Năm Trên Thủy Điện Hòa Bình - Nguyễn An Bình

Anh 12 

Ngọn gió mùa đông
Vừa thổi qua cánh rừng trước mặt
Tôi đứng trên đập tràn nối dài
Hai bên núi cao sừng sững màu mây
Nơi từng là công trình ngày đêm ồn ào tiếng máy
Mấy ngàn ngày không ngơi nghỉ
Để nước hồ mênh mông lấp lánh màu ngọc bích
Mang dòng điện đi xa.

Tôi chợt nghe tiếng đàn Balalaica dìu dặt đâu đây*
Của cô gái Nga trên công trường thủy điện năm xưa
Còn bồng bềnh trôi qua núi đồi
Như đôi cánh thiên nga
Đem tiếng hát rộn ràng
Tạc vào vách đá
Sức sống tuổi hai mươi
Mang hoài bão đi cùng năm tháng.

Dòng điện từ lâu
Đã chảy về phương Nam xa tít
Thắp sáng
Từ cao nguyên hiểm trở tới biển đảo xa xôi
Và biết bao vùng quê nghèo khó
Những công trình mới lại mọc lên
Mang theo bao ước mơ cháy bỏng
Mang theo bao tình yêu của người thợ điện ngày nào
Tôi tự hỏi một trăm năm sau
Tại nhà truyền thống công trình thủy điện
Ai là người đầu tiên được nhìn thấy
Bức thông điệp gởi cho thế hệ mai sau**
Của những người công nhân sông Đà
Gởi ước nguyện của mình vào trong những dòng chữ ấy
Được mở ra
Khi cành đào nhà ai
Bắt đầu nhú lên chồi hoa xanh biếc.

Sông Đà, tháng 11-2017

*Mượn ý bài thơ Tiếng đàn Balalaica trên sông Đà của Quang Huy
**Trong khối bê tông hình chóp cụt đặt tại sân nhà truyền thống, nơi lưu giữ bức thư gởi cho thế hệ mai sau của những người xây dựng Thủy điện Hòa Bình sẽ được mở ra vào ngày 1-1-2100.

Nguyễn An Bình

Đôi Mắt Pleiku - Nguyễn An Bình

vietnam holiday destinations 001

Anh đi tìm tiếng hát
Ngọt nước nguồn Đắk Bla
Áo phơi màu thổ cẩm
Hương rừng bay rất xa.

Đàn ong đi tìm mật
Xanh ngút ngàn đồi thông
Lang thang miền sơn cước
Huyền thoại hồ T’Nưng.

Mặt nước hồ xanh thẳm
Soi dáng hình cao nguyên
Dã quỳ vàng bóng núi
Ráng chiều tím mênh mông.

Có đi trên độc mộc
Long lanh màu mắt em
Nghe tiếng chim kơ túc
Chợt thấy lòng bình yên.

Đôi mắt Plei-ku đó
Níu chân người qua đây
Hồ T’Nưng lộng gió
Một chiều mờ sương bay.

Nguyễn An Bình

Nói Với Em Sau Cơn Bão - Hoàng Định Nam

images1894385 hinh 2 thoi tiet phu yen mua mua 1 001

Khi em về, cơn bão đã qua lâu
Cây đã lặng và mây trời đã tĩnh
Nước đã trở lại dòng sông cố định
Mà người nay đã tan tác nơi đâu

Em trở về hiểu được nghĩa biển dâu
Thì tâm hồn đã hằn sâu vết xướt
Gió từ đâu mang dòng sông chảy ngược
Ngập hồn em, xám ngắt cả màu trời

Em đến đây từ đổ nát xa xôi
Từ chiến tranh ,từ hận thù đen tối
Tưởng chìm sâu dưới tháng ngày qua vội
Em đâu ngờ thêm lần nữa tang thương

Đất nước này ,em trải mộng mười phương
Giờ lại “đứng dưới một trời đổ nát”*
Dẫu cuộc đời có muôn ngàn bi đát
Có cần không, em nếm quá nhiều lần ?

Khi em về, đâu nữa những người thân
Nhà đổ sập, bên lòng em gò đống
Em ơi! biển vẫn xanh, sông vẫn rộng
Đường thênh thang cho lần nữa em đi

Triệu bàn tay dìu em thoát hiểm nguy
Cũng từ đó triệu làn hơi sưởi ấm
Truyền qua em từ những lòng rất đậm
Dù chẳng cùng ngôn ngữ, khác màu da

Có thể làm em chua chát, xót xa
Khi nhớ lại những gót chân cuồng bạo
Từ những kẻ cùng chung giòng máu
Đã bao lần vùi dập tuổi thơ em

Tuổi thơ em cơn ác mộng từng đêm
Ngày nắng cháy trên đồng khô mót ,lượm
Khoai, cháo thay cơm còn chưa đầy bụng
Cá thịt bây giờ là cổ tích xa xưa

Cha tù đày, mẹ đội nắng dầm mưa
Nuôi con lớn theo ngược triền gian khổ
Chưa vào đời đã trùng trùng giông tố
Thổi điên cuồng trên dốc ngược tưong lai

Rồi... mười mấy năm vàng những nắng mai
Em ấm áp giữa muôn tình xa lạ
Dẫu hôm nay Katrina ,nỗi buồn nghiệt ngã
Cũng còn đây-Em-triệu tấm lòng son .

Hoàng Định Nam

Xin Đừng Yêu Tôi - Chu Tất Tiến

Chu Tat Tien

Như tiếng gọi của lá cây buổi tối
Như lời ru của gió lúc hoàng hôn
Như bài ca chim hót một chiều buồn
Tôi muốn nói:
Xin đừng yêu tôi nữa
Những lớp sóng mặt hồ đang lặng lẽ
Xin đừng dâng làm thác chẩy tràn bờ
Những trưa hè đang bình lặng, đơn sơ
Xin đừng vẳng tiếng ồn ào đất lở
Tiếng trái tim đập nhanh hơn nhịp thở
Đã phập phồng như muốn vỡ không trung
Xin đừng cho tôi giọng nói ấm vô cùng
Thôi, em! Thôi!
Tôi và em,
Xa xôi lắm, không bao giờ gặp gỡ
Hãy để yên, minh tuy cùng thở
Nhưng, bao nhiêu ngăn cách trùng trùng
Và, xin đừng quên, tuy Chúa bao dung
Nhưng tội lỗi, khó được Người tha thứ
Vậy, thôi, đừng yêu tôi,
Đừng yêu tôi, em nhé..

Chu Tất Tiến

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013