Sầu...* Trần Phù Thế

Sầu Đâu Phương Nào
 
mười năm có lẽ mười năm
ta đi biền biệt gối nằm lạnh tanh
ta về nhớ cọng rau răm
sầu đâu làm gỏi lá chanh rất buồn
 
nghĩ rằng có lúc đi luôn
nghĩ rằng có lúc cái buồn đã thiu
làng xưa xóm nhỏ bóng chiều
phất phơ lau sậy liêu xiêu tội tình
 
ta về cây cỏ làm thinh
con chim sâu nhỏ một mình bơ vơ
hàng tre già cỗi bao giờ
lắt lay trong gió bên bờ sông đau
 
sầu đâu em hái hôm nào
tay thơm trộn gỏi tình trao chưa mờ
mười năm có lẽ không ngờ
ta đi biệt dạng em chờ mòn hơi
 
chiếc xuồng ba lá nằm phơi
nắng mưa rát mặt dòng đời lãng quên
ta về ngắm bóng mình ên
rêu xanh cũng nhạt bên thềm nhà em
 
ta về tìm chút hương quen
nhưng hương đâu mất và em đâu rồi
mười năm và mười năm ơi
lẽ loi ta đứng trông trời quạnh hiu.
 
24/3/2014
Trần Phù Thế

Hạ...* Trần Vấn Lệ

Hạ Đỏ Có Chàng Tới Hỏi
 
Thế là thôi, những ngày mưa đã hết!  Đang vào Hè, thằng bé đứng đăm chiêu, nó nhìn ra con ngõ, buổi chiều, nó thấy một người trai chậm bước…
 
Chàng trai đó ngó khu vườn xanh mướt, chàng đứng lại bên đường, đường vắng người đi.  Chàng thấy thằng bé, chàng muốn nói chuyện gì?  Thằng bé nghĩ thế và đi ra cho chàng gặp.
 
- Này em thơ!  Chị em đi đâu mất?  Em có thể vui lòng cho anh hỏi về chị em không?  Thằng bé dễ thương ghê, hai cánh tay vòng:  “Anh cứ hỏi, em biết gì sẽ nói.”.
 
Và chàng trai đưa ra câu hỏi:  “Chị em đâu…mùa Hạ đang về?”.  Thằng bé thả vòng tay, chỉ qua bên tê / một cánh đồng / trời còn nắng chiếu…
 
Thằng bé đáp một câu, một câu nhỏ xíu:  “Chị em đi chơi rồi, đi hái quả thời gian.”.  Thằng bé không nói thêm chi nữa với chàng, và, chàng trai, nhẹ nhàng cất bước…
 
Mùa Hạ đang về - về nơi thềm trước.  Mùa Hạ đang về - xanh mượt vườn cây.  Chị đẹp của em thơ đi đó đi đây…chắc đâu đó trong vườn hoa đang kết quả…
 
Chị đẹp của em thơ, tuổi trăng Rằm, à há, chút thơ ngây còn lại mấy nhiêu mô!  Chàng trai kia, có lẽ một nhà thơ, có lẽ đang nghĩ tới một mùa Thu, sắp sửa?
 
Chị đẹp của em thơ tóc trùm khăn lụa, đi ra đồng, đi ra suối, hái hoa.  Chị đẹp của em thơ rồi sẽ như trăng tà, trùm khăn trắng nằm yên trong lòng mộ…
 
Tôi tự hỏi:  “Mình có là chàng trai đó, đi tìm một người, nhớ lắm Huế ơi!  Biết bao nhiêu Xuân, Hạ tươi thắm qua rồi.  Biết bao nhiêu Thu xám, Đông ngậm ngùi…không kể!”.
 
Không ai không một lần không cầm khăn lau con mắt lệ…ngay cả đưa một người đi dù không đưa qua sông…huống chi ai tuyệt sắc giai nhân đã đi lấy chồng…quả-thời-gian xanh hồng rồi tím ngắt…
 
Trần Vấn Lệ

Đêm...* Dzạ Lữ Kiều

 Đêm Nguyệt Biều
*Tặng ĐH
 
Đâu ngờ …
về ngủ quê em
Một đêm mưa
trắng hạt mềm
lắt lay !
Vườn khuya
vàng vọt … đèn gầy
“Thanh trà”
vừa đủ nắm tay
người trồng
“Dâu xanh”
trĩu quả… sai chùm
Đêm - ảo giác
nợ mắt trần
quê em !
Hương nào ?
từ thuở mới quen
Như huyền thoại
đã mềm duyên
“Nguyệt Biều”
Chừ ta… đứng
giữa vườn yêu
Màu xanh vây kín
chắt chiu …nỗi lòng !
 
Dzạ Lữ Kiều

Ông...* Kinh Dương Vương

Ông Thơm
 
Tạo hóa công bình khi đặt sự sống dưới dạng hóa học là acit amin. Con người ăn bất cứ chất hửu cơ gì, tiêu hóa đều biến thành acit amin nuôi sống được cơ thể. Nếu người ta chỉ sống được nhờ cá, thịt bò, thịt heo, thịt trừu, thịt dê, bơ sữa - là những thức ăn cao cấp - chảy trong huyết quản thì dứt khoát người nghèo không thể sống được vì họ chỉ ăn rau, ăn cỏ, ăn củ, cua sò ốc hến vì các thứ thịt cấp cao hay cấp thấp cũng đều biến thành ra máu, thành acit amin.
 
Thân khỏe mạnh suốt thời gian dài trong nghịch cảnh cũng nhờ sự công bình đó của tạo hóa. Dạo ấy, người ta truyền miệng thành châm ngôn : "Cái gì nhúc nhích là ăn". Nhưng có một loại côn trùng nhúc nhích, lại rất nhiều mà không ai dám ăn. Riêng Thân dám ăn.
- Tại sao không ? Thân nghĩ. Bên Tây cũng có món ăn như vậy, mà còn cho là cao cấp nữa, chỉ giới quý tộc sang trọng mới có mà ăn. Ở đây loại côn trùng này chỉ khác môi trường sống thôi. Một hôm đi ngoài ở cầu tiêu lộ thiên, nhìn xuống hàng triệu triệu con côn trùng đang nhung nhúc, thỏa thuê hưởng thụ vũng phân người, Thân nghĩ ra món ăn đó : dòi phân.
 
Thân đan một giỏ tre lỗ nhỏ. Mỗi lần đi cầu lén múc đầy một giỏ dòi đem xuống suối tẩy rữa thật kỹ, luộc chín, cẩn thận thay nước nhiều lần, rang vàng, giả nhuyển trộn với vài thứ lá rừng thơm rồi cho vào lọ cất. Mặc dù vậy cái mùi chất thải thấm vào thịt dòi không thể nào mất đi được. Mỗi ngày trước khi đi ngủ, Thân kín đáo lấy ra, nín thở uống một muỗng canh với nước lả. Có người trông thấy tò mò hỏi, Thân nói trớ là uống thuốc Nam gia truyền.
 
Chẳng bao lâu nhờ chất protein thị dòi, Thân từ ốm yếu trở lại bình thường và khỏe mạnh, dù không được thăm nuôi, Thân ít bị đau ốm. Ðược tạm tha, Thân về gặp lại vợ con da thịt hồng hào.
 
Thân rất hãnh diện về sáng kiến của mình. Nhưng đó là một bí mật tuyệt đối của Thân, sống để dạ chết mang theo xuống mồ. Kể cả vợ con là người đầu gối tay ấp Thân cũng không hé môi.
 
Thân sống vui vẻ hạnh phúc, được mấy năm bỗng bị một chứng bệnh lạ.
Vợ Thân kể :
- Chị ạ, thoạt tiên ảnh kêu không ăn được cá thịt hoặc những món gì có mùi tanh. Mắm là món ảnh rất thích nhưng giờ chỉ ngửi xa xa cũng đủ làm ảnh không chịu nổi. Ảnh nói :
- Cái màu xám nhờ nhờ và cái mùi... giống món "thuốc Nam gia truyền" quá !
- Món thuốc gì anh ? Em thắc mắc hỏi.
- À không. Nghe mùi mắm trong cổ họng anh như có con gì ngọ nguậy... Rồi ảnh ôm bụng nôn thốc tháo, ra cả mật xanh mật vàng. Em phải mua đồ chay cho ảnh ăn, nhưng ảnh lại không chịu nổi mùi chao. Ít lâu sau, cơm cũng làm cho ảnh sợ. Thân nói :
- Nhìn vào chén cơm anh thấy ghê ghê làm sao. Cơm chúng bò nhung nhúc em ạ.
Từ đó ảnh chỉ sống nhờ bắp khoai ăn với muối.
Bỗng mặt chị đỏ bừng :
- Nói xấu hổ, vợ chồng em dạo sau này không ngủ chung nữa. Khi bệnh mới phát, những khi gần gũi ảnh chỉ tránh né không hôn em. Ảnh không dám để miệng chạm vào da thịt em chị à. Dường như da thịt em dơ bẩn vậy. Em hôn miệng ảnh cũng đẩy ra. Rồi ít lâu ảnh lơ hẳn chuyện vợ chồng, ra nằm riêng. Hễ em hay các con đến gần là ảnh lảng đi. Có một việc hết sức trái với tính nết ảnh, ảnh rất ghét nước hoa, kể cả em cũng không cho dùng, vậy mà bây giờ ảnh lại xức nuớc hoa, còn xức quá lố nữa. Mỗi ngày tắm bốn năm lần, kỳ cọ cả tiếng đồng hồ. Ngửi tay chân kiểu chó đánh hơi. Bị em bắt gặp ảnh nhìn em lấm lét. Em biết ảnh bị bệnh nhưng không biết bệnh gì. Ðưa đi nhà thương ảnh không chịu.
Một hôm ảnh nhìn em với ánh mắt xa lạ hỏi :
- Chị ngửi tôi có thối không ? Rồi ảnh cười. Một vũng phân đây nè. Dòi bò lúc nhúc chị không thấy hả. Chúng đang ăn thịt da xương tủy tui, chúng đục khoét thân thể tui... hà hà... Chị ạ, nhà em điên thật rồi.
 
Thân xa lánh hẳn vợ con, bỏ nhà đi lang thang. Từ đó Thân có biệt danh là "ông Thơm". Tiền có được từ những người hảo tâm Thân mua hết nước hoa tẩm vào người. Trẻ con chạy theo chàng gọi " ông Thơm... ông Thơm", nghếch mũi lên hít hít " thơm quá... thơm quá ".
Thân sống nhờ rau cỏ, bắp khoai hái trộm trên nuơng rẫy. Ăn nguyên chẳng nấu nướng. Có lần bị chủ rẫy bắt được đánh bể đầu. Vợ đem thức ăn đến Thân không ăn, chạy trốn.
- Cuối cùng ảnh sợ hãi tất cả mọi người, lánh ở những nơi vắng vẽ, có khi chui rúc ngồi trong lùm bụi.
Như vậy Thân cũng chưa yên tâm. Chàng cẩn thận viết tấm bảng " cấm hốt phân " đeo trên cổ, quàng ra trước ngực, sau lưng. Có người đùa dai khi gặp chàng làm cử chỉ như muốn vồ, Thân vừa chạy vừa la : "Ðừng hốt tôi ! Ðừng hốt tôi !".
Thân thể Thân càng ngày càng tiều tụy. Vợ Thân đưa chàng vào bệnh viện tâm thần, điều trị được ít lâu thì Thân mất.
 
Kinh Dương Vương

Mai...* Hoàng Xuân Sơn

Mai Sau 
Chẳng Có Gì Nhiều
(Tặng bạn Phạm Ngọc Lư)
 
Giải trừ phiền muộn trong ta
thưa em yên ắng là nhà biệt giam
chút bình yên mặc cả.  thầm
là mưa đậm tiếng trên bầm dập.  nghe
cuồng si nỗi chẳng đặng về
thì xin cây đứng bên lề cổ sơ
hai bàn tay mỏng vin thơ
thịt xương 1 bó cơ đồ 1 ôm
lá thuyền con.  ngực sóng chồm
trăng nghê đã chết giữa hồn ly tao
cười em còn hửng má đào
mà trong hương gió nghe sao buồn buồn
vai kề má tựa còn thương
hay chiều lạc bóng trăm đường quạ kêu
mai sau chẳng có gì nhiều
xin em cầm cố một liều đan tâm
 
Uống đi ta mấy đỗi.  nằm
bóng dương tịch mịch và trăm năm dài
con nước tuyền.  đọt nắng phai
mùa chiêm ảo vọng rơi ngoài hư không
biết vẫn còn ở thương mong
cầm em như chút tấc lòng quạnh hiu
biết làm sao nhắn lại chiều
gió mù biên cảnh đã theo về đời
vết cắt này chia em.  nơi
mờ mờ nhân dạng buổi người chưa đau
ta nay phố thị buồn rầu
quán xiêu hồn tạt mấy cầu thu mưa
thôi về quan ngại đò đưa
chuyến đời lưu viễn nghìn xưa đắm cùng
 
Hoàng Xuân Sơn

Giáng...* Phạm Cao Hoàng

Giáng Sinh Ở Việt Nam
 
nghe trong tiếng nhạc vàng réo rắt
gót chân ai bước xuống bên đời
cả trần gian nở hoa thơm ngát
hãy cùng nhau quì xuống đợi tin Người
 
lạy Chúa tôi đêm nay Người đã đến
mưa ngoài trời đang tạt giữa hồn tôi
tim có se nhưng máu tôi vẫn chảy
đời buồn tênh vẫn mỉm môi cười
 
giữa phù vinh có khi buồn ứa máu
sống như là đã chết giữa vô tăm
vẫn biết Người có trái tim nhân ái
mặt đất này còn đợi phúc Người ban
 
vẫn biết Người sáng danh Thiên Chúa
trong hồn tôi là bóng mát hiển linh
nên đêm nay tôi nghe lòng phơi phới
dù phúc kia đâu phải riêng mình
 
lạy Chúa tôi đêm nay Người có thấy
đường tôi đi lớp lớp mộ bia xanh
có phải sống là tự mình hủy diệt
tự lưu đày giữa biên giới phân tranh
 
có phải sống là rơi nước mắt
khóc ngậm ngùi bên những dải khăn tang
Chúa tôi ơi Người có nghe tiếng súng
nổ bên trời hiu hắt giọt mưa sương
 
tôi vẫn đợi một ngày được thấy
chút yên bình của thuở xa xưa
và trên cánh đồng thơm lúa chín
cánh diều bay trong gió dật dờ
 
tôi vẫn mơ có một chiều trở lại
những con đường rộn rã bước chân quen
hay giữa lòng heo may tháng chạp
tiếng còi tàu giục giã đêm đêm
 
nhạc vẫn trổi bên bờ vô tận
hãy cúi đầu chờ đợi phút linh thiêng
dìu dặt tiếng thánh ca trong mưa bấc
nghe vang vang trên mặt đất ưu phiền
 
lạy Chúa tôi đêm nay Người đã đến
trong hồn tôi hoa nở đóa nhiệm mầu
trăm năm sau dưới trời cô độc
tạ ơn Người này một trái tim đau
 
Phạm Cao Hoàng

Người...* Túy Hà

Người Lính Già
 
Tôi là người lính gìa
Trên đỉnh đời cô độc,
Mê mải một vầng trăng
Trên quê người dấu mặt.
 
Tôi là người hát dạo
Mê mải khúc đồng dao,
Nửa đời thân phiêu bạt
Nhớ quê nhà nao nao.
 
Lính già thương trận mạc
Mơ đoạt ấn công hầu.
Của một thời xa ấy
Nay còn đâu còn đâu.
 
Nghệ nhân đầu chưa bạc
Tay buông phím hững hờ,
Tướng quân chưa đoạn kiếm
Sao dừng vó giang hồ.
 
Biết trăng tròn rồi khuyết
Thiên địa cũng lặng thinh.
Hỡi những người được cuộc
Vô thường là u-minh.
 
Bạc đầu người lính cũ
Có mơ một bình minh.
Trắng tay ta hát dạo
Vẫn nhớ điệu xuân tình.
 
Túy Hà

Cậu...* Nguyễn Xuân Thiệp

Cậu Bé Đi Tìm
Mặt Trời Trong Đám Lá Khô
 
đôi khi
thấy buồn
anh muốn làm cậu bé
đi tìm mặt trời trong đám lá khô
cậu sẽ gặp
con ong của emily dickinson
kể chuyện mùa hoa loa kèn sắp nở
và cậu cũng gặp
con dế. gáy. dưới bụi cỏ
kể chuyện vầng trăng lãng du
cậu đi lang thang
qua xứ của hoa fuki
tuyết vừa tan
nắng lên rực rỡ
cậu gặp những vị bụt tí hon
cùng nhau múa hát
quên đường về
 
chỉ là chuyện xưa. cổ tích. thôi
cũng xin gởi tới người
 
Nguyễn Xuân Thiệp

Gặp....* Lương Thư Trung

 Gặp
Nhà Văn Lâm Chương
Bên Bờ Hồ Mystic
 
Cuối tháng bảy rồi mà vùng bắc Mỹ này vẫn đang là mùa Hè. Trời nắng gắt. Gió thổi rào rào nhưng không khí cứ nóng hầm hập như lò gạch đỏ lửa. Thịt da người như muốn khô rang khô khốc trong cái nắng cháy bỏng của nơi chốn này. Đi loanh quanh tìm bóng mát dưới những hàng phong, hàng thông già, tôi lại gặp nhà văn Lâm Chương nơi bờ hồ Mystic vùng Medford, đang đứng ngắm nghía một cái đầm lầy đầy những bụi lác, bồn bồn, rau mác...
Tôi biết Lâm Chương từ vài năm nay, nhưng có lẽ tôi quí mến anh vì anh có nhiều khí chất một người nhà quê mê ruộng vườn, đặc biệt hai ngón tay kẹp điếu thuốc rặt người miền quê. Đời sống của Lâm Chương thanh đạm như cái dáng vẻ bình dân, mộc mạc hằng ngày. Gặp tôi bất chợt nơi cái đầm bùn lầy này anh vui lắm. Anh hỏi tôi loại lục bình này, bụi cỏ kia mà chừng như lâu lắm rồi anh mới được gặp lại. Tôi cũng thích nói chuyện với anh về cỏ cây, vì, so với Lâm Chương, tôi có những năm tháng gần gũi với đồng ruộng khá lâu, dễ chừng có đến mấy mươi năm cày sâu cuốc bẩm chứ ít ỏi gì! Lâm Chương chỉ mấy bụi rau mác có hoa màu tím, nói với tôi:
 "Ông Trung ơi, mấy bụi lục bình này tôi thấy ở chợ họ có bán nhiều lắm"; rồi anh tiếp: "chừng nào dìa, tui bứng vài bụi để trồng thử."
Dường như với ai, trong những anh em quen biết với anh, anh đều gọi người đối diện bằng chữ "ông" vừa rồi như vừa quen thân vừa sơ ngộ, vừa gần gũi vừa xa lạ mà vẫn giữ được chỗ thân tình, tương kính lẫn nhau. Như "ông Phan Xuân Sinh", "ông Trần Trung Đạo", "ông Dư Mỹ", "ông Thanh", "ông Nguyễn Trọng Khôi", "ông Trần Doãn Nho" v.v... Và anh cũng đã gọi tôi bằng "ông" như vậy.
 Tôi ôn tồn nói với anh: "Mấy bụi này là rau mác, không phải lục bình anh à! Lục bình là loại thủy thực vật nổi với căn hành dài, lá có cuống phù xốp, phiến lá láng; còn rau mác thuộc loại nê thực vật có củ, lá thon hoặc lá bầu; do đặc tính đó nên lục bình thì lang bạt nổi trôi trên mặt nước, còn rau mác lại thích bám rễ sống trên mặt bùn như cái vũng lầy này, nhưng cả hai đều có bông màu tím và đều có thể ăn sống được, nhất là ăn với mắm kho càng bắt cơm lắm!"
Lâm Chương "à" một tiếng rồi vứt tàn thuốc lá xuống bụi cỏ gần đó sau khi rít một hơi  dài. Như đang theo đuổi cái ý nghĩ sẽ nhổ vài bụi rau mác, vài bụi lác mang về nhà trồng vào cái chậu nhỏ, Lâm Chương nhìn những bụi rau, bụi lác bên rìa cái đầm lầy lấp xấp nước đến mắt cá chân như người bị bùa. Trông anh có vẻ đang mê ly mấy loài cỏ nội hoa đồng này lắm. Mà anh mê thật, vì chừng như lâu lắm rồi, Lâm Chương mới gặp lại những loài cỏ mà ngày nào chiến tranh còn mịt mù khói súng đạn bom trên khắp cùng quê hương, mỗi bước chân người lính đi ngang qua vùng hành quân đều phải nhiều phen vướng bận những đầm lầy đầy những cánh hoa màu tím của loài lục bình phiêu bạt, giang hồ. Bây giờ, bắt gặp những loài cỏ hoang dã cũ, làm anh nhớ lại những vùng quê heo hút, hoang rậm tiêu điều, và cũng gợi anh nhớ về một thời binh lửa xa xăm... Những vùng thôn dã mà đã biết bao lần người dân phải chạy bườn lên nhau để tìm chỗ trú đạn rú, súng gầm nghe như rượt đuổi sát rạt từ phía sau lưng nóng bỏng...
Lâm Chương hỏi tôi cỏ bồn bồn là loại cỏ gì? Tôi nhắc anh còn nhớ truyện ngắn "Rừng Mắm" của Bình Nguyên Lộc không? Ở trong truyện này có nhắc cảnh hai vợ chồng ở xa, nghe đâu từ trên miệt Sa Đéc, bơi xuồng xuống vùng Ô Heo nhổ bồn bồn về làm dưa để bán kiếm tiền mua gạo, rồi gặp thằng Cộc giữa vùng hoang dã ít người này. Lâm Chương "à" một tiếng như vừa nhớ ra câu chuyện Rừng Mắm rồi. Tôi nói tiếp, cỏ bồn bồn cũng là một loại nê thực vật đa niên. Lá dẹp, dài, cứng, thẳng đứng và có bẹ ôm thân; bồn bồn thường mọc và sống nơi đầm lầy, lung vũng, ao hồ cạn; dưa bồn bồn ăn giòn giòn như dưa ngó sen vậy mà! Rồi tôi chỉ cho anh mấy bụi bồn bồn gần chỗ anh đang đứng. Lâm Chương gật gật đầu như vừa đồng ý, vừa không mường tượng được dưa bồn bồn ra làm sao vì anh chưa ăn dưa bồn bồn lần nào, nhưng anh có ăn dưa ngó sen mà má anh đã mua ở chợ làng cho anh ăn hoài hồi anh còn nhỏ lúc ở nhà quê. Lâm Chương vừa bật cái hộp quẹt ga, châm thêm điếu thuốc mới. Anh hít một hơi dài . Khói thuốc gắt làm anh hơi sặc nhẹ. Tôi thấy anh hơi đỏ mặt. Không biết có phải vì nắng nóng hay vì anh mới vừa hắt hơi mấy cái... Và rồi, khi vừa tàn điếu thuốc, Lâm Chương rủ tôi nhổ vài bụi rau mác về trồng cho vui . Tôi thấy anh hì hục lựa lựa, chọn chọn một hồi rồi cũng nhổ được mỗi loại một bụi còn xanh dờn, và anh bỏ vào cái túi nylon gọn gàng, tâm đắc. Nhưng anh than với tôi: "Bây giờ sao tui yếu quá ông Trung; mới nhổ có vài bụi bồn bồn, rau mác mà nghe trái tim đập đùi đụi, thở không kịp ông Trung à!" Tôi nói với Lâm Chương, mình bây giờ già rồi anh. Vả lại, ai cũng vậy, giống nhau, "sanh, lão, bịnh..." là con đường ai cũng phải qua mà, làm sao tránh khỏi! Tui cũng đâu hơn gì anh. Sau nhiều năm lội thụt mạng trong rừng tràm vùng U-Minh Thượng rồi về quê làm ruộng cơ cực, bây giờ chưn tay cũng rã rời, bủn rủn như con bún thiu. Lâm Chương nhìn tôi thông cảm như có bạn đồng hành trên con đường lận đận tuổi ngoài năm mươi này...
 Phía trước mặt chúng tôi, cách cái đầm lầy nhỏ này chừng vài mươi thước là hồ Mystic thênh thang nước mát. Tôi đề nghị Lâm Chương đến mé nước rửa tay vì vừa dính chút bùn non. Bước qua khỏi con lộ nhỏ, bờ hồ nằm sát bên mé lộ. Tôi sững sờ nhìn xuống mặt hồ khi tình cờ bắt gặp một mảng lớn bông súng xanh lặt lìa chạy dài gần giáp chu vi cái hồ rộng. Những chiếc lá bông súng hình tròn lớn bằng cái dĩa bàn, nhỏ bằng cái miệng chén che khuất mặt nước bít chịt xen lẫn nhiều chiếc bông đã nở màu trắng nhụy vàng rải rác khắp mặt hồ. Tôi mừng như chưa bao giờ được mừng khi được đứng bên mé nước nhìn những bụi bông súng đang ngâm mình trong hồ nước mát này.
Tôi kể cho Lâm Chương nghe về những cánh đồng bông súng của miền đồng bằng sông Cửu Long. Hằng năm, vào những mùa nước nổi, nhà nghèo thường giạt về miệt Ba Răng, Đốc Vàng, Đồng Tháp Mười, Cầu Số Năm, Tri Tôn hoặc qua An Phú, Hồng Ngự, Lỳnh Quỳnh, Ba Thê để nhổ bông súng về bán. Bông súng mọc vượt theo nước. Nơi nào nước sâu bông súng có cọng dài, nơi nào nước cạn bông súng ngắn; có nơi bông súng dài đến bốn, năm thước là thường. Bông súng nở vào buổi sáng khi mặt trời vừa mọc. Người ta nhổ bông súng là nhổ những cọng nào có bông, dù bông búp hay bông nở. Do đó mà những xuồng ghe nhổ bông súng thường bắt đầu lên đồng vào sáng sớm tinh sương để chiều về tìm nơi trú ngụ, phòng khi mưa bão vào ban đêm và sáng hôm sau lại đi nhổ bông súng tiếp cho đến khi đầy ghe, đầy xuồng mới về đem bán khắp các chợ. Cánh đồng bao la với nước là nước, khi có mưa chướng sóng to là mối nguy cho những ghe xuồng bềnh bồng trên đồng trống... Tôi kể cho Lâm Chương nghe thêm, ở trên đồng có hai loại bông súng. Đó là bông súng ta và bông súng ma. Bông súng ta cọng lớn, đài hoa xanh, cánh hoa trắng, nhụy hoa vàng; còn bông súng ma cọng nhỏ, rất mảnh mai, bông nở nhỏ. Vì phần đông từ các nơi phải đi xa nhổ bông súng là để bán, nên người ta chỉ nhổ bông súng ta mà thôi. Bông súng ma nhổ lâu đầy xuồng mà bán cũng chẳng được mấy đồng nên ít người nhổ là vậy.
Lâm Chương hỏi tôi: "Vậy chớ bông súng ngoài việc ăn cái cọng, mình còn ăn được gì nữa không ông Trung?"
Tôi trả lời anh: "Được chớ anh, lá non ăn với cá kho, mắm kho, cá lóc nướng trui cũng ngon lắm."
Rồi tôi kể cho Lâm Chương nghe tiếp vào những năm đồ khổ, ở miệt dưới tôi, người nghèo bị đói lên đói xuống vì loạn lạc, vì ruộng nương thất bát quá mạng, người ta còn hái trái bông súng về ăn nữa anh à! Lâm Chương tỏ vẻ nghi ngờ người ta mà ăn trái bông súng nữa sao! Tôi giải thích thêm, trái bông súng tròn bằng cườm tay, hột nhỏ rứt như hột é tía, người ta gọt vỏ rồi nấu chín ăn cũng đỡ khổ. Có một loại gần giống với bông súng về hình dáng, về cách mọc, về môi trường sống nhưng chỉ khác với bông súng là bông của chúng rất nhỏ và gốc của chúng có củ. Và loại củ này, ở miệt ruộng vào những tháng nước giựt, người nhà quê hay đi móc những củ này về nấu chín rồi lột vỏ ăn, rất ngon. Đó là những bụi củ co mọc rải rác khắp các lung vũng trên đồng, một loai cỏ thủy sinh đa niên nhỏ, lá có màu xanh đậm mặt trên và màu nâu ở mặt dưới. Có củ nhỏ bằng ngón chân cái, nhưng có củ cũng lớn bằng cườm tay nữa. Loại củ co này ăn gần giống củ nưa, hoặc như củ khoai môn đúm, khoai cao. Nhiều lúc người ta cũng ăn củ co cho đỡ đói nữa!
Đang nói chuyện bông súng, củ co, Lâm Chương nhìn xuống nước thấy hai con ốc đang đeo bụi bông súng nhúc nhích cử động. Tôi vói tay vớt hai con ốc đưa cho Lâm Chương và tôi nói loại ốc này là ốc bươu vì có cái đít nhọn, vỏ mỏng.
Lâm Chương tò mò hỏi thêm, "còn ốc lác là ốc gì ông Trung?"
Tôi lại giải thích: "Ốc lác là ốc có cái đít bằng, vỏ ốc dày, sống chui dưới đất vào mùa nắng, mùa mưa bò lên theo các vũng nước."
Sẵn có Lâm Chương hỏi, tôi như có dịp nhớ đồng, nhớ ruộng kể luôn cho anh nghe về cách bắt ốc, hái rau ở nhà quê. Tôi thí dụ cho anh thấy, chẳng hạn như đám bông súng trước mặt đây, ốc đeo theo mấy lá bông súng khuất bên dưới. Muốn bắt ốc chỉ cần chống cái xuồng rà ngang cho lá bông súng chìm xuống là bao nhiêu ốc đều rời khỏi nơi nó đang đeo rồi nổi lên mặt nước. Cứ thế mà lượm ốc bỏ vô xuồng. Hết vạt rong này đến đám bông súng khác, nếu đi suốt ngày ốc có khi đầy xuồng hoặc ít nữa cũng được vài thùng, vài giạ.
Rồi tôi kể cho Lâm Chương cách bắt ốc khác cũng dễ dàng lắm, là chặt những cây đu đủ già lão, rồi chẻ làm hai đem bỏ những thân đu đủ này xuống mương, xuống lung vũng để vài hôm sau trở lại, ốc đeo đầy mấy thân cây đu đủ này. Chỉ còn có cách lượm ốc bỏ vô xuồng đem về luộc với lá ổi, lá chanh, lá bưởi, lá sả rồi dùng gai cam, gai bưởi lể ốc béo ngậy chấm nước mắm sả ớt đưa cay vài lít rượu trắng mới ra lò là hết sẩy.
Lâm Chương vốn ưa rượu, nghe tôi kể, bèn bảo: "Ông Trung nói làm tui thèm quá mạng!", rồi anh hỏi tiếp: "Còn ốc gạo là ốc gì nữa?"
Tôi trả lời anh: "Khác với hai loại ốc bươu, ốc lác ở trên đồng, ốc gạo lại sống dưới sông cái dọc theo các đuôi cồn mới nổi. Đặc biệt, vùng sông Tiền Giang, dưới Sa Đéc, Vĩnh Long người ta mò hoặc cào ốc gạo để bán cho khách bộ hành qua lại hai bên bờ bắc Mỹ Thuận nhiều lắm. Những con ốc này lớn bằng ngón tay, hoặc ngón chân, vỏ màu xanh lợt, ruột ốc trong ngần trông thấy phát thèm. Người ta bán ốc bằng cái lít đong gạo. Khi mua ốc gạo coi chừng ốc bị chết vì người ta rộng lâu ngày. Trong một nồi ốc mà có vài con ốc chết là mất ngon."
Tôi đề nghị Lâm Chương cầm hai con ốc bươu này về cho vô bếp lửa là anh sẽ có hương vị ốc bươu nướng ngon lành. Nhưng anh nói hai con ít quá, thôi phóng sanh cho nó sống làm phước. Tôi nhìn vẻ thành khẩn của anh. Lâm Chương nói tội nghiệp nó. Hai con ốc được anh bỏ dưới nước và chúng từ từ bò đi vài tấc... Đứng gần mé nước, tôi thấy da mặt mát lại.
Lâm Chương vì biết tôi nhà quê, nên có dịp là anh hay hỏi tôi đủ điều, nhất là những chữ dùng ở địa phương, những loài bông hoa, những tên gọi một vài vật dụng vào thời điểm cách xa bây giờ để anh dùng cho những truyện ngắn anh đang viết. Có lần anh hỏi bông sao, bông dầu khác nhau thế nào; cào cào khác châu chấu ra làm sao; cái "cạt- vẹt" xe còn gọi là gì nữa; chệt đai con sau lưng khác với đồng bào thượng mang gùi không? và còn nhiều câu hỏi nữa...
Là một nhà văn với tập truyện đầu tay Đoạn Đường Hốt Tất Liệt do Văn Mới xuất bản, Văn Nghệ tổng phát hành tại Hoa Kỳ (1998), được văn giới biết đến như một luồng gió mới, một tác giả tạo được uy tín hiện nay trên văn đàn nhưng Lâm Chương vẫn giữ được cái đức tính khiêm cung đáng quí, luôn lắng nghe những nhận xét của người đọc. Trong các truyện của anh, cái cẩn trọng luôn luôn được anh quan tâm từng chữ dùng, từng dấu chấm, dấu phết, làm thế nào, dù người đọc khó tính vẫn khó mà bắt bẻ anh được. Câu văn của anh luôn ngắn gọn. Họa hoằn lắm người đọc mới có dịp bắt gặp một câu tương đối dài, nhưng ở đó cũng có nhiều dấu phết ngắt đoạn. Độc đáo nhất, ở truyện của Lâm Chương là những câu đối thoại gần như những câu mà anh đối đáp, trao đổi với bằng hữu hằng ngày, tạo cho người đọc có ấn tượng mình phải theo hoài những mẩu đối thoại có duyên, hấp dẫn để tìm ra cá tính của mỗi nhân vật. Dịp này, tôi có đưa ra nhận xét một cách tổng quát vừa nêu trên đối với các văn phẩm của anh như vậy.
Lâm Chương trầm ngâm một hồi, rồi không chần chừ, anh hỏi tôi: "Ông Trung dạo này có đọc mấy báo Văn và Văn Học không?"
Tôi nói: "có."
Anh hỏi tiếp: "Ông thấy "Trường Sơn, Gửi Lòng Ở Lại" của tôi trên Văn Học số Tháng 7-99 được không?"
Với một câu hỏi quá đột ngột về một truyện mới nhứt của anh, nói đúng hơn đây là một loại ký sự, hoặc tùy bút, tôi không thể nói dối anh được, nên đành trả lời: "Tôi thấy thích "Thượng Du, Niềm Thương Nhớ" hơn "Trường Sơn, Gửi Lòng Ở Lại", dù cả hai cùng viết về những năm tháng cùng với núi rừng, một đằng núi rừng Hoàng Liên Sơn, một đằng với núi rừng Trường Sơn. Nhưng dù là "niềm thương nhớ" hay "gửi lòng ở lại", cả hai đều nói lên cái tính cách nhân bản, tình người của chính tác giả."
Lâm Chương dường như không phải suy nghĩ và gật đầu như đồng ý với nhận xét của tôi. Dường như Lâm Chương là một trong hai nhà văn mà tôi được gặp luôn luôn lắng nghe ý kiến của người đọc và chịu khó xem kỹ lại bản thảo của mình khi cần. Người thứ hai là bạn văn của anh, nhà văn Trần Hoài Thư. Trường hợp truyện ngắn "Những Ngày Mắc Cạn" của Lâm Chương, trên Văn Học, là một thí dụ về bản thảo được anh sửa đi sửa lại nhiều lần sau khi bạn bè anh đọc thử và có đưa ra vài nhận xét.
Dưới mặt hồ có vài con cá đang ụp móng. Theo kinh nghiệm những tháng năm giăng câu trên đồng, tôi đoán dọi cá ụp móng như vậy là cá lớn.
Tôi khều tay chỉ cho Lâm Chương và nói như tôi đang nhớ những ngày đi giăng câu, giăng lưới hồi còn ở bên nhà: "Mấy con cá này, nếu có một tay lưới cá trắng bủa cập mé bông súng là dính liền đó nghe anh!"
Lâm Chương hỏi tôi cá dính lưới rồi làm sao gỡ. Tôi trả lời anh, lo gì anh, mình nằm xấp xuống mũi xuồng, cứ thủng thẳng nắm con cá cho chắc ăn rồi gỡ cá bỏ vô khoang xuồng mấy hồi. Cá nào lớn hơn lỗ lưới mình gỡ ngược. Cá nào vừa bằng lỗ lưới mình gỡ xuôi.
Tôi sẵn dịp nói đùa với Lâm Chương chơi cho vui: "Chẳng khác nào như anh viết văn vậy mà! Có cảm hứng về một đề tài nào, lo gì không có tác phẩm hay, hấp dẫn."
Như nhớ lại gần cả tháng nay anh thường bị chứng "nhức đầu đông", Lâm Chương tâm sự:" Gần tháng nay tôi bị nhức đầu quá mạng ông Trung. Bác sĩ cho thuốc uống thì đỡ đỡ, nhưng uống thuốc này lại bị ngầy ngật quá!" Rồi anh tiếp: "Ông có đọc "Hồi Ký Viết Trên Gác Bút" của Nguyễn Thụy Long chưa?" Tôi trả lời anh: "Có đọc rồi." Lâm Chương hỏi tôi thấy sao? Tôi nói với anh, làm nhà văn như Nguyễn Thụy Long, nghĩ cũng quá lận đận phải không anh? Lâm Chương chậm rãi một hồi, rồi đưa ra nhận xét:"Đọc quyển sách đó mình biết thêm về nhiều điều lúc mình không có mặt ở Sài Gòn sau năm 75, nhưng theo tôi, dường như tác giả bây giờ già quá rồi và rượu làm hại ông quá mạng, nên "hồi ký vẫn là hồi ký".
Tôi không hiểu Lâm Chương muốn nói gì qua mấy chữ "hồi ký vẫn là hồi ký", nhưng lại sợ Lâm Chương nhức đầu, nên tôi bắt qua chuyện đồng quê với hồ bông súng trước mặt. Tôi giải thích thêm cho anh về cách rê cá lóc trên những vạt bông súng bằng mồi nhái như vạt bông súng này. Nhất là mấy chỗ nào người ta chưa đến câu, mình rê một hồi là đầy giỏ như chơi. Lâm Chương dường như nhớ lại hồi còn trẻ, mỗi lần từ Tây Ninh xuống thăm người chú ở miệt kinh xáng Bốn Tổng, anh cũng thường theo xách giỏ cho ông chú rê cá lóc dọc theo bờ kinh xáng, hoặc mấy cái lung, mấy miệng đìa, mà nhiều lúc cá nhiều quá anh quẩy không muốn nổi.
Rồi Lâm Chương nói nhanh như đã suy nghĩ từ lâu lắm: "Ông Trung là một người làm ruộng rặt, không ai nông phu hơn ông."  Tôi cười và tiếp lời anh: "Tôi mừng nhứt là ai ai cũng biết mình làm ruộng. Tôi thích nghề này lắm anh, vì làm ruộng là nghề của mọi nghề mà!"
Tôi nhìn một lượt qua mặt hồ và đếm thử có bao nhiêu bông súng đang nở nhưng mắt tôi không làm sao đếm nổi vì cả mặt hồ này như một cánh đồng nước nổi tháng tám, tháng chín, tháng mười ở vùng đồng ruộng quê tôi. Tôi đếm đi đếm lại nhiều lần nhưng đành bất lực. Nhìn cái túi nylon đựng mấy bụi rau mác, bồn bồn Lâm Chương đặt gần mé nước còn tươi rói, tôi rủ anh cùng về với tôi. Chúng tôi đi về ngang qua con lộ nhỏ, và tôi còn nhìn ngoái lại những vạt bông súng xanh rì phía sau lưng. Bất chợt, tôi bắt gặp Lâm Chương tay xách túi nylon đựng rau mác cũng nhìn những bông súng trắng nhụy vàng lớp lớp trên mặt hồ Mystic giữa trưa hè... Đi ngang qua mấy người bạn Quảng Nam đang vui chơi trên một nền cỏ cạnh bờ hồ, như một buổi picnic, các anh Phan Xuân Sinh, Trần Trung Đạo, Dư Mỹ, Nguyễn Ngọc Thanh và nhiều người quen khác, ai cũng hỏi Lâm Chương về mấy bụi bồn bồn, rau mác đựng trong túi nylon. Lâm Chương rất vui vẻ chỉ chỗ cái đầm lầy kế bên bờ hồ còn đầy dẫy những bụi cỏ quen quen với màu xanh của đồng ruộng chưa cày phơi đất.
Trên đường về, trời nắng chang chang. Ngọn gió nóng hầm hập lùa vào cửa xe, nhưng tôi thấy dường như Lâm Chương không để ý mấy. Anh cứ giữ chặt cái túi nylon vì sợ mấy cây cỏ nội hoa đồng của anh bị héo giập vì trời quá nóng. Tôi chợt tự hỏi mình: “Làm sao có thể hiểu được một người xa cố hương đang nghĩ gì khi họ tình cờ gặp lại những loài cỏ nội hoa đồng quen thân cũ cũng đang có mặt ở một hồ nước u tịch xa lạ này!!!”
 
Lương Thư Trung

Thơ Trần Yên Thảo

Lục Bát
Trần Yên Thảo
*
Bờ Nước Đục
 
Sông về gọi thức hồn ma
lao xao cỏ mộ vài ba tiếng cười
ngàn năm bên lở bên bồi
nước sông khó rửa lòng người bên sông.
 
Hạt Bụi
 
Cá nằm trên cạn chờ mưa
Vũ môn đã quá còn chưa thành rồng
ngờ thương em bậu khóc ròng
hóa ra hạt bụi giữa tròng con ngươi.
 
Chiếu Trăng
 
Tiếng cười xé lụa đầu non
tan trong vô lượng hãy còn vọng âm
mảnh trăng tơ rọi chiếu nằm
chưa nghe đá nói ngàn năm còn chờ.
 
Soi Gương Thấy Giặc
 
Sơn khê phá vỡ mạch nguồn
từ khi khói bếp rẫy ruồng nồi niêu
vỏ sò chứa chấp ruột nghêu
đường tơ kẽ tóc đã phiêu dạt rồi.
 
Lối Trăng
 
Thỏng tay xách dép qua rừng
thương cây cỏ
vốn chưa từng nghỉ ngơi.
Sánh vai tiều lão vui chơi
trăng
không tỏ lối
về nơi không về.
 
Hạt Bụi Đường Gươm
 
Bụi hồng chưa bén lò cừ
đem thân mê muội, mê từ thiếu niên
đón đường gươm của tự nhiên
đã nghe buốt lạnh nhiều thiên thu rồi.
 
Trần Yên Thảo

More Articles...

Page 1 of 25

Start
Prev
1
Search - Content
Search - Weblinks
Search - Contacts
Search - Categories
Search - Sections
Search - Newsfeeds
Search - JComments

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:
Xuân Du
Túy Hà
Phạm Tương Như
Songthy

Tác Giả

Time Zone Clock

Who's Online

We have 15 guests online

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013

Tìm bất kỳ bài viết nào theo vần A B C

Google Analytics Alternative