Trúc Thanh Tâm

Mây Trắng Phía Nhà            
 
Lắng nghe sông núi trở mình
Đâu đây tiếng vạc ăn xin đêm dài
Đếm đời oằn những ngón tay
Vậy mà chưa giáp trần ai lụy phiền
 
Lúa thơm xứ sở bưng biền
Cọng rau đắng đất thương miền hoang sơ
Ngọn tre cong tuổi ấu thơ
Từ hôm con sáo bỏ bờ giồng bay
 
Gió qua vườn cũ thở dài
Ta qua vườn cũ vướng vài sợi mưa
Chợ đời bán ít người mua
Chuyến xe định mệnh vẫn chưa khởi hành
 
Bao năm tính cuộc ân tình
Ta lời số phận tóc mình sương pha
Vườn cau, mây trắng phía nhà
Còn đâu cục đất còn là quê hương !
 
1.Thời Gian 
 
Hình như suối cũng tương tư
Khi hương và gió đến từ nẻo xa
Cuộc đời còn lại đôi ta
Mắt chìm trong mắt sợ già thời gian !
 
2. Lộc Xuân               
 
Nhạc trời rớt lại tiếng xưa
Trong mầm cây nhú một mùa tóc tơ
Thời gian cánh én đưa đò
Trái tim hé cửa đón chờ lộc xuân !
 
3.  Hương Đời        
 
Thuyền trăng trời kéo cánh buồm
Chơi vơi sóng bạc cọng buồn bấp bênh
Đời còn nhiều thứ ta quên
Chỉ còn tình để mình tìm về nhau !
 
4. Đáng Yêu                        
 
Dựa đầu, nhích sát vào thêm
Không gian mở lối chiều quên nắng rồi
Giật mình, chiếc lá thu rơi
Em ơi có thấy đất trời đang yêu !
 
Mừng Sinh Nhật Tôi                
 
Tôi đi nhặt hết nỗi buồn
Để cho sông chảy về nguồn cội xưa
 
Tôi đi nhặt hết hẹn hò
Để cho chung thủy qua đò nhân duyên
 
Tôi đi nhặt hết mưa quên
Để cho nắng nhớ từ tiền kiếp ta
 
Tôi đi nhặt hết hương hoa
Để cho trái đất còn quà tặng nhau .
 
Rằm tháng 7. 2014
Trúc Thanh Tâm

Trần Vấn Lệ

May Mà Em
Còn Nhớ Một Vầng Trăng
 
 
Không ai về thăm Quê Hương mà lòng không vui!
Anh hỏi thăm em nghe tiếng em cười
Không chỉ em mà còn của bà con cô bác
Tưởng tượng căn nhà giòn giã mùa Xuân!
 
Người đi xa đem về nụ hôn
Nở bùng lên thành nhang thành khói
Không ai sống đến muôn năm để chờ để đợi
Mẹ Cha trong bức hình còn mãi mãi dễ thương!
 
Anh hỏi thăm em, em nói cũng có buồn
(Đời dâu biển, sao không buồn cho được?)
Em thí dụ:  Ngoại không còn ngồi hiên trước
Gió chải tàu cau, em nhớ Ngoại quá chừng!
 
Gió chải tàu cau…anh nghe em nói mà rưng rưng
Em nhắc Ngoại khiến lòng anh thắt lại
Ờ nhỉ nếu Ngoại còn thì vườn cau em ra hái
Trái nào ngon về khoe Ngoại phải không?
 
Anh hỏi thăm em về con sông
Về những con đò ngang đò dọc
Anh xin lỗi em đã làm cho em khóc
Em nghĩ anh buồn chuyện em đi lấy chồng xa…
 
Anh hỏi thăm em chuyện nước chuyện nhà
Em đáp lãng là em không để ý
Em chỉ nói trăng đây như trăng Mỹ
Em đang ôm trăng em thủ thỉ với trăng!
 
Không khéo mà anh sẽ còn hỏi lung tung
Rồi trăng rụng…làm sao em hốt?
Mười bảy tuổi em bỏ anh đột ngột
May mà em còn nhớ một vầng trăng!
 
Trần Vấn Lệ

Du Tử Lê

Ngọc Lan Và, Nơ Vàng.
 
hãy hình dung ngày tôi gắn nơ vàng, cho cây ngọc lan
(dù) nơi gốc, nhiều chiếc lá xanh / mang tên mẹ tôi
đã rụng.
 
hãy hình dung ngày tôi gắn nơ vàng, cho cây ngọc lan
như tập quán người Mỹ
cầu nguyện cho chồng, con, người tình…
bình an. trở về từ chiến địa.
bây giờ là tháng tám,
tháng mẹ tôi phải nhập viện (cách đây 16 năm).
những viếng thăm, hỏi han của con, cháu..
theo thời gian:
cũng…rụng.
 
tôi hiểu đời sống không cho chúng ta nhiều lựa chọn.
khi lãng quên là mặt bên kia của mọi mất đi.
và, trí nhớ bền bỉ ít khi dành cho người đã chết.
 
hãy hình dung ngày tôi gắn nơ vàng, cho cây ngọc lan
thắp nhang dưới gốc.
như mỗi ngày tôi hằng thắp nhang cho mẹ tôi và, H.C.
nơi nhà lưu niệm.
(lưu niệm, sớm. T. và, Orchid dành cho tôi).
ai đó kể:
“chúng ta chỉ có thể nói chuyện với người khuất
nhờ trung gian nhang khói!?!”
tôi nói chuyện với mẹ tôi, với H.C.
mỗi ngày.
(như nói chuyện với em
nhờ trung gian nhang khói, khác).
 
bây giờ là tháng tám,
hãy hình dung ngày tôi gắn nơ vàng, cho cây ngọc lan
(không thắp nhang)
cầu nguyện cho mọi cuộc đời
(trong đó có em)
dù dưới gốc bao nhiêu lá xanh
(mang tên mẹ tôi đã rụng),
vẫn sống tiếp đời, còn.
với niềm vui nồng hương kỷ niệm, trắng.
khi tôi phải giã từ cuộc sống này.
 
bây giờ là tháng tám.
tôi hy vọng không một người thân nào của tôi,
(luôn tình yêu ta)
phải nhập viện.
 
bây giờ là tháng tám,
hãy hình dung ngày tôi gắn nơ vàng, cho cây ngọc lan
và, bứng nó khỏi sinh phần, riêng.
em đừng hỏi tôi sẽ trồng lại ngọc lan ở đâu?
(câu hỏi không cần thiết).
hơn ai hết,
ngọc lan biết
nơi đến, mới.
nơi (không cần nhang khói)
mọi người đều có thể nói chuyện với ngọc lan.
chốn mang tên:
vĩnh cửu!?!
(cách nói, khác!
của bất cứ điều gì không thể, khác.)
 
Du Tử Lê
* Garden Grove, Aug. 10 2014

Lê Văn Trung

Bi Khúc 60
 
Ôi các em những con sâu con kiến
những cơn buồn lẫn lộn những cơn vui
tôi sống giữa trần gian tràn dâu biển
các em là cơn mộng cháy khôn nguôi
ta đâu có mời nhau đôi giọt rượu
mà hồn say như lá rụng bên chiều
ta đâu có vùi nhau trong khát đói
mà tình run như bóng đổ lưng đèo
ôi các em những con chim con chóc
nhảy tung tăng trên vực thẳm hồn tôi
tôi sống giữa trần gian buồn muốn khóc
các em là khăn lụa ấm màu môi
ta đâu có hẹn thề không chờ đợi
mà sợi buồn đã bạc đến trăm năm
ta đâu có bên mộ đời réo gọi
mà tình đau như nguyệt nở đêm rằm
tôi lầm lủi một mình trên mặt đất
các em là mây trắng là mù sương
tôi về giữa trần gian tràn tiếng hát
lời ngậm ngùi xanh biếc ngọc-đau-thương.
 
Lê Văn Trung

Nguyễn Đức Nhơn

Quỳnh Hoa Tửu
 
Này bằng hữu chén này ta uống cạn
Giọt tình, giọt nghĩa, giọt thân thương
Còn chén này ta xin mời bạn
Cạn cùng ta một chén đoạn trường !
 
Ta ngồi đây như trồng cây chuối ngược
Nên thấy trời ở dưới, đất ở trên !
Mà cũng phải, có trồng cây chuối ngược
Mới thấy đời là ghềnh thác chênh vênh…
 
Ta đâu biết mình là sâu hay là bướm !
Nên một đời áo mão xênh xang
Và bạn ta, lũ cào cào châu chấu
Cũng lụa là dạo khắp đồng hoang.
 
Cũng vậy thôi, đời vốn là như thế
Nên chớ buồn, hãy cạn cùng ta
Thêm một chén - rượu ngàn ly - đồ bỏ
Nhằm nhò gì một chén quỳnh hoa…
 
Nguyễn Đức Nhơn

Đoàn Nhã Văn

Chữ Nghĩa Bật Ra
Từ Những Vết Sẹo Đời
 
Vài dòng về Lâm Chương: Ông sinh năm 1942 tại Gò Dầu Hạ Tây Ninh. Cựu sĩ quan quân lực VNCH. Ở tù từ 1975-1985. Vuợt biển năm 1987, định cư tại Boston, Massachusetts Hoa Kỳ. Tác phẩm đã xuất bản: Loài Cây Nhớ Gió (thơ, Việt Nam); Ðoạn Ðường Hốt Tất Liệt (tập truyện, Hoa Kỳ); Lò Cừ (Tập truyện, Hoa Kỳ); Gió về phố biển (Truyện vừa, Hoa Kỳ) và Đi giữa bầy thú dữ (Truyện vừa, Hoa Kỳ)
 
Trên bàn viết lữ thứ của mình, Lâm Chương bắt đầu lại những trang viết khi bóng chiều đã ngã trên vai. Nói bắt đầu lại, bởi vì trước kia, ở trong nước, ông làm thơ. Một chặng đường bầm dập đã qua, một khoảng thời gian nát vỡ tình người đã trải, khởi điểm từ con số không, nhưng lòng lại giục giã, lên đường. Một lên đường rất cô đơn nhưng đầy khẳng khái, tạo nên những tiếng vang tốt.
 
Trong cõi viết mới của mình, Lâm chương đã khởi đi bằng truyện ngắn. Rồi từ truyện ngắn, ông viết truyện vừa, mà tiêu biểu là “Gió về phố biển” và “Ði giữa bầy thú dữ”. Rồi, càng về sau này, ông càng “ưa” thể loại “đoản văn”. Ðẩy ngòi bút vào cả ba thể loại nhưng lại cùng phảng phất một điều: gom góp những vụn vỡ của đời sống, thu nhặt những mất mát trong cõi nhân sinh, và soi rọi nó bằng một tấm lòng của một người tha thiết với quê hương, quặn đau theo những vết sẹo của cuộc đời.
 
Lâm Chương là người lính thực thụ, đối diện với sống chết từng phút từng giây. Ði lính, nhưng không hề nuôi thù hận. Ði lính, như một sự sắp đặt của tạo hóa, không tránh khỏi. Mũi tên đã khởi đi từ chiếc cung. Chỉ có phóng tới, chứ không thể thu về. Ðó là thế chẳng đặng đừng của những người trai trẻ trong thời loạn ly của đất nước. Giữa trận tiền, dù có muốn dừng lại sự bắn giết lẫn nhau cũng chẳng được. Ông viết: “Những thằng đi trận của cả hai phe đều ở vào cái thế của tên giác đấu. Mình không giết nó, nó giết mình. Ðâu cần chi phải hận thù?”. “Ðâu cần chi phải hận thù?” Nghe, thật đơn giản, nhưng tự đáy lòng, không phải ai vào cuộc cũng mang một nỗi niềm như thế.
 
Sau tháng 4 1975, quân nhân, công chức chính quyền miền Nam, được lệnh tập trung mười ngày. Mười ngày, rồi mười tháng, rồi mười năm, rồi nhiều năm tiếp theo nữa. Ðó là giai đoạn tang thương. Không phải chỉ có Lâm Chương, cũng không phải chỉ có những người lính cũ, mà là cả miền Nam bị nhốt vào nhà tù lớn. Người khác gọi là “cải tạo”, nhưng với ông tù là tù! Làm sao cải tạo được. Mà cải tạo cái gì? Viết về những ngày tháng như thế, Lâm Chương đã dùng chất liệu thật, để tạo nên những trang văn nói lên cái bi thảm của tù tội giữa núi rừng Việt Bắc rất lôi cuốn qua nhiều truyện ngắn. Cái bi thảm đó, có trải qua mới thấm cái cùng khổ của những người bại trận với: đói, rét, gông, cùm, bệnh, tật, và lao động khổ sai. Ðọc những trang viết của ông ông trong giai đoạn này, tôi lại nhớ đến Cung Trầm Tưởng, một người lính, một nhà thơ, một người tù, một kẻ lưu vong, từng có những vần thơ tù làm ray rứt người đọc:
 
“Áo tù thẫm máu đôi vai
Bàn chân nứa chém, vành tai gió lùa
Ngó tay bỗng thấy già nua
Cứa êm thân xác mấy mùa thu qua
Môi cằn, má hóp thịt da
Ngô vơi miệng chén, canh pha nước bùn
Ðêm nằm ruột rỗng vai run
Ðầu kề tiếng suối, chân đùn bóng đêm”
 
                                            (Nguyện Cầu Mùa Thu)
 
Vết sẹo của tù đày đã lành miệng theo thời gian, nên LC đã viết về giai đoạn này với một tâm thế hết sức bình thản mà mà không hề hằn học. Không phải ông không đau về cuộc chiến vừa qua; không phải ông không tiếc nuối về những tháng ngày tuổi trẻ bị giam cầm nơi rừng rú; không hẳn ông đã giác ngộ triết lý nhà Phật; và cũng chẳng phải ông có cái tâm lớn như Bồ Tát để quên đi những trận đòn dã man đã giáng xuống thân thể gầy còm của những người tù, nhưng, theo tôi, ông “hiểu”. Cái quan trọng nằm ở chỗ ấy. Như một con đinh ốc nằm trong một guồng máy, làm sao một con đinh ốc đã bị khóa chặc, lại có thể ngưng nỗi một guồng máy đang vận hành với một vận tốc chóng mặt. Xa hơn nữa, bao nhiêu năm đã trôi qua, bao nhiêu mùa trăng khuyết lại tròn, bao nhiêu nước từ nguồn ra biển, người Việt Nam bị đầu độc bởi hận thù đằng sau những chiếc bánh vẽ, thì hằn học, oán hờn nằm trên những trang chữ lẻ loi, có lay chuyển được điều gì? Dĩ nhiên, ông cũng không hề “quên”. Làm sao quên được những mồ hôi và máu đã thấm vào mạch đất? Làm sao quên được những những nấm mộ sơ sài của bạn bè sau cuộc chiến, nơi rừng thiêng, nước độc. Không, không hề. Ở ông, nhớ nhưng không bóc trần, biết nên không truy vấn, và, hiểu nên không biểu lộ thù hận trên những trang chữ của mình.
 
Không những thế, với ông, những kẻ “bên kia” vẫn có dăm người, với chút tình người còn xót lại. Ông không ngần ngại nói lên những điều ấy, dựng lại những hoàn cảnh đầy nhân tính, chẳng hạn như truyện “Cận kề biên giới tử sinh” hay truyện “Những ngày mắc cạn”. Nghĩ về một gã quản giáo đã nới tay trong những trận đòn, và cũng giúp đỡ ông trong những cơn thập tử nhất sinh, ông viết:
 
“Cũng vẫn con người ấy, nhưng bây giờ, tôi thấy dưới lớp băng đông giá, còn tiềm ẩn cái hơi ấm tình người. Nhìn qua bên kia hàng rào trại, cây rừng đang xanh tốt mùa mưa. Lòng tôi cũng bắt đầu xanh lại. Trong khi chờ người bạn tù nấu cháo, tôi nằm xuống chiếc sạp nứa. Có tiếng mọt kẽo kẹt nghiến gỗ trong vách. Trước kia, đêm trằn trọc trong trại cải tạo, nghe tiếng mọt, lòng tôi ray rứt như nghe đời mình đang bị gặm nhắm hao mòn dần theo những tháng ngày lưu đày. Bây giờ, cũng tiếng mọt, nhưng tôi lại nghe như tiếng đời sinh động.” (Những ngày mắc cạn)
 
Ông nhìn rõ “Khi biết mình đã hiểu lầm bữa cơm bồi dưỡng, thành bữa cơm ân huệ cuối cùng cho tử tội, bao nhiêu nỗi buồn rầu trong tôi vụt tan biến. Và cơ thể đang ê ẩm rã rời, bỗng khỏe lại như vừa được uống một liều thuốc hồi sinh. (…)…tôi nghiệm ra rằng, người Cộng Sản dù ác độc gian trá, nhưng họ cũng là con người, thì một lúc hiếm hoi nào đó, họ cũng biết nói thật và cũng động lòng trắc ẩn” (Cận kề biên giới tử sinh)
 
Thời gian ra khỏi tù cũng gian nan, nhọc nhằn không kém. Ðó là quãng thời gian đi giữa quê hương như một người xa lạ, “bị quê hương ruồng bỏ, giống nói khinh” (Thơ Vũ Hoàng Chương). Hiếm người dám chứa chấp những kẻ về từ tù ngục. Kiếm được một việc làm, mà làm gì cũng được, là trăm đắng, ngàn cay. Họ làm đủ mọi thứ để kiếm sống. Họ làm muôn nghề để nuôi thân. Họ sống trong cảnh “Anh về cụt mất hai tay / Còn nghe thiên hạ chê bai đủ điều” (Thơ Trần Nghi Hoàng). Cái cụt mất hai tay, không là cụt mất theo nghĩa đen, mà là cụt mất hai tay trong một thân thể lành lặn. Lành lặn, nhưng ăn bám cuộc đời. Lành lặn nhưng vô dụng. Ðó là bước đường cùng của những tấm thân gầy còm về từ tù ngục. Ðó là nỗi đau cụt mất hai tay trong một thân thể lành lặn. Mỗi truyện ngắn nằm trong mạch này, của LC, đều phảng phất những nỗi đau như thế, từ những nhân vật xưng “tôi”.
 
Lâm Chương viết về những người ra tù, bị giạt về các vùng quê khá rõ nét. Nhà quê vốn đã nghèo. Cái giàu ở họ, mà ai cũng nhìn thấy, đó là cái giàu về cơ cực. Tuy vậy, những người về từ tù ngục, bị giạt ra chốn quê mùa này, càng cơ cực hơn. Viết về ruộng đồng, thôn dã, người đọc cảm được cái “thế” của người nông dân trong những ngày mùa. Ðó là thế mặt nhìn đất, lưng phơi giữa trời. Theo chân những người đào giếng nơi những thị trấn khô cằn, người đọc thấy từng giọt mồ hôi của họ đổ xuống theo từng nhát xuổng. Bám theo những người làm công, khuân vác, ta cảm được sức nặng đè lên những đôi vai gầy, thiếu ăn, mất ngủ.
 
Viết về thôn quê, Lâm Chương như con cá lội trong nước, tha hồ. Chữ nghĩa ông về những vùng đất này cũng mộc mạc, đơn sơ như lòng người dân chất phác, hiền hòa. Viết về núi rừng, văn chương ông tự nhiên, tuôn chảy. Không những thế, người đọc còn học được nhiều thứ, biết thêm nhiều phong tục, ngay trên những trang sách ấy. Tuy nhiên, phải nói thêm rằng, ở thế mạnh của mình, ông vẫn chưa lột tả đến kỳ cùng những điều còn ẩn chứa ở những vùng thôn dã đó.
 
Ðịnh cư tại Mỹ, gia tài họ (những nhân vật của LC) là con số không. Vì thế, họ cố gắng bương chải để sống. Họ cố gắng lao động cực nhọc để nuôi thân, để tạo một chỗ đứng cho thế hệ thứ hai. Và xa hơn, lòng của họ luôn ngóng về bên kia biển lớn. Nỗi chịu đựng của họ cũng lớn không kém những gì họ đã chịu đựng bên quê nhà. LC còn dựng nên nhiều cảnh sống, sau khi trở lại thăm quê hương. Những nhân vật của ông va chạm nhiều thứ “trái tai gai mắt”. Và dường như, mỗi lần về lại quê hương cũng là mỗi lần cõng thêm nhiều nỗi buồn trên lưng, khi qua lại Mỹ. Ðây là thời gian mà ông đẩy ngòi bút vào thể loại “đoản văn”. Sự chuyển hướng này cũng tạo nên sự thay đổi trong phong cách nghệ thuật. Những trang viết càng về sau, người ta càng thấy chữ nghĩa của LC như hướng về sự đơn giản. Nó làm cho ta có cảm tưởng như tác giả đã bỏ lại những cồng kềnh, đã gạt ra những ôm đồm không cần thiết. Ðơn giản trong dựng truyện, đơn giản trong cấu trúc câu, và đơn giản trong cách dùng chữ. Hiếm thấy những chữ lạ, cầu kỳ. Cái đơn giản ấy chạm vào cái sần sùi của đời sống, đụng cái thô nhám của nhân gian, và rờ được cái trần trụi của tình đời. Trong cái đơn giản ấy, người đọc bắt gặp những chi tiết đắc địa. Sự thay đổi trong nghệ thuật đó đã hình thành một phong cách. Dẫu vậy, ông đã cài đặt nhiều phần triết lý trong đối thoại, của nhiều nhân vật, từ nhiều khuôn mẫu khác nhau, trong đời. Nhiều chỗ, những câu đối thoại chưa làm nổi bật được cá tính của nhân vật.
 
Thiển nghĩ, cũng cần nói thêm về hai truyện vừa: “Ði giữa bầy thú dữ” cùng “Gió về phố biển”. Ðây là hai truyện vừa khá lôi cuốn. Riêng truyện “Ði giữa bầy thú dữ” mang tầm vóc của tiểu thuyết, nếu ông khai triển nó rộng hơn, trên bề diện nhân vật, cũng như trên bề diện không gian. Hai truyện này đều chứa đựng những phần đời tang thương, bầm dập. Và cũng ở đó, hé lộ nhiều hơn tư tưởng của nhà văn.
 
Hai truyện vừa cùng nhắc về một nơi chốn: Nha Trang. Nếu ở “Gió về phố biển”, Nha trang là nơi ẩn náu, dung thân, nơi có những bàn tay chìa ra, vực dậy, thì trong “Ði giữa bầy thú dữ”, Nha trang là nơi thọ nạn, dã tâm lọc lừa giấu đằng sau mặt nạ thương người. Cùng một thành phố, lúc lâm nạn, thời tuổi trẻ, của “tôi”, đã được người người sẵn lòng giúp đỡ. Cũng cùng thành phố, sau những tháng ngày tù tội, trở về, tìm đường vượt thoát, “tôi” lại bị người ta lường gạt đến tận đường cùng. Cái gì làm nên sự khác nhau ấy? Một giai đoạn những năm 1960’s đầy tình người. Và, một giai đoạn những năm 1980’s đầy nghi kị, toan tính, sẵn sàng hại nhau vì những phần vật chất nhỏ nhoi. Nếu đặt hai tác phẩm trong ngữ cảnh liên văn bản, người đọc sẽ dấy lên nhiều câu hỏi. Nhưng một câu hỏi quan trọng không thể thiếu: Có phải thời gian hai mươi năm đã làm một xã hội băng rã về đạo đức? Và nguồn gốc của sự băng hoại này?
 
Tình người, ở xứ mình tìm mãi không ra, nhưng như một phép lạ, tình người đã cứu vớt “tôi” khỏi rơi xuống những tầng địa ngục ngay trên xứ người, nơi đất Chùa Tháp. Cho nên, đoạn kết của “Ði giữa bầy thú dữ” là một đoạn kết hay. Ở đó, oán hờn đã lắng xuống, thù hận đã trôi đi, những vết sẹo ngày xưa đã lành miệng. Cái duy nhất còn lại là: làm sao tìm lại được một cánh chim trong trời đất bao la. Cánh chim đó là hình ảnh thật đẹp của người từng bị gọi là “con đĩ ngựa”. Cánh chim mang tên Nga, một người phụ nữ lưu lạc trên xứ người, hy sinh thân xác để cứu một gia đình bị nạn, đưa họ rời nơi địa ngục để về chốn thiên đường. Giúp, mà không mong người khác biết. Cứu vớt, mà không nghỉ đến việc trả ơn. Cái gì rồi cũng qua đi. Chỉ có tình người ở lại. Tư tưởng của tác giả nằm ở những dòng chữ cuối cùng, mang lại một ấn tượng lớn cho độc giả.
 
Nếu phải chọn một hình ảnh cho Lâm Chương, tôi hình dung ra một gã nông dân kiệm lời, ít nói, nhưng lại rất miệt mài trên cánh đồng chữ nghĩa của mình. Trên cánh đồng đó, Lâm Chương đưa những mảnh đời vụn vỡ, những nỗi đau hun hút, những vết thương tướm máu, vào trang sách, truyền cho nó những hơi thở, biến thành những “cuộc sống” khác. Ðó là bản lãnh nghệ thuật. Tuy vậy, đọc ông, người đọc vẫn có cảm tưởng rằng, vì mãi mê đi tìm những mảnh vỡ đó, nên cõi viết của ông chưa khai triển những chủ đề lớn đúng mức, chưa đẩy mình vào những chặng đường dài, thử thách.
 
Chữ nghĩa của Lâm Chương, nói cho cùng, là chữ nghĩa bật ra từ những vết thương đã lành miệng, của chính mình, và của tha nhân.
 
Đoàn Nhã Văn

Sinh...* Tuyền Linh

Sinh Nhật Ngậm Ngùi
 
ngày mai sinh nhật của tôi
mà sao lòng cứ ngậm ngùi xót xa
qua rồi ngày tháng trăng hoa
chừ đây lắng đọng nỗi xa xót tình
đón sinh nhật, không một mình
vẫn nghe rấm rứt chút tình cố nhân
rã rời ngày tháng phong trần
trầm luân một kiếp bâng khuâng lối về
bến tình chừ đã u mê
lênh đênh con nước đường về mù khơi
ngồi đây đếm lá thu rơi
lửng lơ cánh lá…buồn ơi là buồn !
mấy mùa lá đổ bên song
mấy lần nhỏ giọt lệ thầm xót xa
sợi tình cột buộc trong ta
loanh quanh u ẩn niềm xa nỗi gần
ngẩng lên nhìn áng phù vân
trên cao xa ấy ẩn thầm lệ ai ?
xin Người một chút tàn phai
để trăm năm được chung vai gánh tình ?
 
Tuyền Linh
15.8.2014

Hoàng Anh 79

Chiều Trên
Sông Ông Đốc             
 
Anh về ngang bến cũ
Nghe thoảng làn hương đưa
Sông dài xuôi mải miết
Dòng nước già hơn xưa
Mây trôi qua miền nhớ
Mắt em sầu theo mưa.
 
Mười năm tình dang dở
Em có bao giờ về
Thời gian phai sợi tóc
Chưa tàn một giấc mê
Lạc vầng trăng cổ tích
Ai còn nhớ câu thề.
 
Anh theo đời lang bạt
Em sống kiếp tha phương
Chiều trên sông Ông Đốc
Hồn thu man mát buồn
Đường quen vàng xác lá
Mênh mông rừng và sương.
 
Hương tràm thơm quanh quẩn
Quyện theo từng bước chân
Em mười năm cách biệt
Có nghe nhịp tim gần
Cà Mau chôn kỷ niệm
Ta bên trời cố nhân!
 
12/8/2014
Hoàng Anh 79

Thiên Lý

Ta Còn Nợ Nhau
 
Ngày xa anh, lòng em đầy u uẩn
Tưởng ân tình như dứt được từ đây
Đêm một mình bên gối, mắt lệ cay
Tim đau đớn trào lên bao thổn thức
 
Nghĩ đến anh sao cứ hoài ấm ức
Sớm mai buồn, chiều lại thấy bơ vơ
Em ra vào quanh quẩn với âu lo
Sợ anh ốm biết ai người săn sóc?
 
Đã bao lần, em dặn mình đừng khóc
Phải vững lòng chèo chống với cô đơn
Phải tĩnh tâm không nghĩ đến tủi hờn
Phải can đảm sống trọn đời cô độc
 
Thời gian đổi thay nhanh trên màu tóc
Nỗi ưu phiền ám ảnh lẫn ngày đêm
Anh võ vàng, tiều tụy đến tìm em
Mình đau xót nhìn nhau… rồi lệ ứa
 
Bỗng, giận dỗi …dường như …không còn nữa
Chỉ là đây ánh mắt ngập thương yêu
Lệ vui mừng trôi hết những quạnh hiu
Những cay đắng, uất hờn theo dĩ vãng
 
Mình trở về thành phố xưa êm vắng
Vì chữ “tình” ta còn mãi nợ nhau
Vì chữ “quên” ta làm lại từ đầu
San sẻ hết cho cuộc đời sau cuối…
 
Thiên Lý 

Thơ Hoàng Xuân Sơn

Chiều. Mưa Xanh
 
buổi chiều.  ghém
một lau thưa
ngọn tóc trên trán
cũng vừa thất tung
ở ngâu tuôn
phiến đàn thùng
giọt rơi như giọt
vỡ bùng mắt xanh
tự nhiên.  xa.  một đỗi.  thành
từng viên gạch xếp hoàng tranh
tuổi chiều
và rồi.  nhọn.  với cô liêu
mũi tiêm đâm suốt
lượng.  liều
túy vi
 
23 jan 2013
 
Chìm Ngọc
 
bát canh riêu nóng hổi
màu mè của bài thơ
hoa bên trời đỏ chói
lung linh nuốt bệ thờ
 
không hề là liên tưởng
chiếc cột mốc. sừng trâu
mùa chó đồng tru rượn
quê xưa tuổi thị mầu
 
lăng xăng mừng đụn khói
lậy rơm cỏ về thăm
cánh cò già. hốc mọi
lau thưa bãi ngực trầm
 
17 mars. 11
 
Chôn Vào
 
về thôi
gió lú canh tàn
trên vai khuất đẩu
dậy ngàn tinh văn
cởi.              buông
ngụy hóa              xung thằng
cho hồn bọ gậy
tìm cung quăng              đời
thuở ấu trùng
biết nằm nôi
biết nghe tan         ụ
tháng          dời.  năm              di
ta lớn.  ngu           cũng tại.  vì
lỡ chôn thơ dại
vào bi lụy.             người
 
 
HoàngXuânSơn
tháng tám mười hai
 
Hoàng Xuân Sơn

More Articles...

Page 1 of 33

Start
Prev
1
Search - Content
Search - Weblinks
Search - Contacts
Search - Categories
Search - Sections
Search - Newsfeeds
Search - JComments

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:
Xuân Du
Túy Hà
Phạm Tương Như
Songthy

Tác Giả

Time Zone Clock

Who's Online

We have 206 guests online

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013

Tìm bất kỳ bài viết nào theo vần A B C

Google Analytics Alternative