alt

"Xin Quý Vị Click Vào Hình Bìa Phía Trên Để Xem
Toàn Bộ Nội Dung Tạp Chí Trầm Hương 14"
Quý Văn Thi Hữu Và Độc Giả Xa Gần Muốn Có Tạp Chí Này
Xin Vui Lòng Gởi Địa Chỉ Và Cước Phí 
Về VH Quản Lý Phạm Tương Như: 
Tong Pham
PO.BOX 681822 Houston, TX 77268
Chúng Tôi Sẽ Gởi Sách Đến Ngay Cho Quý Vị.
 

Vũ Khắc Tĩnh

Thâm Cung     
 
Một hôm trên đường ta lui tới
Em còn trẻ mãi với thời gian
Tóc bay tung tẩy theo nhịp bước
Ta khề khà cạn chén quan san
 
Chút ân tình nặng lòng cố xứ
Hồ như ai đó gọi thầm tên
Từ dạo ấy bước chân phiêu lãng
Cũng trườn trượt theo với thác ghềnh
 
Đời rộng sá gì cơm với áo
Mà quên đi hết một thời xanh
Mấy thuở đời thơ ta thấm bụi
Ngậm ngùi tương tác khúc đành hanh
 
Con đường xưa lắng men rượu nhạt
Bỏ lại sau lưng tuổi đá buồn
Ta đi ngày rớt bên chiều vắng
Nghe tiếng em xưa cũng cuống cuồng
 
Ví thử trần gian là giọt đắng
Bắt đầu mới thấy mộng vô cùng
Ngẫm ra ta chẳng là vua chúa
Sao thấy mình như ở thâm cung
 
Man Khai          
 
Hỏi thăm thế kỷ trăm năm
Đường về quan ải xa xăm có còn
Biển rừng thăm thẳm núi non
Lao xao Chợ Lớn, Sài Gòn như mơ
 
Nhân tình thế thái bây giờ
Gặp nhau như thể sau tờ man khai
 
Tình Xưa Nghĩa Cũ     
 
Quê xưa giờ chẳng còn gì
Hồn bao năm cũ cũng đi mất rồi
Loay hoay tìm một chỗ ngồi
Tôi nhìn thấy bóng hình tôi chạnh lòng
 
Tay ôm không hết mênh mông
Chân phiêu lãng bước tay bồng triền miên
Lang thang đi kiếm bạn hiền
Chén thù chén tạc đuổi phiền muộn bay
 
Hình như nghe mắt cay cay
Tình xưa nghĩa cũ lay bay trong đầu
 
Vũ Khắc Tĩnh

Nguyễn Dương Quang

Đêm Cuối Năm Viết Cho Má
 
Đêm nay con ngồi một nơi rất xa má
Đếm tuổi con bằng nước mắt má đong
Trong đêm thoảng giọng hiền má gọi
Con vừa nghe, muốn khóc, rất bâng khuâng
 
Ở làng này không ai đốt pháo
Đêm thật buồn như bước đông đi
Con còn có ít giờ hưu chiến
Biết đâu chừng, thôi, nghĩ làm chi
 
Mấy năm nay con không có Tết …
Hình như năm chỉ có ba mùa
Con không buồn xuân chê đời lính
Buồn xa má như trời mưa
 
Từ xa má con làm con nhiều mẹ
Lúc nào cũng vui lúc nào cũng buồn
Có kẻ vui luôn, người buồn mãi
Mình con của má cười rưng rưng
 
Con nghe những dòng sông kể chuyện
Biển xa năm họp mặt một lần
Chuyện những xác cầu xác người chìm nổi
Chuyện đồng loại như là phù vân
 
Hình như cây súng con lạ lắm
Sao nó run lên khi đạn lên nòng
Tâm hồn nó như tâm hồn con vậy
Một kẻ nằm, kẻ đứng , xót xa không?
 
Trước mặt con: những ngọn đồi cát máu
Đêm thì thầm cùng những nấm xương
Ôi, trái tim con mãi tôn thờ má
Đã dạy con hai tiếng yêu thương
 
Từ má lòng bàn tay dìu dắt
Con bơ vơ giữa cuộc phù sinh
Dòng nước nào xa nguồn mà không đục
Sợ một mai con lạc dấu chân mình
 
Thôi, má ngủ đêm nay ngon giấc
Con ngồi đưa chiếc võng rách quê nhà
Đạn vòng cầu đừng đi trong đêm tối
Lệ sẽ đầy giấc má nhớ con xa
 
Nguyễn Dương Quang

Nguyễn Văn Nhân

Tháo Giầy
Ngồi Đợi Ngày Đi
 
Bước lên bục giảng khi tóc còn xanh
Lớp học loanh quanh giờ đầu đã bạc
Đi tới đi lui mấy vòng trái đất
Cặp cẳng tăm tre xài vẫn ngon lành
 
Mới bữa hôm nào mặt mũi mới toanh
Mà nay bèo nhèo bánh đa nhúng nước
Chẳng sao chẳng sao đời còn phía trước
Lũ khũ học trò níu áo sau lưng
 
Cứ tưởng dạy nhiều chắc cũng tưng tưng
Gừng già càng cay càng nồng càng đượm
Lồng ngực hom hem vẫn còn hơi hướm
Vẫn giảng ào ào chẳng chút xi-nhê
 
Bữa nào mòn gân mỏi gối thì về
Chăm mấy chậu hoa ngâm bình rượu thuốc
Thơ viết vài câu cờ chơi nửa cuộc
Tối ngủ khò khò chẳng biết buồn chi
 
Thầy giáo tháo giày ngồi đợi ngày đi.
 
Nguyễn Văn Nhân

Vĩnh Hảo

Khoảng Trống   
 
(viết cho người anh đã khuất, đồng thời kính dâng Me,
và thương tặng tất cả anh chị em của tôi)
 
Chúng tôi cùng được sinh ra từ một người cha, một người mẹ.
 
Chúng tôi cùng được lớn lên trong một căn nhà, lúc lớn, lúc nhỏ, lúc chỗ này, lúc chỗ kia, nhưng cuộc sống gia đình tương đối êm ấm, thuận hòa.
 
Cha mẹ chúng tôi thương yêu, kính thuận nhau, và cũng hết mực thương yêu con trẻ, không bao giờ có ý ngăn cản sự góp mặt chào đời của mỗi đứa chúng tôi trong gia đình ấy. Vì vậy mà anh chị em ruột thịt chúng tôi thật là đông: đến 7 gái, 7 trai!
 
Bầy con lớn như thổi, thoắt cái mà người chị cả đã trên 70, và cậu em út thì năm nay đúng 50. Anh chị em chúng tôi, mỗi người mỗi ý hướng, mỗi sở thích khác nhau, chọn lấy lối sống của mình theo lý tưởng riêng, hay theo sự xô đẩy của hoàn cảnh xã hội. Nhiều anh chị em đã đi thật xa, không ở gần ngôi từ đường bên ngoại mà mẹ đang sống với chuỗi ngày cuối đời ở tuổi cửu tuần.
 
Cuộc sống tất bật áo cơm, việc công, việc tư, cùng với khoảng cách không gian đã chia cách anh chị em chúng tôi bao năm tháng, khó có cơ hội gặp nhau riêng rẽ từng người, nói gì một cuộc đoàn tụ đông đủ. Nhưng chúng tôi biết chúng tôi còn có nhau. 14 anh chị em trọn vẹn. 14 anh chị em của một cha, một mẹ. 14 anh chị em có tiếng “phong lưu” theo cái nghĩa là văn nghệ; nói chính xác hơn, là những anh chị em đồng nghiệp, nối bước cha mẹ trên con đường văn học nghệ thuật. Từ những bàn viết cách xa nhau, thỉnh thoảng chúng tôi vẫn còn liên lạc và thưởng thức nhau qua những sáng tác văn thơ đăng báo này báo nọ, hoặc trên những websites, blogs, facebooks…
 
Gần 30 năm trước, cha chúng tôi ra đi. Tang lễ của ông, anh chị em chúng tôi có người về được, có người không. Tất cả chúng tôi, trong đó có người chị cả ở nước ngoài và hai em trai đang ở tù, đã cùng mẹ chia sẻ nỗi mất mát to lớn lần đầu tiên đến với gia đình. Mẹ ngồi lại nơi căn từ đường suốt những năm dài sau đó, mỗi dịp sinh nhật, đón nhận lời chúc tụng của bầy con 14 đứa cùng với một đàn cháu chắt ở gần, ở xa. Mẹ đã ngoài 90, như ngọn đèn trước gió. Nhưng tâm mẹ thanh thản, hạnh phúc nhìn bầy con 14 đứa vuông tròn, dù trong gian khó vẫn sống an vui, giữ được nhân đức và phong cách của những người nghệ sĩ ôm đàn, cầm cọ, cầm bút. Hơn 70 năm nuôi dạy con cái, cha mẹ đã không để lại gia sản gì cho bầy con ngoài hai chữ “nhân đức,” và năng khiếu văn nghệ ươm trong máu huyết. Anh chị em chúng tôi thật sự vui hưởng gia sản ấy, không kêu ca than vãn gì. Nhưng có thể nói, trong tất cả những đứa con cưng của cha mẹ (đứa nào cha mẹ cũng cưng), đặc biệt chỉ có anh tôi, Vĩnh Hiền—nhà thơ Phù Du, mới đích thực là một nghệ sĩ tài hoa, đúng nghĩa nhất.
 
Những anh chị em khác, kể cả tôi, cũng viết văn, làm thơ, vẽ, đàn ca… nhưng hầu như trong đời sống cũng như trong biểu đạt nghệ thuật, ai cũng cố gắng gìn giữ nề nếp gia phong và tư cách cá nhân, do ảnh hưởng bởi chức năng nhà giáo, nhà tu, công chức, và trên tất cả: con của cha mẹ, của một gia đình hoàng phái (dù chỉ còn trên danh nghĩa). Không ai trong anh chị em chúng tôi thực sự sống như một nghệ sĩ, mà chỉ là những nhà giáo, những người đạo đức làm văn nghệ.
 
Vĩnh Hiền đã sống một đời sống đúng mực phong lưu, nghệ sĩ. Hai câu thơ của anh—mà tất cả anh chị em trong nhà, cũng như bằng hữu văn nghệ đều nhớ nằm lòng, có thể nói là châm ngôn, là quan niệm sống (và chết) của chính anh:
“Sống là thơ mộng mà chơi
Chết là nhảy giữa giọng cười hư không.”
 
Anh không sợ sống với nghèo khổ, gian khó. Anh cũng không sợ đớn đau, không sợ chết. Anh thách thức đời sống, và thách thức cái chết.
 
Hơn bốn mươi năm làm thơ, viết văn, trải cả tâm can và trí tuệ cho văn thi đàn, để lại nhiều tác phẩm tuyệt vời. Vẽ tranh, đàn ca, uống rượu, giốc hết chân tình với bằng hữu bốn phương. Đã từng yêu hết mực, và đã từng khổ đau hết mực vì tình yêu. Đã từng xót đau cái khổ chung của quê hương mà múa bút cất lời hiệu triệu để phải trải thân tù tội bao năm. Đã từng một lần trúng số độc đắc, chia sẻ tận cùng với anh chị em và bằng hữu để rồi tiếp tục trắng tay làm nghệ sĩ nghèo. Đã từng vào ra bệnh viện mấy lần, mổ xẻ, đối diện với thần chết vì bệnh nan y. Gã nghệ sĩ ấy, không ai can ngăn được thói phong lưu, bạt mạng. Nhưng ở nơi căn gác xép tồi tàn kia, gã vẫn chu toàn trách nhiệm của người chồng quí vợ, và người cha tận tụy thương yêu chăm sóc con.
 
Một con người như thế, một đời sống như thế, quá phong phú, quá “chịu chơi,” đâu phải ai cũng làm được. Cho nên, 63 năm ở đời của anh, không thể nói là mệnh yểu. Khi một người hạnh phúc với từng giây phút hiện hữu của mình, người ấy không có tuổi; và cuộc đời người ấy không thể đo bằng thời gian, năm tháng.
 
Một chiều đầu năm, anh nằm đọc báo trên chiếc giường xếp, rồi ra đi.
 
Gia đình không dám báo tin cho mẹ biết, sợ bà buồn lòng, chịu không nổi với tuổi già yếu. Đã hơn 70 năm đếm 14 đứa con đầy đủ gần 3 lần trên bàn tay năm ngón, nay hụt mất đi một đứa, mẹ sẽ đau xót xiết bao! Đứa con nào mẹ cũng thương, nhưng đứa mẹ quan tâm nhất là đứa không chịu nghe lời khuyên của bà: không chịu bớt hút thuốc, không chịu cữ rượu… để giữ gìn sức khoẻ, để sống lâu bên mẹ. Ôi, mẹ ơi, hẳn mẹ cũng biết rằng dù anh ấy không giảm thuốc, cai rượu như lời mẹ dặn, anh ấy cũng thương mẹ vô vàn, như 13 đứa con kia, có khác gì. Nhưng nếu con người nghệ sĩ bạt mạng kia chưa từng hút thuốc uống rượu trước đây, hoặc đã từng mà ngày nay phải ngưng hút thuốc, ngưng thù tạc cốc rượu với bạn bè văn nghệ… e rằng đã không có một cõi thơ bát ngát và một con người nghệ sĩ đích thực trong gia đình chúng ta.
 
Nếu một lúc nào đó mẹ vô tình đọc đến những giòng này và biết là anh con đã vĩnh viễn ra đi trước khi mẹ trăm tuổi, con xin thay mặt người anh quá cố của con, cũng như thay mặt tất cả anh chị em còn lại, sám hối với mẹ, xin mẹ hãy bình tâm, đừng quá xót lòng. Mẹ hãy cứ an vui và tiễn anh con bằng một bài thơ; và hãy tin rằng sự ra đi của anh con như thế là tốt đẹp, không có gì đáng phải phiền nàn. Anh đã sống hết mình, sống trọn vẹn, cuộc đời của một nghệ sĩ tài hoa, luôn thiếu thốn vật chất nhưng rất giàu có về tinh thần. Anh con đã rất vững vàng khi sống, và hẳn nhiên cũng rất vững vàng, thản nhiên khi chết. Mẹ hãy lau khô nước mắt và đọc thơ cho anh con đi.
 
Riêng tôi, lần đầu tiên trong đời, trải nghiệm nỗi đau mất mát của tình anh em ruột thịt. Ngạn ngữ có nói, “Anh em như thể tay chân.” Tôi xa gia đình từ bé, không cảm nhận được sự gắn bó thiêng liêng ấy như các anh chị em tôi. Chỉ đến bây giờ, khi nghe tin anh tôi mất, tôi đã im lặng nhiều ngày… và quả nhiên, có cảm giác là tay chân tôi tuy còn đây, mà như rụng rời, đứt đoạn. Có một khoảng không, một sự trống rỗng, hụt hẫng nào đó ở trong tôi khi mất đi một người anh ruột, một nhà thơ đã từng gây hứng cảm và mở đường nghệ thuật cho những thành viên trong gia đình, trong đó có tôi.
 
* California, ngày 08/01/2015
 
Vĩnh Hảo

Hồ Chí Bửu

Ta Nín Thinh                   
 
Ai bảo ta buồn nên lá khóc
Rụng vào góc tối cuối hàng hiên
Ai bảo ta buồn trong cô độc
Rượu chảy vào ly- túi rổng tiền
 
Giang hồ- ta chẳng là hảo hán
Hào sảng bằng thơ cũng tức cười
Ngoảnh lại tầm tay dăm thằng bạn
Thằng nào cũng ngơ ngác – ma trơi
 
Nhiều lúc chửi thề cho sướng miệng
Chửi luôn mình chẳng biết nâng bi
Tại ta ngu không thèm lòn cúi
Quậy lắm bùn nhơ chẳng ích gì ?
 
Thì thôi- cứ làm thơ tán gái
Tán tới tán lui một chút tình
Yêu em vì bởi ta khờ dại;
Mai mốt lấy chồng. Ta nín thinh…
 
Hồ Chí Bửu
06.01.15

Đoàn Thuận

Nơi Ga Chiều               
 
Sương bay nghiêng phố ga chiều
Tàu xuôi bỏ lại bóng xiêu lối về
Một bờ hoang đá xanh khe
Âm u tiếng gõ kiến nghe cuối rừng
 
Dã quì vàng suốt mấy thung.
Người xa buổi nọ mịt mùng bao thu
 
Trả cho người phố sương mù
Trả cho ta biển nắng thu mấy trời
Nỗi buồn ru đến chơi vơi
Lặng trong tình cũ một lời xót xa
 
Dường như người tiễn đưa ta
về miền đất lạ nhặt hoa phố phường
Nụ cười lẫn khuất trong sương
Áo bay trắng cuối dặm đường cỏ lau.
 
Phượng mùa hoa cũ phai mau
Thản nhiên thềm gạch biếc màu rêu phong
Tháng ngày tuột xuống mênh mông
Bên bờ chiều muộn tịnh không dấu người.
 
Đoàn Thuận

Thiếu Khanh

Gởi Uyên Hà
 
Bạn đã đi qua nhiều xứ sở
Tung tăng xe mã những kinh thành
Nâng chén tao phùng nơi viễn xứ
Cùng dăm bạn cũ thủa đầu xanh
 
Ta cũng có chừng mươi đứa bạn
Chia nhau trấn thủ bốn phương trời
Xa lúc tóc đen chừ tóc trắng
Nhớ người chỉ biết gõ “meo” thôi.
 
Há lẽ chưa nguôi hờn chiến quốc
Còn đi cho nát áo khinh cừu
Ới ơi, gõ chén thương mình quá
Chai cốc cùng mình chuốc lẫn nhau
 
Thì hễ còn sông còn nước chảy
Dù người lưu lạc khắp năm châu
Thôi kệ mạnh ai theo chí nấy
Đất trời rộng chán ép chi nhau.
 
Ta sống một đời hiền như đất
Vua không nhớ mặt chúa quên tên
Dẫu biết ở hiền thường chịu thiệt
Lẽ nào che mặt để bon chen.
 
Tuổi lỡ nhiều rồi không lẽ quậy
Mấy lần vấp ngã chẳng thèm đau
Lý lịch khai dài chi chít giấy
Đời mình có phải trống trơn đâu!
 
Bơi mãi ao nhà xem đã chật
Thèm ra vùng vẫy Thái Bình Dương
Nhìn ta với biển cùng đầu bạc
Ha hả cười vang tiếng sóng cuồng.
 
Thiếu Khanh

Dzạ Lữ Kiều

Nỗi Nhớ 
 
Bỗng dưng …Ta nhớ Huế lạ lùng
Nhớ mái trường xưa, nhẹ bước chân
Nhớ tà áo trắng …Chiều tan học
Nhớ mái tóc thề theo gió vươn
 
Đã trót một đời – Sống xa quê
Nỗi nhớ đầy vơi nắng hè về
Trường Tiền vắng ngắt lời chim sáo
Đại Nội rộn ràng ngân tiếng ve
 
Em cũng như Ta – Sống xa quê
Có thấy nôn nao khi Thu về
Kỷ niệm một thời còn cắp sách
Bên giòng Hương biếc lộng trăng thề ?
 
Dấu kín trong lòng … Năm tháng quên
Con tim chợt khắc khoải ru mềm
Chuông chùa Linh Mụ lay tiềm thức
Thầm hẹn nhau về Cố Đô quen…
 
Dzạ Lữ Kiều
21-6-2014

Chu Vương Miện

Xưa Và Nay
 
có anh muốn sống không sống được ?
có anh chờ chết chưa chết ngay ?
chiến tranh đến rồi đi giống xe
rác ngày nào cũng có ? ngày nào
cũng đầy từ thuả nảo thuả nào ?
có anh cơm no ấm cật có
anh luôn nghèo khó ? cũng đồng môn
có anh làm quan có anh làm
 thợ ? có anh lưng chừng ở giưã
làm thơ làm quan chết vì nước
được thờ ? làm thợ có tiền mua
cơm đút vào mồm làm thơ thì
dở dở ương ương toàn nhịn đói ?
tất cả chả có gì đáng noí
từ ngàn xưa tới nay ? bây giờ
vẫn vậy ?
 
Chu Vương Miện

Phạm Tín An Ninh

Nỗi Buồn Mùa Thu
 
Có lẽ những chiếc lá mùa thu đã nhuộm vàng phần lớn thi ca nhân lọai. Và dường như nếu không có mùa thu thì những cuộc tình sẽ không còn lãng mạn, thế gian này sẽ không có mặt của thi nhân. Ông Văn Cao đã khởi đầu sự nghiệp của mình bằng " Buồn Tàn Thu” để rồi cuộc đời của người nghệ sĩ tài hoa này cũng tàn theo Giai Phẩm Mùa Thu (trong Nhân Văn Giai Phẩm). Ông mất đi trong cảnh khốn cùng để lại cho đời một kho tàng âm nhạc quí giá , cùng sự thương tiếc ngậm ngùi và bao điều suy ngẫm. “ Cây đại thụ” Phạm Duy phỏng theo một bài thơ Tây, phổ bản "Mùa Thu Chết”, để rồi tên tuổi cũng đã chết theo mùa thu ở cái "thị trấn giữa đàng" bên tận xứ Cali, bởi cái tính kênh kiệu và nói năng đôi điều phản trắc, chỉ để lại cho những người từng hâm mộ ông sự chua xót, bẽ bàng. Ở Việt nam ta, nếu " con nai vàng ngơ ngác đạp trên lá vàng khô “đã làm nên Lưu Trọng Lư, thì bên Tây "Les Feuilles Mortes” đã khắc sâu tên tuổi Jacques Prévert trong lòng những người mê thơ, yêu nhạc.
 
Riêng cái thằng vừa nhà quê vừa ít chữ như tôi dĩ nhiên không thể nào làm nỗi một câu thơ và cũng chẳng mò ra được một nốt nhạc, vậy mà tâm hồn lại rất dễ bị đắm chìm trong những lời thơ tiếng nhạc - đặc biệt có Mùa Thu trong đó. Nhưng trong tất cả những tác phẩm có bóng dáng Mùa Thu trên thế gian này, cái bài làm tôi xúc động nhất, thuộc lòng từ thời tấm bé, không phải là thơ, là nhạc, của ta hay tây, mà lại là một bài văn xuôi rất …học trò của ông Thanh Tịnh .
 
“ Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi quên thế nào được……….
 
Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp……."
 
Không biết ngày ấy ông Thanh Tịnh ở tận nơi đâu, mà sao cái cảnh ngày đầu tiên ông đi học giống tôi như đúc. Tôi cũng được mẹ nắm tay dẫn đi trên con đường làng Phú Hội, cũng vào một buổi sáng có ( một chút) sương thu và gió lạnh.
 
Một năm sau mẹ tôi qua đời, bỏ lại tôi một mình đi trên con đường dài và hẹp đó với bóng dáng yêu dấu của bà. Rồi cũng một năm sau nữa, cha tôi đang dạy học ở trường PhápViệt thì được Việt Minh đưa ra Liên Khu Năm làm "công tác xóa nạn mù chữ". Tôi trở thành thằng bé mồ côi, phải về ở với ông bà nội. Mỗi ngày tôi vẫn đi trên con đường làng ấy, nhưng bây giờ tôi đến trường cùng một đám anh em bà con trạc tuổi. Sau này, trong đám học trò dưới mái trường làng ngày ấy có vài thằng lên núi đi làm ..kách mệnh, có đứa sớm thành liệt sĩ ; nhiều đứa làm quan làm lính cộng hòa, cũng có lắm thằng đuợc Tổ Quốc Ghi Ơn ; đám còn lại là nông dân năm tháng soi mặt với ruộng đồng, nhưng cũng có thằng trở thành giáo sư, bác sĩ, lấy vợ rồi đóng đô luôn ở chốn thị thành, lâu lâu dắt díu nhau về thăm làng cũ.
 
Vậy mà cái tình đồng môn của thời thơ ấu đó lại keo sơn gắn bó đến không ngờ. Mấy ông nông dân có con cháu đi lính, được mấy ông bạn nhà binh nhận về đơn vị chở che, xuống thành phố đi học có mấy ông bạn thầy giáo hướng dẫn lo trường lo lớp, nơi ăn chốn ở ; đau bệnh thì có mấy thằng bác sĩ chăm sóc thuốc men, xin vào nhà thuơng miễn phí. Mấy thằng làm quan lâu lâu về quê chở cả đám nông dân ra thành phố tập tễnh ăn chơi cho biết cái sự đời . Quân với dân còn hơn cả cá với nước.
 
Rồi đùng một cái , tháng 4/75, bão tố bất ngờ ập xuống, kéo theo cơn lốc đổi đời, cũng có niềm vui tương phùng nhưng cũng có nhiều bi thảm : Mấy ông bạn trên núi hồ hởi về nắm chính quyền, mấy ông nông dân vốn bao năm an nhàn với dồng áng bây giờ lại được mấy ông bạn chính quyền ưu ái khuyên nên làm gương mang hết ruộng đất sung vào hợp tác xã, giúp những thằng bạn cũ sớm trở thành vô sản, hầu cùng nhau " tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc " lên thế giới đại đồng . Mấy ông lính, ông thầy, ông bác sĩ tự dưng trở thành " những con nai vàng ngơ ngác ", cuốn gói về quê nương náu để đợi chờ số phận, lại được mấy ông bạn nông dân ngày trước cho gạo cho tiền, chí ít cũng đãi đằng được một chầu thịt gà rượu đế, tiễn đồng môn cũ đi vào "trường cải tạo". Một ít vào trường sơ cấp, trung cấp trong nam, số còn lại được ưu ái ra trường cao cấp tận vùng núi rừng Việt Bắc.
 
Sau sáu, tám , rồi mười năm, thằng nào còn sống mang tấm thân tàn tạ ra tù, kẻ thì vượt biển, người thì đi diện HO, lưu lạc tha phương, bỏ lại sau lưng con đường quê, ngôi trường làng cũ với biết bao kỷ niệm êm đềm. Đất khách gặp nhau, chỉ còn biết vỗ vai an ủi :
 
Qua cơn mờ mịt binh đao
đứa còn đứa mất ba đào tang thuơng
Lạc loài trên chính quê hương
thôi thì gió cuốn mười phương cũng đành
Định cư xong, lo góp tiền gom bạc gởi về cứu đói mấy ông bạn nông dân , bây giờ đã bạc cả mái đầu mà còn trắng cả đôi tay. Còn mấy ông sớm chọn cho mình lý tưởng, bỏ trường lên núi hồi còn son trẻ, bây giờ một số phục viên về nằm nghỉ mát, mỗi ngày uống trà ngắm mấy cái " bằng khen", mấy cái huy chương "dũng sĩ" treo trên vách mà suy ngẫm cuộc đời, vui buồn lẫn lộn .
 
Rồi cũng vào một mùa thu, từ đất khách tôi về lại quê hương. " Mùa thu năm ấy tôi ra đi, mùa thu này nữa tôi..trở về". Khoảng cách giữa hai mùa thu .. vậy mà cũng đã hai mươi năm.Tôi về để tìm lại ngôi mộ của cha tôi được mấy người bạn tù chôn cất sơ sài trên núi bên ngoài trại cải tạo Đá Bàn. Ông đã chết sau hai năm bị giam trong trại tù này, cũng vào một ngày cuối thu ảm đạm. Tôi nhờ người cải táng, đưa ông về nằm bên cạnh mẹ tôi và ông bà nội trong nghĩa trang gia tộc .
 
Tôi đi một vòng thăm lại làng xưa. Đám bạn bè cũ bây giờ chẳng còn mấy đứa, thằng chết, kẻ ra đi, gởi thân khắp bốn phương trời. Hôm nay, tôi lại đi trên con đường làng cũ, vẫn con đường dài và hẹp mà ngày xưa mẹ tôi âu yếm dắt tay tôi tới lớp. Hôm nay cũng có nhiều sương thu và gió lạnh, tôi đi một mình trơ trọi, chỉ còn đâu đây bóng dáng, tiếng nói tiếng cười của đám bè bạn ngày trước
 
Tôi về đứng trước ngôi trường cũ
nhìn xuống làng xưa chạnh nỗi niềm
nhấp nhô những mái nhà rêu phủ
thương hải tang điền mấy biến thiên
Tôi về xuôi một dòng sông chảy
con nước vô tình lặng lẽ trôi
hiểu nghĩa cuộc đời đành không thể
hai lần tắm ở một dòng thôi
… Tôi về - có phải sông về biển
sao nghe từng con sóng não nề
như thể bây giờ là cổ tích
tôi về - chỉ gặp lại mình . . .tôi
Nghe nói nhờ tiền tài trợ của Ngân Hàng Thế Giới, nên ngôi trường vừa dược xây cất lại khang trang. Có lẽ học sinh cũng vừa mới tựu trường, nên cờ xí khẩu hiệu còn đỏ cả sân trường. Cái trường mang tên làng làng Phú Hội ngày xưa bây giờ đã được đổi tên thành "Trường PTCS Lê văn Tám". Nhìn các em bé sắp hàng vào lớp mà lòng tôi cứ bâng khuâng. Không phải vì vừa mới tìm lại được bóng dáng của mình ngày trước, mà vì thấy thương và tội nghiệp cho các cháu học trò.
 
Không biết mỗi ngày phải học thuộc lòng những bài thơ ngợi ca những lãnh tụ, anh hùng , những bài thơ kiểu "Khóc ông Lê Nin" của nhà thơ lớn Tố Hữu, có bao nhiêu em đã " từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, mặt trời chân lý chói qua tim" (thơ T.H) , và liệu các em có còn nhớ đuợc cái bài văn xuôi " hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc.." hồn nhiên và dễ thương của ông Thanh Tịnh mà thế hệ cha ông ai cũng nằm lòng ? Các em có xót xa khi biết trường của các em mang tên "anh hùng Lê văn Tám".mà các em được dạy như là một tấm gương., lại là một người không hề có thật .( mà chỉ là nhân vật trong phim truyện của đạo diễn Phan Vũ ( Xem báo Thế Giới (Hà Nội) số 39 (154) ngày 27/9/04 , trang 22-23, website Talawas ngày 11..10. 04 tác giả Quang Hùng, đài BBC chương trình ngày 15.10.04)
 
Rồi mới đây bà hiệu trưởng Trần Thanh Vân đầy quyền uy ( dưới những ô dù) kéo theo một nhóm thầy cô vây cánh của trường chuyên Lê Quí Đôn nào đó ở "thành phố mang tên Bác" thản nhiên lấy tiền đô la, làm hồ sơ ma nhận cả một đám học trò dốt nát, con cháu của những đại gia và các ngài quan lớn (trong đó có con trai của đồng chí chánh thanh tra sở giáo dục thành phố) vào ngôi trường chuyên một thời có tiếng .
 
Tôi nghiệp, chẳng lẽ mới lớn lên, các em đã phải học những điều gian dối, và tương lai các em sẽ ra sao với một nền giáo dục và văn hóa "phong bì " ?
 
Cũng may mà các em còn bé và ở tận một vùng quê, nên không biết nhiều về đạo đức của các nhà “mô phạm”, những “ nhất tự vi sư bán tự vi sư “ một thời được dân chúng trải chiếu hoa mời ngồi dưới mái đình làng .
 
Ngoài Hà Nội, có lẽ vì thành phố thủ đô trử tình với mùa thu và hương hoa sửa, nên ông thầy già trưởng khoa Đỗ Tư Đông “khả kính” ở trường Cao đẳng Truyền Thanh Truyền Hình nhà nước "lấy điểm gạ tình" một số nữ sinh viên . Thầy chỉ cho điểm cao khi nào trò hoàn thành nhiệm vụ "trả bài" cho thầy trong khách sạn !
 
Dưới cái tỉnh Bình Phước mới toanh, nên thầy Lê Hoàng Sang, hiệu trưởng trường Lê văn Tám (lại Lê Văn Tám!) cũng vừa làm một điều vô cùng tân tiến: bắt các cô giáo chưa chồng phải uống rượu cùng các quan lớn địa phương, bất kể trưa chiều hay trước giờ lên lớp. Nếu lỡ
 
gọi các quan già bằng"chú" mà không phải bằng "anh" thì bị thầy hiệu trưởng nạt nộ đòi kỷ luật.
 
Mới đây trên đài BBC, ông Tạ Phong Tần, cán bộ sở thuơng Mại Du Lịch Bạc Liêu, sau một khóa được đào tạo tại chức, đã công khai tuyên bố :" Không ít tiến sĩ, thạc sĩ là những người biết diễn đạt những điều đơn giản trở thành khó hiểu hoặc không ai hiểu nỗi " (nguyên văn)
 
Cầu mong cho các em học trò nhỏ ở quê tôi không nghe được mấy cái tin "vui"này đăng đầy trên các tờ báo trong nước, để còn thấy mùa thu trên quê nghèo vần còn một chút thơ mộng dễ thương.
 
Trước khi rời khỏi quê hương, tôi ghé lên thành phố thăm thằng bạn học cũ, trước kia là một giáo sư tóan-lý-hóa nỗi tiếng của một trường trung học lớn., Bây giờ ngồi bán thuốc lá ở vỉa hè. Con cái nó cũng đã nghỉ học từ lâu để lăn vào cuộc sống, nên mấy cái bằng cử nhân toán nó chỉ còn dùng để ..gói thuốc lá. Bỗng dưng tôi nhớ tới bài thơ của một ông nhà thơ nào trong nước mà lòng thấy ngậm ngùi:
 
"Thầy có nhớ con không...?"
Tôi giật mình nhận ra người đàn ông áo quần nhếch nhác
người đàn ông gầy gò ngồi sau tủ thuốc ven đường.
 "Thầy còn nhớ con không...?"
Câu lặp lại rụt rè rơi vào im lặng
hoa phượng tháng Năm rơi đầy vỉa hè
rụng xuống trên vai người thầy học cũ
 
"không... xin lỗi.. ông lầm...
Tôi chưa từng dạy học
Xin thối lại ông tiền thuốc... cám ơn!"
Cuộc sống cho ta nhiều quên, nhớ, vui, buồn
Thầy học cũ mười năm không lầm được
Thầy học cũ ngồi kia giấu mình sau tủ thuốc
giấu mình sau hoa phượng rụng buồn tênh.
Con biết nói gì hơn, đứa học trò tôn sư
người Thầy cũ lại chối từ kỷ niệm,
chối từ những bài giảng dạy con người đứng thẳng,
biết yêu anh em - đất nước - xóm giềng.
Đứa học trò vào đời với trăm nghìn giông bão,
Bài học ngày xưa vẫn nhớ mãi không quên.
Bên hè phố im lìm,
vành nón sụp che mắt nhìn mỏi mệt.
Câu phủ nhận phải vì câu áo rách
trước đứa học trò quần áo bảnh bao?
Tôi ngẩn ngơ đi giữa phố xá ồn ào,
những đứa trẻ con tan trường đuổi nhau trên phố.
Mười năm nữa đứa nào trong số đó,
sẽ gặp thầy mình như tôi gặp hôm nay?
 
Ngày rời khỏi quê hương, ngồi trên máy bay nhìn xuống, mùa thu Sài gòn không có lá vàng rơi, cũng không có con nai vàng nào ngơ ngác, mà sao tôi thấy như vàng cả không gian , ảm đạm cả đất trời. Tôi bỗng ngộ ra một điều ngộ nghĩnh : Đâu phải chỉ có mấy ông nhà thơ, mấy ông nhạc sĩ mới nhuộm buồn được mùa Thu, mà trên quê hương tôi, có những con người dù chằng có một chút xíu tâm hồn nào, có khi không có cả quả tim, mà cũng có thể làm cho mùa thu quê tôi .. buồn chết được.
 
(Khi máy bay lên cao và ra khỏi không phận Việt Nam, tôi lật tờ báoTuổi Trẻ ra đọc, nhiều dộc giả vui mừng vì Việt Nam vừa có ông Bộ Trưởng Giáo Dục mới, một người rất quan tâm đến nền giáo dục và nặng lòng cho tương lai của các thế hệ trẻ quê nhà. Tôi mừng và hy vọng, nhưng cũng thấy lo âu. Không biết một vài con én có thể làm được một mùa Xuân, khi nền giáo dục ở quê nhà đã trải qua những mùa đông khá dài và ..lạnh lẽo)
 
Phạm Tín An Ninh

More Articles...

Page 1 of 38

Start
Prev
1
Search - Content
Search - Weblinks
Search - Contacts
Search - Categories
Search - Sections
Search - Newsfeeds
Search - JComments

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:
Xuân Du
Túy Hà
Phạm Tương Như
Songthy

Tác Giả

Time Zone Clock

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013

Tìm bất kỳ bài viết nào theo vần A B C

Google Analytics Alternative