Nhật Hồng Nguyễn Thanh Vân

Phiếm Bàn Về 
“Tâm Sự Bà Huyện Thanh Quan”
Trong Bài Qua Đèo Ngang
 
Qua Đèo Ngang      
 
Bước tới đèo ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá lá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông chợ (rợ) mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta !
 
          Theo Từ Điển Wikipedia ghi nhận, thì Bà Huyện Thanh Quan đã để lại cho đời gồm 6 bài thơ bằng chữ Nôm theo thể Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật như sau:
 
2. Qua Chùa Trấn Bắc.
4. Chiều Hôm Nhớ Nhà.
5. Tức Cảnh Chiều Thu.
6. Cảnh Đền Trấn Võ.
 
Một số ý kiến khác lại cho rằng, Bà Huyện Thanh Quan chỉ để lại 4 bài là Thăng Long Hoài Cổ; Chiều Hôm Nhớ Nhà; Qua Chùa Trấn Bắc và Qua Đèo Ngang, còn những bài khác thì chưa chắc, trong đó lại có bài nằm trong nhóm tác phẩm của Bà Hồ Xuân Hương.
 
Trong bốn bài thơ đó đều tuyệt tác, người ta thấy tấm lòng “hoài cổ” của Bà rõ nét rất nhiều, nhưng trừ bài Qua Đèo Ngang, thì 3 bài kia lại có nhiều thành ngữ chữ Hán. Xin được nêu ra đây để thấy sự khác biệt với bài Qua Đèo Ngang, mặc dù cũng cùng chung một tấc lòng hoài cổ như đã nêu trên của tác giả.
 
Thăng Long Thành Hoài Cổ            
 
Tạo hóagây chi cuộc hí trường,
Đến nay thắm thoát mấy tinh sương.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt với tang thương,
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.
 
(Những chữ Hán là: tạo hóa, hí trường, tinh sương, thu thảo, lâu đài,
tịch dương, tuế nguyệt, tang thương, kim cổ, đoạn trường).      
 
Chiều Hôm Nhớ Nhà           
(Có sách gọi bài này là Chiều Hôm, còn
Chiều Hôm Nhớ Nhà lại là bài khác)
 
Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn.
Gác mái ngư ông về viễn phố,
Gỏ sừng mục tử lại cô thôn.
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
Kẻ chốn chương đài người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn.
 
(Những chữ Hán là : hoàng hôn, ngư ông, viễn phố, mục tử, cô thôn,
chương đài, lữ thứ, hàn ôn).
 
Qua Chùa Trấn Bắc           
 
Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu,
Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau.
Mấy tòa sen tỏa hơi hương ngự,
Năm thức mây phong nếp áo chầu.
Sóng lớp phế hưng coi đã rộn,
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau.
Người xưa cảnh cũ nào đâu tá,
Ngơ ngẩn lòng thu khách bạc đầu.
 
(Những chữ Hán là : hành cung, cố quốc, hương ngự, phong, phế hưng,
kim cổ)     
 
QUA ĐÈO NGANG
 
Bước tới đèo ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá lá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông chợ (rợ) mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta !
 
- Hai chữ Quốc quốc và Gia gia vừa là chữ Hán, mà cũng là hai chữ tượng thanh của chim Cuốc (tức chim Đỗ Quyên) và chim Đa Đa (Gà Gô).
 
Trước khi cố gắng phân tích về tâm tình hoài cổ và nỗi nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan, xin phép được lược qua về tiểu sử của Bà để bạn đọc rộng đường tìm hiểu thêm.
 
Theo Giáo Sư Dương Quảng Hàm trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu trang 396 thì ghi là : không rõ họ tên của Bà. Còn các tác giả về sau này lại cho rằng Bà tên là Nguyễn Thị Hinh sinh năm 1805 và mất năm 1848, người Làng Nghi Tàm, Huyện Vĩnh Thuận ở ven Hồ Tây, Hà Nội. Bà là con của vị danh nho Nguyễn Lý (1755-1837) vốn là một cựu thần nhà Lê, sống ở thế kỷ 19, (khoảng cuối triều Lê, đầu Nguyễn). Bà kết duyên cùng ông Lưu Nguyên Ôn (1804-1847) bút hiệu Lưu Ái Lan (có sách còn chép là Lưu Nghi hay Lưu Nguyên Uẩn), đỗ cử nhân triều Minh Mệnh, và được bổ làm Tri huyện Thanh Quan, nay là huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Vì là phu nhân của huyện quan, nên người đời gọi là Bà Huyện Thanh Quan. Bà cũng được vua Minh Mệnh triệu vào kinh phong chức Cung Trung Giáo Tập để dạy các công chúa, phi tần và cung nữ.
 
Có tác giả nói Bà là học trò của danh sĩ Phạm Quý Thích bạn thân với Thi Hào Nguyễn Du, nhưng cũng có tác giả cho rằng cha của Bà mới là học trò của cụ Phạm Quý Thích, chứ không phải là Bà.
 
Xem ra thì tiểu sử hãy còn mù mờ, vì mỗi tài liệu ghi mỗi khác nhất là năm sinh và mất của Bà. Xin tạm theo Wikipedia, mà Wikipedia cũng ghi theo một vài tác giả sau này căn cứ vào chồng Bà (1804-1847), để nói về năm sinh 1805 và mất 1848 của Bà vậy. Ở đây xin tạm vin vào cái mốc 1805-1848 này, để lý giải phần nào về tâm sự của Bà. Đó là tâm sự “hoài Lê” mà nhiều người đã từng nghĩ như thế.
 
Xuyên qua ba bài thơ “Thăng Long Thành Hoài Cổ, Chiều Hôm Nhớ Nhà và Qua Chùa Trấn Bắc”, ta thấy rõ tâm sự “nhớ về triều đình cũ” hơn là nỗi nhớ nhà của Bà như:
- Nào là “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo; Nền cũ lâu đài bóng tịch dương” trong bài Thăng Long Thành Hoài Cổ.
- Nào là “hành cung”, “cố quốc”, “mùi hương ngự”, “nếp áo chầu”, “sóng lớp phế hưng”, “người xưa cảnh cũ” trong bài Qua Chùa Trấn Bắc.
- Còn bài Chiều Hôm Nhớ Nhà thì rõ ràng là tả cảnh kẻ đi ngoài “dặm liễu sương sa” mà nhớ về kẻ ở “chương đài”, cho nên biết ai mà “kể nỗi hàn ôn ấm lạnh”.
 
Kẻ đi ngoài dặm liễu, cho phép ta liên tưởng đến bước đường muôn dặm của Bà phải đi từ huyện Thanh Quan, tỉnh Thái Bình vào kinh thành ở Phú Xuân (Huế) do lệnh vua phong làm Cung Trung Giáo Tập.
 
Còn danh từ “Chương đài” theo tích “Liễu chương đài” chỉ nơi người đẹp tên Liễu ở con đường Chương Đài trong chuyện của Trương Hoành bên Tàu. Các tác giả Việt Nam ta thường dùng điển tích “chương đài” này để chỉ nơi đài các, hoặc chỉ về các tiểu thơ hay các mệnh phụ phu nhân, cho nên ta có thể hình dung câu “Kẻ chốn chương đài người lữ thứ” trong bài Chiều Hôm Nhớ Nhà, là nói về tâm trạng nhớ nhà, nhớ chồng con đang ở nơi đài các hoặc phủ nha tại huyện Thanh Quan, mà Bà lại là người lữ thứ đang đi ngoài vạn dặm trường đình.
 
Cái tâm trạng nhớ nhà của Bà, ta cũng thấy bàng bạc ở câu “Thương nhà mỏi miệng cái gia gia” trong bài Qua Đèo Ngang. Tại sao là thương nhà ? Theo nhiều tài liệu ghi lại, thì Ông Huyện Thanh Quan chồng Bà có thời gian bị cách chức vì can án. Vậy thì phải chăng khi Bà lên đường vào Kinh Đô Phú Xuân thụ phong chức Cung Trung Giáo Tập, là lúc chồng Bà đang hồi vận bỉ này, nên Bà mới hạ bút thương nhà ?!
 
Đọc đi, đọc lại nhiều lần bốn bài thơ Thăng Long Hoài Cổ; Chiều Hôm Nhớ Nhà; Qua Chùa Trấn Bắc và Qua Đèo Ngang, rồi đối chiếu vào lịch sử nước nhà, kẻ viết xin đưa ra những thiển kiến của mình, để lập luận về tinh thần hoài cổ của Bà như sau:
Năm 1786 Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc Hà dưới danh nghĩa “Phù Lê Diệt Trịnh” và đã làm xong sứ mạng. Ngài được vua Lê Hiển Tông gả Công Chúa Ngọc Hân cho.Lúc đó dân chúng cả nước đều căm phẫn việc Chúa Trịnh tiếm quyền vua Lê, và khi Nguyễn Huệ diệt Chúa Trịnh xong ai nấy đều vui mừng hớn hở vì đã trừ xong mầm mống loạn thần, nhất là dân chúng Bắc Hà càng vui mừng gấp bội. Kinh thành Thăng Long lại rực đèn hoa chúc mừng đám cưới của Công Chúa Ngọc Hân sánh duyên cùng hào kiệt đất Tây Sơn là Phò Mã Nguyễn Huệ, lúc đó được tấn phong là Nguyên Súy Dực Chính Phù Vận Uy Quốc Công. Rồi vua cha Lê Hiển Tông băng hà, Nguyễn Huệ đưa Công Chúa Ngọc Hân về Nam. Vua Lê Chiêu Thống lên ngôi, nhưng triều chính rối ren, phe Chúa Trịnh lại nổi lên làm loạn, khiến Nguyễn Huệ phải đưa quân ra Bắc lần nữa mới dẹp yên.
 
Nhân đó vào tháng 4 năm Đinh Mùi (1787) Nguyễn Nhạc là Anh Cả của Nguyễn Huệ chia vùng đất phía Nam ra làm ba : Từ đèo Hải Vân trở ra Bắc thuộc Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ. Đất Gia Định thuộc về người Anh Thứ Hai của Nguyễn Huệ là Đông Định Vương Nguyễn Lữ. Nguyễn Nhạc tự mình đóng đô ở Qui Nhơn xưng là Trung Ương Hoàng Đế (theo Tóm Tắt Niên Biểu Lịch Sử VN của hai ông Hà Văn Thư và Trần Hồng Đức).
 
Như vậy quyền hành vua Lê bị tước bỏ, không còn lại là bao; cho nên đến cuối năm 1788 vua Lê Chiêu Thống cõng rắn cắn gà nhà, bằng cách đưa đường cho đội quân xâm lược Mãn Thanh vào chiếm đóng kinh thành Thăng Long. Quân Thanh vô cùng tàn bạo, phá hủy hết đền đài cung điện của kinh thành và tàn sát người dân Việt Nam không chút nương tay.
 
Đến mùng 5 Tết Kỹ Dậu (1789), Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ hành quân thần tốc, đánh tan 20 vạn quân Thanh tại Gò Đống Đa, đem lại thanh bình cho trăm họ từ Bắc vào Nam…
 
Khi Bà Huyện Thanh Quan ra đời tại vùng đất Hồ Tây, ngoại ô Thăng Long khoảng năm 1805 cho đến tuổi cặp kê hiểu biết ít nhiều về văn chương lịch sử, tạm cho là khoảng 1820, thì thời điểm này cách với năm “đám cưới lịch sử” của Ngọc Hân Công Chúa và năm “đại thắng quân Thanh” của Hoàng Đế Nguyễn Huệ, chỉ trên dưới 30 năm.
 
Ắt hẳn Bà vẫn còn nghe được phụ mẫu của mình và những bô lão là dân Thăng Long, ca tụng và truyền tụng hai sự kiện huy hoàng và trọng đại trên, bằng những tấm lòng ngưỡng phục vô cùng.
 
Nhất là cha của Bà, một quan lại triều thần của thời Lê mạt này, đã chính mắt nhìn thấy và cũng có thể tham dự vào ít nhất là một trong hai sự kiện đó, như tham dự vào đám cưới của Công Chúa Ngọc Hân chẳng hạn.
 
Rồi khi Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ vào chiếm Thăng Long, vẫn suy tôn vua Lê và trọng dụng các cựu thần cũ của nhà vua. Vị quan nào không muốn tiếp tục phục vụ triều đình, thì cho cáo lão về hưu chứ không hề bắt tội.
 
 Cha của Bà cũng ở trong hoàn cảnh hưởng được ân mưa móc đó, làm sao mà không ngưỡng phục cho được ? Từ đó có thể nói là ảnh hưởng không ít đến lòng ngưỡng mộ của Bà, đối với triều đại hào hùng của Đại Đế Quang Trung.
 
Chắc chắn rằng những ca tụng, truyền tụng và ngưỡng phục đó, không phải vì triều đình thối nát của nhà Lê trong thời gian cả trăm năm chuyên quyền của Chúa Trịnh, khiến cho đất nước qua phân vì Trịnh Nguyễn; mà vì cái chiến thắng lẫy lừng của Đại Đế Quang Trung, và trước đó, là đám cưới giữa trai anh hùng gái thuyền quyên Nguyễn Huệ, Ngọc Hân nơi hành cung tráng lệ với “hương ngự áo chầu, với ngựa xe rộn rịp uy nghi” ở ven Hồ Tây cảnh trí hữu tình… và cũng là nơi mà Bà Huyện Thanh Quan được sinh ra, nay chỉ còn là “nền cũ lâu đài bóng tịch dương” mà thôi !
 
Năm 1802 Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây Sơn lên ngôi Hoàng Đế, lại cho dời Kinh Đô về Huế, khiến cho đền đài cung điện tại Thăng Long đã hoang phế lại càng hoang phế thêm hơn !
 
Nhưng khi lên ngôi, Nguyễn Ánh tức vua Gia Long lại đối xử không nương tay với các cựu thần của Tây Sơn, nếu không muốn nói là vô cùng tàn ác, khiến cho lòng người ngán ngẩm mà có dịp so sánh, để ngậm ngùi thương cho triều đại của người anh hùng áo vải Quang Trung.
 
Thế thì tâm sự hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan, không phải là hoài vọng về triều Lê, trong đó có tên vua bán nước cầu vinh Lê Chiêu Thống, mà đây là tiếc thương cho triều đại Tây Sơn ngắn ngủi với Đức Hoàng Đế Quang Trung :  một minh quân kiêu dũng có một không hai trong lịch sử nước nhà.
 
Đến bài Qua Đèo Ngang, với hai câu “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc; Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”, thì nhận thấy cái ý tưởng hoài vọng về đất nước của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ rõ nét hơn.
 
Trước khi phân tích thêm về hai câu quốc quốc và gia gia trên, xin được mô tả về địa điểm Đèo Ngang:
 
Đèo Ngang nằm trên quốc lộ 1A, thuộc dãy Hoành Sơn đoạn chạy ngang ra biển Đông. Đèo dài 6 km, cao khoảng 250 m (750 ft). Phần đất phía Bắc thuộc xã Kỳ Nam, huyện KỳAnh, tỉnh Hà Tỉnh . Phần đất phía Nam là thuộc xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch tỉnh Quảnh Bình.
 
Đây là ranh giới cũ giữa Đại Việt (và trước đó là Đại Cồ Việt) với Chiêm Thành, từ sau khi người Việt giành được độc lập (năm 939, thời vua NgôQuyền) và trước thời kỳ Nam tiến của người Việt (năm 1069, thời nhà Lý). Đèo Ngang cách bờ Sông Gianh chảy qua tỉnh Quảng Bình (nơi Trịnh-Nguyễn phân tranh) là 27 km.
  
Xin nhớ là Nguyễn Nhạc đã phân chia ranh giới từ Đèo Hải Vân (Thừa Thiên) ra Bắc thuộc về Bắc Bình Vương cai quản, mà Đèo Ngang lại nằm trong địa phận đó. Cho nên, khi Bà Huyện Thanh Quan đến Đèo Ngang, hướng mắt nhìn về phương Nam có di tích Sông Gianh phía xa xa… mà tức cảnh sinh tình “nhớ nước đau lòng”.
- Nhớ nước đau lòng đây là những cuộc chiến nồi da xáo thịt của hai nhà Trịnh-Nguyễn, phân chia Đàng Trong, Đàng Ngoài, gây biết bao cảnh thê lương tang tóc cho người dân lành vô tội hơn cả 100 năm !
- Nhớ nước đau lòng đây, cũng là nhớ nước do Nhà Tây Sơn cai quản nói chung, và vùng đất nước của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ nói riêng, có một thời gian ngắn ngủi yên bình, nay đã mất.
 
Còn thương nhà, là thương cho gia cảnh của mình chăng ?  Có thể lập luận về việc này khi biết là do Bà, mà Ông Huyện Thanh Quan bị mất chức.
 
Cũng theo Wikipedia, sự việc này là nhân lúc Ông huyện Thanh Quan (Lưu Nghi) đi vắng, có một cô gái tên là Nguyễn Thị Đào đã đệ đơn lên trình bày rằng chồng cô đã ruồng bỏ cô để xin được ly dị, lấy chồng khác.
 
Vì thương cảm, Bà Huyện Thanh Quan đã thay chồng phê đơn cho phép ly hôn bằng mấy câu thơ:
 
Phó cho con Nguyễn Thị Đào,
Nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai ?
Chữ rằng : Xuân bất tái lai,
Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già !
 
Hay chuyện, chồng cô Đào kiện quan trên. Quan trên ăn của đút, giáng chức Ông huyện Thanh Quan.
 
Nghe nói vì việc này và cũng còn vì vài nguyên do khác nữa, mà rốt cuộc Ông huyện Thanh Quan bị giáng chức ! Xem ra, thì việc tiếm quyền chồng “làm thơ xử án” của Bà, đã đưa Ông huyện và cả gia đìnhđến những hậu quả đầy tai hại !
 
Đề cập đến “quốc quốc và gia gia”, thì cũng xin mạn phép trích ra đây bài viết của ông Nguyễn Vĩnh Tráng đăng trong www.vietthuc.org như sau:
 
… “Mặt khác, tôi tìm thấy trong Contes et Légendes du Pays d’Annam của Lê Văn Phát, viết năm 1913, in lần thứ 2, tại Imprimerie de l’Union Nguyễn Văn Của, Sàigòn 1925, có bài "Le Râle d’eau".
 
Trong "Le Râle d'eau" lại có bài "Đèo Ngang", rặt chữ Nôm, văn phong rất mộc mạc, còn nội dung thì giống hệt nội dung bài "Qua Đèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Quan.
 
Bài  "Le Râle d’eau" kể chuyện ngày xưa. Chuyện vua La Hoa (?) nước Chiêm Thành đem quân đánh Giao Chỉ. Môt cận thần tên Quốc đã hết lời can gián và xin hoãn lại cuộc viễn chinh, nhưng nhà vua không nghe.
 
Biết rằng trận chiến này thế nào cũng thất bại, Quốc xin theo, hầu quyết tâm bảo vệ an toàn cho chúa.
 
Cuộc chiến xảy ra ở Đèo Ngang. La Hoa, quá hiếu chiến, quá chủ quan, tiến thẳng đến trận tiền, nên bị trúng tên mà chết. Quá đau đớn, Quốc liều xông ra chém giết giữa muôn tên ngàn giáo để báo thù. Nhưng đơn thương độc mã, nên Quốc đã chết dưới làn sóng của địch quân.
 
Quá uất ức, hồn của Quốc không siêu thoát được, cứ phảng phất quanh Đèo Ngang để tìm xác chủ, nhưng vô hiệu quả. Sau đó Quốc tái sinh dưới dạng con chim Cuốc, để đêm đêm rít lên những tiếng kêu bi ai của một vị trung thần khóc quốc vương tử trận : "Quốc Quốc, La Hoa", Quốc ở  đây, còn La Hoa ở  đâu ?
 
Một văn nhân vô danh, đi qua Đèo Ngang, nhớ lại chuyện xưa, đã làm bài thơ "Đèo Ngang".
 
Ông Lê Văn Phát chỉ để lại hai tác phẩm  La vie intime d’un Annamite et ses croyances vulgaires, (Bulletins de la Société des Etudes Indochinoises, Imprimerie F.H Schneider Sàigòn 1907), và Contes et Légendes du Pays d’Annam, (Imprimerie de l’Union Nguyễn Văn Của, Sàigòn 1913), bằng chữ Pháp.
 
Như thế, có thể ông Lê Văn Phát không biết nhiều về các tác phẩm của Bà Huyện Thanh Quan. Những bài của ông Lê Văn Phát viết, toàn là chuyện cổ tích, huyền thoại dân gian cả.
 
Bài «Đèo Ngang» trong Contes et Légendes du Pays d’Annam có thể là một giai thoại dân gian lâu đời, có trước thời Bà Huyện Thanh Quan chăng.
 
Sau đây là bài "Đèo Ngang" theo ông Lê Văn Phát sưu tầm, và “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan :
 
ĐÈO NGANG (Ô. Lê Văn Phát sưu tầm)
 
Qua ải Đèo Ngang bóng ác tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen ba.
Non cao rải rác tiều vài lão,
Đất rộng lai rai xóm mấy nhà.
Nhớ chúa đau lòng con Quốc Quốc,
Kêu người mỏi miệng tiếng Hoa Hoa
Dừng chơn ngóng cổ miền non nước,
Một tấm lòng riêng ta với ta.
                                    Vô Danh
 
- Quốc Quốc là tên của trung thần Quốc.
- Hoa Hoa là tên của vua La Hoa.
QUA ĐÈO NGANG
 
Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá lá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông chợ (rợ) mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con Quốc Quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái Gia Gia.
Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.
                     Bà Huyện Thanh Quan
 
- Quốc Quốc là chim Cuốc (Đỗ Quyên).
- Gia Gia là chim Đa Đa (Gà Gô).
 
Vậy phải chăng Bà Huyện đã lấy bài đó, đã có từ lâu, và trau chuốt lại thành một bài thơ bất hủ như ta đã biết”. (Hết trích).
 
Căn cứ vào câu chuyện phóng bút “làm thơ xử án” của Bà khiến cho gia cảnh suy sụp, rồi nay chính bản thân Bà, lại phải trải qua muôn dặm đường trường về kinh phó nhậm. Tuy là cũng làm quan đấy, nhưng trong lòng cả hai vợ chồng Bà chắc gì không khỏi buồn phiền.
 
Nay trên đường xuôi Nam, đứng trên Đèo Ngang nơi có di tích lịch sử xa xưa vinh quang cũng có, mà ô nhục cũng nhiều.
 
Vinh quang là nơi đây trở về Nam, trước kia là của Chiêm Thành, nay đã được tiền nhân ta mở rộng cõi bờ. Còn ô nhục là cũng chính nơi Đèo Ngang này là điểm đóng quân của Chúa Trịnh, khi xua binh đánh chiếm miền Nam của Chúa Nguyễn gây nên biết bao cảnh tương tàn ! 
 
Nếu không có đạo quân với chính nghĩa “phò Lê diệt Trịnh” của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ, cũng đã từng đi ngang qua đây tiến ra giải phóng Bắc Hà, thì cảnh qua phân nồi da xáo thịt giữa Trịnh-Nguyễn còn kéo dài đến biết bao giờ mới dứt ?
 
Tâm trạng hoài cổ của Bà ở đây, có thể cho phép ta suy luận là “hoài Tây Sơn” chứ không phải “hoài Lê”, cho nên mới nhớ nước mà đau lòng cho vị vua anh minh thần võ Nguyễn Huệ sớm đã băng hà ! 
 
Nhưng lúc đó, trong triều vua Gia Long tàn sát cựu thần của Tây Sơn rất nhiều, và còn ảnh hưởng đến triều vua Minh Mạng này nữa, nếu cái tâm trạng “hoài Tây Sơn” này của Bà thấu tai đến triều đình, thì khó bảo toàn mạng sống.
 
Tại sao lại nói vậy ?  Xin thưa :  Bà được vua vời vào triều đình phong chức Cung Trung Giáo Tập tức là được ân sủng rất nhiều, mà ở bài thơ này lại than là “Nhớ nước đau lòng ?”.
 
Nhớ nước nào đây mà phải đau lòng ?  trong khi đất nước dưới triều Minh Mạng mà vợ chồng bà làm quan đó, muôn dân sống trong cảnh thống nhất thanh bình.
 
Triều đình đương đại có thể bắt tội Bà bất trung, nếu không mượn điển tích chim Quốc đưa vào để trọn vẹn câu thơ “Nhớ nước đau lòng con Quốc Quốc”, tức câu thơ này ám chỉ trung thần Quốc của vua La Hoa kêu tiếng nhớ nước Chiêm Thành, chứ không phải là tâm trạng của riêng Bà.
 
Đến câu “Thương nhà mỏi miệng cái Gia Gia”, hẳn nhiên là nỗi thương gia cảnh của chính Bà đang chia biệt với chồng con. Để rồi qua hai câu kết của bài Qua Đèo Ngang, Bà hạ bút: “Dừng chân đứng lại trời, non, nước. Một mảnh tình riêng ta với ta !”.
 
Thật là giữa trời non nước bao la, nơi đèo cao rừng rậm quạnh hiu này, tai lại nghe chim cuốc chim đa kêu não nuột khiến Bà ôm bao mối tơ tình, mà chỉ có một mình Bà biết một mình Bà hay mà thôi !
 
Cũng may là chồng Bà về sau này được bổ vào chức Bát Phẩm Thi Lại Bộ Hình, và cuối cùng lên đến Viên Ngoại Lang. Người đời sau cho là do Bà vào cung dạy học nên chồng Bà nhờ đó mà được thăng quan.
 
Đến năm 1843, sau khi chồng mất được vài tháng, Bà lấy cớ sức yếu xin thôi việc dẫn 4 con về lại Nghi Tàm cho tới lúc qua đời.
 
Để kết luận và bằng riêng vào tấm lòng thương nhà của Bà như đã nêu, kẻ hậu sinh này xin nương vào “năm vận” trong bài Qua Đèo Ngang, để làm bài thơ Thuận Nghịch Độc “Đèo Ngang Tâm Sự” cả gan mô tả về nỗi thương nhà của Bà trong lúc đó. Đúng hoặc sai, hay hoặc dở cũng xin Bà nhận cho, mà đừng quở trách kẻ hậu sinh này luôn hết lòng ngưỡng phục thi tài trác tuyệt của Bà :
 
ĐÈO NGANG TÂM SỰ
             (Tưởng tượng nỗi thương nhà của Bà Huyện Thanh Quan khi tới Đèo Ngang)
 
Đọc Xuôi:
Sương chiều nắng ngã bóng dương tà,
Vắng lạnh đèo nghiêng dốc đá hoa.
Thương nhớ nặng sầu quê cách núi,
Chứa chan hoài cảm nỗi xa nhà.
Gương rầu bóng tủi hờn son phấn,
Gối lẻ thân buồn chạnh thất gia.
Vương lệnh nhận lời vâng chỉ phán,
Chương đài lối rẽ chịu đành ta !
Đọc Ngược:
Ta đành chịu rẽ lối đài chương,
Phán chỉ vâng lời nhận lệnh vương.
Gia thất chạnh buồn thân lẻ gối,
Phấn son hờn tủi bóng rầu gương.
Nhà xa nỗi cảm hoài chan chứa,
Núi cách quê sầu nặng nhớ thương.
Hoa đá dốc nghiêng đèo lạnh vắng,
Tà dương bóng ngã nắng chiều sương!
 
           Nhật Hồng Nguyễn Thanh Vân
 
Nhật Hồng
Nguyễn Thanh Vân

Mang Viên Long

“Tuyệt Huyết Ca”
Của Đặng Tấn Tới     
 
Tại sao tôi chọn đọc thi phẩm “Tuyệt huyết ca” mà không là “Thi Thiên” (tác phẩm thứ tư, phát hành mùa Thu Quí Sửu), hay thi phẩm mới nhất vừa phát hành trong mùa Xuân 1974 là “Trúc Biếc” của Đặng Tấn Tới ? Tại sao là một tập thơ mỏng manh, được in ra vội vàng trong một năm đầy biến cố (mùa hè 1972), kỹ thuật trình bày cũng xoàng xỉnh, mà không là một tập nào trong 04 tập thơ xem như được độc giả lưu ý nhiều nhất ?
 
Chọn đọc “Tuyệt Huyết Ca” tôi cần nói tới hai điều :
 
1-Nỗi bi thiết tuyệt diệu và vô cùng của kẻ sĩ Việt Nam (hay nói cách khác: Nỗi bi thiết tuyệt diệu và vô cùng của người nghệ sĩ Việt Nam) hai mươi năm “lạnh nghe hồn réo mười phương, Ngợp lòng hoa huyết buốt xương tương tàn”.
 
2-Minh chứng, lần chót nhưng không phải là thừa thãi, không có sự phân chia (không phải sự tìm hiểu, nghiên cứu) nào trong Thi ca là thích hợp ; hay nói cách khác, không thể uốn nắn, xếp loại một cách gượng ép, cứng nhắc, với nhiều ác ý để từ đó đưa ra những luận cứ nhất thời rất hàm hồ, về những thi phẩm đã được giới thiệu.
 
Phần một (xin tóm tắt) : Thi phẩm “Tuyệt Huyết Ca” gồm 27 đoạn thơ song thất lục bát, tất cả 108 câu thơ, chung quanh một nhan đề chính đã được chọn. Sử dụng lối thơ cổ truyền Việt Nam để diễn tả những khúc ca máu hồng tuyệt vời của dân tộc, Đặng Tấn Tới đã dồn hết rung cảm tích tụ kỳ diệu bao năm giữa “Trăng cổ độ ố mầu tăng hải, Trải thu phần quan tái vài bông”, trong cảnh tượng đời sống ghê khiếp như ma quái “Người vất vưởng tận hang cùng cốc. Kiếp lạc loài oan khốc kêu sương” vào thời gian được ghi nhận là biến loạn nhất trong hai mươi năm chinh chiến.
 
Tôi tạm chia “Tuyệt Huyết Ca” thành một bố cục như sau : Đoạn một : (08 câu đầu) Tình cảm mang mang thúc đẩy lần viết (hay lần mở) từng trang tuyệt huyết của Dân tộc. Đoạn hai : (72 câu tiếp) có thể chia làm 04 tiểu đoạn. Tiểu đoạn a: (08 câu) Viết (hay mở) với tư thái thong dong, trang trọng, chua xót và có chút gì như là chán nản. Tiểu đoạn b : (16 câu) . Những trang đầu tiên – là một cuộc tao ngộ kỳ bí, đưa đẩy tác giả túy lúy trong cảnh “Sông nước chảy chiêm bao máu rạng. Chén vàng thanh ngồi nán đêm sương”. Tiểu đoạn c: (16 câu) . từ cuộc hội ngộ “chung tuyệt huyết” tri kỷ trên, thảm cảnh ma quái trần gian tỏ lộ sáng ngời như đời sống ngày đêm của Dân tộc đã hai mươi năm “Người vất vưởng tận hang cùng cốc/ Kiếp lạc loài oan khốc kêu sương/ Máu khô thịt nát bên đường, Rợp mầu tinh huyết đò dương đắm chìm”. Tiểu đoạn d : (32 câu) . Thái độ tìm thấy khi đã kinh qua cảnh đoạn trường (ở đây cũng là tâm sự, thái độ của kẻ sĩ – hay nghệ sĩ, đối với mọi biến động) : Giải quyết những nỗi ưu tư bi thiết bằng sự an ủi của chính mình, bằng sự xoa dịu của đôi mắt nhân ái trầm buồn của Phật Lão, và sau rốt, bằng vào sự hy vọng (vẫn còn hy vọng) : “Non nước cũ rạng ngời sông núi / Trời trong xanh muôn tuổi thơ ngây / Nước trôi mây cuốn chưa đầy / Ngày sương nắng biếc hồng rây ánh vàng”. Đoạn 3  (28 câu cuối): Con người đau khổ thống thiết từ đầu (cuộc tao ngộ) đã đổi khác : Ở đây là một cõi mới, một đời sống tiên cảnh lạ thường, hay là một cõi chiêm bao mộng mị của đa số nghệ sĩ Việt Nam. Nhờ đâu con người (em Nguyên Thủy) đã chết với máu me, với hình hài tiều tụy, với xương trắng cát lạnh, đã được sống lại vào đoạn kết ? Nhờ đâu? Xin thưa : Nhờ niềm hy vọng. Nhờ ước mơ. Nhờ mơ tưởng. Nhưng phải chăng mọi hy vọng ở tương lai cũng chỉ là chiêm bao ? Đoạn kết : “Mây gió nổi trôi ngàn bước mộng/ Bàn chân không lùa sóng vô biên/ Ta đi dạo khắp cõi miền/ Này là phố thảo kia triền xóm hoa”.
 
Đặng Tấn Tới trong “Tuyệt Huyết Ca” không phải u mặc như Tâm Thu Kinh, cũng không gảy những đoản khúc du dương (hân hoan hay bi lụy) liếc ngó đời  sống với đôi mắt nhuốm đượm màu sắc Lão Trang – một thái độ ẩn dấu, e dè, nản chán – đó là thái độ hay tâm sự của kẻ sĩ hiện thời. Trong 108 câu thơ ở “Tuyệt Huyết Ca” đã kéo được tấm màn cho ngần ngại cho thấy rõ ràng một hình ảnh của nhà thơ : Đây là những hình ảnh trung thực, gần gũi, linh hoạt, chứa chất nhiều tâm sự bi đát (không giấu diếm – qua những cái nhìn, đến tư tưởng) có thể đại diện cho đa số kẻ sĩ (hay nghệ sĩ) hiện thời : Thương nhớ quê hương, xót xa vì vận nước, nhưng chỉ thể hiện bằng những thái độ tiêu cực (Than thân trách phận, buồn nản, tuyệt vọng, hy vọng, mơ ước, mộng mị, chiêm bao, và thoát tục : Một tính chất biểu hiện hiển nhiên trong vài năm gần đây tâm sự, quan niệm, đời sống của người nghệ sĩ (hay kẻ sĩ) rất phù hợp với vận nước, cùng những cố gắng khai phá cho Thi ca một lối thoát). Sự chuyển biến tâm tư trên có thể giải thích tóm tắt : Quá Đau Khổ Ngao Ngán -> Thất Vọng -> Quá Thất Vọng -> Hy Vọng – > Trở Về Với Mình = Mộng / Ước / Chiêm Bao / Thoát Tục, v.v…. Tất cả những trạng thái tình cảm quanh co nầy đã được ghi dấu trong “Tuyệt Huyết Ca” bằng một giọng trầm tĩnh, trang trọng nhưng lại quá lâm li bi đát.
 
Tình cảm đó là :
Mang mang cát bụi lên đường
Những xương máu cũ phai hường là đâu?
Trăng cổ độ ố mầu tang hải
Trải thu phần quan tái vài bông
Nao nao gió giục sang hồng
Rụng bao nhiêu cánh giữa lồng nhân sinh
Ngậm ngùi thương cảm :
Ghé trong mây trắng môi cười
Một xe cát bụi xô người ra đi
 
Và :
 
Vin sắc máu trong tòa hồng sử
Tay run mầu lữ thứ cô hương
Lạnh nghe hồn réo mười phương
Ngợp lòng hoa huyết buốt xương tương tàn
 
Nồng nhiệt, tha thiết :
 
Ta uống cạn giòng trong bích ngạn
Cuộn tâm bào ức vạn sinh linh
Quá giang ca ngộ cô tình
Lấp mầm sinh tử như mình như ai
Người thoáng hiện di hài cuối nguyệt
 
Đoạn trường:
 
Hồn đau nhỏ máu tơ đồng
Mấy cung hồ rợn mênh mông gió gào
Sông nước chảy chiêm bao máu rạng
Chén vàng thanh ngồi nán đêm sương
 
Chán nản :
Mây trôi lớp lớp vô thường
Trời xanh còn lại con  đường chim bay
 
Nhìn thấy:
 
Người vất vưởng tận hang cùng cốc
Kiếp lạc loài oan khốc kêu sương
Máu khô thịt nát bên đường
Rợn mầu tinh huyết đò dương đắm chìm
 
Và :
Phơi xương trắng ngoài đêm cát lạnh
Vùi đó đây từng mảnh thân non
Đất bay đá chạy chi còn
Bi thương cổ lục héo mòn tân thanh !
 
Vì thế, tâm sự :
 
Trường thu hận tan tành sông núi
Bao mạng người làm củi nung tim
Mây ơi nở nụ im lìm
Chở hồn hoa trắng bay tìm tình tang
 
Tiếng kêu thương trầm thống còn vọng mãi muôn đời:
 
Nghìn thu trước ai tình xanh mắt
Nghìn thu sau hiu hắt hồn hương
Cùng nhau về tụ đầu sương
Long lanh chút mộng cuối đường tài hoa.
 
………………………………….
 
Không kể đến những tâm sự được giải bày mạch lạc trong một bố cục chặt chẽ (điều nầy cố ý hay vô tình ? Tác giả đã : “Ta cũng sầu mở quá độ chơi”) phô diễn và liên kết từng dòng xúc cảm, từng chặng thăng trầm, như một lan tràn tươi mát của suối nguồn. Ngoài một lối sử dụng thể thơ song thất lục bát độc đáo, mới lạ, tuyệt vời nhất trong những áng thơ song thất lục bát đã có tự cổ chí kim (Tôi chịu trách nhiệm về những phát biểu đã nói hôm nay cho tới ngàn sau), không có một câu thơ nào trong 108 câu của “Tuyệt Huyết Ca” tì vết, suy suyễn (mà bạn có biết là tại sao có 108 câu?). Tôi có thể ví như một xâu chuỗi hạt, 108 hạt ngọc đều ngời sáng và quí giá như nhau. Không chú trọng tới những ưu điểm hình thức, điều quan trọng tôi muốn nói lên khi chọn đọc “Tuyệt Huyết Ca”, phân đoạn và dẫn chứng, rằng không có sự phân chia nào trong Thi ca là thích hợp cho mỗi tác giả, không cố định và bắt buộc phải chịu dán cái nhãn hiệu kỳ quặt xa lạ đối với họ (Thi sĩ) Rằng Thơ phải đọc bằng tâm hồn, rung cảm tự nhiên, đọc và mê man tàng tịch trong mỗi dòng mỗi chữ. Rằng thơ phải như thế – xúc cảm ; nồng nhiệt, phẫn nộ, hay đau xót, hân hoan cũng phải chảy vào lòng người bằng ngõ ngách sâu khuất nhất của tâm hồn. Chứ không phải là một kỹ thuật dụng chữ. Dụng ngôn. Đao to búa lớn. Tôi có thể vắn tắt : Sự rung cảm truyền đạt bền bỉ và sâu sắc là phần quyết định chân giá trị của một thi phẩm chứ không phải : Viễn mơ, Dấn thân, Thiền hay một cái gì ngộ nghĩnh khác.
 
Mang Viên Long

Luân Hoán

Chợt Thấy Nụ Tình Xưa
 
tưởng rằng lòng rất bình an
hóa ra có chút bàng hoàng, bâng khuâng
nghìn trùng xa chợt hoá gần
như hơi thở chạm tay chân ngày nào
 
vẫn còn đây cái hàng rào
nằm trong hẻm nhỏ mở vào lòng ta
lẫy hờn tưởng chỉ thoảng qua
sao trong đuôi mắt mở ra ngàn trùng
 
vẫn còn nguyên nỗi ngại ngùng
buổi chiều gót biếc ghé chùng tiếng thơ
những con cá nhỏ trong hồ
thong dong hay chỉ giả vờ lắng nghe
 
cái gì như chút sắt se
ngày xa xưa ấy thoáng đè nội tâm
mảnh dằm yên ngủ bao năm
chợt ngo ngoe thở, hương trầm xót xa
 
hoá ra là vậy, hoá ra
nụ tình khác với nụ hoa rất nhiều
 
Luân Hoán

Nguyễn Thị Khánh Minh

Mùa Thu. Những Chiếc Ô
Và Dải Nơ Vàng                
 
Calif. đang ở vào những tuần đầu của mùa thu, cảnh vật đang bị quắt queo vì cơn nóng trái mùa, tuần này hầm hập 85 đến 100 độ, người như bị vặt đến héo hắt không chỉ vì thời tiết đất trời mà còn như vỡ dưới tiếng đập của thời sự. Dư vang chết chóc của mùa hè từ những thảm hoạ máy bay, dịch ebola, chiến tranh, khủng bố vẫn đang còn làm thế giới rung rinh, như cái thòng lọng thắt lại dần, thì thử hỏi chúng ta làm thế nào để có thể sống an lạc, như vẫn thường chúc nhau cuối mỗi e-mail? Chưa bao giờ, sống là một thử thách như thời này. Mỗi hơi thở là mỗi mạo hiểm, không biết lúc nào sẽ sập xuống cái bẫy của những tin tức mà cứ mỗi lúc lại đem đến một khủng khiếp khác nhau. Khi sự chịu đựng của người ta tăng lên, có nghĩa là cái ác đã trở nên bình thường, cứ thế, chai dần cảm xúc. Quen dần với những điều mà mới hôm qua tưởng sẽ không thể xảy ra được trên đời này. Cái ác đang tôi luyện chúng ta thành vô tính chăng.
Chợt, một ngày, trong cái cối xay tai trời ách người như thế, vòng quay được lơi ra bởi hình ảnh những chiếc ô, những dải nơ vàng. Nó như tiếng phong linh trong trẻo rộn rã vang lên. Nó như vạt óng ả phết lên mùa thu hiu hắt của mọi tâm trạng này. Nó mang chất lãng mạn. Nó là cái gì như sinh khí.
Toát ra từ dáng vẻ thư sinh với cặp kính trắng, lấp lánh tuyên bố “Tôi không muốn đùn đẩy cuộc đấu tranh dân chủ cho thế hệ sau. Đó là trách nhiệm của chúng ta”. Sẽ có một mùa hoa mọc lên bởi hạt giống nhiệt huyết trong sáng ấy, đó là Joshua Wong, 17 tuổi, được xem là một lãnh đạo cho phong trào đòi dân chủ tại Hồng Kông, phát động vào những ngày cuối tháng 9, tới nay vẫn còn tiếp tục, thu hút quan tâm của thế giới.
Toát ra từ không khí sôi sục mà ôn hoà, được mọi người khâm phục, một cuộc biểu tình mang tinh thần bất bạo động, không hỗn loạn, không xả rác, không hôi của, không gây hấn, những cái không chỉ có được của một nền giáo dục chú trọng đến Đức, Trí con người, mà họ đã được thấm nhuần ngót một thế kỷ qua tại Hồng Kông. Báo Slate magazine gọi họ là "những người biểu tình lịch sự nhất thế giới"
Toát ra từ không khí trẻ trung, sáng tạo, của hình ảnh những chiếc ô, và được gọi là cuộc Cách Mạng Dù. Tham gia biểu tình, đa số là thanh niên, cả lớp tuổi teen, ai cũng cầm theo dù, để che mưa nắng, nhưng khi bị vòi rồng xịt nước và hơi cay thì nó trở thành một thứ bảo vệ, họ nằm xuống để tránh vỡ hàng ngũ và phủ lên nhau những chiếc dù. Như hàng ngàn cây nấm nhỏ đủ mầu mọc lên sau trận mưa của nghìn tấm lòng trẻ trung đang sống cho lý tưởng của mình. Chiếc dù, nó có rộng một không gian để che thêm cho người bên cạnh, có chút chi vì người… Không biết là tình cờ tự phát của đám đông hay là ý tưởng của những đầu óc lãnh đạo rất sáng tạo, mà chiếc dù đã là một đại diện hết sức thơ mộng cho một phong trào chính trị. Phải chăng nét ấy là một trong những điều đã gây sức cuốn hút? Và, đánh động nhịp tim lãng mạn của tôi. Chiếc ô. Chả phải hai người yêu đi bên nhau nắng hay mưa thường cũng là chiếc ô xinh trên đầu, và còn dùng che cho một nụ hôn vội vàng nữa, ôi là, chiếc dù, giờ nó che cho nghìn nghìn tấm lòng bất khuất kia dưới sức mạnh tấn công của vòi rồng và hơi cay. Họ ngủ dưới những cây dù ngoài đường để duy trì tinh thần tranh đấu, họ viết những biểu ngữ trên dù cho lộng lẫy nắng tự do, chưa bao giờ thấy cây dù lại nhiều công dụng và đáng yêu đến thế. Có thanh niên còn cầm dù che cho cảnh sát lúc trời mưa, và hình ảnh làm xúc động được truyền đi trên facebook, một sinh viên áo đen cầm dù đứng bất động trong mù mịt khói cay, một cảnh sát sau khi bắn hơi cay đã vội lấy chai nước rửa mắt cho một sinh viên qua hàng rào, thật tình chưa có một cuộc biểu tình nào có những hình ảnh đẹp, nhân bản đến thế, chả bù cho những bạo lực của công an ở Việt Nam trong những cuộc biểu tình chống Trung Cộng, oan sai...
 
Lại nói đến một biểu tượng thơ mộng nữa, là dải nơ vàng, phong trào đã dùng nó làm biểu tượng cho khát vọng dân chủ. Hình ảnh những chiếc dù và những dải nơ vàng, cùng những tấm giấy đủ mầu ghi lời cầu chúc, khẩu hiệu đấu tranh, dán kín những bức tường làm không khí biểu tình đầy sắc mầu như lễ hội, họ cài trên ngực áo, họ đeo vào cổ tay, treo trên hàng rào, cửa nhà, cột điện, khắp các nẻo đường vàng rực một loại hoa dân chủ ấy. Tôi càng thích hơn khi biết nguồn gốc của dải nơ vàng. Theo nghiencuuquocte.net, 400 năm trước, ở Anh người ta rất yêu thích bài thơ “Dải ruy băng vàng trên vai cô ấy” (She wore a yellow ribbon), nói về người vợ đeo dải nơ vàng để tưởng nhớ và hy vọng chồng phương xa sẽ trở về. Trong cuộc nội chiến Anh vào thế kỷ 17, những người lính ra trận đeo ruy băng vàng trên cổ như thể đeo sự nhớ thương của người vợ bên mình. Kỵ binh Hoa Kỳ ở thế kỷ 19 cũng đeo trên cổ ruy băng vàng với ý nghĩa như thế, như truyện tranh anh chàng Lucky Luke với dải băng vàng ở cổ áo, xem lúc nhỏ mà giờ nhờ cuộc biểu tình Hồng Kông, tôi mới được biết rõ nguồn gốc. Đến khi Irwin Levine viết bài hát “Cột một dải ruy băng vàng lên cây sồi già”(Tie a Yellow Ribbon Round the Ole Oak Tree) thì nó được phổ biến trên toàn thế giới thập niên 1970. Bài hát nói về một anh chàng bị kết án 3 năm tù về tội buôn lậu(!). Trước khi được về nhà, anh viết cho vợ, If you still want me, Oh, tie a yellow ribbon ’round the ole oak tree… “Nếu em còn yêu anh thì hãy cột một dải ruy băng vàng lên cây sồi trước nhà…” Và khi chàng về đến nhà thì thấy cây sồi như mái tóc vàng óng ánh bởi ngàn sợi ruy băng! Sao tôi thấy mê những ý tưởng thiên thần này quá. Từ đó yellow ribbon mang ý nghĩa của Hy Vọng, Chiến Thắng và Tình Yêu. Phong trào biểu tình đã chọn nơ vàng để gửi đi thông điệp họ tin vào một chiến thắng bằng vũ khí Bất Bạo Động và Tình Yêu. Cũng có nghĩa, chấp nhận hy sinh để hái được đoá hoa Dân Chủ.
Một nét thơ mộng, mà khẳng khái, nữa là họ chọn bài "Do you hear the people sing" (Bạn có nghe mọi người hát) trong vở nhạc kịch “Những người khốn khổ” (Les Miserables) để cùng nhau ca vang trong cuộc biểu tình, đây là bài mà các nhà cách mạng Paris hát trong cuộc nổi dậy chống chính phủ. Một nét dễ thương và thông minh, họ hát vang bài Happy Birthday để thông báo cho nhau có kẻ lạ trà trộn vào hàng ngũ để gây rối, và sẽ bị tống khứ dưới sức mạnh của hợp ca.
Điểm qua những biểu tượng, thì đã có hai trong số đó lấy từ kho văn học, tôi thấy bị quyến rũ bởi ý tưởng của một phong trào chính trị mang đầy tính nghệ sĩ này. Chỉ có một biểu tượng buồn là chiếc áo thun đen mà họ mặc khi đi biểu tình, màu sắc đen trong vô vàn sắc rực rỡ của dù, của nơ vàng, của những tấm giấy nguyện cầu, là để tưởng nhớ sự kiện Thiên An Môn, cũng hàm ý lên án sự đàn áp bằng bạo lực. Màu đen ấy là nét quyết liệt bên cạnh những hình ảnh thơ mộng kia. Với những biểu tượng vừa dịu dàng vừa kiên cường được chuyên chở bởi một lớp thanh niên có ý thức chính trị và có trình độ văn hoá cao, có phải vì vậy mà cuộc biểu tình này gây được sự chú ý và tình cảm thế giới?
Trong những giờ khắc căng thẳng ấy, có những hơi thở ra nhẹ nhàng từ những người trẻ tuổi, trẻ trung thì cái gì cũng có thể xẩy ra, và đã xẩy ra một cách ngộ nghĩnh, đẹp đẽ, như vầy, một cặp đôi đã đính ước nhau trong lúc cô Crystal Chan còn mặc chiếc áo mưa trong suốt để phòng hơi cay, trên cánh tay cậu Yau Chi-hang thì đầy khẩu hiệu đấu tranh, sau đó cả hai cùng hô “phổ thông đầu phiếu thực sự”. Lại có cặp chụp hình cưới trong hàng ngũ biểu tình (tienphong.vn). Cái lãng mạn của thời phải sống chung với quá nhiều khắc nghiệt, cũng có khác, và có lẽ nó quý hơn xưa, vì nó quá khó khăn, trắc trở.
Tôi muốn nói đến một ánh sáng xanh vào đêm 29 tháng 9. Thay vì là đêm thắp nến như thường tình, thì họ, những người trẻ của thế hệ hôm nay đã thắp bằng ánh sáng điện thoại di động, hàng chục ngàn iPhone toả ra màu xanh huyền diệu trong đêm. Lồng trong không khí sôi sục của một cuộc biểu tình chính trị là ánh sáng của bài thơ. Bài thơ xanh hy vọng. Hy vọng họ sẽ chiến thắng, và sẽ gây được hiệu ứng tới những nơi trên thế giới còn vắng bóng tự do dân chủ, dân quyền. 
Đó là những chi tiết làm tôi cảm động và rung động.
Trong một lan can ở khu Admiralty (khu Kim Chung), người ta thấy một biểu ngữ màu vàng, chữ đen, câu “You may say I’m a dreamer. But I’m not the only one”Bạn có thể cho rằng tôi là một kẻ mộng mơ, nhưng không chỉ riêng tôi" (thanhnien.com.vn). Ai đó đã nói, hầu như những điều thành tựu trên cõi trần gian này đều khởi đầu từ một giấc mơ. Những người trẻ ở Hồng Kông hôm nay đang thức dậy để hiện thực giấc mơ của mình, để nhân dân họ được sống trong cảnh mà họ ước mơ. Cho tới hôm nay, những đòi hỏi của sinh viên học sinh và dân chúng chưa được chính quyền Hồng Kông đáp ứng, và chúng ta chờ đợi những ngày sắp tới trong cầu nguyện và tin tưởng. Tôi xin thắt trên cổ tay mình một dải nơ vàng.
 
Hôm nay, 14 tháng 10, kể từ lúc bùng ra ngày 26.9, cuộc biểu tình đã bước sang ngày thứ 19, chính quyền Hồng Kông đã động đậy, không phải để đối thoại với sinh viên học sinh và nhân dân, mà lịnh cho cảnh sát dỡ bỏ rào chắn của họ ở khu Admiralty, sau khi những hàng rào bằng kim loại bị cắt thì sinh viên dựng lại bằng hàng rào tre, họ nói: "Chúng tôi có thể rời đi vì chúng tôi không thể chống lại các anh, nhưng chúng tôi sẽ không bỏ cuộc”, “Chúng tôi sẽ dựng lại chướng ngại vật sau khi cảnh sát dỡ bỏ. Chúng tôi sẽ không đối phó với họ bằng vũ lực” (vnexpress.net)
Ngày 15 tháng 10, theo tin tức RFA “Cuộc biểu tình bất bạo động của sinh viên học sinh Hồng Kông đã bước sang một bước ngoặc mới khi cảnh sát tiến hành các cuộc đàn áp bằng sức mạnh bất kể người biểu tình vẫn kiên cường không tỏ thái độ chống lại hay bỏ cuộc. Liệu sức chịu đựng của họ kéo dài được bao lâu và thử thách này phải nên chấp nhận trong thái độ nào?... 46 người bị bắt, hàng trăm căn lều bị xé rách, mọi chướng ngại đều bị giải tỏa và nhất là đã có máu đổ. Xét về bề ngoài thì sự đàn áp chưa đến nỗi thô bạo nếu so với các cuộc cách mạng khác…tuy nhiên đối với Hong Kong, xứ sở có truyền thống dân chủ từ hơn trăm năm qua thì việc cảnh sát đánh đập sinh viên, học sinh là hành động khó tha thứ.”
Tôi thấy buồn và lo lắng. Cầu nguyện cho họ giữ được lửa đấu tranh, xin Thánh Gandhi ban cho họ sức mạnh bất bạo động. Cơ hồ như một đường chỉ mong manh, khi những tấm thân, đầu óc thư sinh ấy bị khích động bằng bạo lực, liệu họ có đủ bình tĩnh bất bạo động không, có đủ đoàn kết và lì đòn để phong trào không bị dập tắt không. Tôi sợ thấy hình ảnh những chiếc dù bị rách, nằm thúc thủ trên những con đường, tôi sợ những đoá hoa vàng dân chủ bị héo dưới nắng bạo lực… Cuộc tranh đấu này sẽ kéo dài tới bao lâu. Thời gian ơi, xin ở cùng họ, những tấm lòng yêu nước trẻ trung, nghệ sĩ và trong sáng.
 
Nguyễn Thị Khánh Minh
Santa Ana, Oct 16, 2014

Nguyễn Đức Nhơn

Gởi Cho Em
 
Tháng ngày trôi như bóng câu cửa sổ
Sao em còn giữ mãi không buông?
Sao không để cho lòng thanh thản
Nhẹ nhàng bay như khói hoàng hôn.
 
Mời em cùng ta ra bãi biển
Nhìn xa khơi bằng ánh mắt hiền hòa
Em sẽ thấy biển trời bát ngát
Và lòng mình cũng rộng rãi bao la.
 
Em có thấy từng năm, từng tháng
Êm đềm trôi như bóng chiều qua
Tôi và em, hai xác người chưa chết
Thì cần gì lặn hụp giữa phong ba…
 
Cứ để cho mặt trời buổi sáng
Và buổi chiều mọc, lặn hồn nhiên
Em đã biết thế gian là cõi tạm
Sao còn chưa buông hết não phiền?
 
Hôm qua sắm sửa mừng năm mới
Hình như em có chút mủi lòng
Tôi cũng biết dù năm cùng tháng tận
Cũng chỉ là nhịp thở của hư không...
 
Nguyễn Đức Nhơn

Phan Trang HY

Blogger Sợ Chữ      
 
       Những ngày Tết, ngoài chuyện đi thăm bà con, bè bạn, tôi lại lên mạng. Các trang mạng đều có lời chúc mừng năm mới, đại ý là chúc sức khỏe, chúc tấn tài, tấn lộc, hạnh phúc, an khang… Dẫu là người khó tính đến mấy đi nữa, nhưng khi đọc những dòng chữ ấy, bạn cũng cảm thấy có chút vui như được nghe lời nói, như thấy được nụ cười lịch thiệp, chân tình của người chúc Tết mình.
       Tình cờ, tôi vào một trang blog. Xin phép cho tôi được nêu tên dù có trùng tên của ai đó. Xin chớ hiểu lầm tôi. Tên trang mạng là Blogger sợ chữ. Quả là tên gây ấn tượng!
       Nếu bạn đọc những gì đã lưu trữ, liên kết trên trang mạng này, bạn sẽ thấy tay chủ blog này là tay sính chữ nghĩa, ham lý luận. Hầu hết các bài viết của tác giả đều đụng chạm đến cơm áo gạo tiền, đến con heo, con cá, đến Hoàng Sa, Trường Sa, đến chiến tranh biên giới phía Tây Nam, phía Bắc trong cuộc chiến với Pôn Pôt, với giặc Tàu để giữ từng tấc đất tấc lòng, đến phòng chống tham nhũng, đến luật đất đai… Còn liên kết thì khỏi phải nói, liên kết các tờ báo lớn trong nước, ngoài nước, liên kết với các trang văn học nghệ thuật, liên kết với các trang chính trị, trang blog khác… Nhìn chung, chỉ cần vào trang này, bạn có thể đi tất cả các trang khác. Không sợ tường lửa, không sợ bị mất mật mã, không sợ ai theo dõi, không sợ thiếu chữ nghĩa trên đời này. Kể cũng tiện lợi thiệt, nếu vào trang mạng của hắn ta. Chuyện xưa, chuyện nay đều có; chuyện Đông, chuyện Tây cũng có; chuyện đẻ, đái, chuyện đánh nhau, chuyện chiến tranh, hòa bình, chuyện thiên tai, chuyện thử vũ khí hạt nhân, chuyện hiếp dâm, chuyện bầu Giáo hoàng cũng có… Tất cả có! Nếu mệt, bạn cứ mở trang liên kết thư giãn, có thể đó là trang có những giai điệu tuyệt vời của nhạc thính phòng, có thể là giai điệu nhạc trẻ. Có thể đó là trang mạng gợi cảm, gợi dục. Kể cả chuyện bày cách làm tình, cách sử dụng sextoy, nếu bạn cần.
       Và rồi theo địa chỉ mail có trên trang Blogger sợ chữ , tôi đã liên lạc với chủ nhân.
       Ngày thứ nhất trong tháng, tôi mở mail. Nhận được mail của hắn. Cũng chỉ là lời chúc xã giao như bao người mới làm quen trên mạng. Tôi dè chừng hắn. Xem chừng, hắn cũng dè chừng tôi.
       Ngày thứ năm trong tháng, tôi gửi mail cho hắn. Tôi chờ hắn trả lời. Vẫn bặt tăm. Mãi đến cả tuần sau, tôi mới nhận được mail của hắn. Qua mail, hắn xin lỗi tôi vì sự trễ nãi trả lời của hắn. Và hắn đã nêu lý do rất chính đáng là vì hắn bận tham gia quỹ từ thiện góp công, góp sức, góp của cứu giúp những người bị bệnh “thiếu óc, “thiếu tim”. Lần đầu tôi mới biết đến thuật ngữ y học: thiếu óc, thiếu tim.
       Tôi gửi mail chúc mừng hắn tham gia làm từ thiện. Và rồi mail qua, mail lại, tôi như cởi mở với hắn; hắn cũng vậy. Tôi và hắn trải hết lòng với nhau. Tôi thầm cảm ơn Internet. Có thể, tôi e dè, khó bắt chuyện khi đối diện với ai đó. Nhưng qua mạng, tôi viết những dòng chữ bằng sự nghĩ suy chân thực của lòng mình. Tôi nghĩ qua mạng, một ai đó khủng bố bạn, nói xấu bạn, hoặc viết tốt về bạn thì đó cũng là lòng thực của kẻ ấy với bạn. Qua mạng, hầu như, dù nickname nào đi nữa, thì người ấy vẫn chính là người ấy. Tính tốt, tính xấu, tính ác, tính thiện đều thể hiện rõ qua những comment, những mail…
       Tôi lại vào mạng. Tra cứu thuật ngữ y học: thiếu óc, thiếu tim, nhưng vẫn không hiểu đó là những căn bệnh gì. Tôi chỉ còn biết tự hỏi với lòng như một đứa học trò nhỏ. Nào là: Bệnh thiếu tim là gì? Bệnh thiếu óc là gì? Tại sao có căn bệnh đó trong cõi đời này? Phải làm gì phòng, chống được căn bệnh đó? Tôi vẫn không tìm ra câu trả lời đúng nhất.
      Tôi vẫn ngồi trước laptop nghĩ suy về căn bệnh mới, lạ này. Đầu óc tôi như căng cứng. Tôi như không làm chủ được nghĩ suy của mình. Tôi thấy trước mắt tôi là bóng dáng của ai đó. Không rõ lắm! Hắn tự xưng là Blogger sợ chữ, và hắn mời tôi sáng mai uống cà phê tại quán Hương Xưa. Tôi cười và nhận lời.
       Tính tôi vẫn vậy. Không muốn trễ giờ, sai hẹn, nên tôi đến quán sớm khoảng 10 phút. Sáng nay, thấy tôi ngồi một mình, chủ quán đưa tờ Thanh niên cho tôi đọc. Tôi gật đầu, cảm ơn chủ quán. Trong khi chờ đợi hắn, tôi lật vội những tin. Tôi bắt gặp bài thơ Tổ quốc nơi biên thùy của Nguyễn Việt Chiến. Tôi thấy dòng chữ Tưởng nhớ những chiến sĩ hy sinh ở biên giới năm 1979 như đỏ lên. Ngoài trời mưa đang rắc hạt. Trời hơi se lạnh, cái lạnh của những ngày trong tiết Vũ thủy. Nhìn những hạt mưa, nhìn những cây lá trong cái lạnh đầu xuân, tôi như thấy cả một trời biên giới năm xưa qua bài thơ tôi thầm đọc. Bài thơ có giọng bi hùng. Tôi thoáng buồn, nhưng tin tưởng!
       Quán cà phê này, so với quán khác, có vẻ yên tĩnh. Quán có mở nhạc vừa đủ nghe. Khác hơn mọi khi, hôm nay, tôi được thưởng thức những bản nhạc nổi tiếng của Phạm Duy. Tôi như tắm mình trong dòng chảy âm thanh của những giai điệu quê hương. Tôi như tắm trong suối nhạc tự do của một con người đi suốt Con đường cái quan đất nước, có lúc hét to bởi những “tục ca”, gào lớn bởi những “đạo ca”, nhưng hơn hết là dạt dào, dịu dàng của những “tình ca” như có cả bóng dáng của những bà mẹ quê, những đứa trẻ chăn trâu, của năm tháng cha ông đi mở cõi... Tôi nhẩm hát theo: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời…”
       Tôi đứng lên, như một ca sĩ, tôi hát cùng Đức Tuấn, Mỹ Linh trên màn hình. Cả quán cà phê như hòa nhịp cùng lời hát… Như thể chúng tôi được cuốn vào điệu hồn dân tộc.
       Trước mắt tôi, biết bao người cùng tôi hát. Bên cạnh tôi là một cô gái. Cô mỉm cười và hát cùng tôi: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời…”.
Và rồi, cô ta tự giới thiệu cô là Blogger sợ chữ. Trời ơi, Blogger sợ chữ đây ư? Tôi không ngờ cô ta trẻ đẹp đến thế! Tôi sững sờ. Và tôi sững sờ hơn nữa khi cô ta nói nhanh, rồi đi cũng nhanh. Chỉ loáng thoáng lời cô ta: “Ông có biết căn bệnh thiếu tim, thiếu óc rồi chứ gì?... Có tim đó, có óc đó, nhưng tim có yêu nhân nghĩa đâu, óc có suy nghĩ chân chính đâu!” Tôi tự hỏi với lòng mình. Con tim yêu thương nhân nghĩa, bộ óc suy nghĩ chân chính không tồn tại trong từng con người sao?
       Các bạn có tin tôi không? Tôi mơ đấy. Chẳng có cuộc gặp ấy đâu. Tôi vẫn đang ngồi trước laptop. Đang đọc báo, tìm tài liệu, kiến thức trên mạng. Vẫn chọn lọc những tin xấu, tin tốt, tin sai, tin đúng. Tôi vào trang của hắn, dù hắn không có bài viết mới, để từ đó tôi có thể xem các trang khác. Tôi nhiều lần gửi mail hỏi thăm hắn. Nhưng tôi không nhận được trả lời.
       Ngày lại ngày, tôi vẫn phải làm việc để tồn tại. Và những khi rảnh, tôi lại lên mạng. Trước khi xem các tin, các bài viết, tôi thường mở mail. Thật là bất ngờ đối với tôi khi tôi nhận được mail của hắn. Tôi xin copy lại mail ấy để hầu các bạn.
 
       Thân gửi bạn Phan Trang Hy!
       Xin bạn đọc những dòng chữ sau, xem như là tâm sự của Bloggger sợ chữ.
       Có lẽ bạn ngạc nhiên, tại sao tôi sợ chữ? Có thể bạn nghĩ thầm tại lúc nhỏ tôi lười học, không thích tìm hiểu kiến thức của loài người, nên thấy chữ là sợ chứ gì? Xin bạn hiểu cho là sức học của tôi cũng tàm tạm. Đối với tôi, kiến thức, suy cho cùng cũng chỉ là những con chữ ghi lại. Những con chữ biến hóa thành ra vô số triết thuyết, chủ thuyết này, chủ thuyết nọ. Vì thế, khi học những năm đầu đại học, tôi cố đọc triết Đông, triết Tây, đọc Kant, Marx, Lénin, Tôn Dật Tiên, Mao, Gandhi… Tôi cũng có đọc Kinh thánh, tìm hiểu đạo Cơ đốc, đạo Hồi, đọc chiến tranh giữa các tôn giáo, thế chiến thứ nhất, thứ hai, đọc thủ đoạn chính trị, đọc sấm Trạng Trình, đọc tiên tri của Nostradamus, Vanga, … Chữ nghĩa như thể căng cứng trong đầu tôi.
       Thế là, tôi sử dụng cái vốn chữ nghĩa của mình để viết. Tôi viết những bài mang tính lý luận, có khi viết những bài có tính thời sự. Tôi không tô hồng, cũng không bôi đen cuộc đời. Tôi chỉ viết sự thực. Thế nhưng, sự thực ấy lại mất lòng biết bao người. Và cũng chính những bài ấy khiến tôi phải lao đao trong cuộc sống. Không  những tôi lao đao mà ông Tổng biên tập tờ báo “Không dối trá” lại phải khốn đốn, điêu đứng, bị chụp mũ là tiếp tay cho thế lực thù địch.
       Từ đó, nghe cái tên tôi, ai cũng dè chừng. Những bài tôi viết, hầu hết các báo, tạp chí không thể đăng. Dẫu tôi có lấy bút danh khác, nhưng với giọng văn như tôi, các bài tôi viết cũng không qua mắt được các tay kiểm duyệt. Tôi tự nhủ với lòng: Ai biểu viết sự thực? Nhưng rồi, lòng tôi mách bảo: Không thể dối trá với lòng mình. Không thể dối niềm vui, nỗi buồn của mình được. Không thể trá đen thành trắng được. Thôi thì cứ viết ra, gửi cho bạn bè, người thân, hoặc lập blog, thả lửng trên mạng… Có thể trăm năm sau, hoặc lâu hơn nữa, hậu thế không biết tôi là ai, nhưng có thể ai đó đọc bài của tôi, sẽ biết có một thời sự thực bị cấm đoán.
       Thôi thì thả lửng chữ trên mạng…
       Xin bạn thông cảm cho tôi.
       Blogger sợ chữ.
 
Đọc xong mail hắn gửi, tôi tự hỏi: Không biết mình có là kẻ sợ chữ không?
 
Phan Trang Hy

Nguyễn An Bình

Giặt Áo Bên Sông    
 
Chiều cuối năm ngồi bên sông giặt áo
Chờ trăng lên rải ánh bạc mênh mông
Chợt thảng thốt nghe tiếng chim gọi bạn
Em ở đâu sao tôi mãi bận lòng?
 
Dòng sông cũ đẩm tình tôi trong đó
Ngọt tíếng em cười vọc nước giởn trăng
Từng sợi tóc thơm lòng tôi ngày nọ
Qua cầu tre vương lại chút nắng vàng.
 
Mấy mươi năm kiếp giang hồ bỏ dỡ
Dáng mẹ gầy theo bóng núi xa bay
Khúc bờ đê đã bao mùa đất lỡ
Em theo người xa thẳm cuối chân mây.
 
Về bên sông tôi thành tên ngã ngựa
Chiếc áo xưa thơm sợi khói quê nhà
Ngồi giặt áo lòng nghe như dao cứa
Nhà đâu đây ai hát bản tình ca?
 
Về bên sông muốn rũ cả đời mình
Theo dòng nước cuốn đi bao lận đận
Giọt nắng thời gian rụng xuống vô tình
Em quên mất mảnh tình tôi bụi bậm.
 
Chiều cuối năm ngồi bên sông giặt áo
Treo đời mình đùa cợt cỏi hư vô
Em xa lắc để tình tôi ở lại
Nơi đầu sông còn rớt tiếng ai hò.  
 
Nguyễn An Bình
Tháng 10/2014

Hồ Thụy Mỹ Hạnh

Bao Giờ Mùa Thu…
 
Em phải về không thể đợi mùa thu
Và những chiều chợt mưa và chợt nắng
Những con đường một mình em đơn vắng
Mặt hồ im xanh biếc bóng mây trời
 
Khi em về những chiếc lá vừa rơi
Ai sẽ nhặt ép vào trong trang vở
Hoàng hôn có làm tím mờ nỗi nhớ
Để lời thơ buồn như ánh nắng phai
 
Mây sẽ nhàu như tóc rối trên vai
Đường về sẽ dài hơn khi em đến
Sao đêm sẽ thắp lên ngàn ngọn nến
Vẫn lặng thầm một khoảng tối nơi em
 
Đã về chưa hỡi mùa thu dịu êm
Mây vô tình che khuất vầng trăng khuyết
Môi ngần ngại khi nói lời từ biệt
Sợ đêm dài, lại thấy thật dài hơn…
 
Tiếng đàn ai dạo khúc nhạc cô đơn
Khiến vần thơ cũng âm thầm thao thức
Giữa đất trời mùa thu chưa có thật
Nhưng hồn em thì đã có thu rồi.
 
Chiều Tàn Thu
 
Buổi chiều còn chút nắng hanh
Mùa thu vướng lại trên cành cây khô
Lá rơi nghe thật mơ hồ
Mây như mặt biển nhấp nhô sóng tràn
Như lòng ta ngập lá vàng
Khi mùa thu thật vội vàng ra đi
Ngàn xưa những cuộc từ ly
Chút gì để lại trên mi giọt sầu
Buổi chiều đưa nắng về đâu
Để hoàng hôn đến bắt cầu vào đêm
Thu ơi! Khắc khoải nỗi niềm
Trong câu thơ cũ ta tìm thấy ta
Một ngày nào đó sẽ xa
Những yêu thương cũng nhạt nhòa lãng quên
Trời thu vẫn rất mông mênh
Êm đềm bên những gập ghềnh đời ta…
 
Hồ Thụy Mỹ Hạnh

Hoàng Anh 79

Về Tri Tôn            
 
Anh về thăm lại Tri Tôn
Cầu Cây Me nắng đổ dồn bước chân
Đi trên phố cũ tình thân
Sao nay bỡ ngỡ chợt gần chợt xa.
 
Thời gian chớp mắt thoáng qua
Tóc xanh một thuở phôi pha sương chiều
Đồng xa gió quyện hương yêu
Cô Tô thơm rạ nhớ nhiều về em.
 
Cẩm Sơn bóng ngả đường quen
Ngồi trên xe ngựa nghiêng triền núi xưa
Xa em mưa nắng mấy mùa
Hàng cây thốt nốt vẫn chưa kịp già.
 
Mắt cay sợi khói phía nhà
Nam Quy chiều xuống mây là đà rơi
Chim bay mải miết cuối trời
Và anh đi mãi một đời không em!
 
Ngày 20/10/2014
Hoàng Anh 79

Đông Hương

Quê Hương
 
Giọt sương sớm chảy dài theo lá trúc
Chuyền cành đào, xôn xao lũ chim sâu
Gió khua nhẹ , đưa em về tuổi ngọc
Thuở lên mười xa lắc, nhớ từ đâu ??
 
Chùm ngâu trắng, cây thầu đâu ngát tím
Trời đang xanh bên kia Thái Bình Dương
Mùi hoa bưởi, tưởng thanh trà nhà thím
Vọng tháng ngày triền Ngự với sông Hương
 
Nhành trứng cá nghiêng mình chào hoa khế
Ngả bóng lên hòn non bộ ơ thờ
Anh trống thiến đang yêu, ho lấy lệ
Bờ mùa Thu đi dưới ngọn tàu dưà
 
Con vện say giấc trưa, nằm liếm miệng
Mắt thiu thiu mơ gặm miếng xương gà
Giàn bí rợ hoa đòng đưa cạnh giếng
Mẹ chờ cha, ngồi trảy trấu với bà
***
Trời quê Nội hắt hiu mong con trẻ
Nhiều năm qua, em người lớn mất rồi
Chừ cố nhớ những âm thanh giọng mẹ
Em bỗng thèm tiếng kẽo kẹt đưa nôi
 
Mẹ không còn để đưa nôi kẽo kẹt
Xóm giềng xa, chị cũng đã theo chồng
Nhớ cây bàng mồ côi chiều phùn Tết
Tuổi ngày thơ cỡi nghé chạy trên đồng
 
* Gửi tặng Hoang Vu
một chút tình quê hương
 
Đông Hương

More Articles...

Page 1 of 35

Start
Prev
1
Search - Content
Search - Weblinks
Search - Contacts
Search - Categories
Search - Sections
Search - Newsfeeds
Search - JComments

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:
Xuân Du
Túy Hà
Phạm Tương Như
Songthy

Tác Giả

Time Zone Clock

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013

Tìm bất kỳ bài viết nào theo vần A B C

Google Analytics Alternative